- Chương 2: quy đinh về các vấn đề trong Giao kết hợp đồng như: Các hình thức giao kết, cách chấp nhận giao kết HĐ, các nghĩa vụ giữ bí mật,… - Chương 3: các quy định về hiệu lực của HĐ
Trang 1TỔNG HỢP BÀI THUYẾT TRÌNH PICC
1 Giới thiệu chung về PICC.
Từ trước tới nay, những nỗ lực nhằm thống nhất luật thương mại của các nước trên thế giới đã được thực hiện thông qua những văn bản bắt buộc , các luật lệ
do các tổ chức liên quốc gia lập ra hoặc các văn bản luật mẫu Một trong những khiếm khuyết của các văn bản này là chúng không có tính khái quát, hay chúng chỉ có tính lý thuyết mà không có khả năng thực thi Chính vì vậy mà ngày càng có nhiều người kêu gọi thống nhất hoà hợp luật pháp bằng cách sử dụng những văn bản không mang tính bắt buộc
=>Sự ra đời của quyển "Nguyên tắc Hợp đồng Thương mại Quốc tế "
(Principles of International Commercial Contracts (sau đây gọi là PICC)), do UNIDROIT đề xướng vào năm 1994 là nhằm vào hướng phát triển này
Bản thân Nguyên tắc Hợp đồng Thương mại Quốc tế của UNIDROIT không phải là văn bản luật pháp, do không được các Chính phủ kí kết mà PICC được thành lập dựa vào việc biên soạn, nghiên cứu của các nhà luật sư, chính trị gia
có tiếng đại diện cho 3 trường phái Luật lớn trên TG là Civil Law, Common law và Socialist system Vì vậy sự thừa nhận Nguyên tắc Hợp đồng Thương mại Quốc tế của UNIDROIT sẽ phụ thuộc vào sự thuyết phục của chúng Có thể thấy các nhà làm luật tại nhiều quốc gia đang phát triển đã tham khảo Bộ nguyên tắc này để hoàn thiện pháp luật hợp đồng của nước mình
Các luật sự thường coi đây là bộ luật mẫu có tính chất hướng dẫn để họ nghiên cứu, soạn thảo các hợp đồng thương mại quốc tế và tư vấn cho khách hàng áp dụng Đặc biệt bộ nguyên tắc này thường được các Hội đồng trọng tài lựa chọn
để quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng thương mại quốc tế trong trường hợp các bên không lựa chọn hoặc không thống nhất được nguồn luật áp dụng
Về hình thức: Bộ nguyên tắc UNIDROIT được trình bày như một bộ luật gồm
các chương, mục va các điều khoản bao gồm 11 Chương và 211 Điều; đặc biệt
là sau các điều khoản có bình luận, cùng với các ví dụ minh họa để làm rõ cách hiểu về cách sử dụng ngôn ngữ cũng như cách áp dụng trong từng hoàn cảnh khác nhau, rất thuận tiện trong tra cứu và áp dụng
Trang 2Về nội dung:PICC quy định các vấn đề sau:
- Chương 1: Những quy định chung về các vấn đề PICC sẽ điều chỉnh, đề ra các nguyên tắc chung được áp dụng trong HĐ như nguyên tắc Cam kết thực hiện các thỏa thuận (pacta sun serveda), nguyên tắc thiện chí và trung thực khi thực hiện HĐ
- Chương 2: quy đinh về các vấn đề trong Giao kết hợp đồng như: Các hình thức giao kết, cách chấp nhận giao kết HĐ, các nghĩa vụ giữ bí mật,…
- Chương 3: các quy định về hiệu lực của HĐ như: các trường hợp vô hiệu HĐ, các biện pháp xử lí Vi phạm HĐ
- Chương 4: Giải thích HĐ bao gồm các quy định giải thích về ngôn ngữ được
sử dụng trong HĐ, ý chí các bên khi giao kết HĐ…
- Chương 5: quy định về các loại nghĩa vụ, đưa ra các lí giải trong trường hợp nào thì đó được coi là nv ngầm hiểu hay nv rõ rệt,
- Chương 6: Những quy định về thực hiện HĐ như cách thực hiện HĐ, Phương thức thanh toán, địa điểm thực hiện nv, đồng thời bổ sung điều kiện Hardship ( đưa ra giải thích về những hoàn cảnh khó khăn khi 1 bên không thê thực hiện
nv và đưa ra hậu quả của nó)
- Chương 7: quy định về việc Không thực hiện HĐ của 1 bên và các quyền của bên có Quyền đưa ra như Bồi thường thiệt hại, chấm dứt HĐ
Mục đích của bộ Nguyên tắc hợp đồng thương mại là tạo ra một khung pháp lý
chung, một "Bộ luật", gồm các nguyên tắc và các quy định cụ thể, chi tiết cho các bên của hợp đồng thương mại quốc tế nhằm tránh các khó khăn, tranh chấp, rủi ro khi soạn thảo và thực hiện hợp đồng,ngoài ra là thiết lập một hệ thống hài hòa các quy phạm có thể được sử dụng trên toàn thế giới, tại mọi quốc gia mặc dù quốc gia đó có truyền thống pháp lý và điều kiện kinh tế, chính trị như thế nào
Sau đây, nhóm mình sẽ tiếp tục trình bày các bù đắp của PICC cho những điều kiện, hoàn cảnh mà CISG chưa được quy định Tuy nhiên để biết được sự bù đắp này như thế nào, mình sẽ nói sơ qua các nội dung mà CISG điều chỉnh, để từ đó chúng ta có cái nhìn cụ thể, rõ ràng hơn.
Trang 3CISG ( Convention on Contracts for the International Sales of Goods)- CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HIỆP QUỐC VỀ MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 1980 bao gồm gồm 101 Điều, được chia thành 4 phần,
- Mục tiêu của CISG:
• Thống nhất luật áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
• Giảm xung đột pháp luật thông qua việc thống nhất luật nội dung, hạn chế tranh chấp phát sinh
• Tạo điều kiện thúc đẩy thương mại hàng hóa giữa các quốc gia
- Nội dung chính của CISG: quy định trường hợp nào CISG được áp dụng,
đồng thời nêu rõ nguyên tắc áp dụng trong CISG, nguyên tắc diễn giải các tuyên bố, hành vi và xử sự của các bên, nguyên tắc tự do về hình thức của hợp đồng,trình tự, thủ tục kí kết HĐ quy định chi tiết các vấn đề pháp lý đặt ra trong quá trình kí kết hợp đồng MBHHQT, quyền và nghĩa vụ của Người Bán
và Người Mua, trách nhiệm các bên khi không thực hiện đúng hợp đồng, vấn
đề bồi thường thiệt hại, hủy hợp đồng, miễn trách,…cuối cùng quy định về các
thủ tục để các quốc gia kí kết, phê chuẩn, gia nhập Công ước, các bảo lưu có thể áp dụng, thời điểm Công ước có hiệu lực và một số vấn đề thủ tục khác
- Phạm vi điều chỉnh của Công ước theo Điều 4 là: điều chỉnh về các vấn đề
kí kết cũng như quyền và nghĩa vụ của bên bán và bên mua Công ước không điều chỉnh đến các vấn đề như hiệu lực hợp đồng hay các hậu quả liên quan quyền sở hữu đối với các hàng hóa đã bán
Như vậy, Liệu các phần nội dung mà CISG không điều chỉnh có được bổ sung trong PICC hay không? Hay PICC sẽ thể hiện vai trò như thế nào để được các bên áp dụng đối với những trường hợp các bên không thể thỏa thuận được Luật quốc gia nào sẽ áp dụng, những vấn đề không được CISG điều chỉnh Chúng ta
sẽ cùng tìm hiểu sau đây
2 Sự bù đắp của PICC đối với CISG:
Như các bạn đã biết, Công Ước Viên 1980 CISG là một trong các hiệp ước quan trọng điều chỉnh các hành vi của thương nhân trong mối quan hệ thương mại quốc tế được hầu hết các nước trên thế giới tham gia kí kết gia nhập Tuy nhiên để khắc phục các hạn chế tồn tại trong CISG như ngôn từ được sử dụng trong cisg được các nước hiểu theo các nghĩa khác nhau hay
Trang 4vẫn còn 1 số hành vi mà CISG vẫn chưa điều chỉnh, PICC ra đời trong nhằm bổ sung, bù đắp các vấn đề mà CISG còn thiếu sót cũng như để tạo
ra 1 bộ luật mẫu cho các quốc gia tham khảo áp dụng
PICC quy định có khá nhiều vấn đề mà CISG không điều chỉnh như :
+Tại điều 4 của CISG nói rằng Công ước này chỉ điều chỉnh việc giao kết hợp đồng mua bán, quyền và nghĩa vụ của người bán, người mua Không liên quan đến hiệu lực của hợp đồng hoặc bất cứ điều khoản nào của hợp đồng Nhưng PICC đã quy định rõ ràng về hiệu lực của hợp đồng tại Chương 3 về các vấn đề như phạm vi, hiệu lực hợp đồng, những việc không thể thực hiện được từ đầu,
vô hiệu do nhầm lẫn chính đáng, ( các bạn có thể tham khảo tại Chương 3 PICC từ trang 33 đến 43)
+ Về vấn đề giải thích hợp đồng như ý chí các bên, giải thích lời phát biểu, yếu tố liên quan, tham khảo toàn bộ hợp đồng hoặc toàn bộ điều khoản ( tham khảo tại Chương 4 PICC ).
+ Nổi bật là điều khoản Hardship trong PICC mà CISG không quy định Hardship ở đây được hiểu là hoàn cảnh khó khăn Tại điều 6.2.2 của PICC
đưa ra định nghĩa một hoàn cảnh được gọi là Hardship nếu nó gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự cân bằng hợp đồng, làm phí thực hiện tăng quá cao, hoặc giá trị nhận được do thực hiện nghĩa vụ giảm quá thấp Có nghĩa là một hoàn cảnh có được xem là khó khăn hay không cần phải xem xét sự thay đổi của hoàn cảnh đó có ảnh hưởng ( tăng hoặc giảm ) hoặc hơn 50%) giá trị hợp đồng
sẽ được xem là sự thay đổi cơ bản Vậy Điều khoản Hardship ( thay đổi hoàn cảnh cơ bản này ) có thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 79 trong CISG không?
Tại Điều 79 của CISG có quy định về việc miễn trách nhiệm rằng việc trở ngại nằm ngoài tầm kiểm soát là cơ sở để miễn trách nhiệm Khi xảy ra
Hardship, tòa án và trọng tài có xu hướng cân nhắc việc giảm trừ hay miễn trách một cách tương thích với điều 79 của CISG Nhưng thực tiễn cũng có nhiều sự thay đổi hoàn cảnh (ví dụ điển hình nhất là sự biến động về giá cả trên thị trường hàng hoá) tuy gây ra sự thiệt hại đáng kể hoặc rất khó khăn cho việc thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng nhưng những sự thay đổi như vậy là các rủi ro
Trang 5bình thường trong giao dịch thương mại mà các bên với tư cách là những đối tác thương mại trong ngành buộc phải biết hoặc tiên liệu đến Những sự thay đổi hoàn cảnh như vậy có thể không được xem là điều kiện để miễn trách theo Điều 79
Tuy nhiên, trên thực tế thì việc thực hiện nghĩa vụ trong các trường hợp này thường gây tổn hại nghiêm trọng đến một trong hai bên Do đó để cân bằng quyền và lợi ích cũng như thể hiện nguyên tắc thiện chí trong thương mại, tốt nhất các bên vẫn soạn thảo bổ sung điều khoản Hardship Ví dụ, trong trường hợp phòng khi có sự biến động về giá cả trên thị trường quá lớn, các doanh nghiệp kinh doanh trong ngành công nghiệp sữa có thể đàm phán để đưa vào trong hợp đồng một điều khoản như: “Nếu sự biến động về giá cả trên thị trường theo giá GDT (Global Dairy Trade - Giá tham chiếu sản phẩm về sữa trên toàn cầu) vượt quá biên độ 60% so với giá được thoả thuận trong hợp đồng, bên bán có quyền đàm phán lại các điều kiện về giá và thanh toán”
+ Về chế tài do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa CISG không có quy
định nào về điều khoản phạt và hiệu lực của điều khoản này, trong khi các điều khoản này được sử dụng khá rộng rãi trong các hợp đồng quốc tế cho các trường hợp vi phạm thời hạn thực hiện nghĩa vụ hoặc không thực hiện.Khi này theo xu hướng án lệ CISG sẽ chấp nhận hiệu lực của các điều khoản này nếu chúng đáp ứng được các điều kiện nhất định PICC khi này sẽ được coi là một giải pháp để tham khảo vì nó có quy định về chấp nhận hiệu lực của các điều khoản được gọi là khoản bồi thường định trước Điều khoản này được áp dụng trong các trường hợp bên bị vi phạm chưa có thiệt hại thực tế
+ Vấn đề miễn trách nhiệm trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Các bạn tham khảo tại Điều 79 CISG và Điều 7.1.6, 7.1.7 của PICC Miễn
trách nhiệm ở đây là việc không thực hiện của một bên sẽ được miễn trừ trách nhiệm, nếu bên này chứng minh được rằng việc không thực hiện là do những trở ngại ngoài tầm kiểm soát của họ CISG không quy định một cách chi tiết và bao trùm tất cả các vấn đề có khả năng phát sinh tranh chấp liên quan đến bất khả kháng, không quy định về quyền chấm dứt hợp đồng khi bất khả kháng kéo
dài thì tại khoản 3 Điều 7.1.7 có nói “Bên gặp trường hợp bất khả kháng phải
Trang 6thông báo cho bên kia về trở ngại và ảnh hưởng của chúng đối với việc thực hiện nghĩa vụ Trong khoảng thời gian hợp lý sau khi trường hợp bất khả kháng xảy ra, nếu bên gặp trường hợp bất khả kháng không thông báo cho bên kia thì bên không thông báo phải chịu trách nhiệm về hành vi không báo của mình” Việc mà PICC quy định với phạm vi rộng hơn sẽ giúp các doanh nghiệp
có thể nhận dạng bất khả kháng một cách dễ dàng hơn
+ Về Quyền tạm ngừng thực hiện hợp đồng ( điều 71 CISG và Điều 7.3.4 PICC) Khi có dấu hiệu rõ ràng rằng bên kia sẽ không thực hiện một phần
quan trọng nghĩa vụ của mình, bên bị thiệt hại sẽ có quyền tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ và trong trường hợp của bên bán (khi đã lỡ gửi hàng đi) có quyền ngăn cản việc giao hàng cho bên mua ngay cả nếu bên mua giữ chứng từ để nhận hàng( K1,2 điều 71 CISG ) Còn theo Điều 7.3.4 của PICC về Quyền tạm dừng thực hiện hợp đồng thì một bên cũng có quyền tạm dừng việc thực hiện nghĩa vụ của mình tương tự như CISG Biện pháp này được xem là nhằm tăng cường sự hợp tác giữa các bên, tránh việc chấm dứt hợp đồng hoàn toàn phù hợp với mục tiêu duy trì quan hệ hợp đồng giữa các bên của PICC Tuy nhiên, PICC không đưa ra quy định cụ thể về việc một bên có thể tạm dừng thực hiện nghĩa vụ nào của hợp đồng
Ví dụ, trong tình huống bên mua đã thực hiện một phần nghĩa vụ thanh toán
cho người bán, sau đó, bên bán lại có cơ sở để tin rằng bên mua sẽ không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiếp theo Vậy, bên bán có quyền tạm dừng thực hiện nghĩa vụ giao toàn bộ hàng hóa hay chỉ phần hàng hóa mà bên mua có thể không thực hiện nghĩa vụ thanh toán Điều 7.3.4 PICC đã không quy định cụ thể về vấn đề này như CISG nhưng nếu xem xét thực tiễn xét xử của CISG có thể thấy rằng, trong trường hợp trên, bên bán chỉ có quyền tạm dừng thực hiện nghĩa vụ đối với phần hàng hóa mà có thể tin rằng bên còn lại sẽ không thực hiện nghĩa vụ thanh toán
Cũng tại điều 71 CISG có quy định nghĩa vụ thông báo yêu cầu một bên
phải thông báo ngay cho bên còn lại về việc tạm ngừng Mục đích là để cân bằng lợi ích giữa các bên trong quan hệ hợp đồng và tránh khả năng một bên lạm dụng quyền để tạm dừng thực hiện nghĩa vụ Theo thực tiễn xét xử thì việc không thông báo đúng hạn sẽ dẫn đến hậu quả là bên có nghĩa vụ thông báo phải bồi thường thiệt hại cho bên còn lại đồng thời không được sử dụng quyền
Trang 7tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ Ngoài ra, khi một bên có dấu hiệu vi phạm cơ bản hợp đồng, thì trước khi thực hiện bên muốn tuyên bố hủy bỏ hợp đồng phải gửi thông báo hợp lý cho bên kia để bên kia có thể đưa ra bảo đảm thỏa đáng
về việc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, từ đó có thể giải tỏa nghi ngờ ,khúc
mắc giữa các bên Ngược lại, trong Điều 7.3.3 của PICC không yêu cầu bên
nghi ngờ bên còn lại sẽ vi phạm cơ bản hợp đồng phải gửi thông báo thể hiện ý định hủy bỏ hợp đồng để cho phép bên bị nghi ngờ vi phạm có thể cung cấp những bảo đảm đầy đủ rằng họ sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình Quy định này hoàn toàn khác với CISG Nghĩa vụ thông báo có thể góp phần thúc đẩy sự hợp tác giữa các bên trong việc giải quyết các khúc mắc, từ đó đảm bảo duy trì hợp đồng ký kết giữa các bên Thiết nghĩ quy định này là hoàn toàn phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của PICC, việc PICC không có quy định về yêu cầu này là một sự khiếm khuyết mà CISG có thể bổ sung
Một vấn đề đặc biệt nữa nhóm muốn nói đến ở sự lấp lỗ trống CISG của
PICC trong quy định pháp lý liên quan đến việc điều chỉnh giảm khoản tiền bồi thường quá mức Các bạn tham khảo tại Điều CISG không quy định về
điều này Nhưng tại Điều 7.4.13 của PICC có nói “Khi hợp đồng có một điều
khoản quy định bên không thực hiện nghĩa vụ phải trả một khoản tiền bồi thường cố định cho bên bị thiệt hại do việc không thực hiện bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu số tiền đó bất kể mức độ thiệt hại thực tế như thế nào”.Nhưng
tại Khoản 2 Điều 7.4.13 có nói rằng Khoản tiền bồi thường cố định trên đây có thể được giảm, nếu nó vượt xa mức độ thiệt hại thực tế Tức là số tiền thỏa
thuận đó được phép giảm một cách hợp lí khi xảy ra sự bất bình đẳng giữa các bên, không được bỏ qua biện pháp này Khoản tiền này cũng không được tăng nếu thiệt hại thực tế cao hơn thỏa thuận
Ví dụ: Tòa án trọng tài thương mại quốc tế tại Phòng TM và CN Liên bang Nga trong phán quyết số 229/1996, ngày 5/6/1997 của mình đã áp dụng PICC để bổ sung thiếu sót của CISG về điều chỉnh giảm khoản tiền bồi thường quá mức.Hợp đồng giữa người bán Bun-ga-ri và người mua Nga có điều khoản phạt cho việc chậm thanh toán Khi người mua Nga chậm thanh toán, người bán đã khiếu nại yêu cầu trả khoản tiền phạt theo quy định tại điều khoản nói trên Người mua đã yêu cầu trọng tài giảm khoản tiền phạt vì cho rằng khoản tiền phạt này không tương ứng với thiệt hại là hậu quả của hành vi
vi phạm nghĩa vụ
Trong vụ này, Hội đồng trọng tài đã áp dụng PICC theo Điều 7.4.13 như đã nói
ở trên để giảm khoản tiền phạt xuống 50% so với khoản được quy định trong HĐ
Nếu một hợp đồng có quy định rằng sẽ chịu sự điều chỉnh của CISG nhưng những vấn đề mà CISG không chạm tới thì PICC sẽ là một nguồn luật bổ sung khá chi tiết và đầy đủ cho CISG Khi kết hợp sự điều chỉnh hợp đồng của PICC và CISG thì sẽ hoàn toàn khả thi và hợp lý.hơn khi chỉ sử dụng mình CISG Vì vậy, quan điểm của chúng tôi là về lâu dài pháp luật Việt Nam nên được điều chỉnh theo hướng tiếp cận giống như CISG và với những bổ sung làm rõ thêm từ nguồn quy định của PICC (ví dụ như quy định về yêu cầu các
Trang 8đảm bảo cần thiết, quy định về việc chấm dứt hợp đồng khi bên vi phạm không cung cấp được đảm bảo cần thiết trong thời hạn hợp lý
Sau khi chúng ta đã nắm được cơ bản các nội dung mà PICC điều chỉnh cũng như sự khác biệt giữa PICC và CISG, chúng ta sẽ thử tìm hiểu xem: so với các quy chuẩn chung của quốc tế Pháp Luật Việt Nam có những khác biệt gì.
3 So sánh giữa PICC và Luật VN ( BLDS 2015 và LTM 2005)
- Giống nhau:
+ Cùng điều chỉnh các quy định trong lĩnh vực thương mại để các chủ thể tham gia vào các mối quan hệ này tự điều chỉnh hành vi của mình không
vi phạm luật
+ Trong các HĐ trong nước các bên cũng có thể thỏa thuận áp dụng PICC
để điều chỉnh và không trái với những quy định trong LTM.
+ Cả hai điều quy định các bên được tự do giao kết hợp đồng
- Những điểm khác nhau cơ bản :
Chủ thể ban hành - Do 3 đại diện của 3 trường
phái Luật nổi tiếng ban soạn
- Quốc Hội soạn thảo
Hiệu lực - Chỉ có giá trị ràng buộc
khi các bên thỏa thuận áp dụng các nguyên tắc này.
- Khi các Công ước Quốc tế khác không quy định.
- Đương nhiên áp dụng
Phạm vi áp dụng - Được áp dụng cho các
giao dịch trong phạm vi Quốc tế.
- Được các Chính Phủ các
QG tham khảo để soạn luật Quốc Gia cho phù hợp với
xu thế chung ( Luật mẫu)
- Được áp dụng cho các chủ thể tham gia giao dịch các HĐ trong nước ( Luật chính thức)
- Do các bên thỏa thuận áp dụng trong
Trang 9các HĐ TMQT Hình thức - Nỗ lực soạn ra các nguyên
tắc, dùng ngôn ngữ được hiểu theo cách chung cho các thương nhân quốc tế khi vận dụng.
- Ngôn ngữ được soạn theo quy chuẩn Việt Nam.
Phạm vi điều
chỉnh
Hình thức giao kết - Tất cả các hình thức giao
kết đều được chấp nhận kể
cả là nhân chứng (Đ 1.2)
-Yêu cầu văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lí: điện báo, telex, fax…)
Áp dụng tập quán - Do các bên tùy nghi áp
dụng hoặc được dùng các tập quán được hình thành
từ lâu giữa mối quan hệ hai bên
-
Không chỉ dừng lại việc khác nhau cơ bản đó, PICC và Luật Việt Nam còn
có những điểm khác nhau trong các nội dung cụ thể Ví dụ như:
VI PHẠM NGHĨA VỤ TRƯỚC THỜI HẠN
Khái niệm
vi phạm
nghĩa vụ
trước khi
tới hạn
thừa nhận và có khung pháp lý quy định cho những trường hợp cụ thể
Chưa thừa nhận
- chỉ thể hiện gần tương tự ( Điều 411
BLDS 2015 quyền
hoãn thực hiện nghĩa vụ trong HĐ
Trang 10song vụ)
Về đk cấu
thành vi
phạm trước
hạn và các
hệ quả của
nó
có khuynh hướng bảo vệ người bị vi phạm nhiều hơn, khi trao quyền cho
họ được chấm dứt hợp đồng ngay lập tức khi vi phạm nghĩa vụ trước thời hạn là rõ ràng
-Luật VN bảo vệ bên vi phạm, khi giới hạn quyền bên
bị vi phạm trong hầu hết các trường hợp (ngoại trừ tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ)
phải chờ đợi vi phạm nghĩa vụ trước hạn trở thành
vi phạm trên thực tế
Quyền bồi
thường
thiệt hại
Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại
Rất khó để tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ yêu cầu bồi thường
vì không thể chứng mih đã có vi phạm (Điều 3 khoản 12 LTM 2005)
Nghĩa vụ
thông báo
Điều 7.3.3 của PICC không yêu cầu bên nghi ngờ bên còn lại vi phạm
sẽ vi phạm cơ bản
HĐ gửi thông báo
để thể hiện ý định
Không quy định về vấn đề thông báo trong trường hợp tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ