GIỚI THIỆU MỘT VĂN BẢN CHỮ THÁI QUỲ CHÂU CỐ NHỮNG GHI CHÉP LIÊN ỌUAN ĐẾN PHONG TRÀO CẦN VƯƠNG ở VÙNG TẦY BẮC NGHỆ AN.. I..[r]
Trang 1Ax / +* 0023 MCib 1 í> 1 K A N TRI DOI
Trang 2P G S T S T R Ầ N TRÍ D Õ I
NGÔN N G Ứ
VÀ S ự PHÁT TRIỂN VẦN HÓA XÃ H Ộ Ĩ
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA THÔNG TIN
Trang 3Lỏi giói thiệu
N G Ô N NG Ũ VÀ SỤ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA-XÃ HỘ I của PGS TS Trần Trí Dõi có
thể coi như là sự gợi mở mang tính giao lưu
về một số vấn đề ngôn ngữ cụ thể nhưng khá bức xúc đang đặt ra ở ta hiện nay; trong đó đặc biệt đối với ngôn ngữ các dân tộc anh em Với những quan niệm và quan điểm hết
sức rõ ràng về bản chất và chức năng xã hội
của ngôn ngữ, tác giả đã tự tạo cho mình những tiền đề nhận thức khá vững chắc để lí giải một số hiện tượng ngôn ngữ cụ thể; đồng thời qua đó cũng góp phần làm rõ thêm những định hướng vốn có liên quan đến quá trình thiết kế một số chính sách ngôn ngữ mà chúng
ta đang muốn hướng tới.
Mặc dù tác giả không có dụng ý khai triển trang lí thuyết nào trong tập sách của mình Nhưng các nhân tố văn hóa - xã hội và truyền thống trong quá trình phát triển ngôn ngữ ở đây được tác giả trình bày như một cơ chế thống nhất trong cách lí giải, đã làm cho người đọc mở rộng tầm nhìn để củng cố thêm nhận
thức của mình về bản chất xã hội đích thực của ngôn ngữ trên nhiều phương diện.
Cùng với hướng tiếp cận khồng tư biện trên, tác giả đã có những gợi mở khá tinh tế
Trang 4về mật phương pháp với những luận cứ chặt chẽ, rõ ràng, có nguyên tắc và giàu sức thuyết phục; và tất cả được xây dựng trên một hệ thống tư liệu sống động, phong phú, rất đáng tin cậy về mặt cụ thể lịch sử.
Các chủ đề nhỏ trong từng bài viết tuy có khác nhau nhưng sự thống nhất về mặt phương pháp như đã nêu là điều xuyên suốt trong các bài viết, và chính nó đã làm nên chỗ mạnh rất dễ thấy của tập sách.
Xét trên các mặt tư liệu, luận điểm và phương pháp, tôi tin rằng NGÔN NGỬ VÁ s ự
PHÁT TRIỂN VĂN H Ó A-XẢ HỘI có thể góp phần làm phong phú thêm quá trình giao lưư đối với chủ đề đang mang tính thời sự này Với sự cảm nhận ấy, tôi xin được trân trọng giới thiệu tập sách cùng bạn đọc.
Hà N ộ i t h á n g 10 năm 2 0 00
GS TSKH Nguyễn Lai
6
Trang 5KHONG GIAN NGON NGƯ
VÀ TÍNH KẾ THỪA ĐA CHIỀU CỦA ĐỊA DANH
[QUA PHÂN TÍCH MỘT VÀI ĐỊA DANH Ở VIỆT NAM]
1 K hông gian n gôn ngữ và dịa danh: dẫn nhập
Khi chúng ta bắt tay vào nghiên cứu địa danh thuộc vào một vùng lãnh thổ nhất định nào đó, chúng
ta đồng thoi đã tiếp cậri nó ở hai khía cạnh Truóchết đó là cách xem xét của ngôn ngữ học lịch sử,tức là môn khoa học nhằm xác định tính kế thừa trong lịch sử các địa danh thuộc vùng lãnh thổ dang được bàn đến Sau đó là cách xem xét của ngôn ngữ học địa lý Cách tiếp cận th ứ hai vừa chấp nhận cả những yếu tố có tính kế thừa vốn là đối tuợng của ngôn ngữ học so sánh lịch sử, vừa chấp nhận những yếu tô nối tiếp Các yếu tố nối tiếp có thể là vay mượn, có thể là mói xuất hiện Chính ở đây việc nghiên cứu địa danh cần sự hỗ trợ của những khoahọc ngoai ngôn ngữ học, trong đó lịch sử đóng vaitrb quan trọng hơn cả
Điều đập vào m ắt chúng ta trước tiên khi nghiên
cứu địa danh bao giơ củng là tính da dạng về nguồn gốc của nó Điều này là một thục tế Chúng ta hãy
lấy một vài ví dụ về vùng địa danh Hà Nội hiện
Trang 6nay chẳng hạn để th ể hiện rõ tính đa dạng ây Bất
cứ một nhà nghiên cứu nào cũng đồng ý rằng Từ Liêm là một địa danh Hán-Việt bắt nguồn từ một địa danh thuần Việt Chèm / Trèm dẫn xuất từ tiếng Việt xưa *toiem hoặc Hlem Đây rõ ràng là một dịa danh thuộc dạng kế thừa trong lịch sử vì khoa lịch
sử ngữ âm tiếng Việt đã chứng minh được tính chuyên
đổi lịch sử *tl>ch/tr Như vậy ở đây chúng ta đã có một dạng địa danh thuần Việt (chem), một dạng địa danh Hán-Việt (Từ Liêm) bắt nguồn từ một địa danh
th u ần Việt Mặt khác ở Hà Nội, chúng ta lại có địa
danh Thăng Long Địa danh nay là Hán-Việt thuần túy Ngưòi Việt ta ai cũng hiểu kinh đô Thăng Long
là kinh đô "rồng bay" nhưng địa danh này không băt
nguồn từ một địa danh th u ần Việt trước đây như
kiểu Từ Liêm Rõ ràng ở đây, sự xuất hiện tên gọi Thăng Long khác vói sự xuất hiện tên gọi Từ Liêm,
tuy không mang mối liên hệ vói địa danh th u ần Việt, hình thức lại là Hán nhưng hoàn toàn là của nguòi Việt chúng ta đặt ra Cũng ở vùng Hà Nội này,
chúng ta có một địa danh sông Cà Lồ ở về phía Bắc
sông Hồng Trong lịch sử, dọc theo con sông này là những làng Việt đầy ắp huyền thoại mang đặc trưng
văn hóa tâm linh của ngưbi Việt Nhưng Cà Lồ là một dịa danh có nguồn gốc Mã lai để chỉ nơi một
con sông nhánh đổ ra một con sông lớn hơn (sông Hồng) Nói cách khác ta có một địa danh thuần nghĩa gốc Malayo-Polynesian trong một môi tnròng thuần
Việt Vầ từ tên gọi Cà Lồ ấy, ta có chẳng hạn Phủ
8
Trang 7Lỗ là một địa danh Hán-Việt sau này [4;23] N hư vậy nếu nhìn ở hiện tại, dịa danh của một vùng nào
dó có thể có nhiều nguồn gốc khác nhau.
Một vài địa danh mà chúng ta nêu lên lam ví
dụ về tính đa dạng nguồn gốc của chúng ở vùng Hà Nội là khá thuần nhất vầ rấ t dễ được chấp nhận
Trong nhiều trương họp tính da dạng uề nguồn gốc của địa danh còn ở ngay chính trong một địa danh
Điều này có nghĩa là có những địa danh sự giải thích
về nguồn gốc của nó được lý giải theo nhiều cách
khác nhau Chẳng hạn địa danh Châu Đốc hiện nay
của tỉnh An Giang có tói ba cách lý giải khác nhau
Có ý kiến cho rằng Châu Đốc thực ra là cách nói
chệch đi (corruption) của một từ Căm-pu-chia
"meâth-chruk" có nghĩa là "mõm lợn" để chỉ phần đất xưa kia được tạo ra giữa sông Tiền và sông Hậu Tuy nhiên lại có một cách giải thích khác cho rằng
Châu Đốc được hình thành từ hai yếu tố mà có: a) yếu tố Châu là họ của bà Châu Thị Tế, vợ ông
Nguyễn Ngọc Thoại, nguòi chỉ huy đào kênh Vĩnh Tế
và b) Đốc là chức vụ vua ban để cai quản đất này
Do đó Châu Đốc có ý nghĩa là "noi bà đốc họ Châu"
khai phá và lập nên Lại có một ý kiến th ứ ba nữa
cho rằng địa danh Châu Đốc này là một từ được hình thành từ từ châu có nghĩa là "vùng đất, tỉnh"
và dốc có nghĩa là "noi thiêng liêng, quan trọng"
Trong ba cách giải thích khác nhau về ý nghĩa của
địa danh Châu Đốc ấy, mỗi cách mang một nguồn
Trang 8gốc riêng của mình và có vẻ dều có lý Nhưng cách
giải thích Châu Đốc là do suy thoái của tên gọi xưa meâth-chruk xét ở khía cạnh ngôn ngữ là r ấ t khiên
cuông vì ngưòi ta khó có th ể xác lập được những nét
liên hệ ngữ âm giữa Châu Đốc vói meâth-chruk cho
dù đó la cách nói chệch di Hơn nữa cũng chính
ngưòi Căm-pu-chia gọi cái đảo đưọc hình th à n h từ
hai con sông Tiền và sông Hậu ấy là Sla-Két có nghĩa
là "cau rừng" [7;5] Vậy thì tại sao ngưòi ta lại lựa
chọn meâth - chruk chứ không phải là Sla-Két để địa
danh hóa? Hình như câu hỏi này sẽ không th ể trả loi được
ở một vùng đất khác thuộc miền Đông Nam
Bộ chúng ta cũng có một địa danh mang nhiều tranh cãi xét về m ặt nguồn gốc Đó là truòng họp địa danh
Bà Rịa, theo ông E Aymonier, một học giả nguòi Pháp, Bà Rịa la tên phiên âm từ tiếng Khome "Pariya"
và ngưòi Việt đọc trại chữ này mà thành Do đó trong nhiều sách báo viết bằng tiếng Pháp khi nói
về mảnh đất này, ngưbi ta đều nhất loạt ghi bằng
chữ BaRia vì cho rằng nó có nguồn gốc từ tiếng Khomer Thế nhưng từ thơi Đường Thư, theo ghi chép của Trịnh Hoài Đức, đia danh Bà Rịa đã có và là
tên gọi của một nước gồm những ngươi Mạ, Châu
Ro ở về phía nam Chiêm Thanh "sau bị Chân Lạp
Đường Thư đã cho chúng ta biết) Như vậy, Bà Rịa
là một địa danh có từ đầu công nguyên và rấ t có
10
Trang 9thể là tên của một lãnh địa hay một vương quốc
Ngoài ra theo lưu truyền trong dân gian thì Bà Rịa
lại là tên một nguôi phụ nữ có thực vào th ế kỷ XVII
Bà đã có công tập họp dân chúng khai thác vùng
đất này nên ngưòi ta gọi vùng đất ấy là đất Bà Rịa
[5;23] Hình như trong ba cách giải thích nói trên cách giải thích thứ hai mang tính hiện thực hon và nếu điều đó là sự thục thì rấ t có th ể lớp địa danh
mà ông Aymonier coi la nguồn gốc Khơmer ấy chỉ là một lóp muộn về sau
Như vậy, xét về m ặt ngôn ngữ học, ngưòi ta thây rõ rằng mỗi một vùng địa danh và đôi khi là một địa danh thưòng mang tính khác biệt về m ặt từ nguyên của nó Sự khác biệt ấy là kết quả của một quá trìn h biến đổi lịch sử trong một vùng địa lý cụ
th ể và kết quả của sự biến đổi ấy được lưu lại cho
đến hiện nay Xét ở khía cạnh này, không gian ngôn ngữ dã phản ánh tính da chiều của một ưùng địa danh hay chính bản thân địa danh Khống gian ấy
- túv là tính da dạng dịa lý của các dịa danh - là mặt biểu hiện của một quá trình phát triển lịch sử các địa danh.
2 Địa danh, k ết quả đặt tên của nhu cầu
hoạt dộng xã hội
Trong hoạt động xã hội của một cộng đồng nguòi,
nhu cầu đặt tên là một nhu cầu tấ t yếu Địa danh hay tên gọi một vị trí nào đó trên bề m ặt trái đất
Trang 10của một vùng lãnh thổ cụ th ể là kết quả t ấ t yrếu của nhu cầu hoạt động xã hội ấy Mỗi một v ù n g đíất bao giơ cũng có tính lịch sử của nó phản á n h nhữm g quá trình hoạt động khác nhau của cư dân sin h sổmg
ở đó Vì th ế các địa danh có trong một vùng đ â t ây luôn luôn được thay đổi Sự thay đổi sẽ làm cho có địa danh m ất đi, có địa danh được lặp lại n h iều lầ n theo những cách khác nhau và cũng có địa d an h xu.ất hiện mói Nhưng dù biến đổi như th ế nào chăng n ữ a tên gọi các điểm địa lý ấy trên thực tế cũng là miột
bộ phận cốt yếu của ngôn ngữ và cùng vói ngôn n g ũ
là văn hóa của cộng đồng cư dân đã từng sinh sống
ở đó N hư vậy, địa danh tuy là một hiện tưọng của ngôn ngữ học nhưng nó chính lại là hình thức th ể hiện văn hóa của một cộng dồng cư dân dã từ ng hiện diện trong vùng lãnh thổ có các dịa danh.
Khi tính đến một thực tế như vậy, cùng với
tính đa nguồn gốc của các địa danh khác nhau trong một vùng địa lý nào đó và cùng vói tính "đa nghĩa" (túc là có nhiều cách giải thích khác nhau) của những địa danh cụ thể, chúng ta có th ể thấy rằng trong một thơi gian lịch sử lâu dài của một vùng đât khả năng có nhiều lóp cư dân đã từng sinh sống lập nghiệp là một hiện thực bình thương Do đó có một
vấn đề được đặt ra: liệu chúng ta có thể phân tầng các lóp địa danh dể nhận biết dưọc lịch sứ các cư dân là chủ thể của các lóp địa danh dó hay không Thoạt nhìn chúng ta thấy công việc ấy là có thể
12
Trang 11n h ư n g trong thực tế tình hình lại không don gián nhu- vậy.
C húng tôi xin dẫn ra m ột ví dụ ỏ tỉnh Nghệ
An chẳng h ạn có một con sông có vai trb địa lý cực
kỳ quan trọng không chỉ ơ tỉn h nay m à cả những
vùng xung quanh Đó là sông Lam Tên gọi sông Lam
l'a tê n Hán-Việt và nguòi ta thường suy diễn là con
"sông x an h ” căn cứ vào nghĩa Hán-Việt của từ Lam Nguòi ta cũng biết chắc chắn rằng tên gọi Lam là
lớp địa d an h muộn n h ấ t đưọc đ ặ t cho sông Trưóc đó
ta có sông cả thuần Việt của nguòi Việt có nghĩa là
sông chính Nhận thức này của nguòi Việt khi đặt tên rõ ràng vẫn cbn lưu giữ cho đến ngày nay khi chúng ta th ừ a nhận vai trồ quan trọng n h ấ t của sông cho vùng lãnh thổ ây Một điều th ú vị nữa là nguòi Thái Nghệ An gọi tên sông Lam cũng theo hướng nhận thức đó Đối vói nguòi Thái, sông Lam tức là
nậm pao của họ: N ậm là "sông" cồn Pao la "chính"
Không biết đó có phải là cách mà người Thái ơ đây
dịch nghĩa địa danh sông cả của nguòi Việt hay
không nhưng cách gọi tên ấy hình như th ể hiện tính
cổ xưa của nó Vậy là nếu nhìn ở bề ngoài chúng ta rất dễ dầng cho rằng trong ba tên gọi khác nhau
của con sông là lam, cá, pao, tên gọi lam là lóp sau
Trang 12mà nó là cách Hán-Việt hóa một tên gọi bản đũa
khác: sông R um (ở đây rum có nghĩa là "nước" > Têm gọi rum để chỉ tên sông này là cách gọi của nhữnig
cư dân Nam Á xưa ở khu vực Đông Dưong m à chíO đến hiện nay chúng ta vẫn cồn nhận ra dấu tíchi:
nậm Rốm, sông Gâm, dák Dăm v.v Vậy là từ ỉann ban đầu chỉ là cách "phiên" từ rum mà ra Sau đió
mà không nhớ (nay không cần nhó) tói rum nữ a Như vậy địa danh sông Lam về m ặt hình thức Là
là cổ như tên gọi sông c ả vói nghĩa th u ần Việt vậy.
Hình như trưòng họp nói trên cấp cho chúng tta một ví dụ có tính phương pháp Nguòi nghiên cứu
có thể thông qua dịa danh nhận biết văn hóa của những cư dân nào dó dã từng lưu trú trên lãnh th ố
có dịa danh Đồng thời, người ta củng thấy củ thê
có những cư dân gọi tên dịa danh noi mình cư trú bằng tên gọi của những cư dân khác có trước nhưng theo "hình thức" văn hóa của mình Trường họp sau, cùng vói thời gian, thường làm lu mờ mối liên hệ ngữ nghĩa của tên gọi ban dầu và dể gây ngộ nhận cho lóp CIC dân dến sau, tức là lớp cư dân kế thừa tên gọi của lóp cư dân trưóc dó.
Khi nói đến nhu cầu xã hội của việc đặt tên chúng ta cũng cần xem xét nó ỏ một khía cạnh khác nữa Đó là nhu cầu "văn tự hóa" các địa danh Hình
14
Trang 13nhu đây cũng là một lý do gây nên tính đa nguồn gốc của một vùng địa danh, tính đa nghĩa của một
sô địa danh nào đó Bởi vì nhu cầu đặt tên địa lý nơi mình cư trú là như nhau ở mọi lóp cư dân thì
k h ả năng "văn tự hóa" tên gọi ấy lại không như nhau trong họ Lý do th ậ t đon giản: trong lịch sử không phải dân tộc nào cũng có ngay chữ viết để ghi lại tiếng nói của mình, v ả lại rấ t có thể nhu cầu văn tự hóa địa danh một vùng nào đó gắn vói nhu cầu "hành chính" hóa vùng lãnh thổ đó Đến lưot, mình nhu cầu hanh chính hóa địa danh phản ánh một hoạt động xã hội khác là việc xác lập chủ quyền chính thức của lóp cư dân thực hiện văn tự hóa địa danh ấy
Trương họp Hán-Việt hóa các địa danh thuần
Việt (và sau này có chữ Nôm để ghi nên gọi là tên Nôm) là những ví dụ rõ nhất về hiện tuọng trên
Chúng ta biết khi sinh sống trên mảnh đất của tổ tiên, ngưòi Việt đã đặt tên cho các địa danh thuộc địa bàn cư trú của mình Nhưng lúc bây giơ chdng
ta chưa có chữ viết để ghi lại nó Khi chữ Hán du nhập vao địa bàn nguôi Việt sinh sống, việc văn tự hóa tên gọi địa danh của ngưbi Việt được đặt ra nhung không đon giản chút nào Bỏi vì không phải tên gọi nào của nguòi Việt cũng có chữ Hán tưong
ứng Do đó thay vì cần phải ghi đúng tên làng mọc,
lưu - Ư.v Chính ở đây nó dã tạo ra sự đa nguồn
Trang 14gốc của các địa danh Và cũng từ đây ngưòi ta biết rằng hiện tượng "văn tự hóa" địa danh ở nước ta về đại thể gắn liền với vấn dề "hành chính hóa", một việc lam liên quan vói nhiệm vụ th ể hiện quyền quản
lý một vùng nào đó N hư vậy, ở dây hoạt dộng xã hội của một cộng dồng người dã tác động dến các lóp địa danh và phẩn ánh những nét khác biệt nhât định lên các lớp dịa danh ấy.
3 Áp dụng trong v iệc n hìn nhận địa danh
biên giới Tây Nam
Khi nhìn nhận tính đa chiều của địa danh tỉ'ong không gian n h ư sự phân tích sa lưọc ở trên, chúng
ta có th ể rú t ra một vài nhận xét về tìn h trạng địa danh hiện nay ở vùng biên giói Tây N am 1 Theo những gì mà chúng ta đã biết [3], các địa danh ở đây cũng đa dạng về m ặt nguồn gốc như địa danh của những vùng lãnh thổ khác ở Việt Nam và sự phân tầng về nó lại càng phức tạp Vì thế, hình như
dấu ấn hành chính hóa ở đây đậm nét hon.
Để cho giản tiện chúng ta chỉ quan sát tình hình địa danh vùng biên giói các tỉnh thuộc đồng bằng Nam Bộ (từ Bình Phuóc trở xuống phía Nam) Trong số 2999 địa danh các xã thuộc biên giới, có
(1) Vùng biên giói Tây Nam của nưóc ta là phần lãnh thổ Việt Nam chạy dọc theo biên giói tử ngã ba Việt - Miên - Lao ra Vịnh Thái Lan Nó là phần biên giói của các tỉnh Kon Tun, Gia Lai, Đắc Lắc, Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Đồng TháD,
An Giang và Kiên Giang.
16
Trang 15tói 2867 địa danh là Hán-Việt (chiếm 95%) va chỉ có
132 địa danh chưa xác định lầ Hán-Việt Sô lưọng
ít ỏi nay có th ể là thuần Việt, có th ể là gốc Khơmer
va cũng có thể là gốc Malayo-Polinêsian Như vậy, căn cứ vào không gian hiện diện của các địa danh, chúng ta có thể nói rằng ở phần lãnh thổ này từ khi có con ngưòi sinh sống đã có những cư dân là
chủ th ể của các lóp địa danh nói trên cư trú Điều này là chắc chắn uà nó hoàn toàn không phụ thuộc vào sô' lượng dịa danh nào là nhiều hay ít.
Hình như nhận xét nói trên không có gì mới
so vói những gì chúng ta đã biết nha các cứ liệu về lịch sử Chúng ta biết rằng khỏi thủy đây là lãnh
thổ của nưóc Phù Nam, chủ nhân của nền văn hóa
Óc Eo Về sau nước Phù Nam bị Chân Lạp thôn tính Tư liệu lịch sử cũng đã xác nhận rằng chủ nhân chính của nưóc Chân Lạp là tộc người thuộc nhánh Khơmer Vậy thì chủ nhân của nưóc Phù Nam
thuộc nhóm cư dân nào mà lại bị ngưòi Khomer thôn tính? Sẽ là phù họp hơn khi nghĩ rằng họ không phải là cư dân của nhánh Môn-Khomer vì nếu họ là
cư dân thuộc nhánh ấy thì ranh giói tộc nguòi không đến nỗi không trùng với ranh giói lãnh thổ Vậy họ
là ai? Chính lúc này tư liệu địa danh cho ta một chứng cớ dể giải thích Rất có thể vùng đất của nước Phù Nam trước khi bị nguòi Chân Lạp thôn tính là vùng đất của những cư dân nói tiếng Malayô -
Trang 16Polynesian mà dấu vết địa danh còn lại cho đến hiện nay.
Như vậy, nếu nhìn nhận ở cứ liệu địa danh, tính đa chiều trong không gian của chúng chỉ có thể giúp ta xác định các lóp cư dân có m ặt trên vùng lãnh thổ ấy Chính nhu cầu "văn tự hóa" hay nhu cầu "hành chính hóa" địa danh mới giúp chúng ta hiểu rõ hon rằng lóp văn hóa nào trong lóp các cư dân ấy th ể hiện chủ quyền nhà nước của mình, về điều này không ai nghi ngơ gì nửa Vì vào th ế kỷ
XVIII trong Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn đã ghi
chép các địa danh theo văn tự Hán-Việt khi nói về phủ Gia Định xưa Có lẽ vì thê m à sô địa danh Hán-Việt ở vùng này chiếm đa số hon hẳn Vì cũng như các vùng đất khác, địa danh Hán-Việt rất có thể
đã kê thừa những địa danh đã có trưóc đây
TÀI Ll.ÊU THAM KHÁO CHÍNH
1 Nguyễn Tài cẩn - Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng
Việt (sơ thảo), Nxb Giáo dục, Hà Nội 1995.
2 Hoàng Thị Châu - Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ
đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông, TBKH, ĐHTH
Hà Nội, tập 3, 1964.
3 Trần Trí D õi - vấn đề địa danh biên giới Tây
Nam: một vài nhận xét và kiến nghị, Báo cáo KH tại Hội nghị BGTN 2 - 1996 tại Hà Nội.
Trang 174 Trần Trí D õi - Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc
thiểu số Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội 1999.
5 Đinh Văn Hạnh - v ề địa danh Bà Rịa, Văn hóa
nghệ thuật N ° 10/1997.
b A G Haudricourt - Problème de phonologie diachronique, Paris SELAF, 1972.
7 M onographie de la province de Chảu-Đốc - Publi-
cations de la société des études Indo-chinoises, Sài Gòn 1905.
8 Nguyễn Kiên Trường - Những đặc điểm chính của
địa danh Hải Phòng, luận án PTS khoa học, Đại học KHXH
và NV - Hà Nội, 1996.
9 Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô - Những nguyên
lý địa danh học, Nxb "Nauka", Matxcơva 1964 (bản dịch).
Trang 18VỀ ĐỊA DANH CỬA LÒ
1 củ a Lò hiện nay là tên gọi một thị xã có
diện tích tự nhiên 26,7Gkm2 vói sô dân 43.144 nguòi của tỉnh Nghệ An Đây là một địa chỉ du lịch, nghỉ ngoi hấp dẫn hiện nay ở nưóc ta, n h ất là đối vói cư dân các tỉnh phía Bắc Sự hấp dẫn của nó không chỉ
có bãi tắm dốc thoai thoải, cát mịn, nưóc luôn luôn trong và sạch đưọc nhũng nguòi đã từng đi nghỉ nhiều noi công nhận mà noi đây con là một vùng đất in đậm những nét riêng của một tiểu vùng văn hóa thuộc đất Nghệ An Trong những nét riêng ấy, tên gọi của thị xã là một địa danh rấ t có thế sẽ dem lại cho chúng ta những hiểu biết khá lý thú về vùng đất ven biển này
Trước đây, c ủ a Lò mói chỉ là tên riêng của một
cưa sông đổ ra biển như bao nhiêu của sông khác của niróc ta (Cửa Hội là noi sông Lam đổ ra biển ở Nghệ An, Cửa Sót là cửa sông Nghền chảy ra biển
ở Hà Tĩnh, c ử a Tùng là nơi sông Minh Lrnrng hay Bến Hải chảy ra biển ở Quảng Trị v.v ) c ử a sông này là noi sông Câm (tên địa phuong là Lạch Lò) chảy ra biển vói tả ngạn là dãy núi nhấp nhô của
xã Nghi Thiết và hữu ngạn là xã Nghi Thủy Từ
20
Trang 19tháng 4/1986, củ a Lò trở thành tên một thị trấn
cảng và du lịch thuộc huyện Nghi Lộc gồm diện tích
và dân sô của hai xã Nghi Tân, Nghi Thủy và một
phần đất của hai xã Nghi Thu, Nghi Họp Sau đó,
từ tháng 8/1994, địa danh c ủ a Lò trở thành tên riêng
của thị xã trên cơ sở thị trấn c ử a Lò truớc đây và
đất đai của một sô xã khác của huyện Nghi Lộc
N hư vậy từ tên riêng để chỉ một cửa sông đổ ra
biển, Của Lò trở thanh tên riêng của một đon vị
hành chính
địa danh này bao gồm hai yếu tố: của vói nghĩa là
"noi sông đổ ra biển" và lò mới là tên riêng Cho
đến hiện nay, theo tập họp của chúng tôi có một vài
cách lý giải rấ t khác nhau về ý nghĩa của địa danh
này và mỗi cách lý giải ít nhiều phản ánh nét văn
hóa riêng của nó
phuong hiện nay, sở dĩ nguòi ta gọi cửa biển này là
Cửa Lò là do cách nói chệch đi và gọn lại của tên
gọi Của Lùa trước đây Do chỗ con sông cấm chảy ra
biển giữa một bên là dãy núi của xã Nghi Thiết (phía
Bắc) và một bên là núi Lô Sơn thuộc xã Nghi Tân
và Nghi Thủy ở phía Nam, cho nên khi gió từ biển
thổi vào cũng như gió từ huóng Tây thổi ra biển,
nguòi ta thây nơi đây như một của gió lùa Sụ cảm
n h ậ n này đưọc đặt tên cho của biển và vì thê nó có
tê n là của gió lùa Từ của gió lùa nguòi ta nói gọn
Trang 20lại là Của Lùa v ề sau Của Lùa trả thành Cikt Lò
và khi nguòi Pháp đến vùng này, địa danh nói trên được văn tự hóa như hiện nay chúng ta vẫn dùng
N hư vậy, tên của của biển là do nguòi dân địa phuơng căn cứ vào đặc điểm khí hậu của nó gọi ra m à thành
2.2 Cách giải thích th ứ hai cho rằng Cửa Lò
là địa danh gốc Malayo-Polynêsian với nghĩa là "cửa sông" Nguòi đưa ra giả thuyết như trên là Bình Nguyên Lộc Theo tác giả này, trong ngôn ngữ của
các cư dân Malayo-Polynêsian có từ kưala để gọi tên
noi một con sông đổ ra biển hay noi một con sông nhỏ chảy ra một con sông lớn Dần dần, danh từ
kưala vói nghĩa là cửa sông chuyển thành danh từ riêng kưala / kưalo và địa danh hóa thành c ủ a Lò
Có th ể nói theo cách lý giải này, địa danh c ủ a Lò
có nghĩa là "cửa sông”, noi một con sông (ở đây là sông Cấm) đổ ra biển theo cách gọi của cư dân Malayo-Polynêsian mà hậu duệ của họ hiện là những ngưòi nói các ngôn ngữ thuộc nhóm Chăm con sống
ở phần Nam Trung bộ nước ta Như vậy tên gọi
kưala này vốn là của ngưòi Malayo, về sau Việt hóa trở thành c ủ a Lò.
Để hỗ trợ cho cách giải thích của mình, Bình
Nguyên Lộc cho chúng ta biết rằng trong Việt sú tiêu
án của Ngô Thì Sĩ (1726-1780), cửa biển này có tên
là Côla và ông lập luận rằng "Nếu địa danh của Lò
mà có trưóc Ngô Thì Sĩ thì sử gia họ Ngô đã dịch
ra là Lô Khẩu, chắc chắn là không sai, vì thói quen
22
Trang 21của nhà nho ta là thế" [5;530] Mặc khác, tác giả
này cồn cho biết rằng ơ đất Hà Tĩnh hiện nay có
một cửa sông đổ ra biển (cửa sông Kinh thuộc huyện
Kỳ Anh) hiện mang tên là c ử a Khẩu vốn xira có tên
là Kỳ La Trong "Việt sử thông giám cương mục",
quyển 9, các nha sử học nước ta cồn ghi chú cửa
biển này có tên là cửa Hà Hoa thuộc xã Kỳ La
[8;626] Tên gọi Kỳ La này cũng như tên gọi Cô La
của Ngô Thi Sĩ, theo Bình Nguyên Lộc, dều từ kưala
mà ra Do đó địa danh chỉ những cửa sông này chính
là cách chuyển từ danh từ chung thành tên riêng
mà có
gốc của địa danh c ủ a Lò chúng ta thấy ở đây có
hai con đuờng khác nhau địa danh hóa cùng một vị
trí địa lý Cách giải thích th ứ nhất rõ ràng nhấn
m ạnh rằng tên gọi củ a Lò có được là do nguời dân
địa phuong căn cứ đặc điểm khí hậu "gió lùa" của
cửa biển này Hình như cách lý giải như vậy là duy
nhất cho loại địa danh kiểu như trên Có lẽ tính đon
n h á t của lối giải thích ấy cho chúng ta thấy rằng
việc hình thành địa danh c ủ a Lò do sự rú t gọn/đọc
trạ i đi của tên gọi củ a gió lùa là rấ t ít thuyết phục.
danh có nguồn gốc Malayo-Polynêsian với nghĩa của
sông, theo cách nhìn nhận của chúng tôi, đưọc ủng
hộ bằng những lý do sau đây:
Trang 22Thứ nhất: Cách đ ặt tên địa danh theo lối chuyển
tù tên gọi chung th àn h tên riêng là khá phổ biến
Chẳng hạn sông Lam là cách Hán-Việt hóa tên gọi Rum vói nghĩa là "nưóc, sông" của ngưòi dân bản
địa cổ xưa mà thành Điều này có nghĩa là ban đầu
rum chỉ là từ có nghĩa là "sông, nuóc" v ề sau từ dùng để chỉ sông nước là rum này trả th àn h địa danh hóa (Bao giò ngàn Hống hết cây, sông R um hết nuóc ) Và sau đó nữa tên R um đưọc ghi bằng từ Hán-Việt Lam Từ đó ta có con sông lam và tên gọi
này, do nghĩa Hán-Việt của nó, làm ngưòi ta lầm tuỏng đó là sông xanh, nước xanh mà quên đi nghĩa
từ nguyên của nó chỉ là từ có nghĩa ban đầu "nưóc,
sông" Sông Đà vói nghĩa Đà là "nước, sông", sông
Đà rằng vói nghĩa Đà rằng (vốn từ dakrong) cũng
có nghĩa là "nưóc, sông" v.v đều là những địa danh hình thành từ con đuòng riêng hóa/địa danh hóa tên gọi chung ấy
Thứ hai: Vùng địa lý có tên gọi Của Lò này là
một vùng con có khá nhiều địa danh gốc Malayo- Polynêsian, đặc biệt là những địa danh vùng ven biển Hình như sự hiện diện những địa danh cùng
gốc vói Của Lò nàv cho thấy đâv không phải là hiện
tuọng đơn nhất
Trước hết, chúng ta thấy rằng c ủ a Cần (nguyên trước là Của CànỊCỜn) noi sông Hoàng Mai đố ra biển ở làng Phương Cần huyện Quỳnh Lưu (Nghệ
An) cũng là một địa danh gốc Malayò-Polinêsian ơ
24
Trang 23đây, cần! càn Ị cơn có nghĩa là cá vì noi đây có một đền râ t thiêng mang tên là dền Còn/Càn (tên Hán-Việt:
CÀN HAI) vốn ban đẩu xuất phát từ nghi lễ thơ cá của những nguơi dân địa phương sơ khai Trưóc đồi
Trần, địa danh này vẫn là Càn, nhưng vì kiêng tên húy chữ Càn nên đổi th àn h Cần Dân chài đi biển
khi ra khoi vào lộng thương đến cầu khấn ở đây Vua Trần Anh Tông năm Long Hưng thứ 10 (1312)
và vua Lê Thánh Tông (năm 1469) khi đi đánh Chiêm Thành đều cầu đảo ở đền và được thắng lón Trong
từ ngữ của các nhóm cư dân Malayo-Polynêsian dạng
ngù àm k a n lk â n có nghĩa "cá" hiện cồn phổ biến (chăm: ika n /ka n "cá"; Raglai: ikâưikàq "cá") Như vậy, địa danh c ử a Cần, đền Cần làng Phưong Cần đều xuất phát từ gốc ban đầu là cần có nghĩa là "cá" và
do đó đền cần là đền thơ "cá" (ở đây là cá ông hay
cá voi), của càn là "của sông có đền thơ cá" và làng
Phuơng Cần là làng "có đền thơ cá"
Một địa danh khác nữa, về địa lý rấ t gần vói
noi có địa danh c ủ a Lò và ở về phía nam c ủ a Càn,
là núi dầu căn thuộc làng La Nham xã Nghi Thiết
theo chũng tôi cũng la một địa danh gốc Malayo- Polynêsian Từ trưóc đến nay, theo Ninh Viết Giao
và Trần Thanh Tâm, địa danh này đuọc coi là một địa danh Hán-Việt vói nghĩa "núi có đầu đội khăn" ("cân" từ Hán-Việt có nghĩa là "khăn bịt đầu", [4;18] Theo truyền thuyết mà hai tác giả này kể khi My Châu cùng cha là Thục An Dương Vưong chạy trốn
Trang 24Triệu Đa lúc th ất thủ thành c ổ Loa, do "ngựa phóng
th ậ t nhanh Gió ngược chiều thổi m ạnh bật mũ đê vuong của nguòi bay xuống đất My Châu phải lây khăn của mình trùm lên đầu cho phụ vương" Ngựa phóng đến núi Đại Hải và Đại Vạc thì truóc m ặt là nước mênh mông chặn lối "Một con gió mạnh từ khoi thổi vào h ất chiếc khăn trùm trên đầu Thục An Duong Vuong và trùm lên đỉnh núi", v ề sau nhân
dân đặt tên núi đó là núi dầu cân với nghĩa "núi có
Có thể thấy cách giải thích như Ninh Viết Giao
và Trần Thanh Tâm kể gắn địa danh dầu cân vói
truyền thuyết Thục An Dương Vưong th ấ t thủ c ổ
Loa chưa th ậ t họp lý cho lắm Bởi vì nếu coi dầu cân là địa danh hoàn chỉnh thì về m ặ t cấu tạo địa danh, cân phải là một yếu tố th ậ t sự Việt hóa Nhưng
ở đây, căn theo cách giải thích của h ai tác giả nói
trên vẫn đang còn là một từ Hán-Việt thực thụ Mà
như vậy thì dầu cân có th ể hiểu là "đầu (của) khăn",
một khả năng khác vói cách giải thích đã đuọc nêu
ra Vì thế, rấ t có th ể dầu cân mà chúng ta dang nói tói vốn ban đầu là dầu càn/dầu còn /d ầ u cần với
nghĩa "đầu (của) con cá" Điều này xét về m ặt cấu tạo và ý nghĩa địa danh là hoàn toàn họp lý Vì thê
núi dầu cân có nghĩa là núi "dầu con cá" và cũng
có thể là "đầu núi có đền thơ cá" Dù cách nay hay cách khác, cách hiểu như vậy đều cho chúng ta biết rằng nó là một địa danh gốc Malayo-Polynêsian
26
Trang 253.2 Nguòi ta cũng có thể nghĩ rằng tên gọi
Của Lò, chính là lý do làm nảy sinh địa danh củ a
Lò Trong truồng họp như vậy, địa danh củ a Lò có
ý nghĩa là "noi con sông/Lạch Lò đổ ra biển” Vầ do
ở nuóc ta có nhiều tên sông là lô, la, lò nên đây
chua hẳn là một địa danh có nguồn gốc Malayo-
Polynêsian (sông Lô ở miền Bắc, sông La ở Hà Tĩnh,
sông Hồng xưa kia trong "Đại Việt sử ký toàn thư"
cũng gọi là sông Lô [3; 45] Tuy nhiên, dự đoán này
sẽ không có cơ sở vì như Bình Nguyên Lộc phân tích,
chính cách ghi Cô La trong Việt sủ tiên án của Ngô
Thì Sĩ dã loại bỏ khả năng này Do đó, nếu Của Lò
vói nghĩa là "cửa của sông lò" thì nó đã được ghi
thành Lô Khẩu hồi thê kỷ XVIII Nhưng thực tê lại
không như vậy
nguồn gốc Malayo-Polynêsian như trên ở ven biển
Nghệ An - Hà Tĩnh (củ a Cần, c ủ a Lò, Kỳ La và
Đầu Cân) chúng ta thấy rằng vùng đất ven biển nay
con lưu lại rõ nét dấu ân của cư dân nói ngôn ngữ
Malayo-Polynêsian Chính vì lẽ đó địa danh củ a Lò
là một địa danh của lóp văn hóa này cbn lưu lại cho
đên ngày nay và cùng với nó, con sông được mang
tên là Lạch Lò và ngọn núi ở xã Nghi Tân có tên
là Lô Sơn vói nghĩa "núi của con sông Lò", c ả ba
địa danh ấy đều là những địa danh Nam Đảo và rấ t
có th ể là lóp địa danh ban đầu v ề sau nguòi Việt
Trang 26đến khai hóa vùng này nhưng những tên gọi xưa vẫn được họ lưu giữ lại.
TÀI LIÊU THAM KHẢO CHÍNH
1 Nguyễn Quang Án, Việt Nam, những thay đổi địa danh và địa giới các đơn vị hành chính 1945 - 1997 Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội, 1998.
2 Trần Trí Dõi, Nghiên cứu ngồn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 1999.
3 Đại Việt sử ký toàn thư, Bản chính hòa thứ 18
(1697), tập II, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1985.
4 Nguyễn Nghĩa Nguyên (biên soạn), Từ c ổ Loa đến
đền Công, Nxb Nghệ An, 1993.
5 Bình Nguyên Lộc, Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc
Việt Nam, Bách Bộc xuất bản, Sài Gòn, 1971.
6 Ngô Đức Thọ (chủ biên), Từ điển di tích văn hóa
Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội - Nxb M ũi Cà Mau, 1993.
7 Đinh Văn Vịnh, sổ tay địa danh Việt Nam, Nxb
Lao động, 1996.
8 Việt sử thông giám cương m ục chính biên, tặp Vỉ,
Nxb Văn sử địa, Hà Nội, 1957.
28
Trang 27VẼ MỘT VÀI ĐỊA DANH, TÊN RIÊNG Gốc NAM
ĐẢO TRONG VÙNG HÀ NỘI XƯA
1 Đ ịa danh, tên riêng là những tài liệu ngôn
n g ữ xua nhất ở m ột k h u vục cir trú
Trong hoạt động xã hội của một cộng đồng ngưòi
ở một địa vực cư trứ nhất định, nhu cầu đặt tên để đánh dấu những điểm địa lý là một nhu cầu tấ t yếu,
Địa danh hay tên gọi riềng một vị trí nào đó, một
nơi nào đó được nhân hóa trong một vùng lãnh thổ
cụ th ể là kết quả tấ t yếu của nhu cầu hoạt động xã hội ây Mỗi một địa vực cư trú bao giơ cũng có tính lịch sử riêng mang dấu ấn hoạt động của cư dân là chủ th ể vùng miền đó Do vậy, dịa danh trong một vùng lãnh thổ ít nhiều đều phản ánh tính lịch sử của vùng lãnh thổ ấy Trong quá trình thay đối của một không gian địa lý, cư dân của nó cũng sẽ thay đổi nên có địa danh m ất đi, có địa danh được lưu giữ lại theo nhiều cách khác nhau và cũng sẽ có
những địa danh mói xuất hiện Chính dặc diểm này cho phép chúng ta qua phàn tích dịa danh có thể hỉnh dung lại bức tranh ngôn ngữ cổ xua và lịch sủ của nó trong một vùng lãnh thổ cụ thể nào dó.
Ngươi ta có thế dẫn ra một vài ví dụ để thây
rõ điều vừa nói ở trên Chẳng hạn, địa danh sông
Đông, sông Đơ-nhi-ép b Nga và Đông Âu là những
Trang 28dấu vết cuối cùng của ngôn ngữ Xít (Saythe) cố đại Nhơ các địa danh ây mà chúng ta biết rằng cu dân ngubi Xít va ngôn ngữ Xlt đã bị m ất đi từ hon hai nghìn năm lại là cư dân đã từng sinh sống trên lưu vực của con sông Đông và sông Đơ-nhi-ép cổ xưa
[2;44] Hay như các địa danh muòng Vang, muòng Thàng, mường Động, mưòng Bi vốn là những muờng
quan trọng nhất hiện nay của ngưòi Mưòng ơ Hoa Bình lại là những địa danh có nguồn gốc Thái Vì thê rấ t có thể lóp cư dân ban đầu của những muờng
nay là cư dân gốc Tãy, chí ít thì cũng la noi cư trú cộng cư của người Tày và nguòi Mol (tút là Mường hiện nay) [4;22] Cũng vậy, địa danh nậm Rốm b
vùng Điện Biên Phủ tự nó đã cho chứng ta biết rằng tên riêng của con sông ấy khỏi thủy là do cư dân nói những ngôn ngữ Nam Á (mà hậu duệ hiện nay
là cư dân nói những ngôn ngữ thuộc nhóm Khmú,
nhánh Môn-khmer) đặt ra Vì rằng yếu tố nậm chắc chắn là gốc Thái, còn yếu tô rum (có nghĩa là "nuóc")
chỉ có thể là ngôn ngũ của các cư dân nói những ngôn ngữ thuộc họ Nam Á mà thôi
Sẽ có một câu hỏi được đặt ra: vì sao địa danh lại có khả năng tồn tại và phát triển độc lập vói lịch
sử ngôn ngũ' mà nó phát sinh và về sau gia nhập
vao ngôn ngữ của một cư dân mói khác? Chúng ta biết rằng ngôn ngữ có chức năng th ứ nhât là chức năng giao tiếp Nhưng khi nó được dùng đê dặt tên, chức năng giao tiếp bị thay thê bằng chức năng phân
30
Trang 29biệt, chức năng đánh dấu, chức năng định danh Lúc
này dịa danh chỉ còn giá trị đánh dấu dẫn tói tình
trạng "ỷ nghĩa ban đầu" vốn có trong ngôn ngữ của
cư dân chủ th ể m ất đi và đồng thoi chức năng ngữ pháp trong ngôn ngữ mà nó phát sinh cũng m ất đi Đến lúc này địa danh mang tính "trung hba" đối vói ngôn ngữ của những cư dân khác nhau và vì thê nó
dễ dàng gia nhập vào hệ thống nào đó tùy từng hoàn
cảnh Phân tích trưbng họp nậm Rốm chúng ta sẽ thây rõ điều đó Ban đầu rốm /rum của các ngôn ngữ
thuộc họ Nam Á chỉ có nghĩa là "nước" Khi nó trở thành tên riêng, nó chỉ có giá trị đánh dấu các "con nưóc/con sông" Sự đánh dấu này là như nhau đối vói cả nỉguòi nói các ngôn ngữ Nam Á lúc ban đầu
và cả đối vói nguòi nói các ngôn ngữ Tãy-Kađai sau
này Do đó ngubi Thái gọi nậm Rốm vói nghĩa "nước
Rốm, sông Rốm" cũng chỉ vói giá trị đánh dấu mà không phụ thuộc vào ý nghĩa và chức năng ngữ pháp của ngôn ngữ mà mình sử dụng nữa
2 Đ ịa bàn Hà Nội c ổ xua mà ch ú n g tôi đang n ói
tó i là toàn bộ địa vực n ộ i và ngoại thành Hà
N ội h iện nay
Những cứ liệu lịch sử đã cho chúng ta biết vùng lãnh thổ này là cái nôi của ngưòi Việt cổ v ấ n đề đưong nhiên là như vậy Nhưng tính chất Việt cổ noi dây không đơn nhất mà là sự hòa nhập của nhiều tộc ngưòi khác nhau trong một cộng đồng thống nhất
Và n h ư vậy thì thành phần của sự hồa họp ấy gồm
Trang 30những tộc/những nét văn hóa rấ t khác nhau Theo
GS Trần Quốc Vưọng, đó là "những nhân tố cư dán
- ngôn ngữ - văn hóa: Môn Khmer cổ, Tày Thái cổ,
Mã Lai cổ va thậm chí cả Tạng Miến cổ trong sự hình thành phức hệ cư dân - ngôn ngữ - văn hóa Việt cổ" [12;346] ỏ khía cạnh ngôn ngữ học lịch sử,
mà cụ th ể là dấu tích về m ặt địa danh, chúng tôi mong muốn góp thêm cứ liệu để xác định rõ th ần h phần và mối quan hệ giữa các thành phần trong cái gọi là "phức hệ" ấy
Bưóc đầu khảo sát phần phía Bắc sông Hồng, chủng tôi nhận thấy phần địa vực này còn lưu giữ một vai vết tích của địa danh thuộc lóp ngôn ngữ
thoi gian khá dài có thể là từ trước công nguyên tói nay, chúng ta không thấy sử sách ghi chép nơi đây
có cư dân Nam Đảo cư trú như là một tộc ngưòi bản địa Vì vậy những địa danh thuộc gốc Nam Đảo này
đã bị phủ lên những lóp bên ngoài khác khiến nó
rấ t khó nhận biết
Trước hết, đó là địa danh sông Cà Lồ, một con
sông lớn chảy qua địa phận huyện Đông Anh/Sóc Son
đến Ngã Ba Xà họp lưu vói sông c ầu , sông Đuống Đối vói ngưòi dân noi đây, Cà Lồ còn được gọi là sông Nguyệt Đức và đoạn chảy qua Phủ Lỗ đến Ngã
Ba Xà đuọc họ coi chính là dồng sông N hư Nguyệt
nổi tiếng trong lịch sử nước ta Nếu như tên gọi
Nguyệt Đức hay N hư Nguyệt là tên gọi Hán-Việt thì
32
Trang 31Cà Lồ là tên gọi được coi là thuộc gốc Nam Đảo để
chi một con sông nhánh để ra một con sông khác lớn han hay "noi cửa sông" Trong ngôn ngữ Nam
Đảo người ta gặp danh từ Kưala vói nghĩa là "của
sông" hay sông "cửa sông" Từ danh từ chung có
nghĩa ấy, Kưala dần dần chuyển khi thì thanh Cà
Lồ (sòng), khi thì thành c ủ a Lò (cửa sông ả Nghệ An), khi thì thanh Kỳ La (sông và cửa sông ở Hà
Tĩnh) v.v Như vậy tên gọi ban đầu ấy có thể là
KulaiKưala vốn là của ngưòi Nam Đảo (Austronêsian) hay Mã Lai cổ (Malayo) về sau việt hóa thành Cà
Lồ Vầ từ tên gọi Cà Lồ ta lại có thêm một Phủ Lỗ
có hình thức Hán Việt nhưng thực ra là bắt nguồn
từ gốc ban đầu Nam Đảo Có thể nói, giữa một miền
đầy ắp các huyền thoại Việt như vậy, cái tên gọi Cà
Lồ ban đầu ấy đã được nhận vao lóp tên gọi Việt
và ngưòi ta quên đi gốc gác nó vốn là một địa danh thuộc lóp cơ tầng Nam Đảo hay Malayo
Cũng ả vùng này chúng ta có một địa danh thứ hai nguồn gốc Nam Đảo nhưng đã bị Hán Việt hóa đến mức khó có th ể nhận ra nếu không có một giai thoại dân gian thú vị hiện còn lưu truyền cho đến ngày nay Chúng ta biết rằng ở xã Nguyên Khê thuộc huyện Đông Anh Hà Nội có một làng mang tên gọi
là Cán Khê Làng Cán Khê này có thêm hai tên gọi khác nhau nửa là Hoãn Khê (không rõ nghĩa của Hoãn là gì) và làng Sáo Dầu sở dĩ có tên gọi Sáo Dầu là vì trước đây làng có nghề hàng sáo và nghề
Trang 32truyền thống ép dầu thực vật và tên gọi nay đuợc coi nhir là tên nôm của làng Đôi vói cái tên Cán Khê, theo giải thích của các cụ cao niên hiểu biết noi đây thì Cán có nghĩa là gốc (cán dao), con Khê
có nghĩa là khe Isuối Bỏi vì xa xưa lắm rồi trên
m ảnh đất này là rừng rậm và đồi hoang nên cán khê có nghĩa la "Khe có nhiều gốc cây" Lại cũng có
cụ giải thích cán là gốc vói nghĩa đây là "lang chính"
vì về sau cư dân noi đây cũng đã lập nên một làng
khác, được tách từ lang gốc là làng Cán Khê Vì nó
là mói nên tên của nó là Nguyên Khê vói nghĩa nguyên là mói, con khê vẫn nghĩa cũ là khe và đưọc hiểu là "làng cán khê mói" Rất có thể tên xã Nguyên
Khê hiện nay cũng từ đây mà có Cũng theo lòi các
cụ già noi đây kể lại, hiện con ghi trong Lịch s ủ xã Nguyên Khê (huyện Đông Anh) 1992, thì xưa kia vùng
này nằm ở phía Nam sông Như Nguyệt và là làng nằm trong một vùng có khe sâu rừng rậm Một con suối sâu chảy từ cánh rừng c ổ Dương đến cửa làng
Khẽ Nữ, vồng qua làng này về đến Hàm Ghềnh đầu xóm Trại của làng Cán Khê thì đổ vao sông Cà Lồ
Tương truyền có một con cá khổng lồ bơi ngược dồng suối, cá to mà nuóc sông lại xuống đột ngột nên nó
bị mắc cạn Ba làng ven suối 'đã xả th ịt chia nhau
ăn nhung không hết Sau đó họ khiêng chiếc xuong suòn của con cá về lập miếu thơ Miếu đó gọi là
miếu "thần cá" va tên chữ hiện nay là miếu Trung
34
Trang 33quân Làng có đền thơ cá noi con suôi đổ ra sông
Như chúng tôi đã nói ơ trên, nếu chúng ta
cạn thì những cách giải thích về tên gọi làng Cán Khê theo lôi suy danh như trên là có lý của nó
Nhung nhơ có giai thoại đó ma chúng ta biết rằng
Cán Khê còn có một nghĩa khác nữa là "làng ở khe
(suối/sông) có con cá to bị chết được lập miếu thơ"
Nhb cái nét nghĩa này chúng ta nhận ngay ra Cán
là yếu tô" gôc Nam Đảo, có nghĩa là cá và Cán Khê
ở đây đon giản chỉ là khe cá, khe có con cá to v.v
Bòi vì trong các ngôn ngữ Nam Đảo, từ mang nghĩa
cá có vỏ ngữ âm là ikan (Chàm: ikan, Malayu: ikan
v.v.) ơ Việt Nam ta có rấ t nhiều làng hay địa danh mang yếu tô này đều có đền thơ cá: ìàng Phưong
Cần b Quỳnh Lưu Nghệ An là làng có đền Càn thơ cá; núi Đầu Cân là núi có đền thơ cá ở xã Nghi
Thiết, Nghi Lộc Nghệ An v.v Rõ ràng cái yếu tố
can I càn I cán I cân rấ t Hán Việt đó có gốc gác Nam Đảo ban đầu là ikan vói nghĩa cá mà thôi Sự khác
biệt ít nhiều về phần vần và thanh điệu chỉ là những biến th ể ngữ âm mang tính địa phuong khi nó trở thành/hoặc bị H án Việt hóa là điều không có gì lạ Trong môi trường sông nước như vậy, về vói vùng
Cà Lồ, Cấn Khê hiện nay tuy không còn cảnh nhộn
nhịp như xưa nhung nguòi Nguyên Khê vẫn lưu truyền câu ca dao trong dân gian:
Trang 34Muốn tắm m át em ơi tới ngọn sông Đào Muốn tìm noi buôn bán hãy vào Vạn Khê Thuyền be tấp nập di về
Rừng thông, rừng ổi gần kề rừng Tiên.
Qua câu ca dao ấy chúng ta sẽ hình dung ra đưọc cuộc sống sôi động noi đây đã từng diễn ra n h ư
th ế nào
ỏ về phía Nam của vùng đất có sông Cà Lồ, làng Cán Khê m à chúng ta vùa bàn tói cũng còn
một địa danh/tên riêng nữa có nguồn gốc N am Đão
Đó là vị hiệu của Đức Càn Hải Đại Vương thừ ở dinh làng Chủ Xá, xã Văn Đức, Gia Lâm, Hà Mội
[8; 84] Đối vói ngưòi Việt Nam, Chử Đồng Tử duợc coi là một trong bốn vị Thánh bất tử trong quan
niệm của dân gian và làng Chủ Xá đưọc coi là q;uê
hương của Chử Đồng Tử Trong dinh làng, phần chí nh tẩm đưọc chia làm hai phần Bên ngoài phía trái thơ Đức Thánh Chử và Nhị vị phu nhân, phía phải đât bài vị các thần Đưong Niên, Đưong c ả n h (Thổ thần);
bên trong là hậu cung dặt ngai và bài vị của Đức Càn Hải Đại Vương và Tứ vị Thánh Nương Cùng
vói cách bố trí bài vị như vậy, trong văn tế mở đầu
lễ hội Chử Xấ, vị thánh Càn Hải đưọc đọc lên tninc nhất rồi mói đến Đức Thánh Chử [8; 85] Điều r.iẦy cho thấy vị trí của Đúc Càn Hải Đại Vưong trong huyền thoại Chử Đồng Tử quan trọng như thê mào
36
Trang 35Vậy cái tên riêng Càn Hải là gì? Dưói cái vò
H án Việt rấ t thiêng liêng ây, thực chất theo nghĩa
của cư dân nói các ngôn ngữ Nam Đảo thì càn là
cá, cồn hải mói thực sự là yếu tố Hán Việt được
ghép vào Sự kết họp giữa một yếu tố Nam Đảo bị
H án Việt hóa và một yếu tố Hán Việt thực thụ ấy
tạo ra một tên riêng có nghĩa là cá biển và Đức Càn Hải Đại Vưong là Ngài Đại Vương Cá Biển Ngài
đuọc nhân dân thơ phụng cùng với những vị thần
b ấ t tử của mình một cách trang trọng và kính trọng Ngưòi ta cũng có thể nhận thấy điều này ở cư dân
phía bờ sông bên này của làng Chử Xá thuộc làng Bằng xã Hoang Liệt huyện Thanh Trì Hà Nội.
Có thể nhận thấy, những yếu tố địa danh/tên riêng Nam Đảo mà chúng tôi vừa phân tích ở trên
là không nhiều so vói hàng ngàn địa danh của vùng Bắc đất Thăng Long-Hà Nội xưa Hơn nữa, mỗi một đia danh lại bị bao phủ nhiều lóp nghĩa cũng như
h ìn h thức rấ t khác nhau, khiến chúng ta khó nhận biết h ạt nhân đích thực của nó Nhưng cũng nhơ vì vậy mà chúng ta hình dung rằng những địa danh gốc Nam Đảo ấy là những địa danh thuộc lóp trầm tích khá cổ xưa, nếu không nói là cổ xưa nhất
3 Một vài n h ận xét:
Đối vói nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, cái vùng
đ ấ t có những địa danh Nam Đảo vừa đưọc phân tích
Trang 36thuộc vao "cái nôi - cốt lõi - hạt nhân của nguòi Kinh Việt" [12;351] Cái nôi này, theo GS T rần Quốc Vượng là "hình bình hành vói giói hạn: Đôi bơ Cà
Lồ ở bắc (lên nữa là thê giới Tày c ổ Việt Bắc), đôi
bơ Dâu-Đuống ở Nam (xuống nữa là thế giói Mã Lai
cổ về mặt ngữ ngôn), đôi bờ Nhị Ha ở Tây (quá về
tây nữa là th ế giói Môn - Mói (Mương cổ) và đôi bơ Phú Lưong - Nguyệt Đức - c ầ u - Sau ở đông (quá sang đông ta lại vào không gian Tày nưóc cổ (hòa trộn với không gian Mã Lai cổ" [12;351-352] N hư vậy theo quan niệm như trên vùng mà chúng ta đang
nói vốn là một vùng thuần Kinh Viêt từ thuơ xa xưa.
Hình như tình hình có vẻ khác đi nếu suy ngẫm
kỹ về những trầm tích địa danh mà chúng ta có Các trầm tích này nói rằng cái không gian văn hóa Việt cổ ấy là một không gian đa tầng, trong đó dường như một trong những tầng ban đầu là lóp cư dân
sử dụng ngôn ngữ Nam Đảo (hay Mã Lai) cổ Bỏi lẽ những địa danh mà chúng ta phân tích la những địa danh thuộc lóp tên sông (nước) GS Hoàng Thị Châu viết rằng "tên sông là loại tên bền vững nhất, lâu đồi nhất so vói các địa danh khác như tên núi, tên các địa điểm quần cư Chỉ những noi có nước mói
có ngưòi ở" [2;94] Trong sô các tên sông của cái nôi
ây, chúng ta thấy bên cạnh chỉ một tên sông Cà Lồ
là những tên khác như Ngũ Huyện Khê (sông Thiềp), Nguyệt Đức, Thiên Đức, Phú Lương - v.v là Hán Việt, sông Cầu, sông Dâu v.v là thuần Việt Mà Cà
38
Trang 37Lồ, lại là một trong những đưbng thủy quan trọng
đế tổ tiên ta xưa nối Việt Trì (đỉnh tam giác sông
Hồng thứ nhất) xuôi ngược vói vùng c ố Loa (đỉnh
tam giác th ứ hai) Việc cồn lưu lại một vài địa danh Nam Đảo trong nhiều tầng không gian khác nhau như vậy đã phần nào thể hiện tính cổ xưa nhât của nó
Theo một quan sát tên làng (địa danh noi cư
trú) của 10 xã hiện nay ở huyện Đông Anh, một phần của vùng đất cổ xưa ấy1 [9], chúng ta thấy chỉ
có 47% làng vừa có tên nôm, vừa có tên Hán Việt
đi kềm Trong khi đó có tói 53% làng chỉ có tên Hán
Việt Hon nữa trong sô làng vừa có tên Nôm vừa có tên Hán Việt, chỉ có khoảng 6% liên hệ vói nhau về ngữ âm (như làng sầ n có tên Hán Việt là sằ n Giã, làng Nhôi có tên Hán Việt là Thụy Lôi, làng Giỗ có tên Hán Việt là Hà Lỗ) cồn tói 41% là không có mối
liên hệ cả về ngữ âm và ngũ- nghĩa (ví dụ như làng
Xép có tên Hán Việt là Van Lộc, các làng Quậy cả, Quậỵ Sau, Quậy Rào lại có tên Hán Việt là Đại Vĩ, Châu Phong, Giáo Tác) Những con sô nói trên phần nào cho thây về m ặt địa danh tính chất thuần Kinh Việt b đây không phải là yếu tố trội Và ngay tên nôm của nhiều làng, vì không có sự tưong ứng vói
tên Hán Việt nên rấ t khó xác định nó là nguồn gốc
(1) Đó là các xã Cổ Loa, Liên Hà, Nguyên Khê, Thụy Lâm, Vân Nội, Vĩnh Ngọc, Tiên Dương, Uy Nỗ, Xuân Canh và Việt Hùng Theo địa giói hành chính hiện thời huyện Đông Anh có tất cả
23 xã.
Trang 38nào trong phức hệ văn hóa ấy va do đó tính phân tầng không gian của nó cũng chưa th ậ t rõ ràng.
Trở lại hình thức của những địa danh gốc Nam Đảo đang được phân tích, chúng ta thấy chúng bị
"phủ" một lóp Hán Việt rấ t dày m à nếu không nhơ
những lưu truyền trong dân gian một cách vô thức, một cách tuyệt dối trung thành thì khó mà nhận biết
đưọc gốc gác của nó Chính hình thúc bị phủ lấp
này lại nói cho chúng ta biết một m ặt khác, m ặt cổ xưa nhất của địa danh Theo suy nghĩ của chúng tôi
cũng giống như khảo cổ học, cái tầng văn hóa cổ xưa
tầng văn hóa muộn về sau được Nó sẽ bị "bao bọc" lại bên trong nhơ những lóp có "niên đại mói" hon
N hư vậy, vói những lý do như trên, đôi vói chúng tôi là đã có đuọc phần nào cơ sở để nghĩ rằng
cái phần đất phía Bắc Hà Nội này tuy là cái nôi của người Việt cổ, nhưng là nơi h ộ i t ụ sự da dạng
văn hóa, một phức h ệ gồm những thành phần Việt
cổ khác nhau Có th ể những lý do mà chúng tôi nêu
ra làm th ấ t vọng những ai thường nghĩ rằng vùng dất Việt cổ xưa này vôn là địa vực thuần Kinh Việt
Và cái đỉnh tam giác thứ hai của đồng bằng Bắc bộ (sông Hồng) trên con đưừrig hoan thiện quá trình dụng nưóc của nguôi Việt, vì vậy, được thừa hương
sự "đa dạng" văn hóa mà ít noi nào có đuọc Để rồi
về sau, khi nguòi Việt lần nữa trở lại vói châu thổ sông Hồng, đất Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội
40
Trang 39(phần phía Tây Nam của tam giác ấy) thục sự "là
chỗ bôn phương tu hội, là noi dô thành bậc nhất của vuxyng d ế muôn dời".
TÀI LIÊU THAM KHẢO CHÍNH
1 Nguyễn Tải cẩn, Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng
Việt (sơ thảo), Nxb giáo dục, Hà Nội 1995, 348tr.
2 Hoàng Thị Châu, Mối liên hệ về ngồn ngữ cổ đại
ỏ Đồng Nam Á qua một vài tên sông, TBKH, ĐHTHHN, tập 3, 1964, tr.94-106.
3 Trần Trí D õi, vấn đề địa danh biên giới Tây Nam:
một vài nhận xét và kiến nghị, Báo cáo KH tại HNKH BGTN 2-1996 tại Hà Nội, 9 tr.
4 Trần Trí Dõi, Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc
thiểu số Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội 1999, 301 tr.
5 Nguyễn Văn Huyên, Địa lý Hành chính Kinh Bắc,
Nxb Văn Hóa - EFEO, 1996, 185 tr.
6 Bình Nguyên Lộc, Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam, Bách Bộc xuất bản, SG 1971, 893 tr.
7 Lịch sử xã Nguyên Khê (huyện Đông Anh) Hà Nội, 1992.
8 Đ ỗ Lan Phương, Tục thờ cá đến việc phụng thờ
Chử Đồng Tử, Vãn hóa nghệ thuật 11/1998 (173), tr 84-85.
9 Trần Thị Thái, Bước dầu khảo sát địa danh một
số xã ở huyện Đông Anh ngoại thành Hà Nội, KLTN cử nhân ngành Ngôn ngữ, ĐHKHXH & NV Hà Nội, 2000.
Trang 4010 Bùi Thiết, Làng xã ngoại thành Hà Nội, Nxb Hà
Nội, 1985.
11 Viện Hàn Lâm KH Liên Xô Những Nguyên lý
địa danh học, Nxb Nauka, Maxcơva 1964 (bản dịch).
12 Trần Q uốc Vượng, (chủ biên), Văn hóa học Đại
cương và Cơ sở văn hóa Việt Nam Nxb KHXH, Hà Nội
1996, 627 tr.
42