Với công thức này, các em sẽ không phải lo lắng đến việc không tìm ra ý tưởng viết văn nữa, cũng không còn cảm thấy ngại học văn, lo lắng khi đến tiết làm bài viết, bài kiểm tra mà các e[r]
Trang 1DÀN BÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1 Đặt vấn đề
- Xuất phát từ thực tế dạy và học Ngữ văn trong trường THCS: Học sinh rấtngại học văn hoặc không thích học môn Ngữ văn bằng các môn khác, đặc biệt làphân môn Tập làm văn, một phân môn thực hành – tổng hợp đòi hỏi học sinhphải có kiến thức, nắm vững kỹ năng
- Các tiết học còn mang tính đơn điệu cung cấp kiến thức cơ bản bám sáchgiáo khoa, sách giáo viên
- Cách thức tổ chức các hoạt động dạy và học chưa linh hoạt Học sinhchưa nhận thức được vai trò của bản thân trong tiết học, tầm quan trọng của mônhọc, tiết học
Từ những lý do trên, chúng ta phải làm sao để việc dạy và học trong nhàtrường lấy học sinh làm trung tâm nên trong bài trình bày tôi đề cập đến nộidung: Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh lớp 9 rèn cách làm văn nghị luận
Trang 2- Không chỉ ứng dụng trong những lớp trực tiếp giảng dạy, tôi đã chia sẽ ýtưởng để đồng nghiệp cùng thực hiện, hợp tác tìm hiểu và chắt lọc các bài tiêubiểu.
- Đối với học sinh, các em rất say sưa tìm tòi những vấn đề có liên quantheo sự gợi ý, phân công của thầy cô, bạn trong nhóm
3.2 Kinh nghiệm
- Càng yêu nghề, càng say mê nghiên cứu, càng sáng tạo và mạnh dạn hơntrong việc tổ chức các hoạt động lên lớp không chỉ ở tiết học phụ đạo mà ở cáctiết bồi dưỡng, chính khoá Từ đó rèn luyện các em kỹ năng trình bày vấn đềrành mạch, rõ ràng, thuyết phục
- Càng chuẩn bị chu đáo, càng có hiệu quả cao Trong quá trình nghiêncứu, chuẩn bị, càng có thêm kiến thức và thay đổi cách dạy theo phương phápmới cho thích hợp
- Phải có niềm tin vào trò, trò cũng rất sáng tạo, thông minh!
Trang 3PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Môn Ngữ Văn có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chung củatrường THCS, góp phần hình thành những con người có trình độ học vấn, chuẩn
bị cho các em những tri thức cần thiết hoặc ra đời tiếp tục học lên ở bậc cao hơn
Đó là những con người có ý thức tự tu dưỡng, biết yêu thương, quý trọng giađình, bạn bè, có lòng yêu nước, yêu XHCN, biết hướng tới tương lai, tình cảmcao đẹp, biết rèn luyện để có tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có nănglực cảm thụ các giá trị chân, thiện, mỹ trong nghệ thuật, trước hết là trong vănhọc, có năng lực thực hành và năng lực sử dụng Tiếng Việt như một công cụ để
tư duy và giao tiếp
Song song với việc đổi mới chương trình sách giáo khoa Ngữ Văn là việcđổi mới phương pháp dạy học Phương pháp mới ở đây chính là phương pháptích hợp Trong Giáo dục hiện đại, tích hợp là cách nhằm phối hợp tối ưu cácquá trình học tập riêng lẻ các môn học, phân môn học khác nhau theo nhữnghình thức, mô hình, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích
và yêu cầu cụ thể khác nhau
Tập làm văn là môn thực hành – tổng hợp Dạy tập làm văn không chỉ dạycho học sinh nắm được các đơn vị lý thuyết mà chủ yếu dạy những kỹ năng thựchành như: kỹ năng tìm ý, lập dàn ý, dựng đoạn, liên kết đoạn … Ở chương trìnhngữ văn lớp 6 và chương trình Học kỳ I của Ngữ văn lớp 7, học sinh đã làmquen với các kiểu bài: Tự sự, miêu tả, biểu cảm Các kiểu bài này, các em ítnhiều đã được học ở chương trình bậc tiểu học cho nên khi làm bài các em cóphần tự tin, thoải mái hơn Sang học kỳ II của chương trình Ngư văn 7, các emđược tiếp xúc một phương thức diễn đạt mới mẻ đó là Văn nghị luận Loại vănnày đòi hỏi các em phải có sự lập luận, giải quyết vấn đề bằng suy nghĩ độc lập,hơn nữa lại còn thể hiện cách hiểu, cách nhận biết của các em trước một vấn đề,hiện tượng trong cuộc sống Cao hơn nữa, ở lớp 9 còn đòi hỏi các em thể hiện sựcảm nhận của các em trước một tác phẩm văn chương nên các em có phần lúngtúng, không biết làm bài bằng cách nào để đi vào vấn đề bài nêu ra Thậm chí có
Trang 4em cứ loay hoay không biết cách lập luận như thế nào, tốn rất nhiều thời gian
mà vẫn chưa viết được dòng nào, đó là phần mở bài Còn đến thân bài, các emvẫn xác định được phải làm gì nhưng vẫn không viết được Vì thế cứ nói đếnkiểm tra, làm bài viết là các em sợ, ngại, không thích học văn! Càng lên lớp trên,kiến thức càng mở rộng, nâng cao hơn: Với các phương thức vừa mới (thuyếtminh), vừa với phương thức tích hợp nghị luận một vấn đề, hiện tượng trong đờisống; vấn đề tư tưởng đạo lý, nghị luận văn chương… Có em cứ dựa theo Dànbài khái quát mà thầy, cô hoặc SGK đã hướng dẫn để thực hiện như:
+ Đối với Nghị luận chứng minh:
Mở bài: Nêu luận điểm cần được chứng minh
Thân bài: Nêu lí lẽ và dẫn chứng để chứng tỏ luận điểm là đúng đắn.Kết bài: Nêu ý nghĩa của luận điểm đã được chứng minh Chú ý lời vănphần kết bài nên hô ứng lời văn phần mở đầu
(SGK Ngữ văn 7, T2 tr.50) + Đối với Nghị luận giải thích:
Mở bài: Giới thiệu điều cần giải thích và gợi ra phương hướng giải thích.Thân bài: Lần lượt trình bày các nội dung giải thích Cần sử dụng cáccách lập luận giải thích phù hợp
Kết bài: Nêu ý nghĩa của điều được giải thích đối với mọi người
(SGK Ngữ văn 7, T2 tr.86) + Đối với Nghị luận văn chương:
Mở bài: Giới thiệu tác phẩm và bước đầu nêu ý kiến, đánh giá của mình.Thân bài: Phân tích, chứng minh các luận điểm đã nêu ở phần mở bài bằngnhững luận cứ cụ thể, đáng tin cậy
Kết bài: Khát quát, củng cố lại ý kiến của mình và rút ra ý nghĩa của vấn đề
đã nghị luận
(SGK Ngữ văn 9, T2 tr.234)
Tuy nhiên các thao tác lập luận của các em không chặt chẽ, rời rạc, khôngđáp ứng được yêu cầu vấn đề đã đặt ra Khi cảm nhận các tác phẩm văn chương,các em mới dừng lại ở việc nêu tên các biện pháp tu từ mà chưa phân tích được
Trang 5giá trị biểu cảm của biện pháp nghệ thuật Vấn đề được chứng minh không đượctoàn diện, vấn đề được giải thích chưa thoả đáng, bài phân tích mới dừng lại ởdiễn xuôi thơ, kể lại truyện ngắn Đôi khi bài viết mang tính lý thuyết… các emviết mặc dù nhớ rất kỹ lý thuyết nhưng không vận dụng được.
Để khắc phục những hạn chế đã nêu trên, trong những năm học qua, tôi
đã hướng dẫn cho học sinh áp dụng những cách để viết bài theo công thức ngắngọn dễ nhớ để mỗi phần mở bài, thân bài, kết bài khi làm bài tập làm văn Và cảcách dựng đoạn văn phân tích giá trị biểu cảm của các biện pháp tu từ; cách khaithác nghệ thuật để khám phá nội dung khi Đọc – Hiểu văn bản
Với công thức này, các em sẽ không phải lo lắng đến việc không tìm ra ýtưởng viết văn nữa, cũng không còn cảm thấy ngại học văn, lo lắng khi đến tiếtlàm bài viết, bài kiểm tra mà các em chỉ còn lo chọn lọc, sắp xếp, nối kết các ýtưởng của mình đã tìm được sao cho mạch lạc hơn, đáp ứng yêu cầu của đề rayêu cầu của đoạn văn phải dựng là được Mục đích cơ bản của phương pháp này
là các công thức dễ nhớ, dựa vào các công thức các em có thể tìm ý, xây dựngđoạn văn Lúc đầu các em chỉ vận dụng bằng cách bắt chước, thay đổi các chữ
in hoa bằng các ý đã tìm được, sau đó các em hiểu sâu sắc hơn và vận dụng sángtạo có thể có cách dựng đoạn không theo công thức mà vẫn thể hiện được điềucác em muốn thể hiện hoặc cảm nhận được Từ đó giúp các em tự tin hơn khilàm bài
Trang 6PHẦN 2: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
2.1 Cơ sở lý luận
Để khắc phục lối dạy thiên về lý thuyết, cũng như khả năng cảm nhận khácnhau của học sinh, có em nhanh hiểu bài và biết vận dụng, nhưng còn không ítcác em do khả năng tiếp thu bài còn hạn chế, chưa biết gom ý, rất cần nắm bắtđược cái cụ thể, có công thức để thực hành, áp dụng Hơn nữa, đặc trưng củamôn Tập làm văn là môn Thực hành – tổng hợp Chủ yếu dạy những kỹ năngthực hành giúp học sinh tập làm bài, tập tạo văn bản nên đòi hỏi phải có tínhkhuôn mẫu
Trong trường THCS, với chuẩn kiến thức kỹ năng, phải tuân thủ nhữngnguyên tắc nhất định, được dùng làm thước đo đánh giá hoạt động, công việccủa sản phẩm nào đó
+ Về kiến thức: phải nhớ, phải nắm vững, hiểu rõ các kiến thức cơ bảntrong chương trình sách giáo khoa, đó là nền tảng vững vàng để có khả năngphát triển năng lực nhận biết ở cấp độ cao hơn
+ Về kỹ năng: biết vận dụng kiến thức đã học để làm bài Vận dụng nhậnbiết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra; đòi hỏi học sinh phải biếtvận dụng kiến thức, biết sử dụng phương pháp, nguyên lý hay ý tưởng để giảiquyết một vấn đề
Trên cơ sở đó, nhằm góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy theo chuẩnkiến thức kỹ năng trong công tác đổi mới giáo dục, chúng ta phải luôn nghiêncứu, học hỏi để tìm ra những cách đơn giản nhưng tạo dấu ấn để học sinh dễnhớ, dễ vận dụng
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Về phía giáo viên
Có giáo viên luôn bám sách giáo khoa, chuẩn kiến thức – kỹ năng; có giáoviên giảng viên theo phương pháp mới, ứng dụng công nghệ thông tin; có giáoviên giảng dạy ôm đồm, cái mới chưa nhuần nhuyễn lại đổi mới tiếp
Trang 7Do cuộc sống, do thời gian, sau mỗi bài dạy, mỗi lớp dạy, giáo viên có rútkinh nghiệm, nhưng không ghi lại mà cũng không nghiên cứu nên lại vấp lại ởlớp sau, năm học sau Nhiều giáo viên khi dạy Tập làm văn cứ bám SGK, nhiềukhi xa thực tế đối với phần luyện tập, chưa mạnh dạn đưa ra những vấn đề đơngiản, gần gũi xung quanh để học sinh dễ vận dụng Bên cạnh đó, nhiều giáo viênlại muốn ra những đề khác SGK nhưng theo ý muốn chủ quan dẫn đến vừa lạ,vừa khó như đánh đố học sinh.
2.2.2 Về phía học sinh
Một số không ít học sinh lười suy nghĩ, luôn dựa bài mẫu, xem tài liệu,học tủ, lệch tủ thì một dòng cũng không biết viết Thầy cô giáo dạy do quỹ thờigian có hạn, gọi học sinh yếu không biết làm, sợ uốn nắn mất thời gian nên gọihọc sinh khá phát biểu, làm bài để học sinh yếu vận dụng Học sinh đâu có hiểutheo ý đó mà các em lại mặc nhiên cho rằng mình ngoài cuộc đâu phải chuẩn bị
- vì giáo viên không gọi Chính việc học đối phó, nên kết quả không cao, cànggây chán nản, lười học dẫn đến việc học không có kết quả
2.3 Quá trình thực hiện
2.3.1 Công việc chuẩn bị cho bài dạy
2.3.1.1 Giáo viên chuẩn bị
- Giáo viên nghiên cứu, đầu tư soạn bài chu đáo, sinh hoạt nhóm, học hỏi,trao đổi cùng đồng nghiệp
- Nhận thức:
+ Mỗi kiểu bải nghị luận đều có một điểm chung, liên quan tới các thuậtngữ: luận điểm, luận cứ (dẫn chứng, lý lẽ), các phép liên kết câu văn, đoạn văn.+ Mỗi dạng bài có một dàn ý riêng, nhưng dàn ý nào cũng phải đảm bảo 3phần (mở bài, thân bài, kết bài)
Trang 82.3.1.2 Học sinh chuẩn bị
- Học sinh học lý thuyết, nghiên cứu bài mới, xem trước những nét cơ bảnđược đúc kết lại, tự nghiên cứu để vận dụng, nếu không hiểu tới chú ý nghegiảng, hỏi bạn
- Học sinh chuẩn bị bài theo hướng dẫn của giáo viên
Tóm lại: Giáo viên hướng dẫn kỹ lưỡng Học sinh chuẩn bị bài là đã thànhcông một nửa Vì giáo viên có đầu tư → say mê → sáng tạo → gây hứng thú.Học sinh có hiểu → vận dụng → tự tin → thích học
2.3.2 Tiến trình thực hiện bài dạy.
Một bài văn có 3 phần: Mở bài – Thân bài – Kết luận Sau đây là cách thức
cụ thể mà tôi hướng dẫn học sinh thực hiện trong các tiết học ngoài giờ (phụđạo) hay các tiết học chính khoá (trong phần luyện tập)
2.3.2.1 Cách dựng đoạn Mở bài
a Khái niệm
Mở bài là chìa khoá cho toàn bộ bài văn Mở bải là phần bắt đầu của vănbản… Nó thường nằm ở vị trí đầu văn bản Làm thế nào người viết gây đượchứng thú cho người đọc Với yêu cầu ngắn gọn, định hướng cho người viết vàngười đọc: Viết cái gì? Người đọc sẽ tiếp nhận điều gì?
Mở bài rất khó viết như M.Gorki đã từng nói: “Khó hơn cả là phần đầu,
cụ thể là câu đầu Cũng như trong âm nhạc, nó chi phối giọng điệu của cả tácphẩm và người ta thường tìm nó rất lâu”
b Yêu cầu
- Ngắn gọn, rõ ràng
- Đảm bảo giới thiệu được vấn đề cần nghi luận
Dù thực hiện theo cách trực tiếp hay gián tiếp thì cách mở bài nào cũngphải đảm bảo bốn ý:
Trang 9Tương ứng với các ý học sinh vận dung giới thiệu trực tiếp:
1 Nêu vấn đề
2 Nêu hoàn cảnh
3 Viết lại câu tục ngữ, ca dao, một nhận định
4 Định hướng cho thân bài
Khi làm bài, học sinh có thể hoán đổi vị trí 1,2,3,4 1,3,2,4 2,1,3,4 3,1,2,4,… Cùng công thức nhưng cách sắp xếp khác nhau học sinh vận dụngkhông bị trùng lặp
c Đối với dạng bài:
c1 Nghị luận vấn đề tư tưởng, đạo lý ở lớp 9 hoặc dạng bài nghị luận chứng minh hay giải thích ở lớp 7
Ví dụ: Với đề bài: Hãy nghị luận về lòng biết ơn của dân tộc qua câu tục
ngữ: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”
Các em mở bài như sau:
- Cách như sách vốn có học sinh thường vận dụng:
Đối với lớp 7: SGK gợi ý
“Nhân dân ta thường vận dụng những câu tục ngữ vào trong đời sống,
suy nghĩ, và lời ăn tiếng nói hằng ngày (GỢI) Trong đó có câu “Ăn quả nhớ
kẻ trồng cây” (Đưa) Vậy ta hãy tìm hiểu điều đó thể hiện trong đời sống như
thế nào” (BÁO)
Đối với lớp 9: SGK gợi ý
Kho tàng tục ngữ Việt Nam có nhiều câu tục ngữ sâu sắc thể hiện truyền
thống đạo lý của người Việt Nam Một trong những câu đó là “Ăn quả nhớ kẻ
trồng cây” Câu tục ngữ này nói lên lòng biết ơn đối với những ai đã làm nên
thành quả cho con người hưởng thụ
- Cách mới: Tùy theo đề ra, phần mở bài gồm 4 ý, học sinh hoán đổi vị trí để có ít nhất 6 cách mở bài:
+ Cách 1: Lòng biết ơn là một trong những truyền thống đạo lý tốt đẹp
của dân tộc Việt Nam (1) Truyền thống đạo lý ấy đã thấm vào máu thịt của ông cha ta từ ngàn xưa đến nay và truyền lại cho con cháu từ đời này sang đời khác
Trang 10(2) Nó được ghi nhận bằng câu tục ngữ: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” (3) Để
hiểu rõ hơn về đạo lý này, chúng ta cùng nhau tìm hiểu câu tục ngữ (4).
+ Cách 2: Một trong những truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc là
lòng biết ơn Truyền thống đạo lý ấy đã được ông cha ta nhắc nhở con cháu qua
câu tục ngữ “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” Để hiểu và phát huy truyền thống ấy,
chúng ta cùng nhau tìm hiểu.
+ Cách 3: Câu tục ngữ “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” đã có từ ngàn xưa
của ông cha ta, nhằm mục đích khuyên nhủ con cháy về lòng biết ơn Đó là truyền thống đạo lý thấm vào máu thịt của dân tộc Để hiểu rõ hơn, chúng ta cùng nhau tìm hiểu.
+ Cách 4: Từ ngàn xưa, ông cha ta đã có truyền thống biết ơn Truyền thống ấy đã được ghi lại bằng câu tục ngữ quen thuộc: “Ăn quả nhớ kẻ trồng
cây” Để phát huy truyền thống đạo lý ấy, chúng ta cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa
câu tục ngữ.
- Ngoài ra ta cũng có cách vào đề khác mà người ta thường gọi là vào đề
gián tiếp Đặc trưng của cách vào đề này khác nhau ở phần dẫn dắt: Từ cuộc sống, từ ca dao có nội dung tương ứng, câu thơ, câu chuyện, lập luận …
Ví dụ: Nghị luận về câu ca dao:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng”
+ Cách 1: Trải qua trên bốn ngàn năm dựng nước, giữ nước, đất nước ta,
dân tộc ta phải trải qua không biết bao tai trời, ách nước Có những lúc tưởngnhư đứng trên đầu sóng ngọn gió, tính mạng, vận mệnh của dân tộc ngàn cântreo sợi tóc Thế nhưng đất nước ta vẫn trường tồn và phát triển Phải chăng, dântộc ta đã có tinh thần đoàn kết, yêu thương đã tạo nên sức mạnh vượt qua mọikhó khăn… Tinh thần ấy được ghi lại bằng câu ca dao mượt mà ấp áp:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng”
+ Cách 2: Nếu tục ngữ là túi khôn nhân loại thì ca dao là những đoá hoa
thơm ngát tình người Nó thường bộc lộ những tâm tư, tình cảm, những lời
Trang 11khuyên nhủ chứa chan tình người Một trong những tâm tư tình cảm ấy là tinhthần đoàn kết, lòng yêu thương đùm bọc lẫn nhau Và được đúc kết lại bằng câu
ca dao mượt mà ấp áp:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”
Để hiểu phát huy được tình cảm ấy, chúng ta cùng nhau tìm hiểu câu cadao
Hay với một số ví dụ khác:
+ Nếu ca dao là những đoá hoa thơm ngát tình người thì tục ngữ là túi khônnhân loại Nó thường đúc kết những kinh nghiệm, đạo lý ở đời Một trong nhữngtruyền thống đạo lý đó là lòng biết ơn Và được ghi chép lại bằng câu tục ngữ
ngắn gọn, quen thuộc: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” Để hiểu rõ hơn về truyền
thống đạo lý ấy, chúng ta cùng nhau tìm hiểu câu tục ngữ
+ Thân cây thì to, lưỡi cưa lại nhỏ nhưng cưa mài cây phải đổ Con kiến thìnhỏ, hạt gạo lại lớn nhưng kiến tha lâu gạo đầy tổ Nước thì mềm, đá thì cứngnhưng nước chảy đá mòn … Lòng người Việt Nam cũng vậy, nếu có ý thức kiêntrì nhẫn nại thì dù khó khăn đến đâu cũng vượt qua Để hiểu rõ hơn về lòng kiên
trì nhẫn nại của ông cha, chúng ta cùng tìm hiểu câu tục ngữ: “Có công mài sắc
có ngày nên kim”
Ví dụ:
Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Em hãy giải thích và chứng minh câu ca dao trên
Các em có thể mở bài như sau:
“Cha mẹ sinh ra ta, nuôi dưỡng ta, dành tất cả tình yêu cho ta Công lao
ấy được ca dao nhắc nhở chúng ta bằng cách nói giàu hình ảnh đầy ý vị, trữ tình”:
Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Trang 12Vậy công lao to lớn của cha mẹ và bổn phận của những người con hiếu thảo của chúng ta thể hiện như thế nào?
- Tương đồng hoặc tương phản:
+ Tương đồng: là đưa ra một vấn đề tương tự có quan hệ đẳng lập với vấn
đề cần giải quyết Mở đầu nhập đề này, các em nêu ra ý trùng hợp hoặc gầntrùng hợp để đọc thấy dự đa dạng phong phú của vấn đề được đặt ra để nghịluận Nếu các em nêu ra ý mở đầu cách này được diễn đạt bằng một câu thơhoặc một lời nói của danh nhân, tục ngữ, ca dao, phương ngôn nào đó thì giá trịnghệ thuật của nhập đề sẽ tăng thêm
Ví dụ: Với đề bài: Một nhà văn có nói: “Sách là ngọn đèn bất diệt của trí
tuệ con người” Hãy giải thích nội dung câu nói đó.
Các em có thể mở bài như sau:
“Đã từ lâu, sách là món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta Sách luôn là kho tàng huyền bí chứa đựng bao kiến thức, bao điều hay lẽ phải Có thể nói, sách là một người thầy, người bạn luôn sát cánh bên ta để nâng bước ta trên hành trình sống, hành trình làm người Vậy
“Sách là ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ con người”.
+ Tương phản: là cách dẫn dắt trái với ý của vấn đề đang nghị luận và có
quan hệ đẳng lập với ý chính của bài nghị luận Mở đầu nhập đề bằng ý tươngphản, các em sẽ làm nổi bật được vấn đề của bài văn
Ví dụ: Với đề bài: Hãy chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ: “Có
công mài sắt, có ngày nên kim”.
Các em có thể mở bài như sau:
“Trong cuộc sống, bất cứ khi làm một việc gì nếu vội vàng, hấp tấp ta thường bị hỏng Trái lại, nếu cố gắng, bền chí, kiên trì thì sự việc đó có khó khăn đến đâu ta cũng có thể hoàn thành được Cũng chính vì thế mà tục ngữ ta
có câu: “Có công mài sắt, có ngày nên kim”.
Mở đầu nhập đề bằng ý tương đồng hoặc ý trái ngược để liên tưởng đến
vấn đề cần giải quyết, sau đó mới tạo móc nối để ĐƯA vấn đề ra, cách này
Trang 13thường dùng khi cần Chứng minh; Giải thích về câu nói, câu tục ngữ, hay bày tỏsuy nghĩ về vấn đề nào đó.
-Xuất xứ và đại ý: dựa vào thông tin xuất xứ hoặc đại ý để đưa vấn đề ra,
cách này thường dùng cho tác phẩm văn học
Ví dụ: Với đề bài: Tục ngữ có câu “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” Em hiểu
thế nào về câu tục ngữ trên?
Các em có thể mở bài như sau:
“Tục ngữ Việt Nam là kho tàng vô cùng quý báu, cho ta những kinh nghiệm về mọi mặt được nhân dân vận dụng vào trong đời sống, trong đó có
câu: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” Vậy câu tục ngữ trên nhằm khuyên bảo chúng
ta điều gì?
c.2 Nghị luận văn chương:
Đối với kiểu bài nghị luận văn chương, người ta thường làm phần mở bàivới các ý sau: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác
* Phân tích hoặc cảm nhận về nhân vật trong truyện ngắn
- Đọc tác phẩm A của tác giả B, sáng tác trong hoàn cảnh C đã để lại trong
em ấn tượng thật sâu sắc về nhân vật X
- Nhân vật X trong tác phẩm A của tác giả B, sáng tác trong hoàn cảnh C
đã để lại trong em ấn tượng thật sâu sắc
* Đối với đề nghị luận về thơ, đoạn thơ
- Vào đề trực tiếp: Cách này ngắn gọn, tiết kiệm được thời gian nhưng đôi
khi kém hấp dẫn Giúp học sinh yếu dễ làm
Đọc tác phẩm A, của tác giả B, sáng tác trong hoàn cảnh C có giá trị sâusắc về nội dung và nghệ thuật
Học sinh có thể hoán đổi vị trí của các chữ cái (Tác phẩm, tác giả, hoàncảnh sáng tác để có các cách trình bày khác nhau)
Ví dụ:
+ Đọc bài: “Đoàn thuyền đánh cá” của nhà thơ Huy Cận, sáng tác năm
1958, trong một chuyến đi thực tế ở vùng mỏ Quảng Ninh đã để lại trong em ấntượng sâu sắc về nội dung và nghệ thuật
Trang 14+ Năm 1958, khi miền Bắc đang thực hiện kế hoạch năm năm lần thứ nhất,trong một chuyến đi thực tế ở vùng Quảng Ninh, nhà thơ Huy Cận đã chứngkiến cảnh người dân làm chủ thiên nhiên, đất nước Ông đã sáng tác bài thơ:
“Đoàn thuyền đánh cá” Bài thơ đã để lại trong em ấn tượng sâu sắc về nội
dung và nghệ thuật
Lưu ý: Nếu đề bài nêu rõ nội dung cần phân tích thì học sinh thay cụm từ
“Có giá trị sâu sắc về nội dung và nghệ thuật” bằng nội dung cần làm rõ theo đề
ra yêu cầu phải giải quyết
Ví dụ: Hãy phân tích câu đầu bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu để thấy
được cơ sở hình thành tình đồng đội của anh bộ đội cụ Hồ
Đọc bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu, sáng tác đầu thời kỳ kháng chiến
chống Pháp đã để lại trong em ấn tượng thật sâu sắc Đặc biệt là bảy câu thơ đầu đã giới thiệu với chúng ta về những cơ sở hình thành tình đồng chí thật đẹp
- Vào đề gián tiếp:
Phần mở đầu gồm 3 phần:
+ Dẫn vào đề bài: Bằng nhiều phương pháp
+ Đặt vấn đề: Bằng cách lặp lại vấn đề chính của đề luận
+ Giới hạn vấn đề: Cũng là phần chuyển ý: báo trước công việc sẽgiải quyết ở phần thân bài
=> Có nhiều phương pháp dẫn nhập vào đề: Nếu nắm vững sẽ tiết kiệm
được thời gian, không ngại khi làm tập làm văn và dành nhiều thời gian chophần thân bài được cụ thể, sâu sắc…
* Phương pháp giới thiệu vài sự kiện quan trọng về cuộc đời tác giả:
Ví dụ: Bằng Việt sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước gặp nhiều tai
ương: nạn đói 1945, rồi chín năm kháng chiến trường kỳ; ba mẹ tham gia khángchiến; Bằng Việt được sự cưu mang chăm sóc của bà Năm 1963, anh mới 22tuổi đang du học tại Liên Xô Sống giữa mùa đông băng tuyết với tiện nghi hiệnđại: bếp ga, bếp điện, lò sưởi,… anh chạnh lòng nghĩ về ngọn lửa ấm áp nơi quê
nhà - nhớ về người bà kính yêu Bài thơ “Bếp lửa” đã phần nào nói được tình