1. Trang chủ
  2. » Nghệ sĩ và thiết kế

Thông báo Khoa học và công nghệ số 1 năm 2013

142 23 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 12,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, CMKT công quốc tế được xây dựng trên cơ sở nền tài chính công ở các quốc gia phát triển ở mức độ cao, trong đó, quan hệ NSNN với các đơn vị sự nghiệp được t[r]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TRUNG

SỐ 1 – NĂM 2013

LƯU HÀNH NỘI BỘ

Trang 2

Trưởng ban : TS Trần Xuân Thực

Phó ban : TS Nguyễn Văn Cường

Thư ký : ThS Trương Minh Trí

In 200 cuốn khổ 19 cm x 27 cm tại

công ty cổ phần in Lê Dung Phú Yên

Giấy phép xuất bản số 31/GP-STTTT

ngày 11/6/2013 của Sở Thông tin và

Truyền thông Phú Yên

In xong và nội lưu chiếu tháng

6/2013 Phát hành nội bộ

Trần Xuân Thực Nguồn nhân lực ngành Xây dựng

– một trong những yếu tố quan trọng đến thu hút vốn đầu tư cho sự phát triển của khu vực Nam Miền Trung – Tây Nguyên

1

Nguyễn Văn Cường Đổi mới tư duy để phát triển

nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

7

Lê Duy Quang Đẩy mạnh liên kết hoạt động đào tạo

nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học 13

Lê Sơn Tùng Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục,

bồi dưỡng thanh niên và ý nghĩa của vấn đề trong giai đoạn hiện nay

16

Nguyễn Thành Đạo Một số định hướng cơ bản để

vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện

22

Lê Đức Gia Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng –

chính quyền và công đoàn trong công tác an toàn vệ sinh lao động – phòng chống cháy nổ trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước

26

Hồ Thị Mai Hoa Giải pháp đổi mới để phát triển thư viện Trường Đại học Xây dựng Miền Trung 31 Nguyễn Văn Hải Nâng cao hơn nữa công tác quản

lý và chất lượng giảng viên của bộ môn kết cấu – Khoa Xây dựng – Trường ĐH Xây dựng Miền Trung

35

Nguyễn Công Bằng Nhận thức về nghiên cứu khoa

học trong sinh viên: thực trạng và giải pháp 39

Dương Văn Danh Giải pháp giúp sinh viên nâng

Hoàng Văn Tý Một số kinh nghiệm về cải tiến

phương pháp giảng dạy môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam ở Trường Đại học Xây

Đoàn Huỳnh Thuận Công nghệ thi công tường

Võ Văn Nam Phân tích hiệu quả của hệ Outrigger

Trang 3

MỤC LỤC TRANG Nguyễn Kim Cường Công nghệ NATM thi công

Đặng Quốc Việt So sánh lý thuyết tính toán xử lý

nền đất yếu bằng cọc đất gia cố xi măng (CDM) giữa tiêu chuẩn của Việt Nam và một số nước trên thế giới

88

Trần Văn Hiến Làng ngư dân ven biển Nam Trung Bộ 94

Nguyễn Hữu Ninh Tính bản sắc trong quy hoạch đô

Trương Minh Trí Mô hình hóa sự lan truyền kim

loại nặng Cu, Mn, Cr, As trong nguồn nước thải của

khu công nghiệp An Phú

103

Vũ Huyền Trân Nghiên cứu chế tạo gạch không

nung bằng công nghệ geopolymer sử dụng tro bay và phế thải bùn đỏ để xây dựng nhà ở vùng cao nguyên Việt Nam

109

Trần Thị Quỳnh Như Những thuận lợi và khó khăn

khi thực hiện đầu tư xây dựng giao thông khu vực duyên hải Nam Trung Bộ

115

Trần Minh Loan Tiến tới hòa hợp, thống nhất giữa

kế toán trong lĩnh vực nhà nước Việt Nam với chuẩn

mực kế toán công quốc tế

121

Trần Thái Sơn Thuật toán tối ưu hóa truy vấn trên

Nghiên cứu khoa học sinh viên So sánh các

phương pháp xác định sức chịu tải của cọc 132

Trang 4

NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH XÂY DỰNG – MỘT TRONG NHỮNG YẾU TỐ

QUAN TRỌNG ĐẾN THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ CHO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA

KHU VỰC NAM MIỀN TRUNG – TÂY NGUYÊN

TS Trần Xuân Thực Hiệu trưởng trường Đại học Xây dựng Miền Trung

1 Đặt vấn đề

Cùng với sự chuyển mình của cả

nước, Khu vực Nam Miền Trung - Tây

Nguyên đã và đang trong quá trình Công

nghiệp hoá, hiện đại hoá; đây là khu vực có

nhiều tiềm năng, cơ hội phát triển và đang

gặp không ít những khó khăn, đầu tư của các

doanh nghiệp vào thị trường này còn thấp so

với tiềm năng phát triển Vì vậy, tiếp tục cần

có sự hỗ trợ lớn của Nhà nước và đầu tư của

cộng đồng doanh nghiệp Vấn đề đặt ra là

khẩn trương rà soát và điều chỉnh lại quy

hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, các

quy hoạch phát triển ngành, nghề, sản phẩm

chủ yếu, trên cơ sở đó cụ thể hóa thành các

chương trình, dự án và kế hoạch đầu tư

nhằm phát huy cao nhất tiềm năng, lợi thế

của khu vực phương theo hướng phát triển

nhanh và bền vững

Hội nghị xúc tiến đầu tư được tổ chức

trong điều kiện kinh tế thế giới đang gặp

những khó khăn nhất định, kinh tế khu vực

Nam Miền Trung - Tây Nguyên có những

dấu hiệu tích cực bước đầu Đây là cơ hội

nhằm đón đầu làn sóng đầu tư trong và ngoài

nước, là điều kiện để khu vực quảng bá, giới

thiệu về những tiềm năng phát triển, lợi thế,

cơ chế chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu

tư và cung cấp các dự án đầu tư trọng điểm;

thu hút vốn đến từ các nhà đầu tư tiềm năng,

đồng thời góp phần nâng cao năng lực cạnh

tranh cho các doanh nghiệp tại thị trường

trong nước Đây là hội nghị khởi động cho một chương trình xúc tiến đầu tư bền bỉ, liên tục của Đà Nẵng nói riêng, khu vực Nam Miền Trung – Tây Nguyên nói chung, vì mục tiêu trở thành một trong những điểm thu hút đầu tư và phát triển kinh tế

Khu vực Nam Miền Trung – Tây Nguyên có tiềm năng lao động rất lớn, Vì vậy, cần quan tâm nhiều hơn trong công tác đào tạo, dạy nghề theo hướng chuyên môn hóa, nhằm thúc đẩy phát triển tỷ lệ lao động qua đào tạo và đây thực sự là một thách thức rất lớn, trong đó nguồn nhân lực giữ vị trí then chốt, quyết định cho sự phát triển kinh tế-xã hội của khu vực

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao”(1) là một trong ba khâu đột phá chiến lược thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020

Việc đào tạo nguồn lực chất lượng cao đáp ứng với nhu cầu phát triển khu vực Nam Miền Trung - Tây Nguyên là hết sức có ý nghĩa, phát huy tiềm năng lao động nhằm tạo động lực của sự phát triển kinh tế vùng

Trong công cuộc Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi nhiều nhân tố quan trọng như: nguồn vốn, kỹ thuật khoa học công nghệ, tài nguyên thiên nhiên, song yếu tố quan trọng và quyết định nhất là con người Nếu so sánh các nguồn lực với nhau

Trang 5

thì nguồn nhân lực có ưu thế hơn cả Do

vậy, hơn bất cứ nguồn lực nào khác, nguồn

nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất

lượng cao luôn chiếm vị trí trung tâm và

đóng một vai trò rất quan trọng trong phát

triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhất là

trong giai đoạn đổi mới phát triển và hội

nhập kinh tế quốc tế hiện nay

Mục tiêu của bài tham luận là hướng

đến: “Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng

cao, chuyên môn hóa cho ngành, nghề trọng

điểm khu vực Nam Miền Trung - Tây Nguyên

trong đó có ngành xây dựng”

2 Cơ sở lý luận và thực tiễn

2.1.Vai trò nhận thức đối với nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực của mỗi địa phương,

đất nước có vai trò quan trọng trong việc thúc

đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là

nguồn nhân lực chất lượng cao Một trong

những yếu tố quyết định là quá trình chuyển

đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất,

kinh doanh, xã hội, từ sử dụng lao động thủ

công là phổ biến sang sử dụng một cách phổ

biến sức lao động được đào tạo cùng với

công nghệ tiên tiến, phương tiện và phương

pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất

lao động xã hội cao Đối với nước ta đó là

một quá trình tất yếu để phát triển kinh tế thị

trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa

Khu vực Nam Miền Trung - Tây

Nguyên có lực lượng lao động khá dồi dào,

tuy nhiên lực lượng lao động chủ yếu là lao

động phổ thông, trình độ chuyên môn kỹ

thuật chưa cao, có sự chênh lệch rõ về chất

lượng lao động nam và nữ, khu vực thành thị

và khu vực nông thôn và đặc biệt là có sự

thiếu hụt về lao động trong các lĩnh vực yêu

cầu trình độ cao Hơn nữa, việc đào tạo và sử

dụng nguồn nhân lực ở nước ta nói chung, khu vực Nam Miền Trung – Tây Nguyên nói riêng còn rất nhiều hạn chế, bất cập cần phải

có giải pháp kịp thời trong thời gian đến, trong đó vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo

và đào tạo đáp ứng với nhu cầu xã hội, giải quyết tốt bài toán việc làm cho con người lao động đang được đặt ra Ngoài ra, tính mất cân đối trong đào tạo nguồn nhân lực trở thành vấn đề cấp bách chung trong khu vực hiện nay

2.2 Thực trạng về đầu tư và lực lượng lao động ở khu vực

Theo kết quả thống kê, từ 1/1 đến 15/12/2012 số dự án đầu tư vào khu vực rất khiêm tốn: Khánh Hòa (số dự án là 6, số vốn đăng ký 190,3 triệu USD), Ninh Thuận (số dự

án là 3, số vốn đăng ký 79,7 triệu USD)

Trong những năm gần đây, mặc dù đã

có nhiều chuyển biến theo hướng tích cực, song phần lớn lao động có việc làm ổn định ở các đơn vị doanh nghiệp có tay nghề chưa cao hoặc chưa qua đào tạo; việc sử dụng lao động ở các doanh nghiệp còn mang tính thời vụ; chế độ bảo hiểm không rõ ràng, nhiều doanh nghiệp không đóng bảo hiểm cho người lao động; sự chuyển dịch các thành phần lao động – dịch vụ không có tính bền vững, dễ dẫn đến sự xáo trộn và thiếu an toàn, đặc biệt nghiêm trọng hơn trong trường hợp gặp phải các cú sốc bất thường như khủng hoảng kinh tế

Theo kết quả thống kê và dự báo về lực lượng lao động (Trần Xuân Thực và cộng

sự 2011), thì tỷ lệ lực lượng lao động của dân số và tổng cung lao động (kể cả Nam và Nữ) ở các tỉnh khu vực Nam Miền Trung -

Trang 6

Tây Nguyên đến năm 2020 được thể hiện ở Bảng 1 dưới đây:

Bảng 1 Kết quả dự báo cung lao động 2009-2020 khu vực Nam Miền Trung- Tây Nguyên

Tổng cung lao động (người)

(Người)

Tỷ lệ LLLĐ của dân số (%)

Sự biến động cung Lao động ở một số tỉnh Khu vực

Nam Miền Trung - Tây Nguyên

0 200000 400000 600000 800000 1000000 1200000 1400000 1600000

Năm

Tổng Lao động (người)

Phú Yên Khánh Hòa Ninh Thuận Đắc Nông Đắk Lăk Gia Lai Kon Tum Quảng Nam Quảng Ngãi Bình Định

Đà nẵng

Biểu đồ 1 Mô phỏng sự biến động lực lượng lao động đến năm 2020 ở các tỉnh Khu vực

Nam Miền trung -Tây Nguyên (Nguồn đề tài cấp Bộ 4)

Từ đồ thị thống kê cho thấy: Nhu cầu

cung lao động ở tỉnh Đắk Lắk tăng nhanh

trong thời gian tới và lớn nhất trong vùng;

nhu cầu cung lao động ở các tỉnh Bình Định,

Quảng Nam, Gia Lai tăng ở mức độ trung

bình; riêng tỉnh Gia Lai từ năm 2015 trở đi

có cung lao động tăng nhanh hơn; ngoài ra,

sự biến động về cung lao động ở các tỉnh còn lại tăng với tốc độ vừa phải

Kết quả dự báo nhu cầu lao động của dân số ở các tỉnh khu vực Nam Miền Trung - Tây Nguyên đến năm 2020 dựa trên 2

Trang 7

phương án: tốc độ tăng GDP là 7% và 8%

(theo định hưởng của Chính Phủ) được thể

hiện ở Bảng 2

Bảng 2 Nhu cầu lao động của một số tỉnh ở khu vực Nam Miền Trung - Tây

Nguyên đến năm 2020 (Nguồn đề tài cấp Bộ 4)

Tốc độ tăng lao động (%) so với năm 2009

Tổng số lao động (Phương án 1)

Tổng số lao động (Phương án 2)

Từ thực trạng và kết quả dự báo cho

thấy: Nhu cầu lao động ở khu vực Nam

Miền Trung - Tây Nguyên trong thời gian

đến là rất lớn để phù hợp với định hướng

phát triển của Chính Phủ đã đề ra; nhu cầu

đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao là rất

cần thiết trong thời gian đến Tuy nhiên, hiện nay cả nước nói chung, ở khu vực nói riêng đang trong tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”,

do vậy, đặc biệt cần quan tâm tới công tác đào tạo lao động nghề bậc cao, có tính chuyên môn hóa là nhu cầu cấp thiết trong quá trình phát triển kinh tế vùng Sau đây là

Trang 8

Nhu cầu đào tạo nghề xây dựng bậc Trung cấp khu vực

Nam Miền Trung - Tây Nguyên

Nhu cầu đào tạo nghề xây dựng bậc Cao đẳng khu vực Nam Miền Trung - Tây Nguyên

0 5000 10000 15000 20000 25000

biểu đồ mô phỏng nhu cầu đào tạo nghề bậc

Trung cấp, Cao đẳng của khu vực Nam Miền

Trung – Tây Nguyên đến năm 2020 (4)

Biểu đồ 2 Mô phỏng sự biến động nhu cầu đào tạo nghề xây dựng đến năm 2020 ở các tỉnh

Khu vực Nam Miền trung -Tây Nguyên (Nguồn đề tài cấp Bộ 4) Kết quả biểu đồ cho thấy nhu cầu

nguồn nhân lực phục vụ cho sự phát triển

của toàn khu vực Nam Miền Trung - Tây

Nguyên ở bậc cao đẳng tăng nhanh, ở bậc

trung cấp thì từ năm 2015 trở đi sẽ có xu

hướng tăng nhanh Vấn đề này dễ nhận thấy,

một khi nhà đầu tư sử dụng công nghệ tiên

tiến trong sản xuất, khoa học kỹ thuật phát

triển thì việc sử dụng lực lượng lao động có

trình độ chuyên môn hóa với tay nghề cao là

một nhu cầu thiết yếu cho sự phát triển

2.3 Trường Đại học Xây dựng Miền

Trung đào tạo nguồn nhân lực ngành xây

dựng cho sự phát triển kinh tế-xã hội khu

vực Nam Miền Trung-Tây nguyên

Ngành Xây dựng có vai trò quan

trọng trong nền kinh tế quốc dân, tác động

trực tiếp đến phát triển kinh tế-xã hội Ngay

sau khi nước nhà độc lập Chủ tịch Hồ Chí

Minh ký Sắc lệnh số 50 ngày 13/4/1946 nên

nhiệm vụ của kiến thiết đô thị và Kiến trúc:

“Tu chỉnh và kiến thiết các đô thị và thôn

quê: lập bản đồ và chương trình tu chỉnh và

mở mang các đô thị, lập bản đồ và tu chỉnh

các vùng thôn quê Kiểm soát công việc xây

dựng công thự, công viên hay tư thất các

thành phố… Nghiên cứu khởi thảo các luật

lệ về kiến trúc” Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã định hướng phát triển ngành Xây dựng là: “Tăng cường quản lý nhà nước về kiến trúc và qui hoạch…chú trọng doanh nghiệp mạnh theo từng lĩnh vực”

Có thể nói việc xúc tiến đầu tư để thu hút vốn đầu tư vào phát triển kinh tế- xã hội của các tỉnh Nam Miền Trung và Tây Nguyên có vai trò đóng góp của ngành xây dựng nói chung và nguồn nhân lực của ngành Xây dựng nói riêng Bởi lẽ nếu không

có nguồn nhân lực ngành xây dựng thì sẽ không biến nguồn lực tài chính thành nguồn lực vật chất ban đầu phục vụ cho phát triển kinh tế-xã hội

Trường Đại học Xây dựng Miền Trung thuộc Bộ Xây dựng, tiền thân là Trường Cao đẳng Xây dựng số 3 Sau 37 năm xây dựng và trưởng thành nhà trường

đã đào tạo, liên kết đào tạo được:

- Kiến trúc sư: 151 người;

- Kỹ sư xây dựng: 1080 người;

- Kỹ sư cấp thoát nước: 96 người;

- Kỹ sư xây dựng dân dụng: 52 người;

- Kỹ sư Quản lý đô thị: 150 người;

Trang 9

- Cử nhân kế toán: 105 người;

-Cao đẳng và trung cấp: 15345 người;

- Công nhân kỹ thuật: 392 người

Như vậy, Trường Đại học Xây dựng

Miền Trung trong những năm qua đã đào tạo

và cung cấp nguồn nhân lực ngành xây dựng

đáng kể góp phần chung trong sự phát triển

kinh tế-xã hội của khu vực Sinh viên, học

sinh của trường giữ những cương vị chủ chốt

trong bộ máy quản lý Nhà nước, quản lý

ngành và quản lý các doanh nghiệp xây dựng

Để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực

ngành xây dựng giai đoạn 2013-2020 cho

khu vực Nam Miền Trung và Tây Nguyên

nhà trường xây dựng chiến lược đào tạo

nguồn nhân lực có chất lượng cao tập trung

vào những ngành kỹ thuật mà các các cơ sở

đào tạo đại học khác trong vùng không đào

tạo hoặc đào tạo số lượng ít, như: Kiến trúc

công trình; Kiến trúc Quy hoạch; Cấp toát

nước; Kỹ thuật hạ tầng đô thị; Quản lý đô

thị; Kinh té xây dựng; Công trình ngầm; Kỹ

thuật cảng biển Đồng thời tổ chức bồi

dưỡng trình độ quản lý ngành, quản lý đô thị

cho cán bộ quản lý ở các tỉnh trong khu vực

Để làm tốt định hướng trên Nhà trường

luôn chú trọng và làm tốt công tác quy hoạch;

xây dựng, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ

quản lý, giảng viên có năng lực giỏi, phẩm

chất đạo đức tốt; tăng cường công tác đãi ngộ

cán bộ có trình độ cao, học vị tiến sĩ về phục

vụ cho trường Có thể nói đây là một trong những nhiệm vụ vừa mang tính cấp bách, kế thừa, vừa có tầm chiến lược nhằm tạo ra lực lượng có ý nghĩa đầu tàu quan trọng trong đội ngũ cán bộ giảng dạy, góp phần tạo ra nguồn nhân lực cao cho sự phát triển của nhà trường, nhất là trong quá trình hội nhập khu vực và Quốc tế

3 Kết luận

Để thu hút vốn đầu tư, việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, chuyên môn hóa là công việc lớn quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước nói chung, cho phát triển khu vực nói riêng, trong đó

có nguồn nhân lực chất lượng cao của ngành Xây dựng

Đáp ứng được yêu cầu đó nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đặt trên vai các trường đại học có đào tạo các ngành trong lĩnh vực xây dựng, trong đó có Trường Đại học Xây dựng Miền Trung Trường chúng tôi cam kết sẽ làm hết sức mình để đào tạo nguồn nhân lực ngành xây dựng đủ về số lượng và yêu cầu về chất lượng Chúng tôi mong nhận được sư tin tưởng và hỗ trợ của lãnh đạo các tỉnh trong khu vực để nhà trường hoàn thành nhiệm vụ góp phần vào sự nghiệp hoá, hiện đại hoá khu vực Nam Miền Trung và Tây Nguyên

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2011 tr.106

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam 1997 Văn kiện Hội nghị Lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

[3] Quy hoạch phát triển nhân lực ngành xây dựng giai đoạn 2011-2020, Bộ Xây dựng, Hà Nội 9/2012

[4] Trần Xuân Thực Đề tài cấp Bộ 2011 “Đào tạo nghề xây dựng phục vụ nhu cầu nguồn nhân lực ngành xây dựng khu vực Nam Miền Trung và Tây Nguyên giai đoạn 2011 – 2020

Mã số RD 0611”

Trang 10

ĐỔI MỚI TƯ DUY ĐỂ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

CHẤT LƯỢNG CAO PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

TS Nguyễn Văn Cường

Phó Hiệu trưởng trường Đại học Xây dựng Miền Trung

I Bối cảnh cần đổi mới tư duy

Có 3 vấn đề mấu chốt trong bối cảnh

đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao hiện

nay dẫn đến và cần đổi mới tư duy trong

giáo dục đại học:

1 Loài người đang bước vào kỷ

nguyên mới của sự phát triển, có thể gọi đó

là nền văn minh thông tin Sau cuộc cách

mạng công nghiệp lần thứ 3 với tên gọi là

Internet, một số nước phát triển ở Châu Âu

như Đức, Pháp đã hướng đến cuộc cách

mạng công nghiệp 4.0, đó là cách thức

Internet cải thiện quy trình quản lý các chu

trình kỹ thuật, sản xuất, hậu cần của các

ngành công nghiệp và cuộc sống trong thế

kỷ 21 Trong kỷ nguyên thông tin, có thể nói

mọi hoạt động của từng người và từng tổ

chức xã hội đều gồm hướng đến ba bước

theo thứ tự: 1/Thu thập thông tin, 2/ Xử lý

thông tin, 3/ Ra quyết định hoạt động Đó

cũng chính là mục tiêu của giáo dục đại học

2 Trong công cuộc đổi mới toàn diện,

chủ trương của Đảng là phải xây dựng cho

được một nền kinh tế hàng hóa theo định

hướng xã hội chủ nghĩa Như vậy, cùng với

thế giới chúng ta đang từng bước xây dựng

một nền kinh tế tri thức tuân theo sự điều tiết

bởi cơ chế thị trường Đào tạo đại học trở

thành một ngành sản xuất đặc biệt – “sản

xuất nguồn nhân lực” cũng phải tuân theo

qui luật cạnh tranh của nền kinh tế thị trường

và do đó giáo dục đại học không chỉ cần có

chất lượng cao, mà còn phải có hiệu quả về kinh tế và xã hội

3 Sự bùng nổ thông tin – truyền thông,

đã làm thay đổi phương pháp dạy và phương pháp học đại học một cách sâu sắc; thay đổi

rất căn bản mục tiêu giáo dục truyền thống, đặc biệt là mục tiêu giáo dục đại học mà cốt

lõi là chuyển từ chủ yếu là đào tạo kiến thức

và kỹ năng sang chủ yếu là đào tạo năng lực

Điểm mấu chốt này đã hình thành trong

nhận thức: không chỉ học khi còn đi học ở trường mà học khi đã đi làm và lúc đã nghỉ hưu – học suốt đời và tạo dựng nên một xã hội học tập

II Các nội dung đổi mới tư duy về giáo dục đại học

1 Tính chất của Giáo dục đại học

- Giáo dục đại học là một loại hình sản xuất đặc biệt, vì sản xuất ra tri thức mới

và ra nguồn nhân lực hàm chứa tri thức cao; cho sản phẩm đặc biệt vì phẩm chất của sản phẩm không cố định sau đào tạo mà tiếp tục phát triển tùy theo môi trường và động cơ phát triển của “sản phẩm” Môi trường làm việc thuận lợi, đồng thời lại có động cơ đúng đắn, phẩm chất của sản phẩm sẽ phát triển không ngừng theo thời gian

- Giáo dục đại học là ngành sản xuất đặc biệt nên nó là một bộ phận của nền kinh

tế thị trường và cũng tuân theo mọi qui luật của nền kinh tế thị trường có định hướng xã

hội chủ nghĩa, đặc biệt là qui luật giá trị: đầu

tư thế nào thì chất lượng sản phẩm thế ấy

Trang 11

Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng đầu tư cho

đào tạo đại học là đầu tư hiệu quả nhất, vì:

+ Nhà nước chỉ đầu tư ban đầu, như

đầu tư cho hạ tầng cơ sở, còn hoạt động của

đào tạo đại học thì lại được xã hội hóa,

người học phải đóng góp qua học phí và các

khoản đầu tư khác

+ Đào tạo đại học tận dụng được

nguồn lực xã hội tham gia cao nhất, còn sản

phẩm đào tạo thì lại phục vụ xã hội lâu dài

và hiệu quả được nhân lên theo thời gian

2 Chất lượng giáo dục đại học

- Sản phẩm đào tạo là sản phẩm đặc

biệt nên giá trị của sản phẩm được tính tuân

theo những qui luật xã hội (được nhân lên),

không phải tính theo qui luật tự nhiên

(không phải cộng vào)

- Sản phẩm đào tạo tồn tại một thang

chất lượng tùy theo cơ sở đào tạo, hệ đào tạo

và chương trình đào tạo

- Sản phẩm đào tạo cũng có sự chậm

lưu thông (thất nghiệp) và có sự lạm phát

(hàng kém phẩm chất, hàng giả) nhưng rồi cũng sẽ tìm được người tiêu dùng trả giá và

sử dụng đúng giá trị

- Sản phẩm đào tạo có chất lượng cao được trao đổi vô giá và phát huy giá trị (tác dụng) khôn lường khi gia nhập thị trường toàn cầu

- Nội hàm của chất lượng đào tạo

được thể hiện chính qua năng lực của người được đào tạo sau khi hoàn thành chương

trình đào tạo Năng lực này theo chúng tôi bao hàm các thành tố:

1/ Khối lượng và trình độ kiến thức được đào tạo;

2/ Kỹ năng thực hành được đào tạo; 3/ Năng lực nhận thức và năng lực tư duy được đào tạo;

4/ Phẩm chất nhân văn được đào tạo

Có thể tóm tắt và phân loại thang chất lượng của các thành tố vừa nêu trên

trong bảng dưới đây:

Bảng phân loại chất lượng đào tạo theo năng lực

Khối lượng

Và trình độ kiến thức

Cao đẳng Đại học Thạc sỹ Tiến sỹ

3 năm (100 Tín chỉ)

4 - 5 năm (165 Tín chỉ)

2 năm (70 Tín chỉ) 3-4 năm (100-130 Tín chỉ)

Bậc 2: Thao tác Bậc 3: Chuẩn hóa Bậc 4: Phối hợp Bậc 5: Tự động hóa

Chất lượng Chất lượng khá Chất lượng cao Chất lượng rất cao

Trang 12

Nội hàm năng lực Trình độ Khối lượng/Chất lượng

Năng lực nhận thức Bậc 1: Biết

Bậc 2: Hiểu Bậc 3: Vận dụng Bậc 4: Phân tích Bậc 5: Tổng hợp Bậc 6: Đánh giá Bậc 7: Chuyển giao Bậc 8: Sáng tạo

Chất lượng Chất lượng khá Chất lượng cao Chất lượng rất cao Chất lượng cực cao Chất lượng tuyệt cao

Tư duy trừu tượng

Tư duy phê phán

Tư duy sáng tạo

Chất lượng Chất lượng cao Chất lượng rất cao Phẩm chất nhân văn Khả năng hợp tác

Khả năng thuyết phục Khả năng quản lý

Chất lượng Chất lượng cao Chất lượng rất cao

Căn cứ vào mục tiêu đào tạo bậc đại

học và sau đại học ghi trong luật giáo dục,

căn cứ vào sứ mệnh của từng cơ sở đào tạo,

các cơ sở đào tạo cần quán triệt nội hàm chất

lượng đào tạo để xây dựng mục tiêu và

chương trình đào tạo cho từng ngành học,

chọn lọc qui trình và phương pháp dạy - học

cụ thể để đảm bảo giữ vững và không ngưng

nâng cao mục tiêu chất lượng của mình

3 Văn bằng, chứng chỉ đại học

- Văn bằng khóa học hay chứng chỉ

môn học là văn bản chứng nhận trình độ học

vấn hay năng lực sau khi kết thúc một khóa

học hay một môn học được đào tạo theo một

4 Qui mô đào tạo đại học

- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm tạo ra các sản phẩm kinh tế xã hội có hàm lượng trí tuệ cao, vì vậy người chế tạo ra nó phải có trình độ về tri thức và kỹ năng cao

- Trong nền kinh tế nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường thì nguồn nhân lực trí tuệ cao góp phần tạo công ăn việc làm, giảm thất nghiệp và kèm theo đó là giảm tệ nạn xã hội

- Nhu cầu được đào tạo đại học ngày một tăng – phản ánh một nhu cầu phổ cập hóa cho mọi công dân để lao động và sống trong xã hội công nghiệp và xã hội hiện đại

- Do tính chất của thời đại: toàn cầu hóa các hoạt động kinh tế xã hội trong một thế giới cạnh tranh đến đối đầu, đòi hỏi mỗi dân tộc phải có dân trí cao để trước hết là tồn tại trong bình đẳng sau là vươn lên trong niềm tự hào dân tộc Chỉ có giáo dục và đào

Trang 13

tạo mới làm gánh nặng dân số trở thành lợi

thế trong nền kinh tế tri thức toàn cầu hóa

- Mở rộng qui mô đào tạo đại học còn

là một giải pháp kích cầu cho nền kinh tế thị

trường và là một khâu có thể xã hội hóa giáo

dục mạnh nhất vì khi còn trong độ tuổi 18

đến 22 thì bố mẹ đang trong độ tuổi trưởng

thành về sự nghiệp, họ sẵn sàng đầu tư cho

con đi học đến hết các loại học vị nhà nước

có mà không cần nghĩ đến đầu tư hưởng thụ

Như vậy, thu hẹp hoặc ngay cả duy trì

qui mô đào tạo đại học như hiện nay là tự

trói mình, làm chậm tiến trình công nghiệp

hóa, hiện đại hóa

5 Chương trình đào tạo đại học

Nội dung chương trình đào tạo đại

học cần phải được xây dựng theo các nguyên

tắc sau đây:

1- Chương trình phải được xây dựng

theo mục tiêu đào tạo định sẵn và phải bao

gồm cả 3 khối kiến thức, không được thiếu

một khối kiến thức nào: kiến thức khoa học

cơ bản, kiến thức khoa học cơ sở và kiến

thức khoa học chuyên ngành Tùy theo từng

ngành nghề đào tạo mà chọn tỉ lệ khác nhau

giữa các khối kiến thức này Cần chú ý, nếu

chúng ta coi trọng khối kiến thức này hay

khối kiến thức khác sẽ ảnh hưởng đáng kể

đến mục tiêu đào tạo

2- Mỗi môn học cần trang bị các kiến

thức cốt lõi nhất cho người học Mục tiêu

chủ yếu là dùng các kiến thức cốt lõi này để

dạy cách học môn học, nhờ đó người học có

thể phát triển vốn kiến thức về môn học ấy

suốt đời để thích nghi với sự phát triển

Chương trình cần đưa vào các kiến thức cốt

lõi mới đủ thời gian để dạy năng lực nhận

thức, năng lực tư duy hay dạy kỹ năng ở các

bậc chất lượng cao

3- Thường xuyên cập nhật các thông

tin mới, thể hiện ở kiến thức mới của môn học hay môn học mới của chương trình đào

tạo để ngày càng nâng cao sự chính xác và toàn diện của khoa học thuộc ngành học

6 Phương pháp giảng dạy ở đại học

Phương pháp giảng dạy đại học cần phải đổi mới theo các nguyên tắc chính sau đây:

1- Cần phải dạy cho người học năng lực nhận thức, năng lực tư duy càng cao càng tốt Muốn thế trước tiên bản thân giáo viên

phải thấu hiểu năng lực nhận thức và năng lực tư duy và phải đổi mới phương pháp

giảng dạy Giáo viên phải biết vận dụng các phương pháp khác nhau tùy theo mục tiêu,

tùy theo tính chất của môn học và tùy theo đặc điểm của người học, của lớp học

2- Cần phải đào tạo phẩm chất nhân văn cho người học bằng cách sử dụng các

hình thức đào tạo khác nhau (bài tập lớn, đề

án, tổng luận, chuyên luận môn học, tham quan, hội thảo…)

2- Bên cạnh “tự học” cần phải chú ý

đến “cùng học” Cùng học (theo nhóm, theo câu lạc bộ, theo lớp…) mới rèn luyện khả

Trang 14

năng hợp tác, khả năng thuyết phục và khả

năng quản lý cho người học

8 Kiểm tra đánh giá trong giáo dục đại học

Kiểm tra đánh giá là công đoạn quyết

định chất lượng cho quá trình giảng dạy và

học tập Đối với giáo viên, kiểm tra đánh giá

giúp giáo viên biết được hiệu quả và chất

lượng giảng dạy Đối với người học, kiểm

tra đánh giá giúp học viên biết được chất

lượng học tập Đối với nhà quản lý, kiểm tra

đánh giá giúp nhà quản lý điều chỉnh chương

trình và tổ chức đào tạo hợp lý Vì vậy, việc

đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá tuân

theo các nguyên tắc sau:

1- Về nội dung kiểm tra đánh giá:

phải kiểm tra đánh giá theo mục tiêu đào tạo

của từng môn học, đồng thời phải kiểm tra

đánh giá theo các bậc nhận thức, các bậc kỹ

năng và các bậc của năng lực tư duy mà

môn học dự kiến người học phải đạt được

sau khi học xong

2- Về phương pháp kiểm tra đánh giá:

cần áp dụng nhiều phương pháp kiểm tra

đánh giá khác nhau (viết, vấn đáp, trắc

nghiệm khách quan, bài tập lớn, tiểu luận,

tổng quan,…) và phải thường xuyên

3- Kết quả kiểm tra đánh giá: phải

được sử dụng để đánh giá chất lượng giảng

dạy, chất lượng học tập và chất lượng tổ

chức đào tạo

4- Với mục tiêu đánh giá tiếp thu môn

học: Việc chia nhỏ thành thang 10 (hiện nay

đang dùng) hoặc khuyến khích thang 100

điểm để tăng độ phân biệt trong tuyển chọn

9 Cơ chế tài chính trong giáo dục đại học

Có hai cơ chế chính trong quản lý tài

chính đối với một trường đại học cần phát

huy, đó là: 1/ Cơ chế quản lý cung cấp các

nguồn tài chính và 2/ Cơ chế quản lý sử dụng

các nguồn tài chính của một trường đại học

Trong quá trình đổi mới quản lý tài

chính, cần xây dựng một hệ thống kiểm toán hiệu quả, hệ thống thanh tra hiệu lực và hệ thống kiểm định toàn diện để quyền tự chủ

và tự chịu trách nhiệm trao cho các trường được thực hiện được tốt nhất

10 Mô hình tổ chức cơ sở đào tạo đại học

1- Mô hình tổ chức cơ sở đào tạo đại

học phải là một mô hình mở, bao gồm các cơ

sở giảng dạy, nghiên cứu, dịch vụ và liên thông với các cơ sở ngoài xã hội

- Liên thông với các cơ sở ngoài xã

hội thông qua việc khai thác triệt để đội ngũ tri thức hiện có tham gia đào tạo đại học:

- Liên thông với các cơ sở ngoài xã hội thông qua việc khai thác triệt để các cơ

sở vật chất và kỹ thuật của các viện nghiên cứu, các xí nghiệp, các doanh nghiệp,…để đào tạo đại học

2- Trong xã hội học tập, bên cạnh việc tổ chức đào tạo, các trường đại học còn phải đảm nhận vai trò là cơ sở cung cấp

chuẩn học lực (thông qua chương trình đào tạo), học liệu (sách giáo khoa, băng đĩa giáo khoa,…), hướng dẫn hoặc tư vấn học tập cho người học và cấp chứng chỉ chất lượng tiếp thu môn học hay cấp văn bằng chứng

nhận trình độ học lực cho người học

3- Xây dựng hệ thống pháp qui đảm

bảo hỗ trợ mô hình tổ chức đào tạo đại học

mở được thực thi; đảm bảo sự liên thông, liên kết giữa các cơ sở đào tạo; và đặc biệt quan

trọng nữa là đảm bảo cho bất kỳ người học ở trình độ học vấn nào khi có điều kiện đều có

thể từng bước học lên trình độ cao hơn

11 Các giải pháp đảm bảo chất lượng đào tạo đại học

Cùng với việc trao quyền tự chủ cao cho các cơ sở đào tạo đại học, cần xây dựng

Trang 15

chế độ và bộ máy kiểm định chất lượng như

trong sản xuất, kinh doanh hiện nay đối với

các cơ sở đào tạo đại học (chứ không phải

kiểm tra hay kiểm soát chất lượng)

- Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đại

học cho đội ngũ giáo viên để có cơ sở khoa

học đổi mới chương trình, nội dung đào tạo,

đổi mới phương pháp giảng dạy và kiểm tra

đánh giá trong giáo dục đại học

- Kiểm soát chặt chẽ việc kiểm tra

đánh giá tiếp thu học phần hay môn học sao

cho đảm bảo độ giá trị, độ tin cậy và độ

phân biệt cao của từng đề thi, đảm bảo đánh

giá chính xác, công bằng và đúng mục tiêu

đào tạo của từng học phần hay môn học

- Có giải pháp thích hợp để phân loại

sinh viên theo năm học và theo giai đoạn,

có chế tài đủ hiệu quả để xử lý số sinh viên

không cố gắng học tập tu dưỡng, đồng thời

có giải pháp khuyến học cho những sinh

viên học giỏi

- Tăng cường quản lý chất lượng

thông qua áp dụng công nghệ thông tin và

các qui định pháp qui chặt chẽ

- Đổi mới tuyển sinh đại học theo

hướng kết hợp giữa thi tuyển năng lực bằng

trắc nghiệm và xét kết quả thi tốt nghiệp

phổ thông

II Kết luận

Nghị quyết Trung ương II khóa VIII đã chỉ

rõ: “Coi trọng hơn nữa công tác nghiên cứu

khoa học giáo dục, nhằm đáp ứng những vấn đề lý luận và thực tiễn trong giáo dục

và phổ biến các tri thức khoa học giáo dục thường thức đến các gia đình Các chủ trương chính sách về giáo dục, những đổi mới về nội dung, qui trình, phương pháp giáo dục, đánh giá, thi,…đều phải dựa trên

cơ sở nghiên cứu kỹ lưỡng và trải qua thử nghiệm, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và đưa vào nhà trường theo đúng qui định” Việc đổi mới tư duy trong công tác đào tạo, nghiên cứu và phổ biến các tri thức

về giáo dục học đại học từ các lãnh đạo bộ môn để tạo nên sự thống nhất từ công tác giảng dạy, đánh giá và kiểm định chất lượng

là hết sức quan trọng và cấp thiết Lãnh đạo các đơn vị chuyên môn đều phải tổ chức nghiên cứu dạy và học một cách có hiệu quả; bên cạnh đó việc cải tiến công tác quản lý, tổ chức các hội nghị khoa học, câu lạc bộ học thuật thường niên để các cán bộ, giảng viên

và học sinh – sinh viên có điều kiện được tiếp cận và trao đổi về những vấn đề cần quan tâm của giáo dục đại học trong thời điểm hội nhập; sử dụng những kết quả đã được thẩm định từ các quá trình nghiên cứu vào thực tiễn của nhà trường nhằm tạo ra

“sản phẩm” tốt nhất, hiệu quả nhất, đáp ứng cho yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 16

ĐẨY MẠNH LIÊN KẾT HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

CVC Lê Duy Quang

Trưởng phòng Tổ chức Hành chính, trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Tóm tắt: Trong quá trình đào tạo và liên kết đào tạo nhằm nâng cao chất lượng giáo dục

hiện nay nói chung vẫn còn nhiều bất cập Ở bài báo này, tác giả đề xuất một số giải pháp cần phát huy trong thời gian tới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học

Từ khóa: Liên kết đào tạo, nâng cao chất lượng, giáo dục

Trong suốt quá trình đào tạo thời gian

qua đã khẳng định được những nội dung liên

kết hoạt động đào tạo đã được đề ra trong

nhiều chương trình, nhiều tổ chức nhằm nâng

cao chất lượng giáo dục ở các trường đại học

là rất hữu ích và hoàn toàn khả thi Hợp tác,

liên kết mạnh mẽ trong các hoạt động thông

qua nhiều mặt, như quản lý đại học, hệ thống

thông tin – truyền thông, chương trình – giáo

trình, phương pháp giảng dạy và học tập,

tuyển sinh, kiểm tra – đánh giá, kiểm định

chất lượng, nghiên cứu khoa học, v.v…không

chỉ giúp cho từng trường đại học giải quyết

tốt các vấn đề gay cấn trước mắt nhằm đảm

bảo chất lượng đào tạo, mà còn từng bước

hình thành khối liên kết chặc chẽ giữa các

trường đại học, phát huy tính tự chủ và tự

chịu trách nhiệm trong cơ quan – đơn vị,

không ngừng tăng cường sức mạnh cho hệ

thống đại học trong toàn quốc, nhằm giải

quyết tốt bài toán “đào tạo có chất lượng”

nguồn nhân lực phục vụ nhu cầu công nghiệp

hóa, hiện đại hóa đất nước

Nhiều hội thảo theo chủ đề “Nâng cao

chất lượng đào tạo”, “Nâng cao chất lượng tự

học”, “Nâng cao chất lượng công tác kiểm

định”,…đã được các đơn vị tổ chức, tham gia

rất hoan nghênh Tuy nhiên, đây mới chỉ là

bước khởi động của sự liên kết, là bước mang

tính chất phổ biến kiến thức chung và trao đổi thông tin Đã đến lúc các trường đại học nâng cao khả năng, năng lực liên kết thực sự bằng các hoạt động cụ thể Ở bài báo này, tôi xin

đề cập đến hai vấn đề:

Thứ nhất, một số công việc có thể

làm và cần làm trước mắt

Cho đến nay ở mỗi trường đại học dù

ít hay nhiều đều đã triển khai được một số công việc theo hướng đổi mới và đạt được những kết quả ban đầu rất khả quan Nếu tập hợp được các kết quả đổi mới này và chuyển giao giữa các trường với nhau (đương nhiên

là theo tinh thần tự nguyện), đồng thời liên kết mở rộng quy mô những việc đã làm ở trường này hay trường khác, thì mỗi trường

và cả hệ thống giáo dục sẽ nhanh chóng có một bước đổi mới đáng kể trong quá trình đào tạo Thực tiễn, cho thấy những việc sau đây cần phải xúc tiến mạnh hơn nữa trong thời gian tới:

1 Tập hợp các khung chương trình của các ngành học, chương trình chi tiết của các môn học từ các trường để tham khảo chung, giúp các trường tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung

2 Tập hợp danh mục các giáo trình, tài liệu tham khảo, tài liệu phát tay (handouts) của

Trang 17

các trường để các trường trao đổi, bổ sung

nguồn tài liệu

3 Hình thành các nhóm chuyên gia huấn

luyện cho giảng viên các trường về lý luận

dạy học đại học và đổi mới phương pháp

giảng dạy một cách thiết thực, hiệu quả, tránh

phô trương, hình thức; huấn luyện sử dụng

các phương pháp dạy học hiện đại; sau đó tổ

chức hội thảo về đổi mới phương pháp giảng

dạy và học cụ thể ở từng môn học

4 Tổ chức xây dựng cấu trúc đề thi và viết

câu hỏi thi cho các môn học, xây dựng ngân

hàng câu hỏi thi cho một số môn học dùng

chung ở nhiều trường

5 Xây dựng cấu trúc đề thi các môn thi tốt

nghiệp và ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm cho

từng môn Tổ chức xây dựng đề thi tốt nghiệp

bằng trắc nghiệm khách quan dùng chung cho

nhiều trường song song với đề thi tự luận; có

thể tổ chức chấm thi chung đổi với bài thi trắc

nghiệm khách quan (dùng máy quét quang

học và phầm mềm xử lý chuyên dụng)

6 Xây dựng hệ thống phiếu khảo sát, tập hợp

thông tin hàng năm của các trường, kể cả

kinh nghiệm trong quản lý, điều hành trường

đại học, vân dụng các chủ trương, quy chế,

v.v…phổ biến cho các trường tham khảo, và

nghiêm túc học tập

7 Trao đổi giữa các trường cuốn niên giám

và kế hoạch chiến lược nhằm chia sẻ thông

tin, học tập lẫn nhau

8 Phổ biến rộng rãi giữa các trường công tác

đảm bảo chất lượng, kiểm định, công nhận

trong giáo dục đại học; giúp các trường sử

dụng bộ tiêu chí chung để bước đầu tự đánh

giá hoạt động đảm bảo chất lượng của từng

đơn vị riêng lẻ trong toàn trường và tổ chức

rút kinh nghiệm, từ đó các trường tự mở rộng

hoạt động kiểm định đối với trường mình

Trong các hoạt động trên đây cũng như các hoạt động liên kết nói chung, vai trò đầu mối của Ban liên lạc các trường đại học rất quan trọng Để thực hiện từng hoạt động

cụ thể cần hình thành các nhóm công tác riêng (gồm những chuyên gia của nhiều trường, am hiểu lĩnh vực công tác)

Thứ hai, cần đẩy mạnh liên kết đưa

công nghệ thông tin một cách hiệu quả vào trường đại học

Chúng ta đang chứng kiến một cuộc cách mạng toàn diện, mạnh mẽ, sâu sắc làm thay đổi hình thức và nội dung mọi hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội trên khu vực và toàn thế giới Từ xã hội công nghiệp, một số quốc gia phát triển đã bắt đầu chuyển sang xã hội thông tin trên nền tảng kinh tế tri thức Các nước đang phát triển đã và đang tích cực áp dụng những tiến bộ mới của khoa học và công nghệ; đặc biệt là công nghệ thông tin, nhằm tạo cơ hội “đi tắt, đón đầu” để có thể rút ngắn con đường từ một xã hội nông nghiệp tiến nhanh đến xã hội công nghiệp mới mang những yếu tố ngày càng rõ nét của

xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức, hội nhập với thế giới văn minh, phát triển Hàng loạt các trường đại học ở các quốc gia phát triển đã đóng vai trò đi đầu, định hướng những nỗ lực của mình vào mục tiêu chung: tiến đến xã hội thông tin

Nhiều trường đại học ở những nước đang phát triển, trong đó có nước ta cũng đã chọn cách “đi tắt, đón đầu” để không bỏ qua

cơ hội hội nhập trên con đường tiến đến xã hội thông tin Một trong những phương tiện giúp trường đại học đi tắt nhanh nhất là áp dụng tối đa các thành tựu công nghệ thông tin đối với nhà trường Vì vậy, chúng ta cần đẩy mạnh hoạt động công nghệ thông tin bằng các công việc sau đây:

Trang 18

1 Tăng cường trang bị hệ thống máy tính và

tổ chức các lớp tin học để từng bước nâng

cao trình độ tin học đối với cán bộ, giảng

viên và sinh viên

2 Huấn luyện những nhóm chuyên gia (và

mở rộng ra đông đảo giáo chức) sử dụng các

phần mềm chuyên dụng để soạn thảo các

bản tóm tắt bài giảng dùng đèn chiếu

(overhead), máy chiếu (projector)

3 Tăng cường trang bị và huấn luyện sử

dụng phần mềm chấm thi; xử lý thống kê bài

thi trắc nghiệm ở lớp học, đánh giá kết quả

học tập

4 Tổ chức thi trên máy tính đối với một số

môn học thích hợp

5 Trang bị máy quét quang học và huấn

luyện chấm thi trắc nghiệm trên máy quét

quang học (bài thi hết môn, thi tuyển sinh),

thống kê đăng ký học tập theo tín chỉ,…

6 Trang bị các bài thí nghiệm ảo, phòng thí

nghiệm ảo

7 Hình thành nhóm nòng cốt khai thác

nguồn thông tin trực tuyến trên mạng

8 Nâng cấp thư viện theo hướng thư viện

điện tử: quản lý, điều hành bằng máy tính;

tăng cường các tư liệu điện tử trên CD-Rom,

tạp chí điện tử; mở rộng mạng cục bộ để cán

bộ, giảng viên, viên chức và sinh viên có thể

khai thác mà không cần đi đến thư viện

9 Tăng cường biên soạn các giáo trình điện

tử (bằng tiếng Việt), các phần mềm dạy học,

12 Thực hiện quản lý hành chính, quản lý học chính trên mạng; xây dựng kết cấu nội dung của hạ tầng thông tin (chuẩn hóa qui trình tạo thông tin, chuẩn hóa thông tin, kết nối các nguồn tin, tích hợp thông tin diện rộng, lập giao diện khai thác, sử dụng thông tin, bảo vệ an ninh thông tin, v.v…)

Những việc trên đây nếu có sự phối hợp của các trường sẽ gặp nhiều thuận lợi (trong sự ủng hộ đầy đủ của dư luận, của chuyên gia, rút ngắn thời gian nghiên cứu, triển khai,…) Vì vậy cần có sự liên kết, phối hợp giữa các trường, trước hết bằng cách hình thành các nhóm chuyên gia theo từng lĩnh vực để triển khai thực hiện đến từng trường đại học

Trang 19

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC, BỒI DƯỠNG THANH NIÊN

VÀ Ý NGHĨA CỦA VẤN ĐỀ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

ThS Lê Sơn Tùng Trưởng phòng Công tác HSSV, trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Tóm tắt: Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm tới

việc giáo dục, bồi dưỡng thanh niên Người luôn đánh giá cao vai trò và vị trí của thanh

niên trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, bồi

dưỡng thanh niên vừa mang tính cách mạng, khoa học vừa mang tính nhân văn sâu sắc Đó

là cơ sở tư tưởng và lý luận cho chiến lược giáo dục, bồi dưỡng thanh niên hiện nay

Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục, bồi dưỡng thanh niên

1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, bồi

dưỡng thanh niên

Có thể nói rằng, thế hệ trẻ, mà đặc

biệt là thanh niên, ở mỗi thời kỳ lịch sử luôn

là một bộ phận quan trọng của một dân tộc,

hơn thế nữa, họ còn là người chủ tương lai

của đất nước Theo Hồ Chí Minh, vận mệnh

của dân tộc, tương lai của đất nước tuỳ thuộc

vào phẩm chất và bản lĩnh của thế hệ trẻ

Nếu thanh niên không nhận thức được vai

trò của mình thì sự nghiệp cách mạng không

thể đi tới thành công Trong thư của Hồ Chí

Minh gửi thanh niên, học sinh nhân ngày

khai trường năm đầu tiên của nước Việt

Nam độc lập (9-1945) Người đã viết: “Non

sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay

không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài

vinh quang để sánh vai với các cường quốc

năm châu được hay không, chính là nhờ một

phần lớn ở công học tập của các em”

Theo Hồ Chí Minh, trong sự nghiệp

xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thanh niên là

lực lượng to lớn, là đội quân xung kích, là

cánh tay đắc lực và đội hậu bị của Đảng, là

lực lượng kế thừa và tiếp bước các thế hệ

cha anh Người cũng đã nhiều lần quán triệt:

cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là một

cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, nhiều thử

thách và là công việc của nhiều thế hệ kế

tiếp nhau, mỗi thế hệ chỉ có thể phấn đấu đạt được một số mục tiêu, đi được một hoặc vài bước trên cả lộ trình cách mạng Thực tế ấy đặt ra vấn đề các thế hệ đi trước không chỉ đơn thuần trao lại những thành quả cách mạng mình đã đạt được, mà còn phải chuẩn

bị những điều kiện tinh thần, vật chất để thế

hệ sau có thể kế thừa, phát triển và bảo vệ thành quả của các thế hệ cha ông Chính vì

lẽ đó, việc bồi dưỡng, giáo dục thế hệ cách mạng cho đời sau là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết nhằm chuẩn bị những lớp người kế tục sự nghiệp của Đảng, của dân tộc, giữ vững và phát huy những thành quả cách mạng của lớp người đi trước

Để phát huy vai trò và sức mạnh của tuổi trẻ thì phải tiến hành bồi dưỡng, giáo dục thanh niên một cách toàn diện và chu đáo Hiểu sâu sắc tầm quan trọng của vấn đề này, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hết sức quan tâm dìu dắt thế hệ trẻ Ngay từ những ngày đầu bôn ba cứu nước, để tập hợp, giáo dục và giác ngộ cách mạng cho thanh niên, Người đã lập ra tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (6-1925) Đây là tổ chức tiền thân của Ðảng ta sau này Người trực tiếp lựa chọn

và bồi dưỡng, đào tạo những thanh niên yêu nước, có chí khí đấu tranh chống thực dân,

phong kiến Cuốn sách Ðường cách mệnh là

Trang 20

tập hợp các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc từ

năm 1925 đến 1927 cho các lớp thanh niên

ưu tú về lý tưởng, đạo đức cách mạng Những

thanh niên yêu nước đã qua huấn luyện, giáo

dục, đào tạo được Bác Hồ đưa về nước hoạt

động để thâm nhập vào phong trào yêu nước,

phong trào công nhân trở thành những cán bộ

cách mạng tiên phong trong cuộc đấu tranh

giải phóng dân tộc Trước lúc đi xa, trong “Di

chúc” thiêng liêng, Người còn ân cần căn

dặn: "Đoàn viên và thanh niên ta nói chung

là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong,

không ngại khó khăn, có chí tiến thủ Đảng

cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách

mạng cho họ, đào tạo họ thành những

người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội

vừa “hồng” vừa “chuyên” Bồi dưỡng thế

hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất

quan trọng và rất cần thiết"

Trong những vấn đề cần giáo dục cho

thanh niên, Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu

vấn đề giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng cách

mạng cho họ Giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng

cách mạng cho thanh niên là bồi dưỡng để

họ có nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa xã

hội, trước hết phải biểu hiện ở tinh thần yêu

nước, tự hào với truyền thống dân tộc,

truyền thống của các thế hệ cha ông trong sự

nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Tinh thần yêu nước là vốn quý,

là sức mạnh to lớn giúp dân tộc ta đứng

vững trước những thử thách nghiệt ngã trong

lịch sử Nó được hun đúc từ bao đời và đã

trở thành sức mạnh Việt Nam, biểu tượng

Việt Nam Lý tưởng cách mạng cao đẹp mà

Hồ Chí Minh nói tới và cũng là để giáo dục

cho thanh niên đó là: độc lập dân tộc và chủ

nghĩa xã hội Những nội dung ấy luôn gắn

bó chặt chẽ với nhau, đó là phương hướng

duy nhất để củng cố bền vững nền độc lập

của dân tộc, bảo đảm cho mọi người có cuộc

sống ngày càng ấm no, tự do và hạnh phúc

Lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã trở thành niềm tin, lẽ sống của biết bao thế hệ Do vậy, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở phải giáo dục cho thanh niên nhận thức đúng đắn và hiểu sâu sắc rằng: vì

lý tưởng cao đẹp ấy mà biết bao chiến sĩ cộng sản, biết bao người con ưu tú của dân tộc đã chiến đấu, hy sinh, gian khổ Chỉ có giác ngộ được lý tưởng cách mạng cao đẹp

ấy thì thanh niên mới có thể đảm đương được sứ mệnh mà Đảng và dân tộc giao phó Bên cạnh việc giáo dục lý tưởng cách mạng, Hồ chí Minh cũng đặc biệt quan tâm tới việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho thanh niên Trong mối quan

hệ giữa tài và đức, Hồ Chí Minh luôn coi

đạo đức là gốc của người cách mạng Người xác định: “Cũng như sông thì có nguồn mới

có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”

Trong giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên, theo Hồ Chí Minh là cần làm cho thanh niên nhận thức được những nội dung cụ thể như: tuyệt đối trung thành với

Tổ quốc, với Đảng và hiếu với nhân dân Khái niệm “trung”, “hiếu” theo tư tưởng Hồ Chí Minh có tính chất rộng lớn, bao hàm những nội dung mới mẻ, trên cơ sở phát triển những tinh hoa của dân tộc và nhân loại Giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên nghĩa là phải giáo dục tính khiêm tốn, giản dị, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; giáo dục cho thanh niên tin tưởng tuyết đối vào sự lãnh đạo của Đảng, chấp hành đúng đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, cống hiến hết mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; biết tôn trọng nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, chăm lo bảo vệ lợi ích của nhân dân

Trang 21

thể hoàn thành tốt nhiệm vụ cách mạng của

mình Tuy nhiên, cũng theo Hồ Chí Minh,

đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa

xuống, nó do rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà

phát triển, củng cố Do đó, đòi hỏi mỗi người

phải tự giác rèn luyện thông qua hoạt động

thực tiễn, công việc, trong các mối quan hệ

của mình, “phải tu dưỡng đạo đức suốt đời”

Cùng với việc tăng cường giáo dục,

bồi dưỡng lý tưởng, đạo đức cách mạng và

xuất phát từ yêu cầu của nhiệm vụ cách

mạng mới, Hồ Chí Minh cũng đặc biệt quan

tâm đến việc giáo dục, bồi dưỡng nâng cao

trình độ văn hoá, khoa học-kỹ thuật và nghề

nghiệp cho thanh niên Đây là điều kiện để

thanh niên cống hiến ngày càng nhiều cho

đất nước

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh: thế giới

luôn đổi mới, khoa học-kỹ thuật luôn đổi

mới, công nghệ ngày càng tinh xảo, nhân

dân ngày càng tiến bộ, vì vậy, thế hệ thanh

thiếu niên phải thường xuyên học tập để tiến

kịp nhân dân, để nâng cao trình độ văn hoá,

nắm bắt những tri thức khoa học-kỹ thuật

mới Do đó, phải “ra sức học tập nâng cao

trình độ chính trị, văn hoá, khoa học, kỹ

thuật và quân sự để cống hiến ngày càng

nhiều cho Tổ quốc, cho nhân dân” Và

Người cũng chỉ rõ: làm nghề gì cũng phải

học, mục đích của việc học không gì khác

hơn là để nâng cao năng lực, làm cho kinh tế

phát triển, chiến đấu thắng lợi, đời sống

nhân dân ngày càng được ấm no, tươi vui

Nội dung cơ bản trong việc giáo dục,

bồi dưỡng thanh niên về văn hoá, khoa

học-kỹ thuật được Hồ Chí Minh đề cập đến như: bồi dưỡng nâng cao các môn khoa học tự nhiên, các môn khoa học xã hội, lịch sử truyền thống và truyền thống đoàn kết dân tộc… Trong công cuộc chiến đấu bảo vệ và xây dựng đất nước biết bao khó khăn, gian khổ thì sự cần cù, chịu khó lao động, học tập

là yêu cầu cần thiết ở thanh niên Vì vậy, Người cũng rất chú trọng việc giáo dục, bồi dưỡng thanh niên đức tính lao động cần cù, chịu khó, tinh thần ham học hỏi để họ có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Tổ quốc và nhân dân giao phó Người nói: “Nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được Không tiến bộ là thoái bộ Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo Mình mà không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình”

Từ những bài nói, bài viết và từ thực tiễn hoạt động của Người, chúng ta có thể khái quát phương châm, phương pháp giáo dục, bồi dưỡng thanh niên theo tư tưởng Hồ Chí Minh tập trung ở mấy nội dung chính như sau:

Một là, phải biết giáo dục thanh niên

có ý thức kết hợp chặt chẽ học với hành, luôn áp dụng những điều học được vào cuộc sống thực tiễn

Hai là, giáo dục, bồi dưỡng thanh

niên là công việc của toàn Đảng, toàn dân; phải thực hiện phương châm nhà trường, gia đình và xã hội kết hợp chặt chẽ; phải lấy gương người tốt việc tốt để giáo dục

Ba là, phải động viên thanh thiếu niên

có ý thức tự giác học tập, tự giác rèn luyện

Bốn là, phải hết sức coi trọng việc

xây dựng các tổ chức đoàn thể của thanh thiếu niên; hoạt động của các tổ chức này phải thường xuyên, có hiệu quả, có nền nếp Việc thanh thiếu niên được tập hợp sinh

Trang 22

hoạt, học tập và rèn luyện trong các tổ chức

riêng của họ sẽ có ý nghĩa giáo dục và sẽ đạt

hiệu quả cao hơn

2 Ý nghĩa của vấn đề giáo dục, bồi dưỡng

thanh niên theo tư tưởng Hồ Chí Minh

trong giai đoạn hiện nay

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách

mạng vẻ vang của mình, Chủ tịch Hồ Chí

Minh đã dành nhiều thời gian và công sức

cho việc chăm lo giáo dục, bồi dưỡng thanh

niên Người luôn đánh giá cao vai trò và vị

trí của thanh niên trong công cuộc bảo vệ và

xây dựng đất nước Chính vì vậy, Người

nhắc nhở Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã

hội cần phải hết sức quan tâm, chăm lo giáo

dục đào tạo thanh niên thành những người

vừa “hồng” vừa “chuyên”

Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng lớn của

dân tộc và thời đại Một trong những di sản

tinh thần vô giá mà Người để lại cho chúng

ta là những tư tưởng chiến lược về chăm sóc,

bồi dưỡng, đào tạo, tổ chức, phát huy các

tiềm năng to lớn của thanh niên vì sự nghiệp

đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai

cấp, giải phóng con người

Nhận thức được điều đó, Nghị quyết

Hội nghị Trung ương 4, khóa VII đã chỉ rõ

cần phải quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh

trong sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng và phát

huy nguồn lực to lớn của tuổi trẻ, vì mục tiêu

dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn

minh: Sự nghiệp đổi mới có thành công hay

không, đất nước bước vào thế kỷ XXI có vị

trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay

không, cách mạng Việt Nam có vững bước

theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không

phần lớn tùy thuộc vào lực lượng thanh niên

Đại hội XI của Đảng (1-2011) cũng

nhấn mạnh phải: “Khuyến khích, cổ vũ

thanh niên nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão lớn,

xung kích, sáng tạo, làm chủ khoa học, công nghệ hiện đại Hình thành lớp thanh niên ưu

tú trên mọi lĩnh vực, kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”

Trong những năm qua, Ðảng và Nhà nước ta luôn quan tâm chăm lo bồi dưỡng, giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng cho thanh niên, giáo dục ý thức làm chủ và đào tạo họ thành người làm chủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Tuy nhiên, trước yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thế hệ thanh niên Việt Nam hiện nay cần được giáo dục một cách toàn diện về cả tri thức và nhân cách, để sống có văn hóa, có đạo đức trong sáng, có ước mơ, hoài bão cao đẹp, có

sự phát triển sâu sắc về ý thức và tinh thần dân tộc gắn liền với sự kiên định và trung thành với lý tưởng cao cả của chủ nghĩa xã hội, là những người kế thừa sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, là những chủ nhân thực sự của đất nước Do đó, yêu cầu giáo dục, bồi dưỡng thanh niên càng đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết

Trước hết, cần phải giáo dục lý tưởng

cách mạng cho thanh niên Nhìn chung, thanh niên ta hiện nay có lòng yêu nước nồng nàn, luôn phát huy truyền thống tốt đẹp của các thế hệ cha anh, khẳng định niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng cách mạng và sự lãnh đạo của Đảng; có nhận thức và thái độ chính trị đúng đắn, kiên quyết chống lại những biểu hiện sai trái, âm mưu “diễn biến hòa bình”, các hành vi gây tổn hại đến sự phát triển đất nước của các thế lực phản động, thù địch; quan tâm đến các vấn đề chính trị, kinh

Trang 23

tế, xã hội của đất nước; có ý chí vươn lên

trong học tập, lao động và công tác, mong

muốn đất nước sớm thoát khỏi nghèo nàn,

lạc hậu Tuy nhiên, hiện nay cũng còn không

ít thanh niên không có chí hướng rõ ràng,

chưa hiểu biết đầy đủ truyền thống cách

mạng của Đảng và dân tộc, ít quan tâm đến

tình hình đất nước; một bộ phận thanh niên

lười lao động, lười học tập, ngại khó, ngại

khổ, chưa làm tròn trách nhiệm và nghĩa vụ

của mình ở gia đình, địa phương, đơn vị;

không có ý chí vươn lên làm giàu cho bản

thân và xã hội, có những thanh niên có biểu

hiện giảm sút niềm tin, bản lĩnh non kém, bị

lôi kéo, kích động tham gia vào các hoạt

động vi phạm pháp luật Do vậy, cần phải

tăng cường giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng

cách mạng cho thanh niên

Lý tưởng cách mạng của thanh niên

không tách rời lý tưởng của Đảng, của dân

tộc, đó là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã

hội Bước vào công cuộc đổi mới, trong điều

kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội

chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, lý tưởng cách

mạng của thanh niên là tiếp tục phấn đấu,

xây dựng một nước Việt Nam dân giàu,

nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn

minh Thanh niên Việt Nam phải biết sống

có lý tưởng Khi đã xác định được lý tưởng

cao đẹp, thấy rõ được mục đích, ý nghĩa cao

đẹp cuộc sống của mình, mỗi thanh niên có

thể phát huy được ý chí và nghị lực lớn lao,

khắc phục mọi khó khăn, trở ngại, sửa chữa

mọi khuyết điểm, nhược điểm của mình để

thực hiện lý tưởng mà mình đã chọn

Hai là, phải tăng cường giáo dục, bồi

dưỡng lối sống, đạo đức cho thanh niên Đa

số thanh niên hiện nay có phẩm chất tốt, tôn

trọng các chuẩn mực đạo đức xã hội, giá trị

văn hóa truyền thống dân tộc, có ý thức công

dân, chấp hành pháp luật, tích cực tham gia các phong trào, hoạt động đoàn thể, xung kích, sáng tạo, tình nguyện vì cộng đồng; sống có nghĩa tình, luôn biết quan tâm, giúp

đỡ người khác, có tinh thần tương thân tương ái Nhiều tấm gương thanh niên vượt qua khó khăn của bản thân, gia đình để vươn lên thành những người hữu ích Bên cạnh đó, đạo đức, lối sống của một bộ phận thanh, thiếu niên còn lệch lạc, đề cao hưởng thụ, sống thực dụng, ích kỷ, đua đòi, xa hoa lãng phí, sùng bái thần tượng thái quá, ít quan tâm đến cộng đồng và những người xung quanh Một bộ phận thanh thiếu niên thiếu ý thức rèn luyện, học tập, mắc vào các tệ nạn

xã hội, vi phạm pháp luật Vì vậy, việc tăng cường hơn nữa công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh niên hiện nay là việc làm quan trọng và cần thiết

Để hoàn thành tốt vai trò người chủ nước nhà, thanh niên phải được giáo dục, đào tạo một cách chu đáo, phải được chuẩn

bị đầy đủ các hành trang cần thiết nhất Trước hết, họ phải là những con người gương mẫu về đạo đức, có ý thức đạo đức hoàn thiện, đầy đủ, đồng thời, có thể chất cường tráng, mạnh mẽ Có như thế họ mới

có thể vượt qua được những khó khăn, thử thách, mới làm tròn được những nhiệm vụ

vẻ vang và sứ mệnh cao cả của mình

Ba là, để trở thành những con người

phát triển hài hoà và toàn diện, con đường duy nhất của thanh niên là không ngừng ra sức phấn đấu, rèn luyện, học tập trên tất cả các lĩnh vực khoa học-kỹ thuật Thanh niên phải là những người có trí tuệ cao, thông minh, sáng tạo, có ý chí khám phá, tìm tòi

"dám nghĩ, dám làm", biết vận dụng những thành quả của khoa học - công nghệ hiện đại vào thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội và

Trang 24

bảo vệ Tổ quốc Điều đó có ý nghĩa đặc biệt

quan trọng, nhất là trong điều kiện toàn cầu

hoá và sự bùng nổ của cách mạng khoa học -

công nghệ hiện đại Thanh niên Việt Nam

phải biết vươn lên làm chủ những công nghệ

tiên tiến nhất để xoá bỏ nghèo đói và tụt hậu,

để rút ngắn khoảng cách với những quốc gia

phát triển Những thắng lợi vẻ vang của tuổi

trẻ Việt Nam trong các cuộc thi quốc tế, trong

học tập, sản xuất và kinh doanh,… đã chứng

minh vai trò và năng lực của các thế hệ thanh

niên trong công cuộc xây dựng đất nước

Để giáo dục, bỗi dưỡng thế hệ trẻ nói

chung và thanh niên nói riêng, Hồ Chí Minh

rất chú trọng tới vai trò của nhà trường, của

ngành giáo dục - đào tạo Có thể nói, trường

học là môi trường thuận lợi nhất để giáo dục,

bồi dưỡng thanh niên trên mọi phương diện

Nhà trường là nơi tuổi trẻ tiếp thu những tri

thức, những kinh nghiệm để chuẩn bị bước

vào đời, trau dồi đạo đức, ý chí, luyện rèn

những phẩm chất cần thiết cho một tương lai

tươi sáng

Bên cạnh đó, Đoàn Thanh niên

Cộng sản Hồ Chí Minh cũng có vai trò hết

sức quan trọng đối với việc giáo dục, bồi

dưỡng thanh niên Đoàn Thanh niên Cộng

sản Hồ Chí Minh là một tổ chức cách mạng

do chính Hồ Chủ tịch và Đảng Cộng sản

Việt Nam sáng lập, rèn luyện, là đội ngũ

của những người thanh niên Việt Nam ưu

tú Trong suốt quá trình cách mạng, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc Đây vừa là tổ chức, vừa

là môi trường cho thanh niên rèn luyện, cống hiến và trưởng thành Để phát huy vai trò của tuổi trẻ, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: "Trung ương Đoàn cần phải tăng cường hơn nữa việc giáo dục tinh thần yêu nước, giác ngộ giai cấp và đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên" Trong bối cảnh hiện nay, lời căn dặn

đó của Người lại càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết

Thực tiễn công tác giáo dục, bồi dưỡng thanh niên trong giai đoạn hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác giáo dục, bồi dưỡng thanh niên vừa mang tính cách mạng, khoa học và thấm đượm tư tưởng triết lý nhân văn sâu sắc

Đó chính là cơ sở tư tưởng và lý luận cho chiến lược giáo dục, bồi dưỡng thanh niên trong thời kỳ mới, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập 1995 Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

[2] GS.TS Vũ Văn Hiền – TS Đinh Xuân Lý (Đồng chủ biên) 2003 Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

[3] TS Đinh Xuân Lý (chủ biên) 2005 Tìm hiểu vai trò của Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

[4] Bộ Giáo dục và Đào tạo 2006 Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia,

Hà Nội

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam 2011 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb

Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội

Trang 25

MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN ĐỂ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN

ThS Nguyễn Thành Đạo

Khoa Lý luận Chính trị, trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Tóm tắt: Để hiện thực hóa việc đào tạo, phát triển con người toàn diện trong chiến lược

con người ở nước ta hiện nay, cần phải tập trung các nguồn lực để phát triển mạnh sự nghiệp giáo dục, đào tạo, giải quyết tốt hơn nữa mối quan hệ giữa dạy ''chữ'', dạy ''nghề'' với dạy ''người'' Có thể nói, đây là biện pháp chủ yếu và có hiệu quả nhất để đào tạo cho đất nước một nguồn nhân lực mới với chất lượng cao, đủ sức đưa dân tộc Việt Nam vững bước tiến vào thế kỷ XXI

Từ khóa: phát triển con người toàn diện

1 Kết hợp chặt chẽ giữa dạy “chữ”, dạy

“nghề” với dạy “người” trong giáo dục,

đào tạo

Thế hệ những người Việt Nam sinh ra

cùng thời với Hồ Chí Minh, được Người đào

tạo, bồi dưỡng về mọi mặt trở thành những

con người mới, đã hoàn thành sứ mệnh vẻ

vang của mình, đưa nước ta từ một nước nô

lệ thành một nước độc lập, tự do, có vị thế

trên thế giới Những thế hệ cách mạng nối

tiếp trong thời đại Hồ Chí Minh được giáo

dục, đào tạo, phát triển một cách toàn diện

cũng tỏ ra xứng đáng với vị trí con người mới

xã hội chủ nghĩa, đã hoàn thành xuất sắc

nhiệm vụ của mình và hiện nay họ đang giữ

vai trò quyết định trong sự nghiệp đổi mới,

đưa nước ta bước vào con đường công nghiệp

hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước

mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Các thế hệ cách mạng nối tiếp liệu có

bảo vệ và phát huy được những thành quả

cách mạng mà các thế hệ cha anh để lại hay

không, điều này không thể xem là việc tất

nhiên hay chắc chắn nếu chúng ta không tiếp

tục sự nghiệp “trồng người”, giáo dục, đào

tạo, phát triển con người theo quan điểm

toàn diện của Hồ Chí Minh

Nghiên cứu quy luật hình thành và phát triển con người mới ở nước ta, chúng ta thấy rõ vai trò vô cùng to lớn của giáo dục, đào tạo Đây là nhân tố cơ bản, tác động mạnh mẽ và có hiệu quả nhất đến sự hình thành và phát triển các phẩm chất, năng lực của con người toàn diện Việt Nam Nó thể hiện sâu sắc tính chủ động của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong sự nghiệp "trồng người", bồi dưỡng các thế hệ cách mạng cho dân tộc Việt Nam

So với các ngành khác, trong lĩnh vực phát triển con người toàn diện, giáo dục, đào tạo có ưu thế hơn, bởi hoạt động của nó liên quan trực tiếp đến sự phát triển mọi mặt của con người, góp phần quyết định hình thành nên các phẩm chất, năng lực của mỗi cá nhân

Vì vậy, để xây dựng và phát triển con người mới ở nước ta hiện nay nhất thiết phải quan tâm đến giáo dục, đào tạo, phải đề ra được nội dung, chương trình giảng dạy và học tập thật sự khoa học, trong đó việc dạy chữ, dạy nghề và dạy người phải được kết hợp chặt chẽ, hài hòa, cân đối Có như vậy chúng ta mới đào tạo được những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa “vừa hồng, vừa chuyên" như Hồ Chí Minh đã từng căn dặn

Trang 26

Con người vừa là khởi nguyên, vừa là

điểm kết thúc đồng thời lại là yếu tố trung

tâm quyết định mọi quá trình xã hội, còn

giáo dục đào tạo là công cụ cơ bản và trực

tiếp nhất để hình thành nên các phẩm chất,

năng lực con người Nhận thức được tầm

quan trọng của giáo dục, đào tạo đối với sự

hưng vong của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt

Nam đã xác định: "Giáo dục, đào tạo là quốc

sách hàng đầu" [2, tr 59] của nước ta hiện

nay Trên cơ sở nhận thức đúng đắn đó, Đảng,

Nhà nước và nhân dân ta hết sức quan tâm,

chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục, đào

tạo của nước nhà Nhờ vậy, trên lĩnh vực

trọng yếu này của đất nước, chúng ta đã đạt

được những thành tựu to lớn, phẩm chất, năng

lực mọi mặt của con người Việt Nam có sự

biến đổi ngày càng tốt đẹp hơn

Trong mối quan hệ giữa dạy chữ, dạy

nghề, dạy người, mục đích cuối cùng của hoạt

động giáo dục, đào tạo ở nước ta là phải tạo ra

những con người Việt Nam phát triển về mọi

mặt Đó là những con người đậm đà bản sắc

dân tộc: kiên định bảo vệ nền độc lập dân

tộc, tự hào với truyền thống văn hóa của đất

nước, quê hương, yêu nhân dân, yêu Tổ

quốc, thương đồng bào, sống nhân nghĩa,

thủy chung, có đạo đức cao cả “mình vì mọi

người", hiếu thảo với cha mẹ, tình nghĩa với

bạn bè, đồng chí, luôn tôn trọng và hướng

tới cái thiện, cái tốt, cái đẹp

Đó là những con người biết tiếp thu

tinh hoa văn hóa nhân loại, nhân văn, nhân

ái, hòa bình, hữu nghị, hợp tác; có kiến thức

trình độ khoa học công nghệ, kỹ năng nghề

nghiệp tốt; biết khám phá, sáng tạo; khả

năng tự lập và thích nghi cao, làm việc có

và pháp luật; có thể lực, sức khỏe dồi dào, biết chăm lo rèn luyện thân thể; quan tâm giữ gìn và bảo vệ môi trường sống

2 Đổi mới quan điểm đánh giá và tiêu chuẩn tuyển chọn, sắp xếp đội ngũ cán bộ, công chức

Việc đổi mới quan điểm đánh giá phẩm chất, năng lực, sự phát triển của con người Việt Nam hiện nay để sắp xếp, bố trí công tác cần lưu ý:

- Phải có cái nhìn tổng thể, phải đứng trên quan điểm hệ thống khi xem xét, đánh giá sự phát triển của con người Thực tế cho thấy, con người tồn tại và phát triển bao giờ cũng là sự kết tinh của nhiều nhân tố: thể lực, trí tuệ, lý tưởng, đạo đức, quan niệm sống, trình độ, năng lực thẩm mỹ, là sự phát triển hài hòa, cân đối giữa mặt sinh học và

xã hội Vì vậy, xem xét, đánh giá con người nhất thiết phải chú ý đến tính toàn diện trong

sự phát triển của nó, tìm ra những nhân tố chủ yếu tác động đến sự phát triển của con người Có như vậy mới tránh tình trạng hời hợt, phiến diện hoặc lẫn lộn giữa hình thức với nội dung, hiện tượng với bản chất khi nhìn nhận, đánh giá con người

- Dân chủ, công khai và dựa vào tập thể để đánh giá năng lực, bố trí công tác cho phù hợp là yêu cầu đặc biệt quan trọng, cần phải quán triệt trong việc đổi mới quan điểm đánh giá phẩm chất, năng lực của con người Xem xét, đánh giá quá trình phấn đấu rèn luyện của mỗi con người và những kết quả mà họ đạt được trong quá trình phát triển phẩm chất, năng lực cá nhân là vấn đề phức tạp Mỗi người từ sự hiểu biết, từ mối quan hệ, thái độ, tình cảm với đối tượng

Trang 27

mà có cách nhận xét, đánh giá khác nhau,

thậm chí trái ngược nhau trên cùng một con

người Để tránh tình trạng này, cần phải dân

chủ, công khai khi xem xét tài năng, đạo

đức, nhân cách con người, phải dựa vào tập

thể, phải lấy ý kiến rộng rãi của mọi người,

của các đoàn thể, tổ chức nơi cá nhân đó

sống và làm việc Những nhận xét, đánh giá

của các tầng lớp nhân dân sẽ cho phép chúng

ta tìm ra được kết luận chính xác, phù hợp,

tránh chủ quan, cá nhân chủ nghĩa khi nhìn

nhận, đánh giá trình độ, năng lực của mỗi

thành viên trong cộng đồng

- Nhanh chóng xây dựng những tiêu

chuẩn mới, khoa học làm cơ sở để đánh giá

phẩm chất, năng lực của con người đang là

vấn đề cấp bách trong chiến lược con người

ở nước ta hiện nay

Để đạt được mục tiêu đó, theo tôi cần

phải quán triệt các quan điểm của Đảng, của

Chủ tịch Hồ Chí Minh khi xem xét đánh giá

con người Đây là căn cứ vững chắc nhất để

xây dựng tiêu chuẩn mới cho việc đánh giá

con người, tuyển chọn nhân lực cho các

ngành kinh tế, xã hội và bộ máy quản lý các

cấp ở nước ta

Tiêu chuẩn mới phải bao quát được các

mặt trong chỉnh thể con người, phải thấy

được mối liên hệ, sự tác động qua lại giữa đạo

đức, lý tưởng, quan điểm sống với tài năng,

năng lực, sức khỏe trong việc hình thành nhân

cách con người Tất nhiên, tùy vào điều kiện

cụ thể, có thể nhấn mạnh mặt này hoặc mặt

khác, song đó chỉ là thứ yếu, không nên lạm

dụng Con người dù trong bất kỳ hoàn cảnh

nào đều tồn tại và hoạt động với tư cách là

một thực thể vẹn toàn với những phẩm chất,

đặc trưng riêng của nó Vì thế, tiêu chuẩn mới

cần phải coi trọng cả mặt tài và đức trong đó

đức là gốc, nhưng không được xem nhẹ mặt

tài, phải trân trọng mọi kết quả phấn đấu vươn lên hoàn thiện phẩm chất, năng lực của các cá nhân

Trong giai đoạn hiện nay, tiêu chuẩn

để đánh giá sự phát triển của con người Việt Nam phải được đặt trên nền tảng chất lượng mới, cao hơn Việc xem xét phẩm chất, năng lực của con người Việt Nam cần phải liên hệ chặt chẽ với cách đánh giá chung của các nước trong khu vực và trên thế giới, để thấy được mặt mạnh, mặt yếu, trình độ phát triển

và năng lực của con người Việt Nam, trên cơ

sở đó xác định được tiêu chuẩn phù hợp, không chỉ đánh giá đúng mà còn khuyến khích và tạo điều kiện cho sự phát triển ngày một cao hơn trí tuệ, đạo đức, sức khỏe, trình

độ thẩm mỹ của người Việt Nam Trong tiêu chuẩn mới để đánh giá sự phát triển mọi mặt con người hiện nay, chúng ta nên chú trọng đến cách thức “làm người”, trách nhiệm công dân của các thành viên trong cộng đồng Đây là tiêu chuẩn cơ bản và hiện đại

để đánh giá mức độ phát triển của con người trong thời đại hiện nay Ý thức công dân tốt, trách nhiệm xã hội cao là kết quả tác động của nhiều yếu tố: lý tưởng, quan điểm sống, đạo đức, trí tuệ, lòng nhân ái, tính cộng đồng của con người Xây dựng một xã hội trong đó mỗi người luôn thấy được nghĩa vụ, trách nhiệm đối với công việc chung, mang hết tài năng, sức lực của mình cống hiến cho

sự phát triển đất nước là mục tiêu quan trọng của Đảng và nhân dân ta Muốn đạt tới điều

đó, nhất thiết phải có những con người có lý tưởng, quan điểm sống mới, cao đẹp: mình

vì mọi người; gian khổ đi trước, hưởng thụ

đi sau; luôn hành động vì hạnh phúc của đồng bào, đồng chí như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nêu lên Do đó, trong tiêu chuẩn mới đánh giá sự phát triển của con

Trang 28

người, cần phải đặt lên rất cao vấn đề ý thức

trách nhiệm công dân

Con người Việt Nam đậm đà bản sắc

dân tộc cũng là điều phải đặc biệt chú trọng

trong tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển con

người trong thời kỳ đổi mới ở nước ta Coi

trọng những giá trị tốt đẹp trong truyền thống

dân tộc, tiếp thu, kế thừa tinh hoa văn hóa cha

ông để làm phong phú các năng lực của con

người Việt Nam đang là vấn đề lớn của chiến

lược con người, của việc xây dựng và phát

triển con người mới ở nước ta hiện nay Sự

phát triển của con người toàn diện Việt Nam

không chỉ được đo bằng tri thức khoa học

hiện đại, ý thức công dân cao mà còn ở trình

độ hiểu biết, nắm bắt, tiếp thu các giá trị cao

đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc mà

cha ông ta đã tốn bao mồ hôi, xương máu để

tạo dựng nên Trong xu thế hội nhập hiện nay

của thế giới, vấn đề có tính toàn cầu là làm

sao bảo vệ được bản sắc riêng của các dân

tộc, hội nhập thành công về kinh tế nhưng

không bị thôn tính, hòa tan về văn hóa Kinh nghiệm cho thấy, để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc trong thời đại mới, trước hết phải có những con người biết quý trọng những giá trị văn hóa của dân tộc mình, biết kế thừa, nâng cao và làm tỏa sáng những giá trị đó trong cộng đồng thế giới Từ rất sớm, trong chiến lược con người của Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức coi trọng việc giáo dục những giá trị truyền thống của dân tộc, của cách mạng cho mọi người Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ Đây

là nét đẹp trong tâm hồn, tư tưởng của con người Việt Nam mà chúng ta cần giữ gìn và phát huy Do đó trong tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển của con người Việt Nam hiện đại, yếu tố truyền thống cần phải được hết sức coi trọng Đổi mới quan điểm xem xét, đánh giá trình độ phát triển về mọi mặt của con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới là một đòi hỏi bức thiết, mang tính tất yếu khách quan

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Phạm Ngọc Anh 1995 “Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Nghiên cứu lý luận, tr 13-15.

[2] Đảng cộng sản Việt Nam 1996 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội

Trang 29

TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG - CHÍNH QUYỀN VÀ CÔNG ĐOÀN TRONG CÔNG TÁC AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG - PHÒNG CHỐNG CHÁY

NỔ TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

KS Lê Đức Gia

Phó trưởng Khoa Đào tạo nghề, trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Tóm tắt: Công tác An toàn lao động – vệ sinh lao động (ATLĐ-VSLĐ), phòng chống cháy nổ

là nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của Đảng, Nhà nước, của các ngành các cấp, của người lao động kể cả người sử dụng lao động, mang tính Luật pháp, tính khoa học, tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc, gắn liền với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Người lao động kể cả người sử dụng lao động có nghĩa vụ và quyền lợi không ngừng học tập nâng cao trình độ hiểu biết về các chế độ chính sách của Nhà nước trong công tác bảo hộ lao động, các quy phạm an toàn, tác hại nghề nghiệp để có biện pháp phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp An toàn lao động, vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ tại nơi làm việc lành mạnh có giá trị nhân văn sâu sắc vì cuộc sống Đó là nhu cầu bức thiết không thiếu được trong cuộc sống lao động sản xuất Việc tuyên truyền, giáo dục ý thức đầy đủ sẽ góp phần hình thành lối sống công nghiệp và nhân cách giai cấp công nhân lao động

Từ khóa: An toàn, vệ sinh, cháy nổ

1 Sự quan tâm của Đảng và nhà Nước về

an toàn vệ sinh lao động phòng chống

cháy nổ trong sản xuất

Bảo đảm ATLĐ-VSLĐ, chăm lo cải thiện

điều kiện lao động, phòng ngừa tai nạn lao

động (TNLĐ), bệnh nghề nghề nghiệp, bảo vệ

sức khỏe người lao động là chính sách kinh tế

- xã hội lớn của Đảng và Nhà nước ta, là một

nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát

triển kinh tế - xã hội của đất nước Với

phương châm “An toàn để sản xuất, sản xuất

phải an toàn”, công tác an toàn vệ sinh lao

động luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm

Hệ thống quan điểm, chính sách, pháp

luật về công tác ATVSLĐ - PCCN đã được

Đảng, Nhà nước thể chế hóa thành các văn

bản quy phạm pháp luật từ hiến pháp, luật,

nghị định, thông tư Từ những căn cứ pháp lý

trên các bộ, ban, ngành đã cụ thể hóa chính

sách về ATLĐ-VSLĐ thành những quy định,

chế độ, chính sách, tiêu chuẩn và được hướng

dẫn cho mọi ngành, mọi tổ chức và cá nhân

thực hiện Đây là nhiệm vụ quan trọng không thể thiếu được trong các dự án, thiết kế, điều hành và triển khai sản xuất Các hệ thống văn bản pháp luật của nhà nước tiếp tục bổ sung, hoàn thiện phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ: "Chăm lo bảo hộ lao động; cải thiện điều kiện làm việc, hạn chế tai nạn lao động, tăng cường thanh tra, kiểm tra,

xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật lao động, đưa việc thi hành pháp luật lao động vào nền nếp, xây dựng quan hệ lao động ổn định, hài hòa, tiến bộ" Công tác ATLĐ-VSLĐ - phòng chống cháy nổ cũng đã được các bộ, ngành,

ủy ban nhân dân các cấp quan tâm chỉ đạo và các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức và người lao động triển khai thực hiện, vì vậy, đã hạn chế đáng kể các tai nạn lao động, sự cố trong sản xuất, góp phần ổn định xã hội và phát triển kinh tế đất nước

Tuy nhiên, tình hình TNLĐ, bệnh nghề nghiệp và cháy nổ còn nhiều diễn biến phức

Trang 30

tạp Theo báo cáo từ Cục an toàn lao động,

trong năm 2012 số vụ TNLĐ và số nạn nhân

được thống kê cụ thể như sau: Cả nước đã

xảy ra 6.777 vụ TNLĐ, làm 6967 người bị

nạn, trong đó 606 người chết và 1.470 người

bị thương nặng Tổng thiệt hại về vật chất là

93,6 tỷ đồng và mất trên 85.000 ngày công

lao động So với năm 2011, năm 2012 số vụ

TNLĐ có xu hướng tăng đáng kể (số vụ tai

nạn nặng tăng 14,9%, số người bị nạn tăng

13,2% và số người chết tăng 5,6%) Có 10

địa phương để xảy ra nhiều vụ TNLĐ chết

người, dẫn đầu là TPHCM, Quảng Ninh, Hà

Nội, Bình Dương, Đồng Nai, Hà Tĩnh,

Trong đó, ngành nghề để xảy ra nhiều vụ tai

nạn nghiêm trọng nhất vẫn là lao động trong

ngành khai thác mỏ, xây dựng, thợ gia công

kim loại, thợ cơ khí Cũng theo thống kê,

nguyên nhân hàng đầu để xảy ra những vụ tai

nạn đó là do người sử dụng lao động không

huấn luyện về an toàn lao động cho người lao

động và người lao động vi phạm các quy

trình, biện pháp về ATLĐ

- Bên cạnh đó, tình hình cháy nổ cũng

có nhiều diễn biến phức tạp, trong năm qua,

cả nước đã xảy ra 1.906 vụ cháy, làm chết

73 người, bị thương 136 người, thiệt hại về

tài sản ước tính 1.114 tỷ đồng và 29 vụ nổ

làm chết 11 người, bị thương 50 người, gây

thiệt hại 307 tỷ đồng Như vậy, so với năm

2011, số vụ cháy tăng 5,1% , số người bị

thương do cháy giảm 25,27%, thiệt hại về tài

sản giảm 13,24%

- Ngày 8 tháng 12 năm 2012, tại Hà Nội,

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã tổ

chức Hội nghị tổng kết 18 năm thi hành pháp

luật về ATVSLĐ và định hướng triển khai

đến năm 2020 Tại hội nghị, Thứ trưởng Bùi

Hồng Lĩnh cho biết: trong 18 năm qua (từ

1995 - 2012) chính phủ đã ban hành nhiều

văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thực hiện các chế độ về bảo hộ lao động, ATVSLĐ, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi…Theo báo cáo, TNLĐ có xu thế tăng nhanh: từ 840 trường hợp năm 1995 lên 3.405 trường hợp vào năm 2000 và lên tới 6.337 trường hợp vào năm 2007 Tử vong do tai lao động cũng tăng từ 264 trường hợp năm 1995 lên 406 trường hợp năm 2000 và lên tới 62 trường hợp năm 2007 Giai đoạn

2004 - 2007, số vụ tai nạn tăng trung bình hằng năm khoảng 7,5% Giai đoạn 2007 -

2011, số vụ TNLĐ tương đối ổn định Riêng năm 2011đã xảy ra 5.896 vụ tai nạn lao động làm 6.154 người nạn, trong đó có 574 người chết Bình quân giai đoạn 1992 - 2000, mỗi năm xảy ra 3.000 vụ tai nạn lao động, làm chết 350 người, giai đoạn 2001- 2012, bình quân hàng năm xảy ra 6.000 vụ TNLĐ, làm hơn 6.000 người bị nạn, trong đó có khoảng

500 vụ tai nạn chết người, làm gần 600 người chết Tai nạn lao động nghiêm trọng tập trung nhiều trong lĩnh vực xây dựng, khai thác khoáng sản và sử dụng hóa chất Bệnh nghề nghiệp cũng có xu hướng tăng gia tăng cả về số người mắc bệnh và loại bệnh Tổng người mắc bệnh đã qua giám định tính đến cuối năm 2011 là 27.246 trường hợp, trong đó bệnh bụi phổi silic là 20.220 ca (chiếm 75,1%), điếc là 4.202 ca (chiếm 15%)

2 Thực trạng dẫn đến tai nạn gia tăng là

do các nguyên nhân chủ yếu sau:

- Các cấp ủy Đảng ở Cơ sở, Ban ngành chưa thấy hết tầm quan trọng của công tác ATVSLĐ trong sản xuất, kinh doanh để lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên

- Hiệu lực và hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực ATVSLĐ còn hạn chế

Trang 31

- Việc tuyên truyền, phổ biến chính

sách, pháp luật về lĩnh vực ATVSLĐ chưa

kịp thời, phần lớn người lao động chưa được

huấn luyện về cách phòng chống tai nạn lao

động, bệnh nghề nghiệp, nhất là người lao

động làm nghề vận hành máy móc, thiết bị,

điện, hóa chất, vật liệu nổ, dẫn đến gây tai

nạn lao động, nhiễm độc hóa chất

- Đội ngũ làm công tác quản lý nhà

nước về ATVSLĐ từ sở, ban, ngành còn

thiếu về số lượng và chuyên môn còn hạn

chế, bất cập Công tác thanh tra, giám sát

vẫn chưa hiệu quả

- Nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ sử

dụng lao động chưa qua đào tạo, chạy theo

lợi nhuận quá mức, không quan tâm đến

quyền lợi của người lao động Nhận thức của

người sử dụng lao động về ATVSLĐ chưa

đầy đủ, còn quá đơn giản; không tổ chức

huấn luyện ATVSLĐ cho người lao động,

không trang bị hoặc trang bị không đầy đủ

phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao

động; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

chưa hợp lý; không có nội quy, quy trình làm

việc an toàn cho máy móc thiết bị (H1)

H1 Người lao động làm việc trên cao

không thắt dây an toàn

- Ý thức chấp hành pháp luật về

ATVSLĐ - PCCN của người lao động còn

thấp, không tuân thủ các biện pháp bảo đảm

an toàn lao động, nội quy, quy trình làm việc

an toàn… không sử dụng các phương tiện

bảo vệ cá nhân, không dự các khóa huấn

luyện về ATVSLĐ do người sử dụng lao động tổ chức Người lao động chỉ mong có việc làm, có thu nhập mà không quan tâm nhiều đến việc tuân thủ các quy định pháp luật, nội quy, quy trình làm việc an toàn

- Việc xử lý các vụ tai nạn lao động nghiêm trọng và chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe làm cho doanh nghiệp và người sử dụng lao động coi thường pháp luật Các vụ tai nạn lao động chết người hầu hết đều xử

lý hành chính nội bộ, số vụ truy cứu trách nhiệm hình sự đều mang tính án điểm nên không có tác dụng giáo dục, phòng ngừa việc tái diễn và thiếu các giải pháp hữu hiệu

để giảm tai nạn lao động

- Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn lạc hậu, thiếu an toàn, nhiều vị trí lao động không an toàn, rất ít công nhân sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân

- Về phía các cơ quan quản lý nhà nước, chưa thực sự chú trọng đến công tác thanh tra, kiểm tra cũng như chế tài xử phạt chưa đủ mạnh để các doanh nghiệp, người

sử dụng lao động, người lao động chấp hành những quy định của pháp luật về công tác an toàn, vệ sinh lao động, bệnh nghề nghiệp, phòng chống cháy nổ

3 Một số giải pháp hạn chế tai nạn lao động, vệ sinh lao động, phòng chống cháy

nổ tại nơi làm việc

- Công tác ATLĐ-VSLĐ, phòng chống cháy nổ nơi làm việc là trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội và mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là của người chủ sử dụng lao động và người lao động

- Từ năm 1998 đến nay vào trung tuần tháng 3 hàng năm Bộ Lao động Thương binh

và Xã hội tổ chức Tuần lễ quốc gia về ATVSLĐ – PCCN Chương trình này đã

Trang 32

nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của Chính

phủ, được các bộ, ngành, các tổ chức chính

trị - xã hội, các địa phương và doanh nghiệp

trong cả nước tích cực hưởng ứng, phản ánh

được sự quan tâm của các cấp chính quyền,

đoàn thể, xã hội trong công tác quản lý và

tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người lao

động có nhận thức đầy đủ hơn và tự giác

chấp hành các quy định pháp luật về

ATVSLĐ - PCCN trong hoạt động sản xuất

kinh doanh Các hoạt động hưởng ứng Tuần

lễ hằng năm được triển khai phong phú, hiệu

quả, hướng về cơ sở Bên cạnh đó, hoạt động

thông tin tuyên truyền được triển khai rộng

khắp trên cả nước Các cơ quan báo, đài phát

thanh và truyền hình trung ương và địa

phương đã liên tục phát sóng, đưa tin, bài,

phóng sự, tiểu phẩm về các hoạt động liên

quan đến tuần lễ Một số bộ, ngành cũng có

nhiều hoạt động tuyên truyền có hiệu quả

- Tuần lễ quốc gia ATVSLĐ - PCCN

lần thứ 15 được tổ chức vào ngày 17 tháng 3

năm 2013 tại tỉnh Bắc Giang, tiếp tục thực

hiện phương châm chỉ đạo tổ chức Tuần lễ

quốc gia: "Hướng về doanh nghiệp, cơ sở với

hoạt động thiết thực, hiệu quả, tránh phô

trương, hình thức", hướng tới xây dựng văn

hóa an toàn lao động, phòng ngừa hiệu quả tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, vì sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và xã hội

- Các ngành, các cấp, các doanh nghiệp, đơn vị, cơ sở sản xuất kinh doanh đẩy mạnh công tác tuyên truyền dưới mọi hình thức nhằm nêu cao nhận thức của toàn xã hội về ATVSLĐ - PCCN Thực hiện nghiêm chỉnh quy định của nhà nước về ATVSLĐ – PCCN, các chế độ bảo hộ lao động, các tiêu chuẩn, quy chuẩn quy phạm kỹ thuật liên quan đến máy móc, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động Tăng cường công tác tự kiểm tra tại các doanh nghiệp và có biện pháp kịp thời để chấn chỉnh những thiếu sót Trên cơ sở đó thúc đẩy các hoạt động để đảm bảo điều kiện lao động an toàn, bảo vệ sức khỏe người lao động, phòng ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp Phát động phong trào thi đua cam kết bảo đảm ATVSLĐ - PCCN tại doanh nghiệp và tổ chức cho phân xưởng,

tổ, đội sản xuất đăng ký đơn vị ATVSLĐ, không để xảy ra tai nạn, sự cố sản xuất đồng thời khen thưởng kịp thời các cá nhân, tập thể có thành tích về thực hiện công tác

ATLĐ-VSLĐ

H2 Bộ trưởng (BLĐ -TB&XH ) Phạm Thị Hải Chuyền phát biểu tại lễ phát động

- Công đoàn cơ sở có trách nhiệm vận

động người lao động chấp hành nghiêm chỉnh

các quy định, nội quy về ATLĐ-VSLĐ, xây

dựng phong trào đảm bảo ATLĐ-VSLĐ trong

doanh nghiệp, đơn vị; xây dựng và duy trì hoạt động của mạng lưới an toàn và vệ sinh viên

Trang 33

- Thực hiện Nghị định số 06/CP ngày

20 - 01- 1995 của Chính Phủ quy định chi

tiết một số điều của Bộ Luật Lao động về an

toàn lao động, vệ sinh lao động và sự chỉ đạo

của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc đưa nội

dung ATLĐ-VSLĐ vào chương trình giảng

dạy trong các trường đại học, các trường kỹ

thuật, nghiệp vụ, quản lý và dạy nghề

- Trong những năm qua Trường Đại

học Xây dựng Miền Trung thực hiện

nghiêm chỉnh nghị định của Chính phủ và

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng đề

cương 30 tiết ATLĐ-VSLĐ vào học chính

khóa cho các ngành kỹ thuật xây dựng dân

dụng và công nghiệp, xây dựng cầu đường,

kiến trúc, kinh tế xây dựng, kỹ thuật hạ tầng

đô thị, ngành cấp thoát nước và dạy nghề

Nhà trường ý thức rằng phần lớn các vụ

TNLĐ có nguyên nhân từ chính con người,

việc tăng cường nhận thức về ATVSLĐ cần

được thực hiện ở phạm vi đào tạo tập trung

chính khóa, bồi dưỡng kiến thức ATVSLĐ cho các lớp xác định bậc thợ Chương trình này rất bổ ích đối với đội ngũ kỹ thuật viên, công nhân kỹ thuật để nâng cao kiến thức

về ATVSLĐ, chính những con người này sau khi ra trường sẽ trở thành cán bộ quản

lý hoặc an toàn viên, tuyên truyền viên góp phần giảm thiểu về các trường hợp mất an toàn lao động trong quá trình sản xuất

- Phát biểu tại lễ Mít tinh phát động Tuần lễ Quốc gia an toàn vệ sinh lao động – phòng chống cháy nổ lần thứ 15 năm 2013 tại Bắc Giang, ngài Sziraczki Gyorgy, Giám đốc ILO tại Hà Nội đã đưa ra thông điệp

“An toàn lao động đồng nghĩa với phát triển việc làm bền vững” Còn ngài Jonh Nielsen, Đại sứ Đan Mạch, khẳng định: “Phòng ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp là đầu

tư hiệu quả nhất cho sự nghiệp phát triển bền vững của doanh nghiệp trong tương lai”

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI

[2] Nghị định số 06/CP ngày 20 tháng 01 năm 1995 của Chính Phủ Quy định chi tiết một số điều của Bộ Luật Lao động về an toàn lao động, vệ sinh lao động

[3] Các văn bản hướng dẫn thực hiện công tác an toàn và vệ sinh lao động 2001 Nxb Xây dựng [4] Tập hợp tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn trong xây dựng 2007

[5] Bộ luật lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002)

Trang 34

GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ PHÁT TRIỂN THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC

XÂY DỰNG MIỀN TRUNG

CN Hồ Thị Mai Hoa

Thư viện, trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Đặt vấn đề:

Chất lượng giảng dạy đại học ở nước

ta nói chung trong thời gian gần đây đang

trong tình trạng báo động đỏ vì việc giảng

dạy và học tập vẫn diễn ra một cách thụ

động, cổ truyền và nhàm chán Thầy giảng,

đọc, chiếu những gì đã được chuẩn bị trong

giáo án Trò nghe, chép, nhớ những gì thầy

chuyển giao…Việc dạy và học đó được hoàn

tất khi tiếng chuông báo hết giờ vang lên

Phương thức dạy và học như thế đang làm

mất đi khả năng sáng tạo, năng lực tư duy

độc lập, sự sinh động và hấp dẫn của buổi

học Vậy làm thế nào để có những buổi học

trở thành những chuyến phiêu lưu kỳ thú vào

thế giới của tri thức? Làm thế nào để khơi

gợi lên niềm say mê khám phá, khả năng

sáng tạo, khả năng tư duy độc lập của sinh

viên? Bài toán này có rất nhiều lời giải khác

nhau, nhưng trong đó nhất thiết phải có lời

giải từ các thư viện trong đó có thư viện

trường Đại học Xây dựng miền Trung Vì

sao? Bởi những lý do sau:

Thứ nhất: Thế mạnh của thư viện

trong trường Đại học:

Thư viện trong trường Đại học là nơi

cung cấp nguồn thông tin quan trọng nhất

trong nhà trường: Ở đây SV và GV được

tiếp cận nhiều nguồn thông tin khác nhau

Những nguồn thông tin từ thư viện sẽ là

chính thống, đầy đủ, chính xác, toàn diện, đa

dạng và phong phú bởi các thông tin ấy đã

được sàng lọc, có cơ sở pháp lý, cơ sở khoa

học và là nguồn thông tin phù hợp với nhu cầu của người sử dụng tin

Thư viện trường đại học còn là điểm kết nối giữa nguồn thông tin của xã hội và nhu cầu thông tin của sinh viên: Sinh viên hiệm nay đang đứng trước nhiều thách thức mang tính thời đại Xã hội thông tin đang sản xuất ra một khối lượng thông tin lớn với tốc độ nhanh Hiện tượng bùng nổ thông tin này đang làm nảy sinh 3 vấn đề: Sự khủng hoảng các vật mang tin, hiện tượng phân tán thông tin và tốc độ lạc hậu nhanh chóng của thông tin Vì vậy việc tiếp cận, khai thác và

sở hữu thông tin của sinh viên ngày càng trở nên khó khăn và tốn kém Mặt khác, sinh viên trong xã hội thông tin lại hoàn toàn bị lệ thuộc vào thông tin Thông tin đối với sinh viên không còn chỉ để biết mà còn là điều kiện để tồn tại Do vậy thư viện trong trường đại học phải trở thành điểm kết nối giữa nhu cầu người dùng tin và nguồn tin của xã hội

Nó phải là chiếc cầu nối liền khoảng cách ngày càng được nới rộng giữa nguồn thông tin và nhu cầu người dùng tin

Thư viện đại học là môi trường rèn luyện và phát huy năng lực độc lập trong việc khám phá và tư suy sáng tạo của sinh viên: Việc tiếp cận, chiếm hữu và sở hữu tri thức chỉ thật sự có hiệu quả trên tính tự giác của sinh viên Việc tiếp cận và chiếm hữu những kiến thức đã có là việc học về quá khứ, việc tìm tòi, khám phá những cái chưa

có mới thật sự là việc học cho tương lai Không có một người thầy nào, không có một

Trang 35

ngôi trường nào có thể song hành suốt đời

với sinh viên Sinh viên vì thế phải học cách

tự tồn tại, tự khám phá ngay ở trên ghế nhà

trường Thư viện đại học mở ra một môi

trường tri thức rộng lớn, thông thoáng và đa

dạng để sinh viên “thỏa sức” mở rộng tầm

nhìn và thực hiện ước mơ của mình Ở nơi

đó, bài giảng của thầy chỉ còn là những “cọc

tiêu” để sinh viên định hướng, xác định mục

tiêu của công cuộc khám phá Thư viện đã

trở thành “thao trường” cần thiết để sinh

viên từng bước tập dượt trên con đường trở

thành người có ích, có năng lực trên con

đường chinh phục đỉnh cao trí tuệ sau này

Thư viện đại học có thể góp phần cải tiến

nội dung chương trình giảng dạy: Sách giáo

khoa và giáo trình chỉ là cái khung cơ bản

của nội dung chương trình đào tạo, tài liệu

phong phú đa dạng trong thư viện mới thật

sự đóng góp cho những tư duy, tri thức được

đặt thành vấn đề để đem ra nghiên cứu thảo

luận, so sánh, phê bình, đánh giá để đem đến

một nhận định riêng cho người học Và như

vậy, thư viện đại học đương nhiên đã làm

thay đổi phương pháp giảng dạy và học tập ở

trường đại học Thay vì thầy lên lớp thuyết

trình hàng loạt kiến thức, học trò lắng nghe,

ghi chép, nhớ, lập lại và chứng tỏ cái nhớ,

hiểu của mình qua các kỳ thi, thì ở đây

người thầy trong lớp học chỉ nêu vấn đề mà

học trò cần tìm hiểu và chỉ ra những nguồn

tài liệu mà sinh viên có thể dùng để nghiên

cứu tham khảo Sinh viên phải tự đến thư

viện tìm tài liệu liên quan đến vấn đề cần

nghiên cứu, thảo luận Thư viện có đầy đủ

sách báo, tài liệu điện tử, vv về mọi lĩnh

vực tri thức trong chương trình đào tạo của

nhà trường Những điều sinh viên phát hiện,

tìm tòi được sẽ khắc sâu vào tâm trí của sinh

viên, vì đó là những điều họ tự tìm ra chứ

không phải là những điều mà họ phải cố nhớ Qua đó, sinh viên sẽ tự rèn cho mình một phương pháp học tập, một phương pháp khảo sát vấn đề Sự đóng góp của thư viện trong trường đại học cho lớp học này là không thể chối bỏ

Thứ hai: Thực trạng của thư viện trường ĐHXDMT: Thư viện trong trường Đại học quan trọng là vậy, nhưng hiện tại thư viện của nhà trường vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu học tập và nghiên cứu của giảng viên, sinh viên nhà trường Thời gian gần đây thư viện đã được nâng cấp và dần đi vào hoạt động theo mô hình thư viện của một trường Đại học Tuy nhiên, sự đầu tư đó vẫn chưa đủ, nguồn tài nguyên thông tin trong thư viện vẫn chưa được cải thiện là bao Vấn đề đó được thể hiện:

3- Cơ sở vật chất chật hẹp, trang thiết bị chưa có gì đáng giá, tính chuyên dụng, công nghệ cao và tiện nghi vẫn chỉ là “mơ ước” 4- Dịch vụ trong thư viện hiện tại chưa

có gì, hình thức phục vụ chủ yếu là cho mượn tài liệu về nhà và phục vụ SV học tại chỗ Thư viện “hình như” vẫn còn nằm bên

lề hoạt động giảng dạy và học tập của giảng viên và sinh viên trong nhà trường

Thư viện thế kỷ XXI không chỉ là một trung tâm tri thức, mà còn là một trung tâm thông tin, ở đó không chỉ có sách, báo, tạp chí in trên giấy mà còn có các xuất bản

Trang 36

phẩm dưới dạng điện tử nối mạng Internet

Vì vậy, hình thức tổ chức và phương pháp

hoạt động của thư viện các trường Đại học

nói chung và thư viện trường ĐHXDMT nói

riêng phải là sự kết hợp giữa thư viện truyền

thống và thư viện điện tử, thư viện số, trong

đó việc sử dụng máy tính để lưu giữ, khai

thác thông tin và xây dựng thư viện số là xu

hướng quan trọng nhất trong việc phát triển

tự động hoá của thư viện Vì vậy trong

khuôn khổ cho phép chúng tôi xin đề xuất

một số giải pháp nhằm mục đích đổi mới và

phát triển thư viện của nhà trường như sau:

1/ Phải thay đổi quan điểm và chính sách

đầu tư đối với thư viện:

Hầu hết những người có trách nhiệm

đối với công việc này trước đây thường xem

thư viện như một bộ phận cần có để đảm bảo

sự đồng bộ cơ cấu của một nhà trường mà

không cần quan tâm đến việc thư viện có để

làm gì? Vì vậy việc đầu tư cho thư viện chủ

yếu để hoạt động cần có cho sự “đồng bộ”

ấy mà không nghĩ tới hiệu quả phục vụ của

một thư viện như thế nào? Nhưng những

quan điểm ấy không thể tồn tại ở một thư

viện của một trường Đại học nhất là trong

giai đoạn mà sự phát triển mạnh mẽ của

CNTT và KHKT đang là then chốt trong thế

kỷ 21 này

Hãy xác định thư viện là thiết chế

quan trọng hàng đầu trong cơ cấu đào tạo

của một trường đại học, tham gia và chịu

trách nhiệm chính vào chất lượng đào tạo

của nhà trường, do vậy phải có một chính

sách mang tính pháp lý về sự đầu tư cho

thư viện và đó cũng phải là một hạng mục

chi tiêu chính thức và tương đối lớn trong

ngân sách nhà trường

2/ Tăng cường chất lượng cơ sở vật chất

và đội ngũ nhân viên:

- Về cơ sở vật chất: Mở rộng diện tích

và hiện đại hoá các phương tiện ở thư viện là điều cần thiết để thư viện phải trở thành một trung tâm nghiên cứu trong nhà trường để từ

đó làm sao tạo được sự hấp dẫn đối với giáo viên và sinh viên bởi tính chuyên dụng, tiện nghi và mỹ quan

- Về đội ngũ nhân viên: Cần phải hướng đến tính chuyên nghiệp trong phương thức phục vụ bạn đọc Những phẩm chất cần có đối với nhân viên thư viện đại học là năng lực chọn lọc, đánh giá, tái cấu trúc và tổ chức thông tin Năng lực phát hiện, xác định và kiến tạo nhu cầu tin Năng lực tư vấn và cung ứng thông tin Là nhân viên thư viện nhưng cũng đồng thời phải là một nhà giáo dục

- Tăng cường qui mô, chất lượng tài liệu

và nguồn lực thông tin: Nguồn lực thông tin của thư viện phải phù hợp với mục tiêu đào tạo của nhà trường, với nhu cầu và thói quen

sử dụng của giảng viên, sinh viên và hướng đến nhu cầu đòi hỏi của xã hội Cần phải chú

ý đến nguồn lực thông tin nội sinh đó là các luận án, các báo cáo khoa học, các kỷ yếu khoa học của nhà trường và các trường có liên quan Vốn tài liệu và nguồn lực thông tin của thư viện phải được cấu trúc một cách linh động và mềm dẻo để có thể lưu giữ và chuyển tải một cách thuận tiện Môi trường

số hiện nay là giải pháp tối ưu cho việc linh động và mềm dẻo hóa vốn tài liệu của thư viện trong điều kiện tài chính còn hạn chế

- Tổ chức thư viện trở thành một môi trường mở, liên kết khai thác tài liệu với các thư viện trong cùng ngành và các thư viện khác: Do vẫn còn tồn tại tư duy “quản thủ tư liệu” nên người ta đã dựng lên những rào

Trang 37

cản không gian, rào cản thời gian và rào cản

thủ tục Sinh viên, giảng viên chỉ có thể tiếp

cận được với nguồn thông tin ở một địa điểm

nhất định và với một loạt những thủ tục nhất

định…Những rào cản ấy cần được gỡ bỏ

trong thời đại kỹ thuật số như hiện nay

Khuynh hướng “thư viện không tường” hay

“phục vụ bên ngoài các bức tường thư viện”

hiện nay đang được các thư viện hướng đến

Thư viện đại học phải trở thành một trạm

trung chuyển thông tin của một hệ thống

thông tin toàn quốc và toàn cầu Những

thành tựu của công nghệ thông tin, kỹ thuật,

viễn thông là thời cơ để xu hướng này có thể

phát triển thuận lợi

- Hướng mở rộng hợp tác quốc tế, liên

kết hoà mạng với hệ thống thư viện của một

số trường đại học trong cùng ngành cũng

như các thư viện có tên tuổi trong khu vực

để việc trao đổi tài liệu, kinh nghiệm tổ chức

và quản lý thư viện hiện đại, đào tạo chuyên gia, tranh thủ nguồn tài trợ nước ngoài thông qua các dự án quốc tế

Tóm lại: Đã đến lúc thư viện trường

phải trở thành niềm tự hào, là tâm điểm của mọi hoạt động trong nhà trường, là nơi kiểm nghiệm đáng tin cậy của giảng viên và sinh viên trong quá trình giảng dạy và học tập Không thể nói đến việc đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo giáo dục trong nhà trường

mà thư viện lại đứng bên lề Cùng với việc thư viện trường đại học đã đến lúc là điều kiện bắt buộc trong việc kiểm định, đánh giá chất lượng đào tạo các trường đại học trong thời gian tới ở Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Pháp lệnh thư viện 2001 Học viện Chính trị Quốc gia

[2] Quyết định số 13/2008/QĐ-BVHTTDL ngày 10/3/2008 của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể

thao và Du lịch về việc ban hành Quy chế mẫu tổ chức và hoạt động thư viện trường đại học

[3] Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2015, định hướng phát triển đến năm 2020 của Bộ

Văn hoá, Thể thao và Du lịch

[4] Một số báo cáo về hoạt động thư viện ở các thư viện trường Đại học và Cao đẳng

trong cả nước

Trang 38

NÂNG CAO HƠN NỮA CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ CHẤT LƯỢNG GIẢNG VIÊN CỦA BỘ MÔN KẾT CẤU - KHOA XÂY DỰNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TRUNG

ThS Nguyễn Văn Hải

Trưởng Bộ môn Kết cấu, trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Tóm tắt: Vấn đề làm thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục đại học đang là một yêu

cầu cấp bách Trong bài báo này, tác giả phân tích thực trạng, tiềm năng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa công tác quản lý và chất lượng giảng viên của bộ môn Kết cấu, khoa Xây dựng, trường Đại học Xây dựng Miền Trung góp phần vào mục tiêu chung đổi mới chất lượng giáo dục đại học

Từ khóa: thực trạng, tiềm năng, giải pháp quản lý dạy môn kết cấu

1 Đặt vấn đề

Trong bối cảnh nền kinh tế đất nước

đang chuyển mình trong những bước phát

triển mới - bước phát triển của một thời kỳ

hội nhập, thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại

hoá và với một nền kinh tế tri thức được toàn

cầu hóa thì vấn đề chất lượng giáo dục và

đào tạo đang ngày càng thu hút sự chú ý của

xã hội Câu hỏi làm thế nào để nâng cao chất

lượng giáo dục trong trường Đại học đang là

trăn trở của những người làm công tác giáo

dục cũng như của tất cả những ai quan tâm

đến tương lai đất nước Trong các yếu tố làm

nên chất lượng giáo dục Đại học, có hai yếu

tố cơ bản là công tác quản lý giáo dục và

chất lượng giảng viên Cũng giống như mỗi

gia đình là một tế bào của xã hội, mỗi tế bào

mạnh khỏe sẽ góp phần làm nên một xã hội

phát triển, phồn vinh Để một trường Đại

học phát triển thì các Phòng, Khoa, Trung

tâm, Bộ môn phải mạnh về con người, cơ sở

vật chất, tư duy, quản lý

Trong phạm vi bài tham luận, tác giả

xin trình bày một khía cạnh nhỏ của vấn đề

Đó là nâng cao hơn nữa công tác quản lý và

chất lượng giảng viên của Bộ môn Kết cấu -

Khoa Xây dựng – Trường ĐH Xây dựng

Miền Trung Đây phải là một việc làm mang

tính thường xuyên, liên tục và không ngừng đổi mới Việc đổi mới này không chỉ dừng lại ở đổi mới cách làm việc của Bộ môn, mà còn đổi mới tư duy từ mỗi người giảng viên

Có như vậy thì mới thực sự góp phần nâng cao được chất lượng giáo dục Đại học

2 Công tác quản lý Bộ môn

Trong trường Đại học, Bộ môn (BM) đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện các hoạt động dạy và học Người trưởng Bộ môn được ví như “Cánh tay nối dài của lãnh đạo nhà trường” trực tiếp điều hành các công việc cụ thể trong hoạt động dạy và học Công tác lãnh đạo, quản lý của

BM là yếu tố quyết định đến hiệu quả hoạt động của BM, góp phần quan trọng đến chất lượng giáo dục (GD) của nhà trường Để tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa công tác quản lý BM, tôi nhận thấy việc đổi mới quản lý BM là khâu đột phá trong đổi mới GD và nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường

2.1 Việc xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch giảng dạy của Bộ môn

Đây là nhiệm vụ trọng tâm nên ngay từ cuối năm học trước, BM căn cứ theo kế hoạch của Nhà trường đề ra kế hoạch cụ thể,

có tính khả thi cho năm học tới Trước khi

Trang 39

lập kế hoạch quản lý, BM cần phải căn cứ

vào mục tiêu, nội dung, yêu cầu của năm học

để rà soát đội ngũ giảng viên, xem xét chỗ

mạnh chỗ yếu, năng lực của GV, nắm bắt

những vấn đề bất cập của đội ngũ để có kế

hoạch giao việc và bồi dưỡng Bên cạnh đó,

cần phải biết được kế hoạch cá nhân cụ thể

của mỗi giảng viên để bố trí cho phù hợp

Sau đó tổ chức triển khai việc thực

hiện kế hoạch bằng cách bố trí sắp xếp theo

mối quan hệ giữa 3 yếu tố: Công việc -

người - nguồn lực, đồng thời phối hợp với

yêu cầu của từng nhiệm vụ, từng hoạt động

trong BM theo lịch trình đã xác định

Tiếp theo là công tác chỉ đạo thực

hiện, chủ yếu chú trọng phát huy vai trò tư

vấn, hướng dẫn, khuyến khích, động viên nỗ

lực cống hiến, sáng tạo của anh, chị em GV

trong BM

2.2 Kiểm tra, giám sát, đánh giá hoạt

động giảng dạy

- Quán triệt GV trong BM về các đề

cương, nội dung chương trình giảng dạy

Các thay đổi, chỉnh sửa đề cương nếu có

theo chỉ đạo của Nhà trường, Khoa để GV

nắm bắt kịp thời đảm bảo giảng dạy theo

đúng đề cương chương trình

- Trong khi thực hiện kế hoạch phải

xác định những nội dung cần được ưu tiên:

Tổ chức dạy học, đánh giá theo đúng chuẩn

chương trình đào tạo và đáp ứng yêu cầu

chuẩn đầu ra; yêu cầu GV chú trọng đưa

công nghệ thông tin một cách phù hợp vào

tiết dạy

- Phát hiện kịp thời những vấn đề

chưa hợp lý để điều chỉnh, hỗ trợ GV thực

hiện tốt kế hoạch Hàng tuần, ký và kiểm tra

giáo án, kế hoạch lên lớp để của GV BM

- Trong mỗi học kỳ, BM tiến hành dự

giờ 2 lần/1GV Xác định mục tiêu của dự giờ

không dừng lại ở việc kiểm tra, đánh giá mà phải chú trọng đến việc tư vấn và sự phát triển chuyên môn Lên kế hoạch cụ thể, chú

ý tính dân chủ để GV trong BM có thái độ tích cực khi dự giờ và được dự giờ

- Xây dựng kế hoạch dự giờ khoa học,

có thể là thông báo trước hay đột xuất Sau khi

dự giờ cần nhất là phải có hoạt động tư vấn, phân tích giờ dạy để chỉ ra ưu, nhược điểm để

GV có biện pháp khắc phục, sửa chữa

- Vào đầu mỗi tháng, BM tiến hành họp giao ban cùng với sinh hoạt chuyên môn Trong cuộc họp đó, BM tổng kết công tác tháng vừa qua và đề ra phương hướng nhiệm vụ cho tháng tiếp theo Sinh hoạt chuyên môn được BM xem là nhiệm vụ quan trọng, đây là dịp mà các GV trong BM

có dịp ngồi lại với nhau, cùng trao đổi và thống nhất các nội dung trong chương trình giảng dạy

- BM phải có mối liên hệ chặt chẽ với lãnh đạo Khoa, Nhà trường để kịp thời phản ánh những khó khăn, vướng mắc

Để quản lý BM thành công hơn nữa, người Trưởng BM cần phải tập hợp, đoàn kết được GV trong BM mình quản ý Cần tìm hiểu nắm vững tâm tư, tình cảm và những khó khăn trong đời sống của GV để kịp thời động viên, giúp đỡ để anh chị em hoàn thành tốt công việc Kế hoạch năm học được xây dựng và tổ chức thực hiện hợp lý, tập trung được sự nổ lực, cố gắng của mọi thành viên vào việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ năm học

Bên cạnh đó, lãnh đạo BM ngoài ý thức không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn, năng lực quản

lý còn phải là tấm gương về mọi mặt, đặc biệt là về tinh thần tự học, tự rèn luyện, luôn

tự làm mới mình bằng cách tự học hỏi, rút

Trang 40

kinh nghiệm, sáng tạo, dám nghĩ dám làm,

dám chịu trách nhiệm Là nơi để anh em tin

tưởng, cởi mở, tâm tình Là trung tâm gắn

kết mọi thành viên trong tập thể, tạo nên sự

đồng sức, đồng lòng, đồng thuận nhằm xây

dựng tập thể lớn mạnh

3 Xây dựng và nâng cao đội ngũ giảng

viên của Bộ môn

Quản lý con người là một công việc

khó, quản lý con người trong giáo dục mà

mỗi sản phẩm của họ là sự phát triển của

một nhân cách lại càng khó hơn Chất lượng

giáo dục phụ thuộc vào nhiều yếu tố, song

thầy cô giáo là yếu tố quan trọng Bởi vậy,

việc xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giảng

viên cần được tiến hành thường xuyên, bằng

nhiều biện pháp, là nhiệm vụ trước mắt và

lâu dài song nó cũng là vấn đề mang tính

chiến lược vì nó quyết định trong việc đổi

mới phương pháp giáo dục

3.1.Xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giảng viên

Trong vấn đề này tập trung vào

những việc:

- Tạo mọi điều kiện để cán bộ, giáo

viên chủ động tham mưu cho lãnh đạo BM

các giải pháp về chuyên môn, về xây dựng kế

hoạch và chiến lược phát triển Tìm mọi cách

khai mở các tiềm năng, tiềm lực trong giáo

viên nhằm phát huy hiệu quả trong giảng dạy

và giáo dục Quan tâm đến sự tiến bộ của mỗi

thành viên trong BM bằng việc động viên,

khích lệ kịp thời, đặc biệt chú ý đến những

thành công dù là rất nhỏ của những cán bộ

giáo viên mà năng lực còn hạn chế

- Luôn tin tưởng và đánh giá đúng

về năng lực của GV, tạo điều kiện thuận

lợi cho giáo viên tiếp cận với những

phương pháp hay, mới trong giáo dục, để

có hướng điều chỉnh phù hợp với tính tự chủ của mình

- Giáo viên nhận thức đúng tầm quan trọng của việc dạy học để bản thân luôn đổi mới cách dạy, cách học Đặc biệt là nhận thức rõ: Dạy cho học sinh không chỉ dạy kiến thức về văn hóa mà cần rèn cho học sinh các kỹ năng ứng xử văn hóa, định hướng nghề nghiệp

- Thường xuyên đẩy mạnh công tác tự học, tự bồi dưỡng, coi công tác này là then chốt để làm mới mình trong việc tiếp cận, khám phá và truyền thụ kiến thức phù hợp với đối tượng HSSV một cách hiệu quả

3.2.Nâng cao chất lượng giảng viên

Ngành xây dựng là một ngành rất cần tính thực tế, vì thế giáo viên muốn làm tốt công tác giảng dạy cần phải trang bị nhiều kiến thức thực tế tại công trường, đặc biệt là giáo viên trẻ Nhà trường đã tổ chức một số chuyến tham quan công trường cho giáo viên

và sinh viên trên mỗi học kỳ nhưng vẫn chưa thể đáp ứng đủ nhu cầu của giáo viên Các giáo viên tham gia đi làm bên ngoài nhiều sẽ truyền đạt kiến thức rất tốt cho sinh viên đặc biệt là kinh nghiệm của quý thầy cô trong tính toán hay thi công công trình thực tế Vì thế, mỗi người giáo viên nếu có điều kiện cũng nên tham gia đi làm bên ngoài hoặc tự mình nâng cao trình độ kiến thức thực tế Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tăng cường tài liệu học tập ngoại ngữ Đây là một mặt có thể nói là rất hạn chế của

GV Chúng ta phải làm sao để mỗi giảng viên có thể đọc và dịch tài liệu tiếng nước ngoài nhằm đáp ứng như cầu nghiên cứu khoa học

Bên cạnh đó, việc nâng cao trình độ (chủ yếu là đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ) cho đội ngũ giảng viên trong BM là yêu cầu hết sức

Ngày đăng: 09/01/2021, 20:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w