Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực đối với thị trường lao động, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung luôn coi trọng về chất lượng đào tạo đại học không chỉ dừng ở[r]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TRUNG
SỐ 2 – NĂM 2013
LƯU HÀNH NỘI BỘ
Trang 2Trưởng ban : TS Trần Xuân Thực
Phó ban : TS Nguyễn Văn Cường
Thư ký : ThS Trương Minh Trí
In 200 cuốn khổ 19 cm x 27 cm tại
công ty cổ phần in Lê Dung Phú Yên
Giấy phép xuất bản số 31/GP-STTTT
ngày 11/6/2013 của Sở Thông tin và
Truyền thông Phú Yên
In xong và nội lưu chiếu tháng
6/2013 Phát hành nội bộ
Trần Xuân Thực Xây dựng và phát triển mô hình
đảm bảo chất lượng giáo dục đại học tại trường Đại học Xây dựng Miền Trung
1
Nguyễn Văn Cường
Yếu tố quyết định của việc dạy tốt đảm bảo nâng cao
chất lượng và hiệu quả đào tạo
7
Hoàng Văn Tý Một số vấn đề về giáo dục niềm tin
cho sinh viên qua bài giảng phần III Những nguyên
lý cơ bản của của nghĩa Mác – Lê nin
12
Phạm Ngọc Tân Một số giải pháp cấp bộ môn nhằm
nâng cao chất lượng đào tạo ngành xây dựng trong trường Đại học Xây dựng Miền Trung
17
Nguyễn Thành Đạo Sự vận dụng phép biện chứng duy vật của Đảng ta trong đổi mới chính trị 21 Nguyễn Thị Hoa Kiều Bản chất của khoa học theo
Võ Xuân Hội Vận dụng các phương pháp sản xuất
giá trị thặng dư trong quá trình xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam
30
Nguyễn Bá Phi Phương trình Schrödinger phi tuyến
Nguyễn Công Đức Tối ưu hoá đa biến vị trí gắn
cảm biến đo biến dạng trên kết cấu nhịp dựa trên phép phân tích biến thành phần (PCA)
43
Trịnh Minh Trí Tổng quan vấn đề quản lý sai lầm
của công nhân trong hoạt động an toàn trên công
trường xây dựng Việt Nam
53
Lê Văn Thái Ứng dụng phần mềm Pronet bình sai
Nguyễn Hữu Ninh Những đặc trưng cơ bản của các giai đoạn đô thị hoá Thành phố Tuy Hoà 68
Lê Đàm Ngọc Tú Kiến trúc sư Frank Lloyd Wright
Ngô Đức Quý Thực trạng nhà ở dân gian nông thôn
khu vực Nam Trung Bộ trong giai đoạn hiện nay 78
Nguyễn Nguyên Khang Thực trạng phương pháp
đánh giá hồ sơ dự thầu thi công xây dựng công trình
theo pháp luật về đấu thầu hiện nay
85
Lê Trần Đăng Vũ So sánh chuẩn mực kế toán hàng
tồn kho Việt Nam (VAS 02) với chuẩn mực kế toán
quốc tế (IAS 02)
91
Trần Minh Loan Đẩy mạnh ứng dụng bảng cân
bằng điểm trong thực hiện chiến lược hoạt động
doanh nghiệp
97
Trang 3MỤC LỤC TRANG
Lê Đức Gia Cộng đồng chung tay bảo vệ môi trường để bảo vệ nguồn tài nguyên nước 105
Vũ Huyền Trân Ứng dụng của bã thải bùn đỏ từ
quy trình sản xuất bột nhôm theo công nghệ bayer trong sản xuất vật liệu xây dựng
114
Trương Minh Trí Tiềm năng khai thác và ứng dụng
Diatomite ở tỉnh Phú Yên để sản xuất vật liệu cách
âm, cách nhiệt
121
Nghiên cứu khoa học sinh viên Một số ứng dụng
của phân tích bội, phân tích đường và phân tích mặt trong cơ học
125
Trang 4XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TRUNG
TS Trần Xuân Thực Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
ThS Trương Minh Trí
Trưởng Phòng KH&HTQT, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
Đặt vấn đề: Trong những năm qua hệ thống giáo dục đại học ở nước ta phát triển
với quy mô ngày càng lớn Đội ngũ giảng viên đại học đang phát triển cả về số
lượng và trình độ chuyên môn Xu hướng tăng quy mô đào tạo đại học đã và đang
đặt ra những yêu cầu cấp bách về tổ chức quản lý và đảm bảo chất lượng đào tạo
nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nguồn nhân lực của trường Đại
học Xây dựng Miền Trung trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
Từ khoá: Hệ thống giáo dục Đại học, đảm bảo chất lượng.
Đảm bảo chất lượng trong giáo
dục đại học đã và đang là mối quan tâm
lớn ở các trường Đại học ở nước ta
Trường Đại học Xây dựng Miền Trung,
luôn xác định phải thực hiện công tác
đảm bảo chất lượng đào tạo một cách
có hiệu quả Đây là một giải pháp quản
lý quan trọng để giải quyết mâu thuẫn
giữa nhu cầu phát triển tăng quy mô
giáo dục đáp ứng yêu cầu đào tạo
nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ
các lĩnh vực kinh tế - xã hội cho khu vực Miền Trung – Tây Nguyên trong điều kiện các nguồn nhân lực cho giáo dục và đào tạo còn hạn chế Cũng như nhiều nước trên thế giới và trong khu vực, việc xây dựng và phát triển một hệ thống đảm bảo chất lượng giáo dục đại học nói chung và thực hiện công tác kiểm định các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo đại học nói riêng là điều hết sức cần thiết
1 Mô hình tổng thể quá trình đào tạo đại học (xem Hình 1)
Hình 1: Mô hình tổng thể quá trình đào tạo đại học
Mô hình tổng thể quá trình đào tạo
đại học là cơ sở để xây dựng các tiêu chí
đánh giá chất lượng đào tạo các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo đại học
Trang 5Tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng chất
lượng đào tạo của nhà trường trước hết là
kết quả của quá trình đào tạo và được thể
hiện trong hoạt động nghề nghiệp của
người tốt nghiệp Quá trình thích ứng với
môi trường làm việc không chỉ phụ thuộc
vào chất lượng đào tạo mà còn phụ thuộc
vào các yếu tố khác của môi trường như quan hệ cung – cầu, giá cả sức lao động, chính sách sử dụng và bố trí công việc của nhà nước và người sử dụng lao động v.v… Do đó khả năng thích ứng còn phản ảnh cả về hiệu quả đào tạo ngoài xã hội và
thị trường lao động (xem Hình 2)
Hình 2: Quan hệ giữa mục tiêu và chất lượng đào tạo
Xuất phát từ quan niệm về chất
lượng đào tạo nêu trên, hệ thống các tiêu
chí đánh giá chất lượng đào tạo đại học
đối với từng ngành đào tạo nhất định có
thể bao gồm các tiêu chí sau:
5 Khả năng thích ứng với môi trường làm việc
6 Năng lực nghiên cứu và tiềm năng phát triển nghề nghiệp
Đối với các tiêu chí về trình độ kiến thức, kỹ năng có thể dựa vào các tiêu chí phân loại kiến thức – kỹ năng của Bloom
Trang 6Thành phần
Dựa vào các phân mức trình độ
kiến thức và kỹ năng nêu ở bảng trên
chúng ta có thể thiết kế các bài tập đánh
giá tổng hợp về trình độ phát triển kiến
thức, kỹ năng nói riêng và năng lực hành
nghề và phát triển nghề nghiệp của người
tốt nghiệp sau một quá trình đào tạo đồng
thời kết hợp với các đánh giá khác về
phẩm chất xã hội – nghề nghiệp, về sức
khỏe và đặc trưng tâm sinh lý, v.v…
2 Xây dựng hệ thống đảm bảo chất
lượng của Nhà trường
Cùng với hoạt động ở cấp vĩ mô,
Nhà trường đã bắt tay vào việc xây dựng
hệ thống đảm bảo chất lượng và chia sẻ
với các trường bạn về kinh nghiệm trong
việc này Chúng tôi hình dung trước mắt
những công việc cụ thể sau:
- Tuyên bố sứ mệnh: Việc tuyên bố
sứ mệnh không phải là một thủ tục pháp
lý, mà phản ánh bản chất nhân văn sâu sắc
vị thế của một trường đại học đối với
cộng đồng Đó là biểu hiện đầu tiên của
sự cam kết đảm bảo chất lượng Việc
tuyên bố sứ mệnh cũng đã được thực hiện
thông qua Hội đồng khoa học và Đào tạo
của trường, với những số liệu cụ thể về
lịch sử của trường và dự báo phát triển
- Công bố các chuẩn mực chất lượng
đối với sinh viên tốt nghiệp, và trên cơ sở
của các chuẩn mực này, tiến hành rà soát
lại toàn bộ chương trình khung đào tạo
- Nhà trường đã mạnh dạn xác lập một định chế cụ thể cho vấn đề đảm bảo chất lượng Trong bộ máy quản lý truyền thống của trường, các định chế sẵn có như phòng Tổ chức, phòng Kế hoạch – tài chính, phòng Quản trị thiết bị,… dễ được chấp nhận, còn việc đưa vào các định chế mới thường sẽ gặp khó khăn về mặt tâm
lý Nhà trường đã có các phòng chức năng
tư vấn cho lãnh đạo trường trong việc thiết kế, thực hiện và giám sát quá trình đảm bảo chất lượng của trường
- Kết quả nhà trường đã đạt được trong những năm qua đối với quá trình đảm bảo chất lượng là:
+ Có một sứ mệnh được tuyên bố rõ ràng
+ Có một bản kế hoạch chiến lược trung hạn 2005 – 2030 được phân tích trong mối quan hệ với thực hiện sứ mệnh
+ Có một định chế kiểm soát chất lượng cho trường
+ Có một bộ số liệu khảo sát tổng thể về tình hình đào tạo, tài chính, nhân lực của trường được xây dựng thành một
cơ sở dữ liệu sử dụng lâu dài
3 Các chuẩn và tiêu chí đánh giá các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo
Dựa trên sơ đồ tổng quát nêu trên về quá trình đào tạo đại học (Hình 1), hệ thống các tiêu chí được thiết kế với 6 tiêu chí và 50 chỉ số chính đánh giá các điều
Trang 7kiện đảm bảo chất lượng về giáo dục đại học Việt Nam (bảng 2)
Bảng 2: Hệ thống chỉ số đánh giá các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục đại học
Thông tin chung - Ngày thành lập, địa chỉ
- Chức năng và nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học, dịch vụ
- Quy mô đào tạo của trường theo các ngành nghề, hệ đào tạo
Chương trình đào tạo - Tỷ lệ các chương trình đào tạo đạt chuẩn
- Định hướng mục tiêu đào tạo của các chương trình
- Cấu trúc và nội dung các chương trình đào tạo
- Khung thời gian chương trình, tỷ lệ các học phần
- Cập nhật kiến thức và kỹ năng khoa học – công nghệ hiện đại
- Phát triển chương trình đào tạo
20
3
Nghiên cứu và dịch vụ - Số lượng và kết quả dự án, đề tài nghiên
cứu các cấp
- Kinh phí nghiên cứu/giảng viên
- Số lượng các báo cáo khoa học các cấp
- Các thu nhập từ nghiên cứu và dịch vụ
- Các giải thưởng về khoa học – công nghệ,
về dịch vụ
10
4
Giảng viên và sinh viên - Chất lượng tuyển sinh, quy mô đào tạo
- Số lượng sinh viên/ giảng viên
- Tỷ lệ % về thạc sĩ, tiến sĩ, phó giáo sư và giáo sư
- Cơ cấu ngành nghề của đội ngũ giảng viên
- Thời gian giảng dạy
- Thư viện, sách tham khảo, tài liệu
- Trang thiết bị giảng dạy, đa phương tiện,
20
Trang 8phòng chuyên môn hóa, phòng thí nghiệm, v.v…
- Khu thể thao, dịch vụ
- Kết nối internet
6
Nguồn tài chính - Đa dạng các nguồn tài chính (chính phủ,
học phí của sinh viên, thu nhập từ dịch vụ,
hỗ trợ, …)
- Chi phí đào tạo sinh viên/ năm
- Các nguồn thu nhập tài chính, chi tiêu và quản lý tài chính
20
4 Các cơ sở, phương pháp đánh giá và
kiểm định chất lượng đào tạo đại học
Để đánh giá chất lượng nói chung và
chất lượng đào tạo đại học nói riêng cần
dựa trên các cơ sở sau:
- Chuẩn kiến thức - kỹ năng nghề
nghiệp: các ngành nghề trong xã hội rất
đa dạng và phức tạp tùy thuộc vào sự
phát triển kinh tế - xã hội, khoa học –
công nghệ, phân công lao động xã hội
Mỗi một ngành nghề lao động xã hội đều
đòi hỏi ở người hành nghề những kiến
thức, kỹ năng chuyên biệt cũng như các
phẩm chất và năng lực xã hội và cá nhân
khác Đây không chỉ là căn cứ quan trọng
để xây dựng danh mục ngành đào tạo,
mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo mà
còn là một căn cứ để so sánh, đánh giá
chất lượng đào tạo
- Mục tiêu và nội dung đào tạo:
quá trình đào tạo là quá trình hiện thực
hóa “mục tiêu và nội dung đào tạo” ở
người tốt nghiệp Chất lượng đào tạo là
kết quả của quá trình đào tạo với các
mục tiêu, nội dung phương pháp xác
định, do đó mục tiêu và nội dung
phương pháp đào tạo là cơ sở để đánh
giá chất lượng đào tạo
- Chất lượng đào tạo được thể hiện trong quá trình hành nghề của người tốt nghiệp do đó việc lấy ý kiến đánh giá của người sử dụng lao động, tình hình việc làm và phát triển nghề nghiệp là cơ sở quan trọng để đánh giá chất lượng đào tạo
- Các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo (cơ sở vật chất, giáo viên,
tổ chức quản lý nhà trường,…)
Để làm rõ được các chỉ số đặc trưng cho đào tạo nói chung và chất lượng đào tạo nói riêng chúng ta có thể sử dụng các phương pháp đánh giá sau:
1 Phỏng vấn: phỏng vấn học sinh tốt nghiệp, giáo viên, cán bộ quản lý nhà trường, người sử dụng lao động
2 Phân tích đánh giá mục tiêu, chương trình đào tạo
3 Kiểm tra – đánh giá công tác quản
lý, phương pháp đào tạo và kết quả học tập trong quá trình đào tạo
4 Thi tốt nghiệp cuối khóa đào tạo
5 Tổ chức trắc nghiệm đánh giá theo năng lực hành nghề
6 Điều tra – khảo sát: điều tra tình hình việc làm của người tốt nghiệp, khảo
Trang 9sát hoạt động nghề nghiệp thực tế, quan
sát quá trình đào tạo
7 Kiểm định các điều kiện đảm bảo
chất lượng đào tạo về cơ sở vật chất, đội
ngũ giáo viên
5 Kết luận
Trong lĩnh vực đào tạo, chất lượng
đào tạo với đặc trưng sản phẩm là “con
người lao động” có thể hiểu là kết quả
của quá trình đào tạo và được cụ thể hóa
ở các phẩm chất, giá trị nhân cách và giá
trị sức lao động hay năng lực hành nghề
của người tốt nghiệp tương ứng với mục
tiêu đào tạo của từng ngành đào tạo trong
hệ thống đào tạo đại học Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực đối với thị trường lao động, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung luôn coi trọng về chất lượng đào tạo đại học không chỉ dừng ở kết quả của quá trình đào tạo trong nhà trường với những điều kiện đảm bảo chất lượng như cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, mà còn phải tính đến mức độ phù hợp và khả năng thích ứng của sinh viên tốt nghiệp với môi trường làm việc thực
tế trong xã hội
Trang 10YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH CỦA VIỆC DẠY TỐT ĐẢM BẢO NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG VÀ HIỆU QUẢ ĐÀO TẠO
TS Nguyễn Văn Cường Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
Tóm tắt: Như chúng ta đã biết, dạy tốt đòi hỏi rất nhiều yếu tố tác động đan xen qua
lại, liên quan chặt chẽ với nhau, đó là: hệ thống tổ chức lực lượng giảng dạy bao
gồm công tác quản lý đào tạo, trình độ đội ngũ cán bộ giảng dạy, đội ngũ phục vụ
giảng dạy, mục tiêu, nội dung chương trình kế hoạch giảng dạy, quy trình và
phương thức đào tạo; trang thiết bị, phương tiện phục vụ dạy học; hệ thống sách
giáo khoa, giáo trình và tài liệu tham khảo,… đối tượng dạy học Trong tất cả các
yếu tố đó, theo tôi, yếu tố hàng đầu, quyết định chất lượng đào tạo là đội ngũ giảng
viên nói chung, thứ đến là đối tượng người học Ở bài viết này chúng tôi không nhắc
lại các khái niệm cơ bản nêu trên mà chỉ muốn nhấn mạnh những điểm cần lưu ý
trong quá trình triển khai trong phong trào thi đua dạy tốt, học tốt
Từ khóa: Chất lượng đào tạo, hiệu quả đào tạo.
1 Đội ngũ cán bộ giảng dạy (CBGD)
Để dạy tốt điều tiên quyết là phải có
đội ngũ CBGD vừa có trình độ chuyên
môn nghiệp vụ giỏi vừa có phẩm chất đạo
đức tốt
- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ
giỏi: Trong bất cứ hoàn cảnh, điều kiện
nào để dạy tốt phải có thầy giỏi Thầy giỏi
là thầy phải có trình độ học vấn giỏi:
trước hết là nội hàm kiến thức chuyên
môn chính của mình phải sâu và nhiều;
am hiểu thực tiễn; sau đó phải biết những
kiến thức của những lĩnh vực chuyên môn
khác có liên quan với chuyên môn của
mình (nghĩa là phải có kiến thức sâu và
rộng) Khi đã có tiềm năng kiến thức như
thế thì sẽ rất chủ động trong việc dạy, mặc
dù phương pháp dạy, năng lực sư phạm
có thể còn hạn chế Điều đó, theo tôi kiến
thức hay rộng hơn là tri thức uyên bác là
yếu tố cần, còn phương pháp và tài năng
sư phạm là yếu tố đủ, để đảm bảo chất
lượng đào tạo
Hơn thế nữa, người thầy giỏi, nhất là
CBGD đại học cần phải có trình độ học
vấn cao hơn, đó là trình độ sau đại học
Phấn đấu có học vị Tiến sĩ, có học hàm Phó Giáo sư (PGS) và Giáo sư (GS) Để đạt được trình độ học vấn cao, có học vị học hàm thì một nhiệm vụ hết sức quan trọng của đội ngũ CBGD trong các trường Đại học là phải thực sự đầu tư cho việc học tập nghiên cứu nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ; tham gia nghiên cứu khoa học từ đề tài cấp Khoa, Trường,
Bộ và Nhà nước Tham gia các dự án nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước khi có điều kiện và thời cơ
- Phương pháp giảng dạy thích hợp và thường xuyên đổi mới: Theo tôi,
phương pháp giảng dạy tốt, có hiệu quả trong quá trình dạy học (QTDH) phải phù hợp với bậc học, đối tượng người học, hệ thống giáo trình và tài liệu tham khảo
Chính vì thế, phải thường xuyên đổi mới phương pháp giảng dạy
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học
kỹ thuật trong thế kỷ XX, đặc biệt ở thế
kỷ XXI; Thế giới đã thực sự bước vào một nền kinh tế tri thức, đã đặt ra những
Trang 11yêu cầu ngày càng cao về khả năng hành
động, năng lực tổ chức, năng lực tư duy
tổng hợp và khả năng cộng tác làm việc
theo nhóm của người lao động Ngoài ra
thị trường lao động cũng đòi hỏi ở họ cao
hơn ở tính sáng tạo, năng lực phê phán và
tính tự chịu trách nhiệm; các hình thức và
phương pháp dạy học truyền thống như
thuyết trình, diễn giải khó đáp ứng đầy đủ
những yêu cầu nói trên
Vì thế, người thầy giỏi là phải tiếp
cận ngay với các phương pháp dạy học
hiện đại (có thể gọi chung là phương pháp
sư phạm tích cực) bao gồm các phương
+ Phương pháp dạy học theo dự án
Những phương pháp dạy học trên
đây đều có đặc trưng chung là làm cho
người học chủ động, năng động; sáng
tạo, người thầy giữ một vai trò hỗ trợ,
giúp người học tìm ra quy luật, tìm ra
chân lý của khoa học và cuộc sống, đối
tượng phải chiếm lĩnh không chỉ là kiến
Thực tiễn trong quá trình giảng dạy
cho thấy: phương pháp dạy học truyền
thống hay các phương pháp sư phạm tích
cực, mỗi phương pháp đều có những ưu
điểm và hạn chế, không có phương pháp nào tuyệt đối hoàn hảo Do đó, nên kết hợp các phương pháp với nhau, tận dụng các ưu điểm, hạn chế các nhược điểm, để phù hợp với điều kiện dạy học, đối tượng học của từng trường đại học
Không ngừng nâng cao chất lượng trong đào tạo; Nhà trường luôn phải thực hiện các công việc liên quan đến dạy và học một cách đồng bộ; lãnh đạo các đơn vị luôn tổ chức rà soát mục tiêu, năng lực đội ngũ CBGD, đổi mới chương trình, phương thức rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, đây là các khâu trọng tâm có ý nghĩa quyết định chất lượng, hiệu quả đào tạo
- Đánh giá tiến trình giảng dạy phù hợp
Đánh giá ở lớp học nhằm tìm hiểu xem việc tiếp cận và lĩnh hội của sinh viên như thế nào đối với một cách giảng dạy nhất định, nhằm thu được phản hồi: sinh viên học được gì, bao nhiêu, ở mức độ nào
Mục đích: Làm cho sinh viên đạt
chất lượng cao nhất trong việc học ở lớp,
so với việc tự học, giúp người dạy và người học tăng chất lượng học tập ở lớp
Các đặc trưng của việc đánh giá ở lớp học:
+ Người học là trung tâm, giúp sinh
viên thay đổi thói quen học tập, phát triển
năng lực học tập, trở thành người biết học suốt đời;
+ Người dạy điều khiển: không ai có
thể giúp cho người dạy biết phải làm cái
gì theo từng bước ở lớp học;
+ Cùng có lợi: cả người học và
người dạy đều thu được lợi ích trong hoạt động này để tăng cường hiệu quả của việc học và việc dạy;
Trang 12+ Là đánh giá trong tiến trình
giảng dạy, không phải đánh giá tổng kết,
do đó không cần lưu ý đến việc cho
điểm, xếp hạng;
+ Phụ thuộc vào tình huống cụ thể
đa dạng, không có một chuẩn mực chung
cho mọi trường hợp;
+ Là một hoạt động tiếp diễn (on
going), tạo nên một chu trình kín (loop)
phản hồi liên tục
Sự cần thiết của loại hình đánh
giá này:
Thông thường người dạy tiếp nhận
tự động những ấn tượng đến từ phía sinh
viên một cách vô ý thức và ẩn, không
được kiểm tra lại Vẫn có câu hỏi, bài tập
về nhà, v.v
Hiện nay, Phòng khảo thí và kiểm
định chất lượng đã quản lý tập trung và
tăng cường chất lượng việc đánh giá kết
quả học tập Theo tôi cho rằng việc đánh
giá tổng kết tách khỏi người dạy ở mức độ
nào đó là phù hợp, còn việc đánh giá
trong tiến trình giảng dạy nhất thiết phải
luôn được phát huy đúng mức gắn với
người dạy và việc dạy, vì bản thân nó là
một khâu không thể tách khỏi của quá
trình giảng dạy
- Đánh giá kết quả học tập phù hợp
đa dạng nhưng cần hiểu rõ ưu nhược
điểm của mỗi phương pháp để sử dụng
từng phương pháp đúng lúc, đúng chỗ
Hiện nay phương pháp trắc
nghiệm khách quan (TNKQ) cho thấy
rõ những mặt ưu điểm của nó lại có
thiên hướng thuyết phục mọi người sử
dụng chủ yếu TNKQ để đánh giá kết
quả học tập, Quy trình đó thường bao
gồm các bước sau đây:
3) Trao đổi với các đồng nghiệp;
4) Một người trong nhóm duyệt lại các câu hỏi;
Chúng tôi cho rằng cần hiểu rõ ưu nhược điểm của từng phương pháp để sử dụng chúng đúng lúc, đúng chỗ Muốn vậy, các bộ môn nên tổ chức trao đổi để thống nhất phương pháp đánh giá, nắm được các công cụ phục vụ việc thiết kế và thử nghiệm các phương pháp để làm nòng cốt trong tiến trình triển khai đúng đắn việc đánh giá
2 Đối tượng học: cần phải có trình độ
và phương pháp học tốt
Mỗi cấp học, bậc học từ thấp cho đến cao muốn học tốt, chất lượng cao đều phụ thuộc vào trình độ ban đầu và phương pháp học tập Đây là yếu tố quyết định
Trang 13Còn người thầy là yếu tố quan trọng
“Không có thầy đố mầy làm nên” Câu
nói này có lẽ vẫn còn đúng với đa số học
trò Mặc dù điều kiện học và dạy có thay
đổi, phương pháp dạy và học có thay đổi
Vấn đề chất lượng đầu vào qua
tuyển sinh đại học - cao đẳng là rất quan
trọng Nếu trình độ ban đầu khá, giỏi thì
rất thuận lợi cho quá trình đào tạo Bộ
GD&ĐT đã tổng kết đánh giá công tác
tuyển sinh ba chung hàng năm đã từng
bước ổn định, được dư luận xã hội đánh
giá tốt Tuy nhiên, thực tế cho thấy chất
lượng đầu vào còn chưa đồng đều trong
các trường đại học Nếu chất lượng đầu
vào đảm bảo, thì triển vọng có được nhiều
sản phẩm đào tạo có chất lượng cao
Về phương pháp học tốt của sinh
viên, theo tôi có các vấn đề cơ bản sau:
- Tinh thần, thái độ, động cơ học
tập và động lực học tập của sinh viên
Chỉ những sinh viên ngay từ đầu đã
xác định được động cơ học tập đúng đắn
sẽ có thái độ học tập tốt, có hoài bão ước
mơ, có nghị lực, có quyết tâm học tập, thì
trong hoàn cảnh nào cũng sẽ có kết quả
học tập tốt
Phải có động lực học tập đối với
sinh viên trong quá trình đào tạo như
chế độ học bổng, học phí, cách đánh giá
khách quan trong thi cử của quá trình
đào tạo, việc làm cho sinh viên tốt
nghiệp ra trường, có chế độ sử dụng đãi
ngộ thích đáng để thu hút sinh viên sau
khi tốt nghiệp được làm đúng ngành
nghề đào tạo
- Phải có phương pháp học tập tốt
Ở bậc đại học, phương pháp học tập
của sinh viên phải tiếp cận với phương pháp
giảng dạy đại học hiện đại của các thầy
Phương pháp học tốt là yếu tố quyết định tạo nên kết quả học tập tốt Mỗi sinh viên phải tìm tòi, khám phá ra các phương pháp học tập thích hợp với từng môn học, từng địa bàn học tập như ở trên lớp, trong phòng thí nghiệm, thực tế và tự học ở nhà v.v…
Học tập ở các phương pháp học tốt của bạn một cách chọn lọc cho hiệu quả đối với bản thân
Phương pháp dạy học tốt của thầy chính là tiền đề tạo ra phương pháp học tốt của sinh viên
- Phải có phẩm chất đạo đức tốt, có sức khỏe để học tập và công tác sau này
Trước yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, trong một nền kinh tế tri thức ở thế kỷ mới, sinh viên phải xác định được vai trò trách nhiệm học tập vì ngày mai lập nghiệp, vì sự nghiệp xây dựng vào bảo vệ tổ quốc Việt Nam
3 Kết luận
Nâng cao chất lượng đào tạo bậc đại học là một mục tiêu rất quan trọng trong bất cứ giai đoạn lịch sử nào, trong bất cứ trường đại học nào; nó vừa mang tính chất thường xuyên, vừa mang tính chất chiến lược lâu dài
Trường Đại học Xây dựng Miền Trung luôn xác định “Nâng cao chất lượng đào tạo” là một việc có ý nghĩa cực
kỳ quan trọng đối với sự phát triển của nhà trường, góp phần vào sự nghiệp giáo dục đại học nước nhà Giáo dục đại học phải đáp ứng tốt nhất yêu cầu ngày càng cao của xã hội về đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ tiên tiến, góp phần đắc lực vào sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước
Trang 14MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ GIÁO DỤC NIỀM TIN CHO SINH VIÊN QUA BÀI GIẢNG PHẦN III NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊ NIN
Nhà giáo ƣu tú - Hoàng Văn Tý
Phụ trách Khoa Lý luận Chính trị, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
Tóm tắt: Giáo dục niềm tin cho sinh viên qua bài giảng của các môn Lý luận Chính trị
là hết sức cần thiết, vì đó là niềm tin dựa trên cơ sở khoa học và quy luật vận động của
xã hội, tin vào tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin Qua đó tin tưởng
tuyệt đối vào đường lối chính sách của Đảng và con đường Xã hội chủ nghĩa (XHCN)
mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn và đang quyết tâm phấn đấu xây dựng Nhờ đó mà
làm tăng thêm ý chí, nghị lực phấn đấu ở mỗi con người, sẽ phát huy cao độ tính tự giác,
sáng tạo vốn có trong mỗi con người, để vượt qua những khó khăn thử thách trong công
cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN
Từ khóa: Giáo dục niềm tin, sinh viên, môn học
Sự nghiệp đổi mới đất nước ta gần
ba mươi năm qua đã thu được nhiều thành
tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đưa nước ta
thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nâng
cao vị thế của dân tộc Việt Nam trên
trường quốc tế Chúng ta không những
khắc phục được sự tụt hậu về kinh tế so
với các nước trong khu vực và thế giới mà
còn tạo được những nhân tố thuận lợi để
đưa đất nước ta bước vào thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và
mở rộng hội nhập quốc tế
Tuy nhiên bên cạnh những thành tự
to lớn về kinh tế - xã hội mà chúng ta đã
đạt được thì ở nhiều lĩnh vực khác, do tác
động tiêu cực của nền kinh tế thị trường
và sự mở cửa giao lưu với thế giới bên
ngoài, trong cuộc sống hàng ngày đang có
những biểu hiện đáng lo ngại như: tội
phạm và tệ nạn xã hội gia tăng, đạo đức
lối sống có nhiều biểu hiện lệch lạc, văn
hoá giao tiếp, ứng xử thiếu lòng tự trọng,
ý thức chấp hành pháp luật không
nghiêm Đặc biệt là hiện tượng phai nhạt
niềm tin, lý tưởng cách mạng ở một bộ
phận cán bộ, đảng viên, thanh niên, sinh viên Trong bối cảnh đó các thế lực thù địch quốc tế và trong nước đang tăng
cường chiến lược “Diễn biến hoà bình”
chúng lợi dụng sự sa sút về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và sự phai nhạt niềm tin của một bộ phận cán bộ, nhân dân, thanh niên để gây nghi ngờ, mất đoàn kết, gây rối loạn xã hội, qua đó
để chuyển hoá, tiến tới làm lệch hướng phát triển XHCN
Để giữ vững những thành quả đã đạt được, để đưa sự nghiệp đổi mới đất nước tiếp tục thu được những thành tựu
to lớn hơn nữa thì công tác tư tưởng lý luận phải là bước đột phá nhằm tạo nên
sự chuyển biến tích cực về tư tưởng, nhận thức niềm tin, lý tưởng ở mỗi con nguời và cộng đồng xã hội Với yêu cầu như vậy thì việc giảng dạy các môn Lý luận Chính trị, Tư tưởng Hồ Chí Minh có vai trò như thế nào và cần phải làm gì để góp phần giáo dục, hình thành và củng cố niềm tin cho sinh viên thông qua những bài giảng của mình
Trang 15Như chúng ta đã biết, Chủ nghĩa xã
hội (CNXH) Khoa học là một trong ba bộ
phận hợp thành chủ nghĩa Mác-Lênin Ba
bộ phận này có mối quan hệ gắn bó không
thể chia cắt, chính điều đó làm cho học
thuyết Mác - Lênin vừa mang tính khoa
học, vừa mang tính cách mạng sâu sắc
Trong ba bộ phận đó thì CNXH Khoa học
là bộ phận thể hiện rõ nhất mục đích của
học thuyết Mác - Lênin, bởi vì nó trực
tiếp lý giải những điều kiện, lực lượng,
con đường, biện pháp… nhằm giải phóng
giai cấp công nhân, giải phóng toàn xã hội
khỏi tình trạng áp bức bóc lột của các giai
cấp thống trị, để xây dựng một kiểu xã hội
hoàn toàn mới, một kiểu xã hội mà người
lao động là chủ thể của mọi tư liệu sản
xuất và mọi quan hệ sản xuất, một kiểu xã
hội có khả năng đem lại quyền lực chính
trị, quyền lợi kinh tế cho các cấp lao
động Mặt khác CNXH Khoa học là một
phận thể hiện rõ nhất tính hiệu lực của
học thuyết Mác - Lênin, bởi vì quá trình
thực hiện những quy luật xã hội - chính trị
của CNXH Khoa học cũng chính là quá
trình giải quyết các yêu cầu của hoạt động
thực tiễn, làm cho mục đích của học
thuyết Mác - Lênin trở thành hiện thực
Với ý nghĩa như vậy, xét theo nghĩa
rộng thì CNXH Khoa học chính là chủ
nghĩa Mác - Lênin Do đó ở mỗi bài giảng
của CNXH Khoa học quá trình giảng viên
nêu và luận giải những nguyên lý, qui luật
của sự vận động xã hội để hướng đến mục
tiêu CNXH - CNCS cũng chính là quá
trình hình thành củng cố niềm tin cho sinh
viên về tương lai của CNXH hiện thực
Tuy nhiên để việc giảng dạy các môn Lý
luận Chính trị nói chung, phần ba “Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về CNXH” nói riêng đạt được hiệu quả cao nhất thì cần chú ý đến các yếu tố sau:
1 Trước hết và vai trò quan trọng nhất
là người giảng viên phải thực sự có niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tin vào tương lai của CNXH
Thực tế cho thấy khi nào người giảng viên thực sự có niềm tin thì mới tâm huyết trong việc đi truyền niềm tin cho người khác, mới chịu khó đi sâu nghiên cứu lý luận và thực tiễn, tìm ra được những lý giải khoa học, để qua từng bài giảng thuyết phục được sinh viên có niềm tin như mình Như chúng ta đã biết các môn Lý luận Chính trị có đối tượng, phương pháp và nội dung nghiên cứu riêng, song tất cả đều nhằm đến mục đích chung là tạo cho sinh viên có một niềm tin vào sự đúng đắn của học thuyết Mác - Lênin, tin vào một xã hội tốt đẹp
đã và đang từng bước thể hiện trong đời sống hiện thực ở nhiều nước - Đó là CNXH Qua đó để sinh viên tin vào con đường XHCN mà Đảng và nhân dân ta
đã lựa chọn và đang quyết tâm phấn đấu xây dựng
Khi đã tạo được niềm tin như vậy, thì nó sẽ làm tăng thêm ý chí, nghị lực phấn đấu ở mỗi con người, nó sẽ phát huy cao độ tính tự giác, sáng tạo vốn có trong mỗi con nguời để họ vượt qua những khó khăn thử thách trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Đặc biệt khi đã có được niềm tin thì con người sẽ luôn vững vàng trước những biến động phức tạp,
Trang 16thậm chí bất lợi xảy ra ở nơi này, nơi
khác, ở thời điểm này, thời điểm khác
của quá trình xây dựng CNXH hiện thực
trong phạm vi từng nước và phạm vi thế
giới Theo tôi trong đội ngũ giảng viên
Lý luận Chính trị nếu có cá nhân quan
niệm đi giảng bài chỉ để “kiếm cơm”,
còn trong đầu không thực sự có niềm tin
vào những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác - Lênin thì không nên đứng
vào hàng ngũ này
2 Hình thành niềm tin trong sinh viên
phải trên cơ sở lý giải một cách khoa
học những nguyên lý cơ bản của CNXH
Khoa học
Để hình thành và củng cố niềm tin
cho sinh viên thì yếu tố không kém phần
quan trọng là phải biết vận dụng một
cách nhuần nhuyễn những nguyên lý của
triết học, kinh tế - chính trị học Mác -
Lênin vào thực tiễn quá trình cách mạng
trong nước, thế giới để lý giải những
nguyên lý của CNXH Khoa học Đây là
một trong những phương pháp nghiên
cứu của CNXH Khoa học, đồng thời nó
cũng là yếu tố để tạo được niềm tin khoa
học cho sinh viên
Nếu trước đây khi CNXH Hiện thực
còn là một hệ thống thế giới với đầy đủ uy
tín và sức mạnh thì việc giảng dạy các
môn Lý luận Chính trị nói chung, phần
CNXH Khoa học nói riêng là hết sức
thuận lợi Giảng viên chỉ cần nêu những
nguyên lý của CNXH Khoa học là có thể
tạo được những niềm tin trong sinh viên
về chủ nghĩa Mác - Lênin, CNXH Hiện
thực Nhưng ngày nay tình hình đã hoàn
toàn khác, những diễn biến thực tế của
CNXH Hiện thực và cuộc sống có nhiều điều không hoàn toàn thuận chiều với nguyên lý của CNXH Khoa học Vì vậy, nếu cứ thuyết giảng một chiều, áp đặt, hoặc chỉ nêu thành tựu thắng lợi như trước đây thì không có tính thuyết phục, không tạo được sự chấp nhận để có được niềm tin đối với sinh viên Do đó đòi hỏi giảng viên khi giảng mỗi vấn đề của CNXH Khoa học phải thông tin nhiều chiều, phải đưa ra nhiều qua điểm khác nhau, trên cơ sở đó vận dụng những nguyên lý của triết học, kinh tế - chính trị học Mác - Lênin để lý giải sự đúng đắn những nguyên lý, quy luật của CNXH Khoa học Khi một vấn đề nêu ra được chứng minh trên cơ sở khoa học sẽ tạo được niềm tin đối với sinh viên
Chẳng hạn, khi lý giải tính tất yếu ra đời của học thuyết kinh tế - xã hội cộng sản (XHCS) mà CNXH là giai đoạn đầu của nó thì ta phải dựa vào triết học Mác
để chứng minh được rằng: lịch sử loài người phát triển không ngừng theo quy luật từ trình độ thấp nhất đến trình độ cao Nguyên nhân tạo nên bước chuyển từ học thuyết kinh tế - xã hội có trình độ thấp đến học thuyết kinh tế - xã hội có trình độ cao là do sự phát triển của phương thức sản xuất nội tại, trong đó yếu tố quyết định là sự phát triển của lực lượng sản xuất (LLSX) Với quan niệm như vậy thì học thuyết kinh tế - xã hội TBCN không phải là điểm dừng cuối cùng của loài người (vì như vậy sẽ trái với qui luật), chính sự phát triển của phương thức sản xuất TBCN, trong đó yếu tố quyết định là
sự phát triển của LLSX trong xã hội tư
Trang 17bản (XHTB), tất yếu làm xuất hiện một
học thuyết kinh tế xã hội mới tiến bộ hơn,
Mác, Ăngghen chỉ là người phát hiện và
đặt tên là học thuyết kinh tế - xã hội cộng
sản chủ nghĩa (CSCN) Qua sự minh
chứng một cách khoa học như vậy sẽ làm
cho sinh viên thấy được rằng sự ra đời của
CNXH - giai đoạn đầu của học thuyết
kinh tế - xã hội CSCN là do qui luật vận
động tất yếu khách quan của lịch sử, chứ
không phải là áp đặt chủ quan của học
thuyết Mác Từ đó sẽ hình thành trong
sinh viên niềm tin về tương lai của
CNXH Hiện thực
Hoặc khi lý giải sự sụp đổ của
CNXH ở Liên Xô và Đông Âu, giảng viên
cần chứng minh được rằng: Đây là sự sụp
đổ của những mô hình CNXH không
đúng với tư tưởng cơ bản của chủ chủ
nghĩa Mác - Lênin, chứ không phải là sự
sụp đổ của chính bản thân học thuyết
Mác Đồng thời, phải chỉ ra được nguyên
nhân cơ bản của sự sụp đổ này là do các
Đảng Cộng sản (mà trước hết là Liên Xô)
đã không vận dụng đúng đắn và thiếu
sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực
tiễn cuộc sống, cũng như do chậm tổng
kết những bài học, từ thực tiễn xây dựng
CNXH để bổ sung phát triển đường lối,
chính sách và phát triển lý luận Mặt khác
trong quá trình luận giải này cần phải lấy
thực tiễn sinh động của CNXH hiện thực
ở Trung Quốc, Việt Nam để minh họa cho
sinh viên thấy được rằng gần 1/4 dân số
trên hành tinh này vẫn đang quan tâm xây
dựng CNXH và đã đạt được những thành
tựu kỳ diệu Đây chính là cơ sở để tạo
được niềm tin cho sinh viên về CNXH
hiện thực trong điều kiện hiện nay
3 Để tạo được niềm tin của sinh viên về tương lai của CNXH thì khi giảng giải những vấn đề của CNXH Khoa học không được né tránh những sai lầm trong đường lối mà các đảng cộng sản mắc phải, không được né tránh những yếu kém và cả những tiêu cực trong bộ máy của hệ thống chính trị
Như chúng ta đã biết, đặc điểm của sinh viên ngày nay là họ được thường xuyên tiếp cận với nhiều nguồn thông tin, nên tuy đang ngồi trên ghế nhà trường nhưng họ đã biết được nhiều diễn biến của đời sống xã hội, cả trong nước và thế giới Vì vậy, nếu giảng viên chỉ nêu và giảng giải thuần túy những nguyên lý, lý luận, không liên hệ với thực tiễn hoặc chỉ nêu thành tựu và những mặt tốt đẹp của
xã hội theo kiểu một chiều, áp đặt thì cũng không thuyết phục được sinh viên, không tạo được niềm tin khoa học trong sinh viên Do đó, giảng viên một mặt cần nêu và khẳng định những thành tựu mà CNXH đã đạt được, cần nêu và khẳng định bản chất tốt đẹp của CNXH, cũng như của các tổ chức trong hệ thống chính trị XHCN Mặt khác trong quá trình đó thì cũng phải nêu ra được những mặt yếu kém, thậm chí cả những biểu hiện tiêu cực trong các bộ phận của hệ thống chính trị XHCN Tuy nhiên khi nêu và phân tích mặt yếu kém, những tiêu cực trong đời sống xã hội, cần làm rõ để sinh viên thấy được nó không phải là một bản chất, mà chỉ là những hiện tượng của quá trình phát sinh, phát triển của một xã hội mới mà thôi Đồng thời phân tích để sinh viên thấy được Đảng ta, nhân dân ta đã nhận
Trang 18thấy và đang từng bước khắc phục những
mặt yếu kém và hạn chế này
Tóm lại, việc giáo dục niền tin cho
sinh viên qua bài giảng của các môn Lý
luận chính trị là hết sức cần thiết, nếu mỗi
giảng viên đều có ý thức giáo dục đạo
đức, niền tin cho sinh viên qua các bài
giảng của mình thì hiệu quả của nó sẽ ngày càng to lớn hơn, chúng ta không chỉ đào tạo được những con người có năng lực chuyên môn cao mà còn có cả niềm tin, lý tưởng cao đẹp, đảm bảo cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đến thắng lợi
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin dành cho sinh viên
ĐH, CĐ khối không chuyên ngành Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh 2012 NXB
Chính trị Quốc gia
[2] Tạp chí cộng sản số 849, 850, 851 2013 Cơ quan Lý luận - Chính trị TW Đảng CSVN [3] Tạp chí triết học số 6 (265), số 7 (266), số 8 (267) 2013 Viện triết học
Trang 19MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẤP BỘ MÔN NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGÀNH XÂY DỰNG TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TRUNG
ThS Phạm Ngọc Tân
Phó Trưởng Khoa Xây dựng, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
Tóm tắt: Mục tiêu của nâng cao chất lượng đào tạo ngành Xây dựng của Đại học Xây
dựng Miền Trung hiện nay phải là cung cấp cho xã hội những kỹ sư, cử nhân Xây dựng
thích ứng nhanh với các công nghệ Xây dựng mới ngày nay càng hiện đại, các doanh
nghiệp sử dụng được ngay với chi phí đào tạo lại thấp nhất Trong phạm vi bài viết này,
tác giả muốn nêu lên một số giải pháp cụ thể đối với người giảng viên, của bộ môn để
cùng với khoa Xây dựng và nhà trường thực hiện cho được mục tiêu này
Từ khóa: Nâng cao chất lượng, giảng viên, bộ môn, trách nhiệm
1 Đặt vấn đề
Hiện nay, cùng với thế giới nước ta
đang trong giai đoạn kinh tế khó khăn,
các dự án Xây dựng được thu hẹp nên nhu
cầu tuyển dụng nhân lực ngành Xây dựng
hết sức hạn chế Cộng với sự phát triển
của các trường đại học khác, ngành Xây
dựng hiện nay được rất nhiều trường đại
học trong khu vực đào tạo cho nên việc
thu hút sinh viên vào trường Đại học Xây
dựng Miền Trung là khó khăn
Muốn thu hút được sinh viên vào
trường chúng ta, chắc chắn nhà trường
phải nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo
của tất cả các ngành nghề, trong đó có
ngành Xây dựng
Nhiệm vụ của trường đại học nói
chung trong đó có Trường Đại học Xây
dựng Miền Trung là đào tạo và nghiên
cứu phát triển, chuyển giao công nghệ
ngành Xây dựng Nên trước hết phải
hiểu giảng dạy đạt chất lượng cao tức
phải cho ra sản phẩm đạt chất lượng cao,
nghĩa là sinh viên phải đạt chuẩn chất
lượng và khi ra trường đáp ứng được
ngay nhu cầu xã hội, sinh viên thích
nghi ngay với công nghệ và tiếp cận
được công việc đúng ngành nghề với thu
nhập hợp lý
Muốn như thế phải có sự phối hợp của các bên là xã hội, nhà trường, giáo viên, sinh viên và gia đình Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin đưa một số yếu tố quan trọng từ phạm vi các bộ môn thuộc khoa Xây dựng – Trường Đại học Xây dựng Miền Trung để đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng giảng dạy với trách nhiệm nghề nghiệp của các giảng viên đại học trong vai trò và sứ mệnh của mình đối với xã hội
2 Một số giải pháp 2.1 Đối với bộ môn
Phải nhìn nhận, thực trạng giảng viên của chúng ta hiện nay nhiều bộ môn vừa thiếu và còn yếu, đặc biệt là giảng viên đứng đầu bộ môn Số lượng giảng viên thiếu nên hầu hết các giảng viên có chuyên môn tốt đều phải giảng dạy nhiều, có giảng viên dạy vượt giờ nhiều lần so với kế hoạch, dẫn đến các giảng viên chưa đầu tư nhiều thời gian để nghiên cứu khoa học, hoặc thậm chí đôi lúc sự tổng hợp và so sánh thường xuyên giữa lý thuyết với thực tế về ngành nghề còn hạn chế trong phạm vi bộ môn Vì vậy, để đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của lĩnh vực xây dựng đối với sinh viên mới tốt nghiệp, chúng ta phải:
Trang 20Tuyển thêm nhiều giảng viên có học
vị cao hoặc sinh viên tốt nghiệp đại học
chính quy loại giỏi của các trường có
truyền thống về nghiên cứu khoa học
Sắp xếp cho các giảng viên trong
các bộ môn, chí ít là các trưởng bộ môn đi
tham dự các hội thảo khoa học chuyên
môn, tham dự các khóa đào tạo ngắn hạn
để chúng ta tự bồi dưỡng chuyên môn,
cập nhật kiến thức và đặc biệt là biết được
các biên giới hạn kiến thức của ngành
nghề mà các trường đại học lớn trên thế
giới và trong nước đã làm được
Các giảng viên trong cùng một
nhóm môn thuộc bộ môn phải thống nhất
để có một giáo trình nội bộ của tất cảc các
môn học, để từ đó các giảng viên trẻ có
thể nắm được khối kiến thức tổng quát,
đầy đủ của môn học
2.2 Đối với giảng viên
Mỗi giảng viên phải thể hiện được
năng lực về nội dung giảng dạy, bản thân
mỗi giảng viên phải thật sự là chuyên gia
thật sự về ngành nghề trong môn học mà
xã hội công nhận Muốn được như thế,
người giảng viên phải có kiến thức tổng
hợp lý thuyết của môn học mình đảm
trách Phải tìm hiểu cho được tường tận
nguồn gốc từng công thức trong chương
trình giảng dạy, phải học hỏi càng nhiều
càng tốt thực tế xây dựng để bài giảng
được sinh động và bớt nhàm chán, đem
lại sự thích thú, tìm tòi cho sinh viên
Giảng viên phải có năng lực sư
phạm, phải có sự truyền đạt thật sự hợp lý
cho từng nội dung của môn học Không
nên bắt chước rập khuôn một phương
pháp giảng dạy của ai, dù đó có thể là bậc
tiền bối của ngành nghề mà phải linh
động vận dụng nhưng cố gắng phải vận
dụng cho được các phương pháp giảng dạy hiện đại như nêu vấn đề, chia nhóm thảo luận, tổ chức các buổi serminar,… với sự kết hợp, vận dụng các phương tiện dạy học hiện đại như Internet, máy chiếu Projector, Nhưng muốn như thế không những giảng viên phải vững chuyên môn, cập nhật thực tế mà còn phải có kiến thức tốt về công nghệ thông tin nhất là ngành xây dựng Những ví dụ cụ thể về việc không thực hiện được khả năng này bao gồm việc sử dụng phương pháp giảng dạy hoặc đánh giá không phù hợp với các mục tiêu đã nêu của học phần (ví dụ, khi giảng dạy giảng viên chỉ ghi nhớ kiến thức trong giáo án rồi đọc chép hay chiếu chép cho xong hay đề thi kết thúc học phần chỉ bao gồm những câu hỏi đánh giá khả năng ghi nhớ dữ liệu trong khi mục tiêu chính của học phần là dạy các kỹ năng giải quyết một vấn đề nào đó), và không tạo
đủ cơ hội cho sinh viên thực hành hay học những kỹ năng nêu trong mục tiêu của học phần và sẽ được kiểm tra trong kỳ thi Giảng viên phải liên tục trau dồi, tăng cường ngoại ngữ để đáp ứng trước hết là nhu cầu hội nhập trong giáo dục trong thời gian tới, sau đó là nhu cầu bắt buộc phải đọc được các giáo trình, các bài báo nước ngoài trên mạng Internet hoặc của các trường Đại học tiên tiến trên thế giới Muốn như thế, nếu có thể các giảng viên nên học nâng cao trình độ ở bậc thạc
sỹ, tiến sỹ tập trung ở nước ngoài
Giảng viên phải đi thực tế nhiều để nắm được công nghệ, các đòi hỏi của xã hội đối với ngành nghề, đối với từng môn học, bộ môn phải thường xuyên cập nhật
đề cương môn học để đưa những kiến thức mới vào nhằm đảm bảo cho sinh viên
Trang 21tốt nghiệp đáp ứng được yêu cầu của xã
hội Tuy nhiên, chú ý rằng giảng viên phải
tôn trọng kế hoạch của nhà trường Vì
những lợi ích đối với sự phát triển của sinh
viên, giảng viên phải ý thức và tôn trọng
các mục tiêu, chính sách và tiêu chuẩn giáo
dục của bộ môn, khoa và nhà trường Điều
này có nghĩa là giảng viên phải chia sẻ
trách nhiệm tập thể, cùng làm việc vì lợi ích
của nhà trường nói chung, đề cao những
mục tiêu và tiêu chuẩn giáo dục của nhà
trường, tuân thủ những chính sách và quy
định của trường liên quan đến việc giáo dục
sinh viên Một ví dụ cụ thể về việc thể hiện
thiếu tôn trọng bộ môn, khoa và nhà trường
như giảng viên tham gia quá mức vào các
công việc sản xuất thực tế bên ngoài trường
đại học mà lơ là với những trách nhiệm
giảng dạy đại học; không nhận thức được
hoặc không tuân thủ những quy định của
nhà trường về việc cung cấp đề cương môn
học, về sắp xếp lịch giảng, lịch thi, hay có
các hành vi học thuật sai trái
Sau cùng, là người giảng viên khác
với người đi dạy, nhất thiết giảng viên
phải có tâm khai sáng cho sinh viên thật
sự, nó thể hiện qua các hành vi xử lý các
vấn đề nhạy cảm trên giảng đường Một
số vấn đề hoặc tình huống trên lớp có thể
khiến sinh viên cảm thấy khó chịu hoặc
nhạy cảm phải được xử lý một cách cởi
mở, trung thực và tích cực Điều này có
nghĩa là giảng viên cần nêu rõ cách nhìn
nhận của mình về vấn đề và so sánh quan
điểm đó với những cách tiếp cận hay cách
lý giải khác (giảng viên không nên bỏ
qua), từ đó giúp sinh viên hiểu tính phức
tạp của vấn đề và những khó khăn trong
việc đạt tới một kết luận “khách quan”
duy nhất Cuối cùng, để tạo một môi
trường cởi mở và an toàn cho thảo luận
trong lớp, giảng viên mời tất cả các sinh viên nêu quan điểm của mình về vấn đề này, nêu ra các quy định nền tảng để thảo luận, tôn trọng các sinh viên thậm chí cả khi cần phải bày tỏ ý kiến bất đồng, và khuyến khích các sinh viên tôn trọng nhau
2.3 Đối với công tác quản lý đào tạo
Công tác này phải thật sự đổi mới, công tác thi và kiểm tra sao cho thật sự công bằng và hiệu quả, hạn chế thấp nhất việc sử dụng một giáo viên coi thi nhiều trong cùng một thời gian, để các giảng viên có thời gian nghiên cứu tài liệu, tạo thói quen thường xuyên cập
nhật chuyên môn
Cuối cùng, nếu có thể bộ môn, khoa và nhà trường nên có những chế độ riêng thật sự hợp lý về khen thưởng, biểu dương các giảng viên có kết quả nghiên cứu khoa học tốt (đặc biệt thể hiện qua kết quả nghiên cứu chuyên sâu
về chuyên môn hoặc đăng các bài báo đăng trên tạp chí lớn của quốc tế hay các tạp chí trong nước có uy tín), các giảng viên mạnh dạn áp dụng đổi mới phương pháp giảng dạy cho cả môn học (đổi mới thật sự và có thẩm định)
3 Kết luận
Để đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo ngành Xây dựng trong giai đoạn hiện nay chúng ta phải có sự chuyển biến nhất định cả về cơ sở vật chất, về hệ thống quản lý, nâng cao trách nhiệm của từng giảng viên để thay đổi cách đào tạo cho sinh viên từ lĩnh hội kiến thức thụ động sang hình thức sinh viên tự đào tạo, lúc này giảng viên như là một chuyên gia đầu ngành chỉ làm công tác dẫn đường cho sinh viên Như thế thì các kiến thức mới, các công nghệ mới khi ra trường sinh viên sẽ dễ tiếp cận hơn và xã hội sẽ đễ dàng sử dụng nhân lực đó hơn
Trang 22SỰ VẬN DỤNG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT CỦA ĐẢNG TA TRONG ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ
ThS Nguyễn Thành Đạo
Khoa Lý luận Chính trị, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
Tóm tắt: Đổi mới chính trị phải đảm bảo thực hiện được độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội Việc đổi mới chính trị trở thành động lực thúc đẩy mọi hành
động tích cực của nhân dân, sao cho quần chúng nhân dân thực sự trở thành người
chủ của cách mạng tiến tới mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh
Từ khoá: Đổi mới chính trị
Việc đổi mới chính trị ở nước ta
trong thời kỳ quá độ trước hết phải xuất
phát từ tính chất xã hội của con đường
phát triển đất nước mà Đảng và nhân dân
ta đã lựa chọn, đó là định hướng xã hội
chủ nghĩa Như vậy, đổi mới chính trị là
nhằm tạo ra sự phù hợp của hệ thống
chính trị với sự lựa chọn chính trị về con
đường phát triển của đất nước Sự đổi
mới đó sẽ làm cho hệ thống chính trị ở
nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội hoạt động có hiệu quả, bảo
đảm cho sự lựa chọn con đường phát
triển của đất nước đi đến thắng lợi Đây
cũng chính là điều kiện bảo đảm nền tảng
của tư tưởng đổi mới ở nước ta là chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh, bảo đảm có tính nguyên tắc việc
vận dụng phép biện chứng giữa cơ sở hạ
tầng với kiến trúc thượng tầng trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Đổi mới chính trị ở nước ta, do đó,
xuất phát từ thực tiễn của hệ thống chính
trị đã tỏ ra yếu kém, không đáp ứng
được yêu cầu của cách mạng Những
phân tích, đánh giá một cách khách
quan, chi tiết về những yếu kém đó được
Đảng ta dựa trên cơ sở phương pháp
luận biện chứng duy vật đưa ra
Thực tiễn cách mạng đòi hỏi mà hệ thống chính trị không đáp ứng được thì phải xem lại những yếu kém trong hệ thống chính trị Vấn đề này thuộc về sự vận dụng của Đảng ta trong việc phát hiện và giải quyết mâu thuẫn Đảng ta đã: Thẳng thắn thừa nhận rằng, trước những biến động và thử thách của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, hoạt động tư tưởng và tổ chức của Đảng đã không theo kịp yêu cầu của cách mạng Trong công tác tổ chức, khuyết điểm lớn nhất là sự trì trệ, chậm đổi mới công tác cán bộ Phong cách lãnh đạo và lề lối làm việc mang nặng chủ nghĩa quan liêu, lời nói không đi đôi với việc làm Về mặt tổ chức, đã để cho bộ máy nhà nước, bộ máy của Đảng và các đoàn thể phình ra quá lớn, chồng chéo và phân tán [1, tr 27- 28]
Như vậy, để đi đến quyết định đổi mới chính trị ở nước ta, Đảng ta biết lấy biện chứng khách quan của sự vật làm điểm xuất phát, đó là đòi hỏi tất yếu của công cuộc đổi mới
Nhưng đổi mới bộ phận nào trong
hệ thống chính trị của chúng ta? Để giải đáp được câu hỏi đó phải có cái nhìn toàn diện, cụ thể trên cơ sở thực tiễn của
Trang 23hệ thống chính trị, đồng thời phải tránh
thái độ nôn nóng lẫn sự trì trệ trong quá
trình xem xét vấn đề
Chủ trương của Đảng ta về đổi mới
toàn diện hệ thống chính trị của nước ta là
quyết định duy nhất đúng đắn Quyết
định đó phản ánh đúng thực trạng cần
đổi mới của toàn bộ hệ thống chính trị
Đổi mới toàn diện hệ thống chính trị còn
bao gồm đổi mới từ tổ chức, phong cách,
lề lối làm việc nhằm làm cho các bộ
phận cấu thành hệ thống chính trị nói
riêng và toàn bộ hệ thống chính trị nói
chung hoạt động có hiệu quả, đáp ứng sự
nghiệp đổi mới đất nước
Nhưng với tư cách là hạt nhân của
hệ thống chính trị, là lực lượng lãnh đạo
hệ thống chính trị thì mỗi sự đổi mới của
Đảng đều trực tiếp chi phối đến các bộ
phận còn lại của hệ thống chính trị Hơn
nữa, với tư cách là đội tiên phong của
cách mạng, đổi mới của Đảng xét về mặt
nguyên tắc, Đảng phải tiên phong trong
việc tự đổi mới, chỉnh đốn mình, làm cơ
sở cho Đảng lãnh đạo đổi mới nhà nước
và các tổ chức chính trị - xã hội
Đổi mới chính trị ở nước ta không
phải chỉ dừng lại ở chỗ để hệ thống
chính trị vận hành tốt hơn, mà mục đích
cao cả của nó được quy định bởi lý
tưởng của Đảng ta là vì hạnh phúc của
nhân dân Vì vậy, đổi mới chính trị ở
nước ta phải làm thế nào để một là, nhân
dân tự giác tham gia hoạt động đó
"Chính trị phải là việc của nhân dân" [2,
tr 482] Cũng bởi vì: "Chính trị là vận
mệnh thực tế của hàng triệu con người"
[3, tr 150] Hai là, để nhân dân thực sự
phát huy quyền dân chủ của mình, trở
thành người chủ của mọi quá trình xã
hội Điều đó chỉ có thể thực hiện được bởi sự lãnh đạo của Đảng
Đổi mới chính trị ở nước ta, do
đó, then chốt là đổi mới, chỉnh đốn về phương thức tổ chức và hoạt động của Đảng nhằm làm cho Đảng đáp ứng được vai trò lãnh đạo của sự nghiệp đổi mới đất nước, tăng cường hiệu lực nhà nước, phát huy quyền dân chủ và làm chủ của nhân dân, từng bước xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, coi đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực của chủ nghĩa xã hội
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta hiện nay, hệ thống chính trị bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội khác của nhân dân
Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hệ thống chính trị
đó có chức năng cơ bản là thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, từng bước hình thành và hoàn thiện dân chủ xã hội chủ nghĩa mà nội dung cơ bản của nó là:
Toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng
Để đổi mới chính trị, Đảng ta đã quán triệt những quan điểm mácxít, tập trung ở những điểm sau đây:
Phải nắm vững tính chất giai cấp công nhân của chế độ chính trị, của nhà nước và hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Do đó, phải giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội nói chung và đối với hệ thống chính trị nói riêng
Trang 24Đổi mới chính trị, do đó phải làm
thế nào để có một hệ thống chính trị phát
triển, phù hợp với yêu cầu của đổi mới
và trở thành động lực quan trọng của sự
phát triển đất nước, không giáo điều,
không xơ cứng, trì trệ và bảo thủ Cũng
do đó, đổi mới chính trị của nước ta phải
thể hiện được tinh thần của Lênin về vấn
đề này, tập trung ở chỗ:
- Chính trị là biểu hiện tập trung
của kinh tế;
- Chính trị do kinh tế quyết định,
nhưng đồng thời chính trị không thể
không giữ vị trí hàng đầu, là phương
hướng dẫn dắt kinh tế;
- Chính trị là số phận của hàng
triệu quần chúng, là sự nghiệp do chính
quần chúng xây dựng và thực hiện dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Đối với nước ta hiện nay, đổi mới
chính trị phải đi đôi với bảo vệ và phát
triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, kiên định con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Đổi mới chính trị ở nước ta, thực
chất là làm thế nào để quyền lực nhà
nước thực sự thuộc về nhân dân dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Muốn vậy, phải có cơ chế, chính sách để
nhân dân tham gia vào công việc tổ
chức, quản lý các công việc của nhà
nước, làm cho quyền lực của nhân dân
được thực hiện thông qua nhà nước và
thông qua các tổ chức chính trị - xã hội
của họ
Đổi mới và tăng cường hệ thống
chính trị phải được diễn ra trên cơ sở
hiện thực của kinh tế và sự phát triển
văn hóa mà cơ sở của nó là dân trí được
nâng lên không ngừng để nhân dân tự
giác tham gia vào đời sống chính trị Đó
là căn cứ lý luận, phương pháp luận của vấn đề đổi mới chính trị và hệ thống chính trị ở nước ta Đồng thời, việc đổi mới mô hình, cơ chế, chính sách và phương thức quản lý kinh tế đòi hỏi sự đổi mới phù hợp của hệ thống chính trị
Yêu cầu nổi lên hàng đầu, trước mắt cũng như lâu dài là đổi mới, giữ
vững ổn định chính trị để phát triển, để thực hiện các mục tiêu của đổi mới, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng và nâng
cao hiệu lực quản lý của nhà nước, mở rộng và củng cố vững chắc cơ sở xã hội của chính trị là quần chúng nhân dân
Khái quát lại, thực chất của đổi mới chính trị ở nước ta là xây dựng và phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng nhưng nền dân chủ không ngừng được tăng cường, mở rộng Vì vậy, triển khai công việc hệ trọng này, Đảng ta khẳng định vừa phải khắc phục bệnh tập trung quan liêu, vừa phải chống dân chủ cực đoan
và vô chính phủ
Quán triệt những quan điểm xuất phát trên đây, phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ của đổi mới kinh tế, những nội dung chủ yếu của đổi mới chính trị được Đảng ta xác định là:
- Một là, xử lý đúng đắn mối quan
hệ giữa kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa là một vấn đề lý
luận và thực tiễn rất to lớn, phức tạp, trong đó còn nhiều vấn đề rất mới mẻ so với trình độ nhận thức và kinh nghiệm của chúng ta, nó đòi hỏi phải thường xuyên nghiên cứu và theo dõi sự vận động của thực tiễn để có những tổng kết nghiêm túc
về mặt khoa học, kịp thời điều chỉnh
Trang 25kinh tế - xã hội đúng theo quy luật khách
quan của sự phát triển Do đó, muốn
đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của
Đảng, muốn giữ vững định hướng xã hội
chủ nghĩa và không phạm vào sai lầm về
chính trị thì xây dựng Đảng trong sạch
và vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ
chức, làm cho Đảng ngang tầm với
những yêu cầu mới, nhiệm vụ mới là yêu
cầu hàng đầu, là điều kiện có tính tiên
quyết, có tính nguyên tắc của đổi mới
chính trị ở nước ta
- Hai là, với tư cách là bộ máy
công quyền - nhà nước của dân, do dân
và vì dân, nhà nước là một công cụ quan
trọng nhất đại diện cho quyền lợi của
nhân dân thì việc đổi mới, tăng cường
vai trò quản lý và nâng cao hiệu lực
quản lý của nhà nước, trên cơ sở bảo
đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà
nước, làm cho những quan điểm và
đường lối đổi mới của Đảng được thể
chế hóa và cụ thể hóa thành pháp luật,
chính sách và cơ chế được thực hiện
đúng đắn trong cuộc sống là đòi hỏi hết
sức cấp bách Do đó phép biện chứng về
đổi mới tổ chức bộ máy, phương pháp
và phong cách lãnh đạo của Đảng không
thể tách rời việc đổi mới, xây dựng và
củng cố bộ máy nhà nước pháp quyền và
quản lý nhà nước bằng pháp luật và theo pháp luật Những yêu cầu đó nhằm làm cho hoạt động của các cơ quan nhà nước các cấp có thể đạt được những bước tiến quyết định theo hướng phát huy quyền dân chủ của nhân dân, tăng cường kỷ cương và nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng, đồng thời với việc đổi mới chính bản thân mình, Đảng phải lãnh đạo đổi mới hoạt động của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội khác của nhân dân, bảo đảm tính toàn diện của đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta, phản ánh biện chứng khách quan của hiện thực Từ thực tiễn đổi mới mười lăm năm qua, có thể rút ra kết luận rằng: Đảng ta, do sự vận dụng sáng tạo phép biện chứng duy vật vào lãnh đạo đổi mới chính trị, do vậy, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý kinh
tế - xã hội của Nhà nước được tăng cường, vai trò năng động, sáng tạo của các đoàn thể chính trị - xã hội của quần chúng được phát huy rõ rệt Đồng thời, vai trò làm chủ Nhà nước của nhân dân cũng như dân chủ xã hội ngày càng được
mở rộng và tăng cường Đó là những động lực mạnh mẽ giữ vai trò quyết định nhất thúc đẩy công cuộc đổi mới tiến lên
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam.1987 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI,
NXB Sự thật, Hà Nội
[2] V.I Lênin Toàn tập, tập 40 1977 NXB Tiến bộ, Mátxcơva
[3] V.I Lênin Toàn tập, tập 41 1977 NXB Tiến bộ, Mátxcơva
Trang 26BẢN CHẤT CỦA KHOA HỌC THEO QUAN ĐIỂM MÁC XÍT
ThS Nguyễn Thị Hoa Kiều
Khoa Lý luận Chính trị, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
Tóm tắt: Trong suốt tiến trình phát triển lịch sử tư tưởng nhân loại, bản chất khoa
học theo quan điểm Mác-xít luôn là đối tượng nghiên cứu của khoa học trong quá
trình xây dựng quan điểm, đường lối, chính sách và chủ trương trong sự nghiệp xây
dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Từ khóa: Hệ thống các quan điểm Mác xít về bản chất của khoa học
Khoa học là hệ thống tri thức được
tích luỹ trong quá trình lịch sử và được
thực tiễn chứng minh, phản ánh những
quy luật khách quan của thế giới bên
ngoài cũng như những hoạt động tinh thần
của con người, giúp con người có khả
năng cải tạo thế giới hiện thực Nói một
cách khác, khoa học là một hệ thống tri
thức bao gồm những quy luật về tự nhiên,
xã hội và tư duy, là kết quả của quá trình
con người nhận thức và cải tạo thế giới,
nó được thể hiện bằng những khái niệm,
những quy luật, phạm trù, phán đoán hoặc
những học thuyết,…
Lịch sử phát triển khoa học nhân
loại cho đến nay đã trải qua 5 cuộc cách
mạng lớn:
- Cuộc cách mạng lần thứ nhất diễn
ra vào khoảng 500.000 - 3000 năm TCN
với việc phát minh ra lửa của những
người vô danh
- Cuộc cách mạng lần thứ hai diễn
ra vào khoảng 3000 TCN - 500 năm SCN
với việc phát minh ra kim loại (đồ sắt và
đồ đồng)
- Cuộc cách mạng lần thứ ba diễn ra
vào khoảng thế kỷ XVII, XVIII với việc
phát minh ra động cơ chạy bằng sức gió,
sức nước
- Cuộc cách mạng lần thứ tư diễn ra
vào khoảng thế kỷ XVII, XIX với việc
phát minh ra máy hơi nước, sản xuất thép
và xi măng, sinh lực Paster (sự sống) và đồng hồ bấm giây đo giờ Từ cuộc cách mạng này công trường thủ công đã chuyển mạnh sang nền đại cơ khí
- Cuộc cách mạng lần thứ năm diễn
ra từ giữa thế kỷ XX cho đến nay, đó là cuọc cách mạng khoa học - công nghệ, tạo
ra những bước ngoặt lớn về năng lượng, vật liệu, sinh học, thời gian,
Nhận thức của loài người phân chia thế giới thành những lĩnh vực khác nhau (tự nhiên, xã hội và tư duy) Căn cứ vào tính chất của từng lĩnh vực đã hình thành nên các lĩnh vực khoa học với những đặc trưng riêng, biểu hiện, chức năng, nhiệm
vụ đối với đối tượng nghiên cứu Lịch sử phát triển khoa học nhân loại đã chia khoa học thành 3 lĩnh vực:
- Lĩnh vực khoa học tự nhiên: phát
hiện những quy luật về giới tự nhiên, đồng thời xây dựng những cơ sở lý thuyết để phát triển sản xuất Ở Phương Tây, khoa học tự nhiên xuất hiện từ thời
kỳ cổ đại, và nó trở thành khoa học hiện đại khi Phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa xuất hiện Mới đầu là sự hình thành các vật thể thiên văn, rồi đến vật lý, hoá học, sinh vật học, Nhưng các khoa học
tự nhiên vào những giai đoạn nhất định chỉ được xem xét một cách rời rạc cho nên đã trở thành nguyên nhân cho sự xuất hiện của siêu hình học Tuy nhiên, đến
Trang 27thế kỷ XVIII, XIX tư tưởng về sự thống
nhất của giới tự nhiên và về thuyết tiến
hoá dần dần hình thành, đặc biệt với việc
tìm ra tế bào hữu cơ, quy luật bảo toàn và
chuyển hoá năng lượng, học thuyết tiến
hoá đã tạo ra những tiền đề mang tính
khoa học sát thực cho việc hình thành
chủ nghãi duy vật biện chứng, và do đó,
siêu hình học mất dần chỗ đứng
- Lĩnh vực khoa học xã hội: được
hình thành lần đầu tiên dưới chế độ Tư
bản chủ nghĩa do Đin-Tây (Dilthey -
người Đức) và Ô-guýt-com-tơ (A.Comte
- người Pháp) sáng lập Tuy nhiên, khoa
học xã hội do những nhà khoa học này
sáng lập chỉ gắn với lợi ích và cơ sở
kinh tế của giai cấp tư sản Khoa học xã
hội chân chính được Mác - Ăngghen
sáng lập vào thế kỷ XIX, đó là khoa học
hoàn toàn duy vật về lịch sử, về quy luật
phát triển của xã hội
- Lĩnh vực khoa học có tính kỹ
thuật: gắn liền với khoa học kỹ thuật
hiện đang phát triển: Nghiên cứu quy
luật của kỹ thuật và công nghệ, khả năng
áp dụng vào sản xuất, hợp nhất khoa học
tự nhiên và khoa học xã hội để tạo ra
một chất lượng mới
Tuy nhiên, việc phần loại các khoa
học nói trên chỉ có tính tương đối bởi vì,
trên thực tế có những môn khoa học có
thể xếp vào khoa học tự nhiên hay khoa
học xã hội đều được (Y học, tâm lý
học, ) Đặc biệt là những khoa học có
cấu trúc rất chung (như điều khiển học)
không thuộc vào loại nào nhưng vẫn áp
dụng cho cả ba loại Triết học là khoa
học nghiên cứu những quy luật chung
nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy Dù
khoa học có được phân chia như thế nào
thì mỗi một khoa học đều phải bảo đảm các yếu tố như:
- Tri thức kinh nghiệm, là những sự
việc, sự kiện và sự mô tả dựa trên kinh nghiệm, nhận xét thí nghiệm,
- Tri thức lý luận, là những phán
đoán dựa trên các giả thuyết, quy luật
- Phương pháp và cách thức xử lý thông tin, bao gồm phương pháp luận là
phép biện chứng duy vật và những phương pháp nghiên cứu chuyên biệt, những kỹ thuật nghiên cứu
- Những giả thuyết và kết luận triết học, là kết quả tổng hợp được tạo ra trong quá trình nghiên cứu Đó là nội dung chủ yếu những tri thức khoa học được hệ thống và khái quát hoá, được xây dựng thành lôgíc khoa học và được thể hiện trong công trình nghiên cứu bằng phương pháp trình bày, ngôn ngữ
và văn phong khoa học Những kết luận triết học của khoa học bao giờ cũng có vai trò, vị trí quan trọng trong sự phát triển của khoa học, của chính bản thân triết học nói riêng và xã hội nói chung Đây chính là sự kết tinh những giá trị tinh tuý nhất được rút ra từ quá trình nghiên cứu, nó phản ánh trình độ tư tưởng khoa học Vì vậy, mọi khoa học trên bước đường phát triển của mình cần phải thấm nhuần tinh thần và phương pháp triết học, không được lẫn tránh những vấn đề của triết học (về bản thể luận và nhận thức luận) Tùy thuộc vào đặc trưng, tính chất của các khoa học khác nhau mà nó được khái quát hoá, trừu tượng hoá và cụ thể hoá Độ sâu sắc
và tính triệt để của khoa học được thể hiện trong những bình luận và những kết luận của triết học, song chính những kết
Trang 28luận triết học sẽ trở thành nguồn cung
cấp thế giới quan và phương pháp luận
cho các khoa học Nhờ vào sự trang bị
này của triết học, các khoa học đã nâng
mình lên một tầm cao mới, tầm cao của
triết học Viện sĩ F.Lô-rốp tại Hội nghị
triết học thế giới lần thứ 18 (tổ chức tại
Anh) đã khẳng định rằng: “Triết học
không bao giờ mất đi vị thế xã hội của
nó Xã hội càng tiến sâu vào các quá
trình phát triển bao nhiêu càng cần đến
sự có mặt của những tư tưởng triết học
bấy nhiêu Không phải giờ phút cáo
chung của triết học đã điểm, trái lại,
chính lúc này, trước những bước ngoặt
lớn của lịch sử và của khoa học triết học
mới đang thực sự bắt đầu giờ “sáng
sao” của nó” [1]
Khoa học vốn là sản phẩm của tư
duy cải biến hiện thực, nhưng nếu không
thông qua hoạt động của con người mà
chỉ tự bản thân nó thôi thì không thể tạo
nên sự biến đổi trong đời sống xã hội,
như Mác nói, “khoa học không thể biến
thành cái gì cả, không thể sinh ra tác
động tích cực hay tiêu cực” Khoa học
chính là một biểu tượng về sức mạnh của
trí tuệ con người Nhờ vào tính năng của
khoa học, con người từng bước khám phá
giới tự nhiên và xã hội, trong đó, con
người từng bước lần tìm ra quy luật vận
động của chúng và đưa ra phương cách
hành động thích hợp nhất Hơn thế nữa,
nhờ vào khoa học, con người khám phá
ra chính quy luật tồn tại, vận động của
chính bản thân mình, coi mình là đối
tượng của sự nghiên cứu để từ đó tạo ra
một hệ thống những tri thức, những
hiểu biết về loài người Với sự sáng
suốt của lý trí, khoa học không chỉ cung
cấp nhận thức và thúc đẩy hành động của con người trong việc cải tạo tự nhiên đúng quy luật mà còn đưa con
người từng bước vươn đến tự do Với ý
nghĩa đó, khoa học là sản phẩm biểu hiện sự khôn ngoan của trí tuệ con
người, nó được xem là nguồn “tài nguyên đặc biệt” và vô tận của xã hội
loài người
Sự gia tăng hàm lượng trí tuệ của khoa học tương ứng với sự phát triển của thực tiễn, yêu cầu: “Khoa học phải biến thành công nghệ để phục vụ sản xuất phát triển kinh tế Nghiên cứu phải dẫn tới ứng dụng và triển khai công nghệ, công nghệ chỉ thật sự là công nghệ khi nền tảng lý thuyết khoa học của nó thực sự vững chãi Và, ứng dụng chỉ thực sự có kết quả, đảm bảo chất lượng
ở độ tin cậy khi những nhiệm vụ, mục tiêu của nghiên cứu lý thuyết đã thực sự được giải quyết một cách thấu triệt, nghiêm túc” [2]
Phép biện chứng duy vật là tinh hoa của trí tuệ nhân loại được Mác - Ăngghen đúc kết và Lênin phát triển trên cơ sở những thành tựu của triết học, của khoa học hiện đại và thực tiễn lịch
sử nhân loại Những khái niệm, những phạm trù, nguyên lý, quy luật và những phương pháp cơ bản của nó mang tính phổ quát Chúng bao quát, tác động, chi phối giới tự nhiên, xã hội và tư duy con người ở mọi nơi trong mọi giai đoạn lịch
sử Chính vì vậy, Phép biện chứng duy vật đã trở thành thế giới quan và phương pháp luận cho hoạt động của nhận thức
và hoạt động thực tiễn của con người
Cùng với chủ nghĩa duy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch sử là một
Trang 29phát kiến khoa học vĩ đại của Mác ghi
đậm dấu ấn cách mạng về khoa học của
nhân loại Theo Ăngghen, đối với Mác,
khoa học là một động lực lịch sử, một lực
lượng cách mạng Nói về bản chất koa
học và vai trò của nó Mác cho rằng, “tư
bản có tính chất sản xuất và lực lượng
sản xuất xã hội chung (như khoa học
chẳng hạn)” Rõ ràng, Mác đã đề cao vai
trò của khoa học trong lịch sử phát triển
của xã hội loài người Trong tác phẩm
“Gia đình thần thánh” Mác đã từng
bước làm rõ vai trò của tư tưởng, của lý
luận khoa học Mác khẳng định: “Tư
tưởng căn bản không thể trở thành cái gì
hết Muốn sử dụng tư tưởng thì cần có
những con người sử dụng lực lượng thực
tiễn” (theo Mác, ở đây là tư tưởng khoa
học) Theo đó, tự bản thân khoa học
không thể tạo ra bất kỳ một tác động nào,
mà phải thông qua sự vận dụng và hoạt
động thực tiễn của con người thì nó mới
phát huy tác dụng
Triết học Mác ra đời với những nội dung
tiến bộ là một cuộc cách mạng về khoa
học lý luận của nhân loại Nó không chỉ
là sự kế thừa những thành tựu khoa học,
triết học trước đó của nhân loại mà còn là
sự khái quát kinh nghiệm thực tiễn của
xã hội loài người, nhất là thực tiễn cách
mạng xã hội Không ai khác, chính Mác
đã đưa phạm trù thực tiễn vào triết học,
coi đó là cơ sở, động lực, mục đích của
nhận thức và là tiêu chuẩn khách quan để
kiểm nghiệm tính đúng đắn của chân lý
Vì vậy, sự thống nhất giữa lý luận và
thực tiễn trở thành nguyên tắc nền tảng
của triết học Mác, và sự thống nhất đó
được biểu hiện trên cả hai phương diện
không gian và thời gian:
Về mặt thời gian, triết học Mác luôn thể hiện mình trong những giai đoạn lịch sử khác nhau của sự phát triển khoa học và công nghệ, thực tiễn sản xuất, phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế qua các cuộc cách mạng Trong toàn
bộ quá trình hoạt động thực tiễn, triết học Mác luôn giữ vai trò định hướng thế giới quan và phương pháp luận cho hoạt động của con người đồng thời được chính lịch
sử “phản biện”, kiểm nghiệm và làm phong phú bằng chính hơi thở của thời đại Ăngghen đã nhấn mạnh rằng lý luận của ông và Mác không phải là giáo điều,
mà là lý luận mở và là kim chỉ nam cho mọi hành động
Về mặt không gian, đó chính là tính sáng tạo và tính thích nghi của triết học Mác khi được vận dụng vào thực tiễn cách mạng ở các dân tộc, các quốc gia khác nhau Về điều này Lênin đã chỉ rõ
“Chúng ta tuyệt đối không coi lý luận của Mác là một cái gì đó nhất thành bất biến
và không thể xâm phạm, mà trái lại chúng ta tin rằng nó chỉ đặt cơ sở cho một khoa học, và những người xã hội chủ nghĩa, nếu không muốn lạc hậu với đời sống thực tế, cần đẩy môn khoa học này tiến lên phía trước trên mọi phương diện”
Trong xã hội hiện đại ngày nay, triết học Mác ngày càng có vai trò to lớn trong việc cải tạo hiện thực, hệ thống triết học Mác cần phải được mở rộng và thường xuyên bổ sung, phát triển những nội dung mới từ quá trình cải tạo tự nhiên
- xã hội Quả thật, triết học Mác đã và đang thể hiện được vai trò đó bởi vì: Nó luôn hướng về thực tiễn - xã hội và lịch
Trang 30sử, hướng về thời đại, về tương lai; Nó
bác bỏ chủ nghĩa bè phái và luôn tỏ rõ
thái độ đúng đắn với mọi triết học phi
Mác-xít; Với tư cách là Phép biện chứng
duy vật, nó luôn có khả năng tự điểu
chỉnh, tự đổi mới và phát triển Cả Mác
- Ăngghen và Lênin đều khẳng định,
không có một học thuyết nào đạt tới
chân lý tuyệt đích, và triết học Mác
cũng không ngoại lệ
Vấn đề được đặt ra với triết học
Mác trong xã hội hiện đại là:
Thứ nhất, nhận thức cuộc cách
mạng khoa học, công nghệ hiện đại và
những thành tựu của nó, tìm ra bản chất
đích thực của cuộc cách mạng này, xem
xét quy luật phát triển và dự bào tương
lai của nó
Thứ hai, nhận thức quá trình toàn
cầu hoá để trên cơ sở đó đánh giá hiệu
quả tác động của nó đối đời sống con
người và mọi lĩnh vực khác của đời
sống xã hội, bổ sung những yếu tố
những yếu tố cần thiết cho chủ nghĩa
duy vật lịch sử
Thứ ba, nhận thức Chủ nghĩa tư
bản hiện đại, nhất là chủ nghĩa tư bản
toàn cầu hoá
Thứ tư, nhận thức sự khủng hoảng
của chủ nghĩa tư bản hiện thức, nhận
thức phong trào công nhân quốc tế, “ba dòng thác cách mạng” trên thế giới và dự
báo về các phong trào cách mạng này
Thứ năm, phân tích những vấn đề
triết học mới nảy sinh
Thứ sáu, phân tích các trào lưu
triết học phương Tây hiện đại, những vấn đề lý luận và cuộc sống hiện nay, tiến hành đấu tranh chống mọi quan điểm thù địch, bảo vệ bản chất khoa học và cách mạng của triết học Mác, góp phẩn thúc đẩy khoa học và thực tiễn phát triển
Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là lý thuyết khoa học có vai trò to lớn trong việc cung cấp những luận cứ cho việc xây dựng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Nội dung của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh luôn được xác định là cơ
sở khoa học để làm sáng tỏ các vấn đề thuộc của Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội Chính chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh với bản chất khoa học và cách
là nền tảng khoa học hiện đại, phục vụ trực tiếp đường lối chính trị, hoạch định chiến lược phát triển xã hội
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Giá trị pháp lý của Tuyên ngôn độc lập, http://www.cpv.org.vn/
[2] Phạm Khiêm Ích, Hoàng Văn Hảo (chủ biên) 1995 Quyền con người trong thế giới hiện đại, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội
[3] Dẫn theo Hoàng Chí Bảo 2006 Xây dựng cơ chế dân chủ trong nghiên cứu khoa học xã hội - nhân văn ở nước ta hiện nay, NXB CTQG, HN, tr.36.
[4] Mác - Ăngghen Tuyển tập, Tập 5, NXB ST, HN, 1983, tr.241-242.
[5] Hữu Ngọc, Dương Phú Hiệp, Lê Hữu Tầng 1987 Từ điển triết học giản yếu, NXB
THCN, HN, tr.231
Trang 31VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ
TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
ThS Võ Xuân Hội
Khoa Lý luận Chính Trị, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
Tóm tắt: Giới thiệu sơ lược lịch sử ra đời của giá trị thặng dư, sự cần thiết phải vận
dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư trong thời kỳ quá độ lên xã hội chủ
nghĩa ở nước ta hiện nay
Từ khóa: Giá trị thặng dư, quy luật sản xuất, học thuyết, vận dụng các phương pháp
sản xuất
1 Sơ lược quá trình ra đời của giá trị
thặng dư, sự cần thiết phải vận dụng
các phương pháp sản xuất giá trị
thặng dư trong quá trình xây dựng
chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam
hiện nay
Trong giai đoạn đầu của chế độ
Cộng sản nguyên thủy, năng suất lao
động rất thấp, chưa có sản phẩm thặng
dư Đến cuối chế độ Cộng sản nguyên
thủy và đầu chế độ Chiếm hữu nô lệ, khi
sức sản xuất của lao động tăng lên trong
các ngành chăn nuôi gia súc, trồng trọt,
thủ công nghiệp gia đình, thì khi đó con
người có khả năng sản xuất được nhiều
sản phẩm hơn số sản phẩm cần thiết cho
sự duy trì sức lao động của họ, nghĩa là
xuất hiện sản phẩm thặng dư
Lịch sử phát triển của nền sản xuất
xã hội đã và đang trải qua hai kiểu tổ
chức kinh tế khác nhau, đó là sản xuất tự
cấp tự túc và sản xuất hàng hóa Trong
kinh tế tự cấp tự túc, sản phẩm làm ra
không được trao đổi mua bán nên không
mang hình thái giá trị, do đó sản phẩm
thặng dư chỉ biểu hiện dưới hình thái
hiện vật Khi kinh tế hàng hóa phát triển
thì sản phẩm thặng dư mang hình thái
hàng hóa, cũng có hai thuộc tính giá trị
sử dụng và giá trị Giá trị của sản phẩm
thặng dư là giá trị thặng dư (giá trị mới
dôi ra ngoài hao phí sức lao động do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không; hoặc giá trị thặng dư
là một bộ phận giá trị mới do lao động của người công nhân làm thuê tạo ra ngoài giá trị sức lao động, là kết quả lao động không công của người công nhân
bị nhà tư bản chiếm đoạt)
Ngày lao động của người lao động được chia làm hai phần, phần thứ nhất là thời gian lao động cần thiết (tất yếu), sản xuất ra sản phẩm cần thiết để tái sản xuất
ra sức lao động của người công nhân Phần ngày lao động thứ hai là thời gian lao động thặng dư, sản xuất ra sản phẩm thặng dư cho xã hội, đây là cơ sở của sự tích lũy, là nguồn gốc của sự giàu có Trong chủ nghĩa tư bản (CNTB), thời gian lao động thặng dư tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản
Ở nước ta, trước đây, do đối lập một cách máy móc CNXH với CNTB đã hình thành quan điểm sai lầm cho rằng: CNXH, thậm chí trong thời kỳ quá độ lên CNXH không có kinh tế hàng hóa, không
có kinh tế thị trường Do đó, không có các phạm trù giá trị và giá trị thặng dư
Ngày nay, trải qua thực tiễn, chúng ta đã nhận thức rõ: sản xuất hàng hóa không đối lập với CNXH, mà là thành tựu phát triển chung của nền văn
Trang 32minh nhân loại, sản xuất hàng hóa tồn
tại khách quan và cần thiết cho công
cuộc xây dựng CNXH và cả khi CNXH
đã được xây dựng Lênin viết: “Tri thức
về CNTB thì chúng ta có, nhưng chúng
ta chưa có tri thức về tổ chức với quy
mô hàng triệu người, chưa có tri thức về
tổ chức và phân phối sản phẩm,…”,
“cho nên chúng ta nói, dù hắn là tên đại
bịp bợm, nhưng một khi chúng đã tổ
chức ra được Tơ-Rớt, khi hắn là một
thương nhân đã từng làm công việc tổ
chức sản xuất và phân phối cho hàng
triệu và hàng chục triệu người, một khi
hắn có kinh nghiệm thì chúng ta phải
học ở hắn”
Như vậy, trong thời kỳ quá độ lên
CNXH ở nước ta hiện nay, chúng ta
cần vận dụng một cách linh hoạt và
hợp lý những thành tựu mà CNTB đã
đạt được, cần thiết phải phát triển kinh
tế hàng hóa, phát triển nền kinh tế thị
trường, thừa nhận sự tồn tại của nhiều
hình thức sở hữu, nhiều thành phần
kinh tế, nhiều loại hình doanh nghiệp,
nhiều hình thức tổ chức sản xuất - kinh
doanh, thừa nhận sự bóc lột, thừa nhận
phạm trù giá trị thặng dư Chúng ta cần
thiết phải sử các phương pháp sản xuất
giá trị thặng dư - cách thức mà các nhà
tư bản, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
(TBCN) đạt đến sự giàu có vào điều
kiện cụ thể của đất nước, nhằm xây
dựng một nước Việt Nam XHCN “dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh”
2 Phương pháp sản xuất giá trị thặng
dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng
dư tương đối
Mục đích của nền sản xuất TBCN
là sản xuất ra giá trị thặng dư và giá
thặng dư tối đa, các nhà tư bản luôn tìm
mọi cách để đạt được lợi nhuận lớn nhất thông qua việc tăng cường áp dụng các phương tiện kỹ thuật và quản lý như tăng cường độ lao động, kéo dài ngày lao động, tăng năng suất lao động, áp dụng cộng nghệ hiện đại vào hoạt động sản xuất - kinh doanh - quản lý, mở rộng sản xuất,… để bóc lột càng nhiều lao động làm thuê Có hai phương pháp để đạt được mục đích đó là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Phương pháp sản xuất giá trị thặng
dư tuyệt đối: đây là phương pháp được sử
dụng chủ yếu trong giai đoạn đầu phát triển của sản xuất tư bản chủ nghĩa, thời
kỳ hiệp tác lao động giản đơn và thời kỳ công trường thủ công, khi trình độ kỹ thuật còn thấp, lao động thủ công, thô sơ thì phương pháp chủ yếu để tăng giá trị thặng dư là kéo dài ngày lao động của công nhân làm thuê
Phương pháp sản xuất giá trị thặng
dư tuyệt đối được thực hiện bằng cách kéo dài ngày lao động (hay tăng cường
độ lao động) trong khi năng suất lao động không đổi, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không đổi, nhờ đó kéo dài thời gian lao động thặng
dư (tỷ suất giá trị thặng dư tăng lên)
Ngày nay, các nhà tư bản luôn tìm mọi cách để kéo dài ngày lao động, nhưng ngày lao động có những giới hạn nhất định Giới hạn trên của ngày lao động (tối đa 24h/ngày) do thể chất và tinh thần của người lao động quyết định
Vì người công nhân cần phải có thời gian
ăn, ngủ, nghỉ ngơi, giải trí để phục hồi sức khoẻ Ngoài ra, việc kéo dài ngày lao động còn vấp phải sự phản kháng của giai cấp công nhân Còn giới hạn dưới của ngày lao động không thể bằng thời
Trang 33gian lao động tất yếu, tức thời gian lao
động thặng dư bằng không, điều này có
nghĩa là nhà tư bản đầu tư nhưng không
thu được bất kỳ một đồng lợi nhuận nào
thì chắc chắn họ sẽ không đầu tư vì mục
đích của họ là lợi nhuận Như vậy, về
mặt kinh tế, ngày lao động phải dài hơn
thời gian lao động tất yếu, nhưng không
thể vượt quá giới hạn về thể chất và tinh
thần của người lao động Độ dài của ngày
lao động là đại lượng không cố định và
có nhiều mức khác nhau Độ dài cụ thể
của ngày lao động do cuộc đấu tranh giữa
giai cấp công nhân và giai cấp tư sản trên
cơ sở tương quan lực lượng quyết định
Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân
đòi ngày lao động tiêu chuẩn, ngày làm 8
giờ đã kéo dài hàng thế kỷ
Khi sản xuất TBCN phát triển đến
giai đoạn đại công nghiệp cơ khí, kỹ
thuật đã tiến bộ làm cho năng suất lao
động tăng lên nhanh chóng, thì các nhà
tư bản thấy rằng việc sử dụng phương
pháp này không còn phù hợp nữa và
chuyển sang phương thức bóc lột tinh vi
hơn dựa trên cơ sở tăng năng suất lao
động, đó là bóc lột giá trị thặng dư
tương đối
Phương pháp sản xuất giá trị thặng
dư tương đối:
Phương pháp sản xuất giá trị thăng
dư tương đối được thực hiện bằng cách
rút ngắn thời gian lao động tất yếu trên
cơ sở tăng năng suất lao động xã hội,
làm cho giá trị hàng hóa sức lao động
giảm xuống, trong khi độ dài ngày lao
động không đổi và thời gian lao động
thặng dư tăng lên tương ứng
Chẳng hạn: Giả sử độ dài ngày lao
động là 8 giờ và nó được chia thành 4
giờ là thời gian lao động tất yếu (t) và 4
giờ là thời gian lao động thặng dư (t’),
được biểu diễn như sau:
Tỷ suất giá trị thặng dư lúc này là:
m’ = t’/t*100% = 4/4*100% = 100%
Giả định rằng ngày lao động không thay đổi, nhưng bây giờ công nhân chỉ cần 3 giờ lao động đã tạo ra được một lượng giá trị mới bằng với giá trị sức lao động của mình Khi đó, tỷ lệ phân chia ngày lao động sẽ thay đổi: 3 giờ là thời gian lao động tất yếu và 5 giờ là thời gian lao động thặng dư
Do đó, bây giờ tỷ suất giá trị thặng
dư sẽ là: m’ = 5/3*100% = 166,7 % Kết quả, tỷ suất giá trị thặng dư đã tăng từ 100% lên 166,7%
Như vậy, làm thế nào để có thể rút ngắn được thời gian lao động tất yếu? Thời gian lao động tất yếu có quan hệ với giá trị sức lao động Muốn rút ngắn thời gian lao động tất yếu phải giảm giá trị sức lao động Muốn hạ thấp giá trị sức lao động phải giảm giá trị những tư liệu sinh hoạt thuộc phạm vi tiêu dùng của công nhân Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng cách tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt thuộc phạm vi tiêu dùng của công nhân hay tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt đó
Nếu trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là phương pháp chủ yếu, thì đến giai đoạn tiếp sau, khi kỹ thuật phát triển,
h
Trang 34sản xuất giá trị thặng dư tương đối là
phương pháp chủ yếu Lịch sử phát triển
của lực lượng sản xuất và của năng suất
lao động xã hội dưới chủ nghĩa tư bản đã
trải qua ba giai đoạn: hiệp tác lao động
giản đơn, công trường thủ công và đại
công nghiệp cơ khí, đó cũng là quá trình
nâng cao trình độ bóc lột giá trị thặng dư
tương đối
Hai phương pháp sản xuất giá trị
thặng dư nói trên được các nhà tư bản sử
dụng kết hợp với nhau để nâng cao trình
độ bóc lột công nhân làm thuê trong quá
trình phát triển của CNTB Dưới CNTB,
việc áp dụng máy móc không phải là để
giảm nhẹ cường độ lao động của công
nhân, mà trái lại tạo điều kiện để tăng
cường độ lao động Ngày nay, việc tự
động hoá sản xuất làm cho cường độ lao
động tăng lên, nhưng dưới hình thức mới,
sự căng thẳng của thần kinh thay thế cho
cường độ lao động cơ bắp
Trong nền kinh tế thị trường hiện
nay, sự cạnh tranh giữa các nhà tư bản
là hết sức khốc liệt, buộc họ phải áp
dụng phương pháp sản xuất tốt nhất,
cách quản lý tốt nhất để tăng năng suất
lao động trong xí nghiệp của mình
nhằm giảm giá trị cá biệt của hàng hoá
thấp hơn giá trị xã hội, giá trị thị
trường của hàng hoá, nhờ đó thu được
giá trị thặng dư siêu ngạch Giá trị
thặng dư siêu ngạch chỉ do một số ít
các nhà tư bản có kỹ thuật tiên tiến, áp
dụng sớm nhất công nghệ mới vào hoạt
động sản xuất kinh doanh và thu được,
khi đa số các nhà tư bản áp dụng công
nghệ này vào sản xuất kinh doanh thì
giá trị thặng dư siêu ngạch không còn
mà nó trở thành giá trị thặng dư tương
đối Xét trên góc độ toàn xã hội thì giá
trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng
tồn tại thường xuyên
Theo đuổi giá trị thặng dư siêu ngạch là khát vọng của nhà tư bản và là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tiết kiệm chi phí, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất, hoàn thiện tổ chức lao động
và tổ chức sản xuất để tăng năng suất lao động, giảm giá trị của hàng hoá C.Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối, vì giá trị thặng dư siêu ngạch
và giá trị thặng dư tương đối đều dựa trên
cơ sở tăng năng suất lao động (mặc dù một bên là dựa vào tăng năng suất lao động cá biệt, còn một bên dựa vào tăng năng suất lao động xã hội)
3 Vận dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, nhất là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay
Một là, học tập các nhà tư bản sản
xuất ra càng nhiều sản phẩm thặng dư cho xã hội, càng nhiều giá trị thặng dư càng tốt Việc vận dụng hai phương pháp trên trong các doanh nghiệp sẽ kích thích hoạt động sản xuất - kinh doanh, vì mục tiêu lợi nhuận chính là động lực giúp doanh nghiệp sẽ không ngừng cải tiến kỹ thuật, ứng dụng công nghệ mới - hiện đại vào sản xuất - kinh doanh, hợp lý hóa sản xuất, tiết kiệm thời gian và chi phí nhằm tăng năng suất lao động cá biệt của đơn
vị mình, làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa do doanh nghiệp mình sản xuất ra thấp hơn giá trị thị trường, nâng cao giá trị hàng háo và dịch vụ từ đó mang lại lợi nhuận và lợi nhuận siêu ngạch cho các doanh nghiệp Đồng thời, thúc đẩy lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, thúc
Trang 35đẩy quá trình phân công lao động xã hội,
tạo ra nhiều việc làm, gợi mở cách thức
làm tăng của cải trong doanh nghiệp và
cả nền kinh tế
Hai là, cần tận dụng sử dụng triệt để
các nguồn lực cho phát triển kinh tế đất
nước Trong nền kinh tế thị trường hiện
nay, khi một số nguồn lực để phát triển
kinh tế trở nên khan hiếm thì việc huy
động và sử dụng các nguồn lực cho phát
triển như vốn, lao động, khoa học công
nghệ, tài nguyên thiên nhiên, đất đai,
phải làm sao mang lại hiệu quả kinh tế xã
hội cao nhất, tránh trường hợp sử dụng
không hiệu quả, gây thất thoát, lãng phí
Ba là, không ngừng hoàn thiện hệ
thống pháp luật Một mặt, yêu cầu các
nhà tư bản phải nghiêm chỉnh chấp hành
pháp luật, tôn trọng lợi ích chính đáng
của người công nhân Mặt khác, nhà
nước cần có cơ chế, chính sách khuyến
khích phát triển kinh tế tư nhân, bảo hộ
quyền sở hữu hợp pháp của các nhà tư
bản, không phân biệt đối xử giữa các
thành phần kinh tế, thực thi nhất quán
chính sách thuế sao cho nhà đầu tư có thể
thu được lợi nhuận thích đáng thì họ mới mạnh dạn đầu tư, làm ăn lâu dài Bên cạnh đó, không ngừng hoàn thiện luật doanh nghiệp, luật đầu tư theo hướng ngày càng hấp dẫn đối với các nhà đầu tư hơn Trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, sự cạnh tranh giữa các nước trong thu hút vốn đầu tư ngày càng gay gắt Do đó, Nhà nước cần có chính sách ưu đãi đầu tư nhiều hơn để thu hút mạnh hơn các nhà đầu tư
Bốn là, cần kết hợp hài hòa các lợi
ích giữa Nhà nước - doanh nghiệp - người lao động Đối với thành phần kinh
tế Nhà nước và tập thể dựa trên chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất thì kết quả sản xuất thuộc về Nhà nước hay tập thể lao động của doanh nghiệp Vì vậy, việc phân phối giá trị thặng dư phải làm sao cho vừa tăng thu cho ngân sách nhà nước, vừa tăng thu nhập của người lao động, lại vừa tăng các quỹ của doanh nghiệp (quỹ tái sản xuất mở rộng, quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng), càng nhiều lợi nhuận thì lợi ích của ba thành phần trên càng tăng cao
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Hội đồng TW chỉ đạo biên soạn giáo trình Quốc gia các bộ môn khoa học Mác -
Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh 2008 Giáo trình Kinh tế học Chính trị Mác - Lênin,
học, Đại học Huế, số 3 năm 2012
Trang 36PHƯƠNG TRÌNH SCHRÖDINGER PHI TUYẾN RỜI RẠC
TS Nguyễn Bá Phi
Khoa Khoa học cơ bản, Trường Đại học xây dựng Miền Trung
Tóm tắt: Bài viết trình bày một trong những cách đơn giản nhất để d n ra phương
trình Schrödinger phi tuyến rời rạc – phương trình mô tả gần đúng nhiều quá trình
vật lý diễn ra trong tự nhiên Bên cạnh đó, hai trường hợp giới hạn quan trọng của
phương trình, nó liên quan trực tiếp đến các hệ vật lý cũng được cho thấy
Từ khóa: Phương trình phi tuyến tính Schrödinger, hiện tượng định sứ Anderson,
phi tuyến quang học, sự tự bẫy
1 Đặt vấn đề
Sự mất trật tự và tính chất phi tuyến là hai đặc trưng quan trọng, xuất hiện hầu hết trong các loại vật liệu cũng như trong các hệ vật lý Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu sự lan truyền của sóng trong môi trường mất trật tự phi tuyến đã trở thành một trong mảng nghiên cứu rất được các nhà khoa học quan tâm, cả về phương diện lý thuyết lẫn thực nghiệm Tuy nhiên, cho đến nay, sự hiểu biết của chúng ta về chủ đề mang tính thách thức này vẫn còn mang tính chấp vá, chưa thật sự đầy đủ
Để giải quyết những bài toán liên quan đến ảnh hưởng đồng thời của tính mất trật
tự và tính phi tuyến lên quá trình lan truyền của sóng trong một môi trường nào đó, phương trình Schrödinger phi tuyến rời rạc – là một trong những phương trình mô hình động học mạng phi tuyến cơ bản nhất, được cho thấy là một công cụ rất hữu ích Phương trình này thu hút nhiều sự chú ý của các nhà nghiên cứu do tính ứng dụng rỗng rãi của nó trong nhiều lĩnh vực khác nhau Ví dụ, nó là phương trình mô hình đường bao tán sắc thích hợp đối với việc mô tả điện trường trong các ống dẫn sóng [1, 2], sự tự hội
tụ (self-focusing) và suy yếu của sóng Langmuir trong vật lý plasma [3], hay đối với việc mô tả sóng nước trong các đại dương [4]
Về mặt lịch sử, việc nghiên cứu phương trình Schrödinger phi tuyến rời rạc đã có
từ những năm 50 của thế kỷ trước với mô hình Holstein đối với việc hình thành polaron (một giả hạt – liên quan đến tương tác giữa điện tử và nguyên tử trong chất rắn) trong các tinh thể phân tử [5, 6] Những ví dụ quan trọng khác phải kể đến là mô hình Davydov đối với sự vận chuyển năng lượng dọc theo các phân tử protein [7] và mô hình các ống dẫn sóng phi tuyến liên kết [8-10] Bên cạnh đó, phương trình Schrödinger phi tuyến rời rạc còn đóng vai trò trung tâm trong việc phát triển lý thuyết tổng quát đối với các kiểu định xứ có bản chất nội tại được gọi là các “discrete breather”, xảy ra trong các
hệ dao động phi điều hòa liên kết [11] Gần đây, sự quan tâm dành cho phương trình Schrödinger phi tuyến rời rạc được đẩy lên cao hơn nữa do việc quan sát được bằng thực nghiệm hiện tượng định xứ Anderson của ánh sáng trong các mạng quang tử mất trật tự [12-14], nơi mà phương trình Schrödinger phi tuyến rời rạc mô tả sự lan truyền của ánh sáng trong gần đúng gần trục quang học; của các nguyên tử lạnh trong các
Trang 37mạng quang học mất trật tự [15, 16], nơi mà phương trình Schrödinger phi tuyến rời rạc được xem là một mô tả gần đúng trường trung bình
Với tầm quan trọng như vậy, tuy nhiên, những tài liệu bằng tiếng Việt liên quan đến phương trình Schrödinger phi tuyến rời rạc cũng như ứng dụng của phương trình này trong việc giải quyết một số bài toán vật lý hầu như chưa có theo sự hiểu biết của tác giả bài viết Nhằm mục đích giúp cho các bạn đọc quan tâm nói chung cũng như các nhà vật lý Việt Nam nói riêng có một tài liệu tiếng Việt liên quan đến vấn đề này để tham khảo, tác giả đã mạnh dạn viết bài viết này
Bố cục của bài viết như sau Trong mục 1, tác giả đã nêu lên tầm quan trọng của phương trình Schrödinger phi tuyến rời rạc cũng như sự cần thiết của bài viết Nội dung chính của bài viết là cách dẫn ra phương trình Schrödinger phi tuyến rời rạc, được trình bày trong mục 2 Tiếp theo, hai trường hợp giới hạn quan trọng và một vài ứng dụng phương trình này trong việc giải quyết các vấn đề vật lý đã được thực hiện bởi chính tác giả của bài viết, được đưa ra trong mục 3 Cuối cùng, một vài kết luận đối với bài viết được tóm tắt trong mục 4
2 Cách d n ra phương trình Schrödinger phi tuyến rời rạc
Việc dẫn ra phương trình Schrödinger phi tuyến rời rạc có thể dựa trên một số cách khác nhau Trong bài viết này, tác giả sẽ theo sát một cách làm có thể nói là đơn giản nhất (theo quan điểm của tác giả), nó được đưa ra bởi Alfimov [17] với điểm xuất
phát là phương trình Schrödinger phi tuyến liên tục có dạng tổng quát:
2
2 2
có thể được tổng quát hóa đối với phương trình Schrödinger phi tuyến rời rạc có số chiều lớn hơn một
Trước hết, chúng ta đi khảo sát bài toán trị riêng tuyến tính tương ứng, nghĩa là số hạng cuối cùng bên vế phải của phương trình (1) được bỏ qua Khi đó, phương trình Schrödinger không phụ thuộc thời gian tương ứng có dạng:
2 ,
Trang 38Trong phương trình (2), k, là các hàm Bloch, tức là thõa mãn k,(x) = e ikx u k, (x), trong đó u k, (x) là một hàm tuần hoàn với chu kỳ L và là chỉ số ký hiệu các vùng năng lượng tương ứng E(k) Vì các vùng năng lượng này là những hàm tuần hoàn
Wannier với tâm đặt tại vị trí nL ( n là số nguyên) và tương ứng với vùng năng lượng
nào đó được định nghĩa:
/L
, /L
2
iknL k
Từ phương trình (4), nếu chúng ta chọn pha của các hàm Bloch một cách hợp lý
trình Schrödinger phi tuyến rời rạc nằm ở việc tách nghiệm của phương trình (1) trong
Trang 39Nếu các hệ số Fourier trong (4) giảm đủ nhanh khi n , nghĩa là |ˆ1, | |ˆn, |
với n1, khi đó các số hạng liên kết từ bậc hai trở đi trong phần tuyến tính của phương trình (9) có thể được bỏ qua Do vậy, mô hình động học chỉ kể đến một mình các tương tác lân cận gần nhất được đưa ra
Ngoài ra, vì các hàm Wannier với n, (x) là định xứ và có tâm đặt tại xnL nên chúng ta có thể giả thuyết rằng trong một số trường hợp nào đó, trong số tất cả các hệ số
2 ,
đó chúng ta cần phải cộng thêm một vài số hạng liên quan đến vùng năng lượng vào phương trình (12) Nếu các hệ số Fourier trong phương trình (4) giảm không đủ nhanh khi n thì ˆn,có giá trị đáng kể đối với n1 Khi đó, chúng ta phải kể thêm các
trong đó n là năng lượng tại nút thứ n của mạng, J là tham số nhảy lân cận bậc nhất và
là hệ số phi tuyến – đặc trưng cho độ mạnh của tính phi tuyến
Trang 403 Ứng dụng của phương trình Schrödinger phi tuyến rời rạc
Kích thích định xứ và kích thích lan truyền
Trong trường hợp năng lượng nút n có phân bố ngẫu nhiên trong một khoảng giá trị nào đó thì phương trình (13) thường được sử dụng để nghiên cứu ảnh hưởng của tính phi tuyến lên hiện tượng định xứ Anderson [19] đối với trường hợp kích thích định xứ
Về mặt thực nghiệm, điều này có thể được thực hiện trong nhiều hệ vật lý khác nhau, chẳng hạn như trong sợi quang học, mảng các ống dẫn sóng, tinh thể quang tử, chất cô đặc Bose-Einstein,… Mặc khác, nếu chúng ta tìm nghiệm dừng của phương trình (13) dưới dạng c n nexp(iEt), chúng ta sẽ rút ra được phương trình:
Ảnh hưởng của tính phi tuyến
lên hiện tượng định xứ Anderson là
khác nhau một cách định lượng đối
với các kích thích hoặc là định xứ
hoặc là lan truyền Đối với trường hợp
trước, sự có mặt của tính phi tuyến
làm chậm quá trình bắt đầu định xứ
Ngược lại, đối với trường hợp sau,
tính phi tuyến tăng cường vai trò của
tính mất trật tự đối với hiện tượng
định xứ Anderson, nghĩa là độ giảm
theo hàm mũ của hệ số truyền qua
trong trường hợp này mạnh hơn trong
trường hợp định xứ Anderson thuần tý
(khi chưa kể đến tính phi tuyến), ít
nhất đối với những hệ có kích thước
Hình 1 Hệ số truyền qua (được lấy trung bình theo các cấu
hình mất trật tự) là hàm của kích thước hệ được cho thấy đối với trường hợp kích thích lan truyền Kết quả số cho thấy rằng, hiện tượng định xứ Anderson được tăng cường trong sự có mặt của tính phi tuyến [20]