1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận chủ nghĩa xã hội khoa học: Chủ nghĩa xã hội và công bằng xã hội

12 78 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 39,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. Phần mở đầu1. Tính cấp thiết của đề tài Chủ nghĩa xã hội ( CNXH ) là một khái niệm lớn bao hàm nhiều nội dung vấn đề tư tưởng , về tính chất của một chế độ , một cuộc cách mạng, một con người .CNXH có hệ thống quan hệ xã hội lành mạnh,công bằng , bình đẳng , không còn áp bức bóc lột , bất công , không cònsự đối lập giữa lao động chân tay và lao động trí óc , giữa thành thị và nông thôn , con người được giải phóng , có điều kiện phát triển toàn diện có sự hài hòa trong sự phát triển của xã hội và tự nhiên . Hồ Chí Minh coi công bằng xã hội là một trong những đặc trưng mang tính nhân văn của chếđộ xã hội mới: chủ nghĩa xã hội là “một xã hội không có chế độ người bóc lột người, một xã hội bình đẳng, nghĩa là ai cũng phải lao động và có quyền lao động, ai làm nhiều thì hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng” Theo Người, công bằng và bình đẳng xã hộicho tất cả mọi người chỉ có thể có được trong chế độ xã hội mới, đó là chế độ dân chủ cộng hoà, là chế độ xã hội chủ nghĩa. Chỉ dưới chế độ xã hội tốt đẹp ấy, nhân dân lao động mới được hưởng ngày càng nhiều hơn, đầy đủ hơn sự công bằng và bình đẳng, mới vừa “có nghĩavụ, đồng thời có quyền lợi”.

Trang 1

A Phần mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chủ nghĩa xã hội ( CNXH ) là một khái niệm lớn bao hàm nhiều nội dung vấn đề tư tưởng ,

về tính chất của một chế độ , một cuộc cách mạng, một con người CNXH có hệ thống quan

hệ xã hội lành mạnh,công bằng , bình đẳng , không còn áp bức bóc lột , bất công , không còn

sự đối lập giữa lao động chân tay và lao động trí óc , giữa thành thị và nông thôn , con người được giải phóng , có điều kiện phát triển toàn diện có sự hài hòa trong sự phát triển của xã hội và tự nhiên

Hồ Chí Minh coi công bằng xã hội là một trong những đặc trưng mang tính nhân văn của chế

độ xã hội mới: chủ nghĩa xã hội là “một xã hội không có chế độ người bóc lột người, một xã hội bình đẳng, nghĩa là ai cũng phải lao động và có quyền lao động, ai làm nhiều thì hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng” Theo Người, công bằng và bình đẳng xã hội cho tất cả mọi người chỉ có thể có được trong chế độ xã hội mới, đó là chế độ dân chủ cộng hoà, là chế độ xã hội chủ nghĩa Chỉ dưới chế độ xã hội tốt đẹp ấy, nhân dân lao động mới được hưởng ngày càng nhiều hơn, đầy đủ hơn sự công bằng và bình đẳng, mới vừa “có nghĩa

vụ, đồng thời có quyền lợi”

Trong lĩnh vực giáo dục, công bằng xã hội trong giáo dục được các nhà Mác - xít đặc biệt quan tâm, theo các ông, giáo dục có tầm quan trọng trong đời sống xã hội, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng một chế độ mới: “muốn thay đổi những điều kiện xã hội phải

có một chế độ giáo dục thích hợp” Lẽ tất nhiên, công bằng trong giáo dục nhằm phục vụ đắc lực cho xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa và chính xã hội đó đem lại sự công bằng xã hội trong nền giáo dục xã hội chủ nghĩa Theo tinh thần đó, việc thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục chính là “tạo được nhiều cơ hội học tập phù hợp với mọi nhu cầu, nguyện vọng riêng cũng như khả năng của mỗi người dân trong xã hội, để ai cũng có điều kiện phát triển nghề nghiệp tài năng, hiểu biết”

Đương nhiên, không thể ảo tưởng rằng với một nền giáo dục nào đó, người ta có thể tạo nên

sự ngang bằng về năng lực Năng lực còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như di truyền, khí chất, sức khỏe Song, một điều chắc chắn là: với một nền giáo dục công bằng cho toàn dân, chúng ta sẽ không để lọt hoặc để uổng phí các mầm mống tài năng và sẽ tạo được cơ hội không quá chênh lệch để mọi người cùng tự do phát triển Nền giáo dục công bằng có khả năng tạo nên “cơ hội xã hội” theo đúng nghĩa

Từ những lí do trên em đã chọn đề tài “Chủ nghĩa xã hội và công bằng xã hội, công

bằng trong giáo dục đại học ở Việt Nam – những mâu thuẫn cơ bản và giải pháp “ để nghiên cứu

Mục lục

1 Tính cấp thiết của đề tài ………… 1

Trang 2

2 Mục lục ……… 2

B Nội dung ………3

I Lý luận chung về chủ nghĩa xã hội và công bằng xã hội … 3

1 Chủ nghĩa xã hội ……….3

a Khái niệm , điều kiện ra đời của CNXH ………3

b Những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ……… 4

2 Công bằng xã hội ………6

a Khái niệm công bằng xã hội ……… 6

b Nội dung ………6

c Điều kiện để thực hiện công bằng xã hội ……… 8

d Công bằng xã hội – mục tiêu của chủ nghĩa xã hội……8

II Vận dụng thực tiễn ……….9

1 Lý thuyết chung ……… 9

2 Thực trạng và nguyên nhân 10

3 Giải pháp ………12

C Kết luận ……….12

BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI

CNXH : Chủ nghĩa xã hội TBCN : Tư bản chủ nghĩa GCCN : Giai cấp công nhân GCTS : Giai cấp tư sản CBXH : Công bằng xã hội

B.Nội dung

I Lý luận chung về chủ nghĩa xã hội và công bằng xã hội

1 Chủ nghĩa xã hội

a Khái niệm và điều kiện ra đời

Trang 3

 Khái niệm :

- CNXH như là một phong trào lịch sử mang tính chính trị xã hội

- CNXH là một hệ tư tưởng của giai cấp công nhân

- CNXH là giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa

- CNXH và chủ nghĩa Cộng sản là một chế độ xã hội đối lập với chế độ tư bản mà hình thức xấu xa tàn bạo nhất của nó là chủ nghĩa thực dân cả chủ nghĩa thực dân mới và cũ

 Điều kiện ra đời :

- Thứ nhất : do sự ra đời của sản xuất công nghiệp , áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật công nghệ , lao động mang tính xã hội LLSX phát triển mạnh mẽ và đạt tới trình độ xã hội hóa ngày càng cao mâu thuẫn với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất là chủ yếu Mâu thuẫn ngày càng phát triển đây là mâu thuẫn cơ bản trong phương tiện sản xuất TBCN

- Thứ hai : cùng với sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản cũng hình thành và phát triển hai giai cấp cơ bản : giai cấp công nhân và giai cấp tư sản có lợi ích đối lập nhau nên xã hội xuất hiện mâu thuẫn đối kháng Mâu thuẫn phát triển đỉnh cao ở cuộc đấu tranh của GCCN chống lại GCTS Qua thực tiễn cuộc đấu tranh GCCN nhận thức được rằng muốn giành thắng lợi phải tiếp thu chủ nghĩa xã hội khoa học hình thành chính đảng của mình Khi Đảng Cộng sản ra đời, toàn bộ hoạt động của Đảng đều hướng vào lãnh đạo GCCN và nhân dân lao động lật đổ nhà nước của GCTS xác lập nhà nước của GCCN và nhân dân lao động Việc thiết lập nhà nước của GCCN và nhân dân lao động

là sự mở đầu của hình thái kinh tế - xã hội CSCN

Tóm lại : do sự vận động của những mâu thuẫn trong CNTB , cùng với cuộc đấu tranh của GCCN và nhân dân lao động , khi xuất hiện tình thế và thời cơ cách mạng tạo ra những điều kiện cần và đủ thì cách mạng XHCN tất yếu sẽ xảy ra và thắng lợi đưa đến sự

ra đời hình thái kinh tế - xã hội Cộng sản chủ nghĩa

Trong thời đại ngày nay CNXH vẫn có thể ra đời từ một quốc gia tư bản có trình độ phát triển tư bản thậm chí chưa qua TBCN phải đảm bảo các yếu tố sau :

Một là ,phải xuất hiện “ yếu tố thời đại “ tức là nhân loại đã chuyển sang giai đoạn cuối

cùng của TBCN Từ đó xuất hiện các các mâu thuẫn “ cơ bản và gay gắt “ của thời đại mới như : Mâu thuẫn giữa GCTS và GCCN, đây vẫn được coi là mâu thuẫn cơ bản nhất trong xã hội ngày nay Mâu thuẫn giữa Chủ nghĩa đế quốc xâm lược và các dân tộc bị xâm lược, đây là mâu thuẫn đặc trưng cho thời đại mới Mâu thuẫn giữa các nước tư bản với nhau do xung đột lợi ích Mâu thuẫn giữa các nước giàu trong thế giới tư bản với các nước nghèo , lạc hậu

Hai là, phải có sự tác động toàn cầu của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của

hệ tư tưởng của giai cấp công nhân (chủ nghĩa Mác - Lênin), đặc biệt là luận điểm về chủ nghĩa đế quốc và các dân tộc bị áp bức, làm thức tỉnh phong trào dân tộc, phong trào yêu nước của các quốc gia đấu tranh chống các chế độ áp bức, bóc lột, bất công của chủ nghĩa

tư bản hoặc bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội

Trang 4

Ba là, tất yếu hình thành các đảng chính trị lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm hệ tư tưởng

để lãnh đạo dân tộc đấu tranh giành độc lập, tự do

b Các đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa xã hội với tính cách là một chế độ xã hội ra đời và tồn tại ở giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa Đó là một xã hội tiến bộ, ưu việt, là quá trình lịch sử tự nhiên phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử xã hội loài người Do đó, so với các xã hội đã từng tồn tại trong lịch sử, chủ nghĩa xã hội có một số đặc trưng cơ bản sau:

Một là, cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội phải được tạo ra bởi một nền sản xuất tiên tiến,

hiện đại

Đây được coi là đặc trưng cơ bản nhất trong số các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội.Theo V.I.Lênin, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa về thực chất là cuộc cách mạng trong lĩnh vực kinh tế nên chủ nghĩa xã hội phải có một nền kinh tế phát triển cao hơn so với chủ nghĩa tư bản trước đó Do đó chỉ khi chủ nghĩa xã hội tạo ra được một nền sản xuất công nghiệp hiện đại, với năng suất lao động ngày càng tăng, số lượng của cải vật chất tạo ra ngày càng nhiều thì mới có khả năng đảm bảo đáp ứng những nhu cầu vật chất và văn hóa của nhân dân, không ngừng nâng cao phúc lợi xã hội cho toàn dân

Hai là, chủ nghĩa xã hội từng bước xóa bỏ chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa đồng thời tiến hành

thiết lập chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất

Thủ tiêu chế độ tư hữu là cách nói vắn tắt nhất, tổng quát nhất về thực chất của công cuộc cải tạo xã hội theo lập trường của giai cấp công nhân Tuy nhiên, không phải xóa bỏ chế

độ tư hữu nói chung mà là xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa.Chủ nghĩa xã hội được hình thành dựa trên cơ sở từng bước thiết lập chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, bao gồm sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể Chế độ sở hữu này được củng cố, hoàn thiện, bảo đảm thích ứng với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất,

mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển, xóa bỏ dần những mâu thuẫn đối kháng trong xã hội, làm cho mọi thành viên trong xã hội ngày càng gắn bó với nhau vì những lợi ích căn bản

Thứ ba, chủ nghĩa xã hội tạo ra cách thức tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới với năng

suất cao

Khi đạt tới trình độ xã hội chủ nghĩa, tư liệu sản xuất đã mang tính xã hội hóa cao,không còn chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất đòi hỏi việc tổ chức vận hành và quản lý nền sản xuất mới này phải hết sức khoa học, chặt chẽ và hiệu quả cao nếu không sẽ tạo ra một sự lãng phí nguồn lực và suy giảm về động lực thúc đẩy phát triển dưới chủ nghĩa xã hội

Bốn là, chủ nghĩa xã hội thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động.

Phân phối theo lao động là hình thức phân phối căn bản của chủ nghĩa xã hội, là nguyên tắc phân phối chủ yếu thích hợp nhất với các thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu công hữu về tư liệu sản xuất Theo V.I.Lênin, phân phối theo lao động là cách thức phân

Trang 5

phối trong giai đoạn thấp của xã hội cộng sản chủ nghĩa Cách thức phân phối theo lao động là thích hợp nhất với chủ nghĩa xã hội, bởi vì nó được dựa trên chế độ công hữu về

tư liệu sản xuất

Năm là, nhà nước dưới chủ nghĩa xã hội là nhà nước mang bản chất giai cấp côngnhân, nhưng

cũng đồng thời mang tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc

Nhà nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo Thông qua nhà nước, Đảng lãnh đạo toàn xã hội về mọi mặt và nhân dân lao động thực hiện quyền lực và lợi ích của mình trên mọi mặt của xã hội Nhân dân lao động tham gia nhiều vào công việc nhà nước Đây

là một “nhà nước nửa nhà nước”, với tính tự giác, tự quản của nhân dân rất cao, thể hiện các quyền dân chủ, làm chủ và lợi ích của chính mình ngày càng rõ hơn

Sáu là, mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội là giải phóng và phát triển con người toàn diện.

Mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người khỏi mọi ách áp bức về kinh tế và nô dịch về tinh thần, bảo đảm sự phát triển toàn diện cá nhân, hình thành và phát triển lối sống xã hội chủ nghĩa, làm cho mọi người phát huy tính tích cực của mình trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Nhờ xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa mà xóa bỏ sự đối kháng giai cấp, xóa bỏ tình trạng người bóc lột người, tình trạng nô dịch và áp bức dân tộc, thực hiện được sự công bằng, bình đẳng xã hội

Những đặc trưng trên phản ánh bản chất của chủ nghĩa xã hội, nói lên tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội

Và do đó, chủ nghĩa xã hội là một xã hội tốt đẹp, lý tưởng, ước mơ của toàn thể nhân loại Những đặc trưng đó có mối quan hệ mật thiết với nhau Do đó, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội cần phải quan tâm đầy đủ tất cả các đặc trưng này

2 Công bằng xã hội

a Khái niệm công bằng xã hội

Trong lịch sử tư tưởng triết học ở cả phương Đông và phương Tây có rất nhiều cách tiếp cận và lý giải khác nhau về vấn đề CBXH, đi cùng với nó là vấn đề thực hiện CBXH Việc đặt ra và giải quyết vấn đề này không chỉ phụ thuộc vào những điều kiện lịch sử mà còn phụ thuộc vào trình độ nhận thức và khả năng thực hiện của con người từng thời kỳ Trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng chủ nghĩa Mác-Lênin đã đưa ra quan điểm đúng đắn về thực chất vai trò của CBXH và phương pháp thực hiện nó trong đời sống xã hội Kế thừa và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin, Hồ Chí Minh đã khái quát lý luận về CBXH vừa sâu sắc trong cốt lõi khoa học vừa giản dị vừa hàm súc CBXH gắn

bó với nhiệm vụ giải phóng dân tộc và giải phóng con người , CBXH gắn với phát triển kinh tế và phát triển xã hội, là trách nhiệm của Đảng , Nhà nước và toàn xã hội

Quan điểm về CBXH trong CNXH sẽ bị thay đổi cùng với sự mất đi của CNXH để ra đời một xã hội cao hơn- xã hội cộng sản chủ nghĩa Sự mất đi sớm hay muộn tùy thuộc vào

sự phát triển của sản xuất , sự phát triển của kinh tế - xã hội Do vậy công bằng xã hội là một khái niệm mang tính lịch sử

 Công bằng xã hội là một giá trị nhằm định hướng cho sự phát triển con người được hình thành trên cơ sở của bình đẳng giữa những con người về nghĩa vụ và quyền lợi, về cống

Trang 6

hiến và hưởng thụ, giữa phẩm chất và năng lực với cơ hội và điều kiện phát triển trên mọi phương diện của đời sống xã hội, phù hợp với điều kiện hiện thực của xã hội

b Nội dung , đặc trưng , nguyên tắc của công bằng xã hội

 Nội dung :

Công bằng xã hội mang tính toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa,xã hội, trong đó thể hiện tập trung ở hai nội dung chính: Công bằng trong phân phối và công bằng về cơ hội, điều kiện phát triển

- Nội dung thứ nhất, công bằng trong phân phối Phân phối là một trong những phạm trù

kinh tế chính trị cơ bản, phản ánh quan hệ xã hội trong việc phân chia các nguồn lực trong quá trình sản xuất xã hội và tái sản xuất xã hội, nó phụ thuộc vào quan hệ sở hữu và quản lý.Phân phối vừa là một khâu của quá trình sản xuất (sản xuất – phân phối - trao đổi

- tiêu dùng), vừa là một mặt của quan hệ sản xuất (sở hữu - tổ chức quản lý - phân phối) Phân phối bao gồm việc phân phối các yếu tố đầu vào của sản xuất (tư liệu sản xuất) và sản phẩm đầu ra (tư liệu tiêu dùng) phục vụ nhu cầu tái sản xuất xã hội và đời sống con người Do đó công bằng trong phân phối bao hàm cả việc phân phối công bằng các yếu tố đầu vào của sản xuất lẫn các yếu tố đầu ra của sản xuất Tính chất phân phối các yếu tố sản xuất quyết định tính chất phân phối tiêu dùng, còn sự phân phối các yếu tố sản xuất lại do phương thức sản xuất chi phối

- Nội dung thứ hai Công bằng về cơ hội, điều kiện phát triển trước hết được hiểu là quyền

của mọi người được tiếp cận ngang nhau với một cơ hội nào đó bất kỳ (ở đây chính là bình đẳng về cơ hội) Còn điều kiện phát triển được hiểu là những điều kiện về kinh tế, chính trị,văn hóa, xã hội Đó không chỉ bình đẳng về cơ hội tiếp cận các nguồn lực phát triển mà còn bao gồm tất cả các điều kiện và các dịch vụ xã hội nói chung từ hạ tầng cơ

sở (điện,nước sạch, đường sá, các cơ sở khám chữa bệnh, các cơ sở giáo dục, đào tạo; thị trường tài chính, chứng khoán) đến thượng tầng kiến trúc (tham gia vào các cơ quan quyền lực nhà nước, học tập và trao đổi thông tin, sáng tác, hưởng thụ văn học nghệ thuật, giao lưu văn hóa…).Công bằng về cơ hội, điều kiện phát triển ở đây được xác định như là tiền đề để đảm bảo công bằng xã hội thực sự

 Đặc trưng :

- Thứ nhất, CBXH là một giá trị nhằm xác lập mối quan hệ giữa người với người trên tất

cả các lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, v.v ) theo nguyên tắc tương xứng giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa phẩm chất

và năng lực với cơ hội và điều kiện phát triển

- Thứ hai, CBXH là khái niệm mang tính lịch sử cụ thể CBXH không phải là một khái

niệm bất di bất dịch Với tư cách là sản phẩm của đời sống xã hội, mà đời sống xã hội luôn vận động, biến đổi nên nội dung của CBXH cũng phải biến đổi cho phù hợp Không thể có một quan niệm chung về CBXH cho mọi thời đại, dân tộc và giai cấp Mỗi xã hội

có đòi hỏi riêng về công bằng

- Thứ ba, CBXH là một trường hợp riêng của bình đẳng xã hội Bình đẳng được thể hiện ở

các mối quan hệ: sự bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ; sự bình đẳng trong việc được hưởng quyền lợi; sự tương ứng hay không tương ứng giữa sự bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ với sự bình đẳng trong việc hưởng thụ quyền lợi khi thực hiện cùng một nghĩa vụ ấy CBXH được hiểu trong trường hợp thứ ba Như vậy, bình đẳng xã hội

có phạm vi rộng và bao quát hơn CBXH

 Các nguyên tắc của công bằng xã hội

Trang 7

Việc xây dựng các nguyên tắc CBXH có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc thực hiện CBXH

- Nguyên tắc kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện CBXH

+ Một là , dựa trên trình độ phát triển kinh tế của đất nước

+ Hai là , dựa trên thể chế xã hội mà chúng đang xây dựng – đi lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN

Phát triển kinh tế bao hàm sự tăng trưởng nhưng không phải mọi sự tăng trưởng đều dẫn đến phát triển Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần , là tiền đề cho việc thực hiện CBXH

- Nguyên tắc phân phối làm phương thức cơ bản để thực hiện CBXH

+ Một là , phân phối theo lao động

+ Hai là, phân phối theo đóng góp về vốn và tư liệu sản xuất

+ Ba là , phân phối theo các hình thức khác cho xã hội : tài năng, công sức , xương máu, đặc biệt là những cống hiến trong cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc

- Nguyên tắc giải quyết thấu đáo do những vấn đề của nền kinh tế cũ để lại

Đây là một vấn đề phức tạp , Nhà nước cần phải có cơ chế cụ thể trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp và tập thể để đảm bảo sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đất nước , vừa đảm bảo được CBXH , chúng ta cần có chính sách,bước đi,cơ chế phù hợp

c Điều kiện thực hiện công bằng xã hội

Việc thực hiện CBXH cũng phụ thuộc những điều kiện lịch sử - cụ thể của từng chế độ

xã hội Theo đó, thực hiện công bằng xã hội là những hoạt động cụ thể của toàn bộ hệ thống chính trị, các lực lượng, tổ chức xã hội và người dân theo chức năng, vị trí, vai trò của mình làm cho những nội dung của CBXH trở thành hiện thực trong đời sống xã hội

- Chủ thể thực hiện công bằng xã hội : Xét trong phạm vi một quốc gia, chủ thể thực hiện CBXH gồm: đảng cầm quyền, nhà nước, các tổ chức khác trong hệ thống chính trị và các lực lượng, tổ chức xã hội, người dân ở quốc gia đó Ngoài ra, còn các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức hoạt động nhân đạo, từ thiện hỗ trợ, tham gia thực hiện CBXH

- Những nhân tố chủ yếu tác động đến việc thực hiện CBXH: Việc thực hiện CBXH do nhiều nhân tố tác động, trong đó phụ thuộc chặt chẽ vào trình độ phát triển của phương thức sản xuất (thông qua trình độ phát triển kinh tế), vào chế độ chính trị, vào các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc và tính chất của thời đại

d Công bằng xã hội- mục tiêu của chủ nghĩa xã hội

Công bằng xã hội được cụ thể hóa thành các nguyên tắc ứng xử và được thể chế hóa thành các quy định pháp luật hoặc thành các quy tắc bất thành văn Công bằng xã hội theo pháp luật là phương thức, là cơ chế để thực hiện bình đẳng xã hội thực chất Công bằng xã hội thường được thể hiện trong ứng xử giữa các tổ chức, các nhóm xã hội

Với chủ nghĩa xã hội, công bằng xã hội được thể hiện trong nguyên tắc phân phối theo lao động Theo C.Mác, sau khi đã khấu trừ đi những khoản cần thiết nhất để duy trì sản xuất, tái sản xuất cũng như để duy trì đời sống của cộng đồng, toàn bộ số sản phẩm xã hội còn lại sẽ được phân phối theo nguyên tắc: mỗi người sản xuất sẽ nhận trở lại từ xã hội một số lượng vật phẩm tiêu dùng trị giá ngang với số lượng lao động mà anh ta đã cung cấp cho xã hội (sau khi đã khấu trừ số lao động của anh ta cho các quỹ xã hội) Đây

là một nguyên tắc phân phối công bằng vì ở đây tất cả những người sản xuất đều có quyền ngang nhau tham dự quỹ tiêu dùng của xã hội khi làm một công việc ngang nhau Nguyên tắc phân phối theo lao động phản ánh: chủ nghĩa xã hội là chế độ đầu tiên trong lịch sử được xây dựng trên nguyên tắc công bằng xã hội Chủ nghĩa xã hội hướng tới mục

Trang 8

tiêu: xóa bỏ áp bức, bất công và những cơ sở nảy sinh áp bức bất công, xây dựng các điều kiện để con người phát triển tự do và toàn diện, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc Công bằng xã hội quan hệ mật thiết với dân chủ, đòi hỏi dân chủ vì dân chủ là điều kiện tiên quyết để thực hiện công bằng xã hội

Vấn đề công bằng trong xã hội chủ nghĩa diễn ra ở rấ nhiều nội dung khác nhau , dưới đây em xin trình bày một trong các nội dung cụ thể

II Vận dụng thực tiễn : Công bằng trong giáo dục đại học ở Việt Nam – những mâu thuẫn cơ bản và giải pháp

1 Lý thuyết

 Quan điểm về công bằng xã hội trong giáo dục của chủ nghĩa Mác-Lênin

- Trong lĩnh vực giáo dục, công bằng xã hội trong giáo dục được các nhà Mác - xít đặc biệt quan tâm, theo các ông, giáo dục có tầm quan trọng trong đời sống xã hội, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng một chế độ mới: “muốn thay đổi những điều kiện xã hội phải có một chế độ giáo dục thích hợp” Lẽ tất nhiên, công bằng trong giáo dục nhằm phục vụ đắc lực cho xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa và chính xã hội đó đem lại sự công bằng xã hội trong nền giáo dục xã hội chủ nghĩa Theo tinh thần đó, việc thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục chính là “tạo được nhiều cơ hội học tập phù hợp với mọi nhu cầu, nguyện vọng riêng cũng như khả năng của mỗi người dân trong xã hội, để ai cũng có điều kiện phát triển nghề nghiệp tài năng, hiểu biết”

- Trong tác phẩm “Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản”, Ph.Ăngghen đã khẳng định vai trò của giáo dục đối với việc cải tạo xã hội tư sản và xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản: “Công tác giáo dục sẽ làm cho những người trẻ tuổi có khả năng nắm vững nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn, làm cho họ có thể lần lượt chuyển

từ ngành sản xuất này sang ngành sản xuất nọ tùy theo nhu cầu xã hội hoặc tùy theo sở thích của bản thân họ Do đó, công tác giáo dục sẽ làm cho họ thoát khỏi tình trạng một chiều và sự phân công lao động hiện nay đang buộc mỗi người phải theo” Giáo dục trong

xã hội cộng sản sẽ tạo điều kiện cho mọi người phát triển được khả năng của mình và đi đến làm chủ được bản thân trong đời sống xã hội

- V.I Lênin đã kế thừa và phát triển quan điểm của C.Mác, Ph Ăngghen về xây dựng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa nhằm đảm bảo cơ hội cho mọi người dân lao động được học tập và nâng cao trình độ tri thức Trước tiên ông phê phán nền giáo dục tư sản đó là: “Một khuyết điểm căn bản trong công tác giáo dục ở xã hội tư bản chủ nghĩa là nó tách rời nhiệm vụ cơ bản là tổ chức lao động, vì các nhà tư bản cần đào tạo những công nhân ngoan ngoãn dễ bảo Trong xã hội tư bản, những nhiệm vụ thực tế về tổ chức lao động quốc dân, gần như không liên hệ nhiều đến công tác dạy học Vì thế, công tác dạy học bị ảnh hưởng xấu của các thày tu, mang tính chất kinh viện, quan liêu” Trên cơ sở phê phán nền giáo dục tư sản, Lênin đưa ra yêu cầu của nền giáo dục mới: “Một quốc gia mù chữ thì không thể xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản” và “Những người lao động khao khát có tri thức, vì tri thức cần cho họ để chiến thắng

2 Thực trạng , nguyên nhân

a Thực trạng

Trang 9

Công bằng xã hội trong giáo dục luôn được coi là một nội dung quan trọng của chính sách giáo dục vĩ mô Điều 10 Luật Giáo dục (năm 2005) nêu rõ: “Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội hoặc hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện để ai cũng được học hành Nhà nước ưu tiên, tạo điều kiện cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, đối tượng hưởng chính sách ưu đãi, người tàn tật và đối tượng hưởng chính sách xã hội khác thực hiện quyền và nghĩa vụ học tập của mình.”

Ở Việt Nam số người trong độ tuổi đi học đại học (từ 18-29 tuổi) tham gia học đại học rất thấp, khoảng 28,3%, thuộc hàng thấp nhất thế giới Trong khi đó, tỉ lệ này ở Thái Lan, Malaysia là 43% hay 48%, còn tại những nước phát triển thì tỉ lệ này còn cao hơn nữa

Động cơ học tập của sinh viên Việt Nam phản ánh mức độ định hướng và các nỗ lực của sinh viên trong quá trình học tập và nghiên cứu, được thể hiện thông qua việc sinh viên dành thời gian và việc ưu tiên đầu tư các nguồn lực cho việc học tập, kế thừa và sử dụng thang đo của Cole & cộng sự (2004)

Năm học 2017-2018 tổng số sinh viên cả nước chỉ ở mức 1,7 triệu

Trong sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo, mỗi cấp học và trình độ đào tạo đều có vị trí, vai trò và ý nghĩa nhất định

Giáo dục đại học là nơi chịu trách nhiệm cuối cùng của hệ thống giáo dục để đưa sản phẩm giáo dục ra xã hội, là cấp học có vai trò quyết định trong việc xây dựng và phát triển lực lượng lao động chất lượng cao cho công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nước

Năm 2007 , Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) ở Việt Nam có một nghiên cứu

về tài trợ công trong giáo dục đại học và cho kết quả : có đến 35% ngân sách Nhà nước trợ cấp cho giáo dục đã chảy vào túi con em 20% cư dân giàu nhất , trong đó chỉ có 15% chảy vào con em của 20% dân cư nghèo nhất.Đó phải chăng có một phần là do kết quả của chính sách học phí thấp , một chính sách đã tăng thêm mất công bằng xã hội Chưa có thống kê chính thức nhưng có một vài nghiên cứu có thấy , mất công bằng xã hội trong giáo dục đại học ở Việt Nam còn cao hơn mức mất công bằng xã hội về thu nhập kinh tế Năm 2004 , nếu tính theo vùng miền thì , tỷ lệ sinh viên trên một vạn dân bình quân cả nước là 161 , của Đồng Bằng Sông Hồng là 323 , trong khi của Đồng Bằng Sông Cứu Long là 40 , chênh lệch nhau 8 lần , nếu tính theo đơn vị tỉnh , của Thừa Thiên Huế là 751,trong khi của Trà Vinh là

23, chênh lệch nhau 23 lần

Hầu như năm nào Bộ Giáo Dục cũng đều có những sửa đổi, bổ sung hệ thống giáo dục đại học từ việc thi cử cho đến nội dung giảng dạy nhưng đến nay thực sự vẫn chưa hoàn thiện, còn quá nhiều những vấn đề nảy sinh mà hàng ngày người ta phân tích đầy trên các mặt báo

b Nguyên nhân

Trang 10

- Nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt bất công bằng trong giáo dục đại học giữa các cá nhân,vùng miền , sắc tộc là sự khác biệt về nguồn gốc tài sản bẩm sinh,cùng với chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế-xã hội nói chung

- Gia tăng bất công của chính sách học phí thấp

- Chưa cung cấp cơ hội công bằng cho tất cả những người có tài năng được hưởng giáo dục đại học , nâng cao trình độ Điều này thể hiện ở tình trạng những người xuất thân từ gia đình có điều kiện thì khả năng tiếp cận với giáo dục đại học cao hơn những người đến từ gia đình có thu nhập thấp Nhiều sinh viên xuất thân từ gia đình khá giả có học lực kém nhưng vấn khá dễ dàng có được vị trí trong các trường đại học tư nhân ,hệ mở rộng hay thậm chí là ra nước ngoài du học Trong khi nhiều người tuy đã thi đỗ đại học nhưng không trang trải được chi phí đã phải bỏ

là nhân tố quan trọng hàng đầu trong tất cả mọi lĩnh vực, thì trong giáo dục đào tạo con người là nhân tố quyết định sự thành bại Con người ở đây là nói tới cả đội ngũ quản lý các cấp và những người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giảng dạy ở các cơ sở Chất lượng chưa cao ở cả hai lực lượng này dường như không khó khăn lắm để nhận ra Tuy nhiên điều quan trọng là phải tìm ra nguyên nhân dẫn tới tình trạng đó Gốc gác của vấn đề chính là trên thực tế, giáo dục và đào tạo chưa được coi là quốc sách hàng đầu như được nêu trong các văn kiện chính thức Việc tuyển chọn cán bộ quản lý giáo dục cũng như chính sách đãi ngộ khuyên khích người giỏi làm công tác giáo dục còn nhiều bất cập và chưa được chú ý đúng mức

3 Giải pháp

Có thể nói giải quyết vấn đề công bằng trong xã hội chính là việc thu hẹp sự cách biệt xã hội , nhưng chúng ta chỉ có thể tiệm cận nó chứ ko thể gạt bỏ nó hoàn toàn

Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục là điều kiện để phát triển nguồn nhân lực trong đó vai trò của chính phủ đóng vai trò quyết định Nhà nước phải vượt lên trên mọi quan niệm và xu hướng xã hội ,nhìn vào nhu cầu toàn dân ,như thế mới mong giữ được công bằng trong giáo dục

Nhà nước thực hiện công bằng trong giáo dục , tạo điều kiện để ai cũng được đi học Nhà nước

và cồng đồng giúp đỡ để người nghèo được học tập , tạo điều kiện để người có năng khiếu phát triển tài năng

Luật giáo dục của Việt Nam cũng quy định : Nhà nước thực hiện chính sách ưu tiên đối với đối tượng được hưởng chính sách xã hội , đối tượng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số , vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và các đối tượng theo học các ngành đặc thù đáp ứng nhu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế- xã hội, thực hiện bình đẳng giới trong xã hội

Nhà nước tạo điều kiện về đàu tư cơ sở vật chất

Ngày đăng: 07/01/2021, 11:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w