Giai cáp tư sản không chỉ áp bức, bóc lột giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong các nước, mà với lòng tham vô hạn, với khát vọng quyền lực, giai cấp tư sản đã tiến hành những cuộ
Trang 1HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
🙡🕮🙣
Tiểu luận: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Tên đề tài:
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI CÔNG BẰNG TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC – NHỮNG MÂU
THUẪN CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP
Họ tên: Phạm Đình Luận Lớp tín chỉ: CQ57/16.1_LT1 STT: 23
Thời gian thực hiện: Ngày 2/6/2020 – 5/6/2020
Hà nội, 2020
Trang 22
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, công bằng xã hội trở thành mục tiêu chung của tất cả các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Trong xã hội không có công bằng đối với một cá nhân hay cả xã hội sẽ dẫn đến những hậu quả rất nghiêm trọng Đối với cá nhân sẽ bị mất lòng tin Đối với xã hội sẽ trì trệ, phân biệt, đối kháng thậm chí rơi vào tình trạng hỗn loạn Đối với quốc gia sẽ phủ định mục tiêu phát triển duy nhất cơ sở chấp chính của đảng, tạo ra nguy cơ đối với địa vị lãnh đạo của đảng
Giáo dục là một điều kiện quan trọng bảo đảm công bằng trong phát triển xã hội Giáo dục, với trí tuệ góp phần quyết định tạo ra tiềm năng của mọi tiềm năng Thiếu học vấn, thiếu kiến thức, thiếu kỹ năng lao động con người sẽ rất khó khăn trong tìm việc, tạo việc và lao động với năng suất, hiệu quả cao Đồng thời, cũng rất khó khăn trong việc hòa nhập với đời sống cộng đồng và hưởng thụ được những gì mà nền văn minh hiện đại mang lại Vì vậy việc thực hiện công bằng trong giáo dục là điều tất yếu, cấp bách đối với
xã hội ngày nay đồng thời đi đôi với việc thực hiện công bằng trong xã hội
Chính vì những vấn đề cấp thiết trên nên tôi chọn đề tài: “Chủ nghĩa
xã hội và công bằng xã hội Công bằng trong giáo dục đại học ở Việt Nam – Những mâu thuẫn cơ bản và giải pháp” làm đề tài nghiên cứu
2 Kết cấu của bài tiểu luận
Phần mở bài (trang 1)
Phần nội dung
Chương 1: Chủ nghĩa xã hội và công bằng xã hội (trang 2)
Chương 2: Công bằng trong giáo dục đại học ở Việt Nam – Những mâu
thuẫn cơ bản và giải pháp (trang 7)
Phần kết luận (trang 12)
Trang 33
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI
1.1 Lí luận chung về chủ nghĩa xã hội (CNXH)
Không có định nghĩa rõ ràng về CNXH, mà nó là một trong ba ý thức
hệ chính trị lớn hình thành trong thế kỷ 19 bên cạnh chủ nghĩa tự do và chủ
nghĩa bảo thủ
1.1.1 Điều kiện ra đời của CNXH
1.1.1.1 Điều kiện khách quan
Sự phát triển của lực lượng sản xuất đã tạo ra một đội ngũ công nhân ngày càng đông về số lượng Họ gắng bó hữu cơ với nền sản xuất hiện đại
và giữ vai trò quyết định trong việc tạo ra ngày càng nhiều của cải vật chất cho xã hội, nhưng của cải đó lại bị giai cấp tư sản chiếm đoạt Điều đó giúp cho công nhân dễ dàng nhận thấy sự bạo tàn của giai cấp tư sản và họ trở thành kẻ thù của giai cấp tư sản; làm cho mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân
và giai cấp tư sản ngày càng gay gắt
Giai cáp tư sản không chỉ áp bức, bóc lột giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong các nước, mà với lòng tham vô hạn, với khát vọng quyền lực, giai cấp tư sản đã tiến hành những cuộc chiến tranh xâm lược các nước khác, chủ nghĩa tư bản trở thành chủ nghĩa đế quốc, biến những nước này thành thuộc địa của chúng Điều đó làm nảy sinh mâu thuẫn giữa các nước
tư bản với nước thuộc địa
Ngoài ra, ở hàng trăm nước nông dân vẫn còn mâu thuẫn địa chủ và nông dân, tư sản với nông dân Chính ở những nước này lại nổi lên mâu thuẫn giữa tư bản đế quốc xâm lược, gắn với bè lũ tay sai, phong kiến, tư sản phản động với cả dân tộc bị áp bức, bóc lột, mất độc lập tự do
1.1.1.2 Điều kiện chủ quan
Trang 44
Điều kiện chủ quan có ý nghĩa quết định nhất là sự trưởng thành của giai cấp công nhân, đặc biệt là khi nó đã có đảng tiên phong là Đảng cộng sản Lúc đó giai cấp công nhân mới thức có đủ khả năng, điều kiện để đứng
ra đảm đương sứ mệnh lịch sử của mình Điều kiện chủ quan thứ hai là sự liên minh công - nông và tầng lớp lao động khác đã tạo nên lực lượng khổng
lồ, sức mạnh to lớn để đảm bảo cho cách mạng thắng lợi
1.1.2 Đặc chưng của CNXH
CNXH là giai đoạn thấp của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa Nó có sự khác nhau về chất và nguyên tắc xây dựng so với chủ nghĩa
tư bản Dựa vào cơ sở lý luận khoa học của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin và thực tiễn xây dựng CNXH, chúng ta có thể nêu ra những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội như sau:
Đặc trưng thứ nhất: Cơ sở vật chất – kỹ thuật của CNXH là nền sản
xuất công nghiệp hiện đại Chỉ có nền sản xuất công nghiệp hiện đại mới đưa năng suất lao động lên cao, tạo ra ngày càng nhiều của cải vật chất cho xã hội, đảm bảo đáp ứng những nhu cầu về vật chất và văn hóa của nhân dân, không ngừng nâng cao phúc lợi xã hội cho toàn dân Nền công nghiệp hiện đại đó được phát triển dựa trên lực lượng sản xuất đã phát triển cao Ở những nước thực hiện sự quá độ “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN) lên CNXH”, trong đó có Việt Nam thì đương nhiên phải có quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa để từng bước xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại cho CNXH
Đặc trưng thứ hai: CNXH đã xóa bỏ chế độ tư hữu TBCN, thiết lập chế
độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu
Thủ tiêu chế độ tư hữu là cách nói vắn tắt nhất, tổng quát nhất về thực chất của công cuộc cải tạo xã hội theo lập trường của giai cấp công nhân Tuy nhiên, không phải xóa bỏ chế độ tư hữu nói chung mà là xóa bỏ chế độ tư hữu TBCN CNXH được hình thành dựa trên cơ sở từng bước thiết lập chế
Trang 55
độ sở hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, bao gồm sở hữu toàn dân và
sở hữu tập thể
Đặc trưng thứ ba: CNXH tạo ra cách tổ chức lao động và kỷ luật lao
động mới Quá trình xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
là một quá trình hoạt động tự giác của đại đa số nhân dân lao động, vì lợi ích của đa số nhân dân Chính bản chất và mục đích đó, cần phải tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới phù hợp với địa vị làm chủ của người lao động, đồng thời khắc phục những tàn dư của tình trạng lao động bị tha hóa trong
xã hội cũ
Đặc trưng thứ tư: CNXH thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động
– nguyên tắc phân phối cơ bản nhất
CNXH bảo đảm cho mọi người có quyển bình đẳng trong lao động sáng tạo
và hưởng thụ Mọi người có sức lao động đều có việc làm và được hưởng thù lao theo nguyên tắc “làm theo năng lực, hưởng theo lao động” Đó là một trong những cơ sở của CBXH ở giai đoạn này
Đặc trưng thứ năm: CNXH có Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước
kiểu mới, nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc; thực hiện quyền lực và lợi ích của nhân dân
Đặc trưng thứ sáu: CNXH đã giải phóng con người thoát khỏi áp bức
bóc lột, thực hiện công bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội, tạo những điều kiện
cơ bản để con người phát triển toàn diện
Những đặc trưng trên phản ánh bản chất của CNXH, nói lên tính ưu việt của CNXH Và do đó, CNXH là một xã hội tốt đẹp, lý tưởng, ước mơ của toàn thể nhân loại
1.2 Lí luận về công bằng xã hội (CBXH)
1.2.1 Khái niệm, lịch sử xuất hiện, quá trình biến đổi và những quan điểm về CBXH
CBXH không phải là một khái niệm bất di bất dịch Nó mang tính tương đối và phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể Tách khỏi hoàn cảnh lịch sử
Trang 66
cụ thể mà nói tới công bằng thì sẽ không hợp lý và khó trở thành hiện thực Nói cách khác, mỗi xã hội đều có chuẩn mực riêng của mình về CBXH do hoàn cảnh lịch sử của xã hội đó quy định
Trong chế độ xã hội công xã nguyên thủy, CBXH là mọi người đều tuân theo trật tự đã được cộng đồng thừa nhận, ai vi phạm sẽ bị trừng phạt Khi xuất hiện sở hữu tư nhân thì nội dung của khái niệm CBXH cũng thay đổi
Dưới chủ nghĩa tư bản, nội dung của khái niệm công bằng cũng thay đổi Quan hệ trao đổi hàng hóa được gọi là công bằng khi chúng thực hiện theo nguyên tắc ngang giá Trong xã hội, mọi người được tuyên bố là bình đẳng trước pháp luật Dĩ nhiên, đó là một hệ thống pháp luật nhằm bảo vệ trước hết cho giai cấp thống trị đương thời Các nhà lý luận của chủ nghĩa tư bản không đề cao giá trị công bằng mà đề cao giá trị "dân chủ" "tự do" (theo kiểu chủ nghĩa tư bản) Họ đồng nhất bình đẳng (bình đẳng hình thức, bình đẳng một số phương diện nhất định) với CBXH
Với CNXH, CBXH được thể hiện trong nguyên tắc phân phối theo lao động Theo C.Mác, sau khi đã khấu trừ đi những khoản cần thiết nhất để duy trì sản xuất, tái sản xuất cũng như để duy trì đời sống của cộng đồng, toàn
bộ số sản phẩm xã hội còn lại sẽ được phân phối theo nguyên tắc: mỗi người sản xuất sẽ nhận trở lại từ xã hội một số lượng vật phẩm tiêu dùng trị giá ngang với số lượng lao động mà anh ta đã cung cấp cho xã hội (sau khi đã khấu trừ số lao động của anh ta cho các quỹ xã hội) Đây là một nguyên tắc phân phối công bằng vì ở đây tất cả những người sản xuất đều có quyền ngang nhau tham dự quỹ tiêu dùng của xã hội khi làm một công việc ngang nhau
1.2.2 Nội dung CBXH
Nội dung cơ bản nhất của CBXH là xử lý hợp lý nhất quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định Để phản ánh được nội dung cơ bản này, các nhà kinh tế học thường phân biệt hai khái
Trang 77
niệm khác nhau về CBXH đó là: Công bằng theo chiều ngang đòi hỏi phải đối xử bình đẳng giữa những người có cùng năng lực và cống hiến, hưởng thụ như nhau Công bằng theo chiều dọc thể hiện ở việc nhà nước có chính sách đãi ngộ, tạo điều kiện, mở rộng khả năng tiếp cận cho người nghèo, những nhóm người dễ bị tổn thương đến với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục, việc làm, nguồn vốn, mạng lưới an sinh xã hội,
1.2.2.1 Đặc trưng của CBXH
Thứ nhất, CBXH là một giá trị nhằm xác lập mối quan hệ giữa người với người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, v.v ) theo nguyên tắc tương xứng giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa phẩm chất và năng lực với cơ hội và điều kiện phát triển
Thứ hai, CBXH là khái niệm mang tính lịch sử cụ thể Lịch sử loài người là lịch sử phấn đấu không mệt mỏi cho sự công bằng và đi đến CBXH
từ cấp thấp đến cấp cao Do đó, CBXH phản ánh trình độ phát triển về phương diện xã hội của con người
Thứ ba, CBXH là một trường hợp riêng của bình đẳng xã hội Công bằng xã hội có khía cạnh bình đẳng, đồng thời có khía cạnh bất bình đẳng Xét đến cùng, không có bình đẳng trừu tượng, mà bình đẳng phải được thể hiện ở việc thực hiện CBXH Đến lượt nó, bản thân việc thực hiện CBXH cũng chính là thực hiện bình đẳng xã hội từng phần để hướng đến bình đẳng
xã hội ngày một cao hơn
1.2.2.2 Nguyên tắc của CBXH
Thứ nhất, nguyên tắc bảo đảm quyền lợi. Mỗi cá nhân có quyền cơ bản, như quyền sinh sống, quyền bảo đảm xã hội, quyền nhận được sự giáo dục Nguyên tắc bảo đảm quyền lợi là quốc gia và xã hội đối với các quyền cơ bản của công dân đều phải được duy trì và bảo vệ, bảo đảm mỗi công dân đều được tôn trọng
Trang 88
Thứ hai, nguyên tắc công bằng về cơ hội Công bằng về cơ hội bao hàm
3 tầng ý: một là, bình đẳng, phàm là con người sinh ra đều giống nhau; hai
là, thực hiện quá trình bình đẳng trong quá trình thực hiện cơ hội tất yếu loại trừ các yếu tố không chính đáng, can dự đặc quyền; ba là, thừa nhận và tôn trọng sự khác biệt tự nhiên trong quá trình phát triển về phương diện tiềm năng của con người
Thứ ba, nguyên tắc phân phối theo sự cống hiến Trong sản xuất và sinh
hoạt, mỗi một cá nhân đầu tư vào chất lượng và số lượng lao động, yếu tố sản xuất của đầu tư hoàn toàn không giống nhau, do đó cống hiến cụ thể trong xã hội cũng có sự khác biệt
Thứ tư, nguyên tắc quan tâm đến người yếu thế Một xã hội quá cường
điệu sự bình đẳng khó tránh khỏi rơi vào bình quân chủ nghĩa, sẽ tổn hại nghiêm trọng đến tính tích cực của người lao động, rơi vào hiệu suất thấp, không phù hợp với nguyên tắc công bằng Do đó, chính sách xã hội cần phải hướng về các nhóm yếu thế, bảo đảm lợi ích cho các nhóm này, thực hiện người người đều chung hưởng, tất cả đều nhận được lợi ích
1.2.3 CBXH là mục tiêu của CNXH
Công bằng là tiêu chí quan trọng của tiến bộ, văn minh xã hội, cũng là
cơ sở phát triển xã hội Nhân loại đối với việc theo đuổi giàu có phong phú, tất yếu xây dựng cơ sở của công bằng, ngược lại xã hội không có chế ước đạo đức sẽ dẫn tới tình trạng hỗn loạn, bất ổn C.Mác đã xây dựng cơ sở khoa học để xây dựng và thực hiện, chỉ rõ căn nguyên của xã hội không công bằng
là chế độ áp bức bóc lột của chế độ TBCN, nhận ra rằng chỉ có cải tạo chế
độ TBCN, xóa bỏ chế độ tư hữu, thực hiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, mới có thể thực hiện công bằng chân chính Chính vì vậy, lấy việc thực hiện công bằng xã hội là chỉ ra tiền viễn cảnh của văn minh sáng lạn
Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” Người đặt ra mục tiêu giải phóng con người một cách triệt để, coi cái đích cuối cùng
Trang 99
của công cuộc giải phóng là con người, phải làm sao để mang lại cuộc sống tốt đẹp cho con người Hồ Chí Minh vạch ra đích đến cho chủ nghĩa xã hội:
“Thay đổi cả xã hội, thay đổi cả thiên nhiên, làm cho xã hội không còn người bóc lột người, không còn đói rét, mọi người đều được ấm no, hạnh phúc” Qua đó có thể thấy rằng, xóa bỏ tình trạng áp bức, bóc lột, thực hiện công bằng xã hội chính là một mục tiêu phấn đấu, quan trọng của chủ nghĩa xã hội
CHƯƠNG 2: CÔNG BẰNG TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM – NHỮNG MÂU THUẪN CƠ BẢN VÀ GIẢI QUYẾT
2.1.Công bằng trong giáo dục đại học Việt Nam
2.1.1 Công bằng trong giáo dục là gì?
Khái niệm công bằng trong giáo dục là một phần bình đẳng về chính trị, kinh tế được thể hiện trong lĩnh vực giáo dục Quyền lợi được hưởng giáo dục một cách bình đẳng là một trong những giá trị cơ sở hiện đại hóa giáo dục, cần đảm bảo quyền lợi cho tất cả thành viên trong xã hội được hưởng giáo dục, cần kết hợp giữa công bằng với chất lượng, nỗ lực bảo đảm nền giáo dục công bằng, chất lượng cho toàn thể nhân dân Công bằng trong giáo dục là mục tiêu quan trong cần đạt được của nên giáo dục hiện đại, cũng là tiêu chí quan trong để phát triển trình độ giáo dục hiện đại
2.1.2 Thực trang và nguyên nhân của giáo dục đại học (GDĐH) Việt Nam ngày nay
GDĐH Việt Nam hội nhập và tiếp cận chuẩn mực quốc tế:
1 Theo báo Điện tử Lao Động (ngày 17/10/2018)
Trang 1010
Có thể thấy chưa bao giờ giáo dục của Việt Nam đổi mới nhanh và mạnh mẽ, tiếp cận các chuẩn mực của quốc tế như những năm qua Minh chứng cho nhận định này có thể thấy qua việc kiểm định chất lượng GDĐH, xếp hạng đại học Lần đầu tiên trong lịch sử GDĐH Việt Nam, vào năm
2018, có 2 Đại học Quốc gia có tên trong danh sách xếp hạng 1000 trường hàng đầu thế giới theo bảng xếp hạng QS; trên 10 cơ sở GDĐH của Việt Nam có tên trong các bảng xếp hạng nghiên cứu SCImago, thứ hạng cũng dần được cải thiện Có thể thấy những thành tựu về kiểm định chất lượng và xếp hạng đại học là minh chứng cho sự thành công, sự chuyển mình, cho sự đổi mới toàn diện và hội nhập của GDĐH Việt Nam với quốc tế trong thời gian qua
Tạo được sự đột phá, chuyển biến về phương thức giảng dạy:
Trong thời gian 5 năm qua, Bộ GDĐT đã ban hành Quy chế mới về đào tạo đại học, thạc sĩ và tiến sĩ, trong đó chuyển đổi hoàn toàn từ đào tạo niên chế sang tín chỉ và yêu cầu xác định chuẩn đầu ra của từng chương trình đào tạo,
Chăm lo đào tạo và bồi dưỡng nhân tài:
Một thành tựu nữa không thể không nhắc đến là đào tạo và bồi dưỡng nhân tài Bên cạnh các chương trình đào tạo chuẩn, Bộ GDĐT còn chỉ đạo các trường đại học tích cực triển khai các chương trình đào tạo tài năng, tiên tiến, chất lượng cao để đào tạo và bồi dưỡng nhân tài Chương trình tài năng đào tạo các cử nhân, kỹ sư có năng khiếu trong lĩnh vực khoa học cơ bản (cử nhân tài năng) và kỹ thuật công nghệ (kỹ sư tài năng) Chương trình đào tạo tiên tiến là các chương trình đào tạo bậc đại học, áp dụng cho các ngành Khoa học tự nhiên - công nghệ, sử dụng toàn bộ chương trình, giáo trình của một đại học nước ngoài, giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh, do Bộ GDĐT phê duyệt và cấp kinh phí triển khai thực hiện
2.1.2.2 Những hạn chế
Vấn đề về thi cử: