1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) quan niệm của chủ nghĩa mác lênin về công bằng xã hội với việc thực hiện công bằng xã hội ở quảng trị hiện nay

90 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan Niệm Của Chủ Nghĩa Mác-Lênin Về Công Bằng Xã Hội Với Việc Thực Hiện Công Bằng Xã Hội Ở Quảng Trị Hiện Nay
Tác giả Trịnh Đình Anh Việt
Người hướng dẫn PGS.TS. Lê Hữu Ái
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Triết học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 730,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh chung đó, với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và nhân dân Quảng Trị đã đạt được những thành tựu quan trọng trong việc thực hiện công bằng xã hội trên các phương diện của

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRỊNH ĐÌNH ANH VIỆT

QUAN NIỆM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN

VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI VỚI VIỆC THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở QUẢNG TRỊ HIỆN NAY

Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60 22 80

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ HỮU ÁI

Đà Nẵng - Năm 2013

h

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Người cam đoan

TRỊNH ĐÌNH ANH VIỆT

h

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn 2

5 Đóng góp của luận văn 3

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI 5

1.1 CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG BẰNG XÃ HỘI 5

1.1.1 Khái niệm công bằng xã hội 5

1.1.2 Vai trò của công bằng xã hội 7

1.2 CÁC QUAN NIỆM VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG LỊCH SỬ 9

1.2.1 Quan niệm trước triết học Mác về công bằng xã hội 9

1.2.2 Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về công bằng xã hội 19

1.3 QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI 22

1.3.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về công bằng xã hội 22

1.3.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công bằng xã hội 27 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34

CHƯƠNG 2 THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở TỈNH QUẢNG TRỊ HIỆN NAY 35

2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỈNH QUẢNG TRỊ 35

2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội 35

2.1.2 Về lịch sử - văn hóa 42

h

Trang 4

2.2 TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở QUẢNG TRỊ

HIỆN NAY 43

2.2.1 Những thành tựu đạt được trong thực hiện công bằng xã hội 43

2.2.2 Những hạn chế và nguyên nhân 50

2.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở TỈNH QUẢNG TRỊ HIỆN NAY 54

2.3.1 Giải quyết hài hòa và hợp lý lợi ích giữa cá nhân và xã hội 54

2.3.2 Nghịch lý trong việc thực hiện chính sách kinh tế, chính sách xã hội trong việc giải quyết lợi ích của cộng đồng dân cư 56

2.3.3.Giải quyết hài hòa, đúng pháp luật mâu thuẫn giữa lợi ích nhà đầu tư và lợi ích người lao động 57

2.3.4 Thực hiện tốt có hiệu quả khi giải quyết các mâu thuẫn trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo nhằm thực hiện công bằng xã hội trong lĩnh vực này 58

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 60

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở TỈNH QUẢNG TRỊ HIỆN NAY 61

3.1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH GIẢI PHÁP 61

3.1.1 Cơ sở lý luận 61

3.1.2 Cơ sở thực tiễn 64

3.2 CÁC GIẢI PHÁP 65

3.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo của tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị trong việc thực hiện công bằng xã hội 65

3.2.2 Bổ sung và hoàn thiện hệ thống chính sách về công bằng xã hội 68

3.2.3 Nâng cao hiệu quả tuyên truyền và giáo dục về công bằng xã hội các tầng lớp nhân dân tỉnh Quảng Trị 73

h

Trang 5

3.2.4 Đẩy mạnh công tác thanh tra, giám sát việc thực hiện công

bằng xã hội 74

3.2.5 Xã hội hóa các nguồn lực cho thực hiện công bằng xã hội 75

3.3 CÁC KIẾN NGHỊ 77

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 78

KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

h

Trang 6

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Loài người đã tiến bước vào thế kỷ XXI, với những thuận lợi, khó khăn

và thách thức mới Thế kỷ của sự bùng nổ thông tin, khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, hội nhập kinh tế quốc tế đã làm cho cục diện thế giới có những biến động và phân hóa sâu sắc về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng và an ninh Một số quốc gia, trên thế giới đã có những biến đổi lớn so với những thập niên cuối thế kỷ XX

Dân tộc Việt Nam, sau hơn 25 năm đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, chúng ta đã đạt được những kết quả to lớn đáng khích lệ, kinh

tế tăng trưởng khá nhanh, chính trị ổn định, an ninh được giữ vững, quốc phòng được tăng cường, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện rõ rệt

vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định: Phải thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển là một chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa

Trong bối cảnh chung đó, với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và nhân dân Quảng Trị đã đạt được những thành tựu quan trọng trong việc thực hiện công bằng xã hội trên các phương diện của đời sống xã hội như: xóa đói, giảm nghèo, an sinh xã hội, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, y tế, giáo dục và đào tạo v.v… Tuy nhiên, do các nguyên nhân chủ quan và khách quan nên những thành tựu đã đạt được chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển kinh tế, xã hội của Tỉnh

Đứng trước thực trạng đó, đòi hỏi cần có sự đánh giá khách quan và khoa học, trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng xã hội, nhằm tìm kiếm các giải pháp để thực hiện tốt mục tiêu công bằng xã hội,

h

Trang 7

đảm bảo sự phát triển bền vững và hài hòa của Tỉnh Quảng Trị Nhận thức

được tầm quan trọng đó, nên tôi chọn đề tài "Quan niệm của chủ nghĩa

Mác- Lênin về công bằng xã hội với việc thực hiện công bằng xã hội ở Quảng Trị hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục đích

Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng xã hội, từ sự phân tích thực trạng công bằng xã hội ở Quảng Trị hiện nay, luận văn xây dựng các giải pháp nhằm thực hiện công bằng xã hội ở Tỉnh Quảng Trị hiện nay

2.2 Nhiệm vụ

Để thực hiện mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:

Thứ nhất: làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng

xã hội

Thứ hai: phân tích thực trạng thực hiện công bằng xã hội ở Quảng Trị

hiện nay

Thứ ba: xây dựng các giải pháp nhằm thực hiện công bằng xã hội ở

Quảng Trị hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về công bằng xã hội

- Thực trạng thực hiện công bằng xã hội ở Quảng Trị hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn chỉ giới hạn trong phạm vi quan niệm của chủ nghĩa Mác- Lênin về công bằng xã hội và việc thực hiện công bằng xã hội ở Quảng Trị hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và

h

Trang 8

chủ nghĩa duy vật lịch sử, có sự kết hợp với các phương pháp: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng và khái quát hóa, thống kê nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ mà đề tài đã đặt ra

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn góp phần làm sáng tỏ quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin

về công bằng xã hội với việc thực hiện công bằng xã hội ở Quảng Trị hiện nay, từ đó đề xuất những phương hướng và giải pháp thích hợp nhằm thực hiện tốt công bằng xã hội ở Quảng Trị hiện nay

Kết quả nghiên cứu luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cơ quan hoạch định chính sách về công bằng xã hội, cũng như những ai quan tâm

về vấn đề này

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Xung quanh vấn đề: Quan niệm của chủ nghĩa Mác- Lênin về công bằng xã hội với việc thực hiện công bằng xã hội ở Quảng trị hiện nay, đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như:

“Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường ở nước ta”, do TS Hoàng Thị Thành làm chủ nhiệm đề tài, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1998; “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở một số nước châu Á và Việt Nam”, do

TS Lê Bộ Lĩnh làm chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở một

số tỉnh miền Trung”, do TS Phạm Hảo, TS Võ Xuân Tiến, TS Mai Đức Lộc đồng chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000; "Tăng trưởng kinh tế

và công bằng xã hội lý thuyết và thực tiễn ở Thành Phố Hồ Chí Minh", do tác giả Đỗ Phú Trần Tỉnh (chủ biên), Nxb Lao động, 2010; “Vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay", Luận án tiến sĩ của Vũ Anh Tuấn, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2001); “Giải

h

Trang 9

quyết mâu thuẫn nhằm thực hiện tốt việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở nước ta” của tác giả Nguyễn Tấn Hùng (Tạp chí Triết học,

số 5/1999); “Nhà nước với việc thực hiện công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay”, Luận văn thạc sĩ của

Võ Thị Hoa, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2002; “Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong giai đoạn hiện nay ở nước ta (Qua thực tế tỉnh Quảng Trị)”, Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Xuân Phong, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2003; “Thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc trong giáo dục - đào tạo ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay”, Luận văn thạc sĩ của Phạm Văn Dũng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2004; “Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới - vấn đề và giải pháp”, do TS Nguyễn Thị Nga làm chủ nhiệm đề tài, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2006; “Vai trò của Nhà nước trong việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ở nước ta hiện nay”, của PGS.TS Trần Thành, Tạp chí Triết học, số 2(177), 2006; “Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

ở nước ta hiện nay - những quan điểm cơ bản của Đảng”, của TS Nguyễn Thị Nga, Tạp chí Triết học, số 9(184), 2006 “Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội”, của TS Nguyễn Minh Hoàn, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2009

Ngoài ra, còn rất nhiều bài viết của các nhà khoa học đăng trên các báo và tạp chí bàn về vấn đề công bằng xã hội ở Việt Nam và trên thế giới trong thời gian gần đây Tuy nhiên, vẫn chưa có tác giả nào đề cập vấn đề một cách trực tiếp dưới góc độ triết học như tên đề tài đã nêu Những tài liệu nêu trên chứa đựng những giá trị khoa học rất quý giá, được tác giả tiếp thu, kế thừa có chọn lọc để phát triển trong luận văn này

h

Trang 10

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI

1.1 CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG BẰNG XÃ HỘI

1.1.1 Khái niệm công bằng xã hội

Trong lịch sử có rất nhiều quan điểm khác nhau về công bằng xã hội,

nó được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau Khái niệm công bằng xã hội thường gắn liền với khái niệm bình đẳng xã hội Vì vậy, việc phân biệt hai khái niệm này là cần thiết giúp ta hiểu được thực chất và các khía cạnh khác nhau khi nhận thức

Khi nói đến bình đẳng, là nói đến quan hệ ngang nhau giữa con người với con người trong một lĩnh vực kinh tế - xã hội cụ thể nào đó, ví dụ, sự ngang bằng nhau về địa vị kinh tế, chính trị, đạo đức, tín ngưỡng… Ngoài những lĩnh vực đó, nếu xét sự ngang bằng nhau giữa người với người, chẳng hạn, về thể chất, trí lực, hay những điều kiện khác thì người ta không gọi đó là

sự bình đẳng mà thường coi đó là sự ngang bằng nhau

Xã hội bao giờ cũng là sự tác động lẫn nhau giữa những con người, do

đó sự bình đẳng giữa người và người trong một lĩnh vực kinh tế - xã hội nhất

định bao giờ cũng là sự bình đẳng thể hiện ở mối quan hệ xác định, một là, sự bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ; hai là, sự bình đẳng trong việc được hưởng quyền lợi và ba là, bản thân mối quan hệ tương ứng hoặc không tương

ứng giữa sự ngang nhau

Khi nhấn mạnh rằng, công bằng xã hội chỉ là bình đẳng ở thực hiện nghĩa vụ hoặc chỉ là bình đẳng về quyền lợi, hoặc ở trường hợp thứ ba như đã nêu ở trên đã tạo nên những quan niệm rất khác nhau trong lịch sử về bình đẳng; bất bình đẳng; về công bằng; bất công bằng xã hội

h

Trang 11

Thuật ngữ “công bằng” được dùng trong tiếng Việt theo nghĩa hẹp hơn

so với trong một số tiếng nước ngoài “Justice”, trong tiếng Anh và tiếng Pháp, được hiểu theo nghĩa rộng hơn, là sự đúng đắn, chính đáng, lẽ phải, công lý… Do đó, khi đề cập đến “social justice”, trước hết, người ta nói đến khía cạnh pháp lý của nó Như vậy, vấn đề phân phối chỉ là một trong những khía cạnh của công bằng xã hội Ngoài ra, vấn đề tự do cá nhân, quyền con người, vấn đề môi trường,… cũng được coi là những khía cạnh khác nhau của công bằng xã hội

Trong tiếng Việt, khi nói tới công bằng, người ta thường liên tưởng đến

“sự bằng nhau”, tức sự bình đẳng Thật ra, công bằng và bình đẳng tuy có liên quan với nhau, nhưng đó là hai khái niệm khác nhau Công bằng có khía cạnh bình đẳng, đồng thời có khía cạnh bất bình đẳng Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ công dân trước pháp luật; bình đẳng về nhân phẩm, chủng tộc, giới tính, tín ngưỡng tôn giáo chống lại mọi sự kỳ thị, phân biệt đối xử là những yêu cầu của công bằng xã hội Tuy nhiên, sự bất bình đẳng về hưởng thụ do

sự không ngang nhau về phẩm chất và năng lực trong lao động, cống hiến cũng là một yêu cầu của công bằng xã hội

Bản chất của công bằng xã hội, là sự tương xứng giữa một loạt các khía cạnh khác nhau trong quan hệ giữa cái mà cá nhân, nhóm xã hội làm cho tập thể, cho xã hội hoặc cho cá nhân, nhóm xã hội khác với cái mà họ được hưởng từ tập thể, xã hội hay từ cá nhân, nhóm xã hội khác Cái mà cá nhân làm có thể là điều tốt lành cho xã hội (lao động, cống hiến, nghĩa vụ lao động) hoặc cũng có thể là điều xấu, có hại cho xã hội (thí dụ: tội phạm…) Còn cái

mà cá nhân được hưởng có thể là tiền công, phần thưởng, quyền lợi, địa vị xã hội, sự đánh giá, ghi công của xã hội,… và cũng có thể là sự trừng phạt bằng những hình thức từ thấp đến cao

h

Trang 12

Mặc dù có rất nhiều quan niệm khác nhau về thước đo bình đẳng của xã hội, nhưng chung quy các quan điểm ấy thường có một điểm chung là nhấn mạnh đến một xuất phát điểm bình đẳng ở sự tự nguyện như là thước đo thực

sự của công bằng xã hội Trong lịch sử, mỗi quan điểm khác nhau về công bằng được gắn với những nguyên tắc để đánh giá là công bằng hay không công bằng Điều đáng chú ý là một số học giả phương Tây hiện đại cho rằng, những nguyên tắc bình đẳng – thước đo của công bằng xã hội được nhấn mạnh thể hiện ở: bình đẳng về cơ hội; bình đẳng về kết quả; thậm chí cả ở nguyên tắc bình quân chủ nghĩa… Với những quan niệm như vậy thì trong lịch sử của nhân loại các tư tưởng về công bằng xã hội đã được bàn như thế nào kể từ thời cổ đại cho đến ngày hôm nay, sau đây là một số quan niệm của triết học phương Đông và phương Tây về công bằng xã hội

Như vậy, thì công bằng xã hội là một phạm trù xã hội dùng để chỉ trình

độ phát triển về phương diện xã hội của con người (cá nhân và cộng đồng),

được thực hiện và thể hiện trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tinh thần, mà trước hết là lĩnh vực xã hội Nó phản

ánh mối quan hệ về nghĩa vụ và quyền lợi giữa xã hội và cá nhân, nhằm đảm

bảo sự phát triển hài hòa của con người, của xã hội phù hợp với xu thế và tiến

bộ xã hội Công bằng xã hội vừa là khát vọng của con người, vừa là động lực,

là mục tiêu của sự phát triển xã hội, của cách mạng xã hội chủ nghĩa, của sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Công bằng xã hội là sự ngang bằng nhau giữa người và người về phân phối sản phẩm vật chất và tinh thần theo nguyên tắc cống hiến như nhau thì được hưởng thụ giống nhau

1.1.2 Vai trò của công bằng xã hội

Công bằng xã hội có vai trò và vị trí quan trọng trên nhiều phương diện trong đời sống xã hội

h

Trang 13

Trước hết, công bằng xã hội là động lực của sự phát triển xã hội Xã

hội là hình thái vận động cao nhất của vật chất Hình thái vận động này lấy mối quan hệ của con người và sự tác động lẫn nhau giữa người với người làm nền tảng C Mác cho rằng, xã hội không phải gồm các cá nhân, mà xã hội biểu hiện tổng số những mối liên hệ và những quan hệ của các cá nhân đối với nhau Với tư cách vừa là một bộ phận của tự nhiên, vừa là sản phẩm của

sự tác động qua lại giữa con người, để tồn tại và phát triển, sự vận động của

xã hội phải tuân theo những quy tắc khách quan Khác với quy luật tự nhiên,

sự tác động của quy luật xã hội diễn ra thông qua hoạt động của con người Động lực thúc đẩy con người hoạt động trong mọi thời đại, mọi xã hội là lợi ích của chủ thể hoạt động Do vậy, lợi ích trở thành yếu tố quan trọng trong

cơ chế hoạt động của các quy luật xã hội và trong nhận thức của con người về các quy luật đó

Công bằng xã hội là thước đo về mặt xã hội của tiến bộ xã hội Công

bằng xã hội là phạm trù chính trị - xã hội, đạo đức có tính lịch sử Trong hình thái kinh tế - xã hội, một quan hệ sản xuất thống trị sẽ có một nguyên tắc phân phối trên cơ sở quan hệ sản xuất ấy Nguyên tắc phân phối trong chế độ cộng sản nguyên thủy là bình quân Nguyên tắc phân phối chủ đạo trong chế độ nô

lệ là quan hệ bất công, bất bình đẳng giữa chủ nô và nô lệ vì trong xã hội này,

tư liệu sản xuất chủ yếu thuộc về tầng lớp chủ nô, nô lệ thuộc sở hữu của chủ

nô Nguyên tắc phân phối chủ đạo trong chế độ phong kiến là quan hệ bất công, bất bình đẳng giữa giai cấp nông dân và giai cấp phong kiến vì trong xã hội này tư liệu sản xuất và sức lao động của người lao động là sở hữu của lãnh chúa phong kiến Trong chủ nghĩa tư bản, tư liệu sản xuất thuộc về giai cấp tư sản, vì vậy nguyên tắc phân phối chủ đạo trong xã hội này là quan hệ bất công

và bất bình đẳng giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân Trong thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội, còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư

h

Trang 14

liệu sản xuất và các thành phần kinh tế Do đó, các nguyên tắc phân phối cũng khá đa dạng, trong đó, nguyên tắc phân phối theo lao động vẫn là nguyên tắc chủ đạo, bởi chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu là đặc trưng cơ bản trong thời kỳ quá độ Theo đó, nguyên tắc phân phối này tiến bộ hơn so với chủ nghĩa tư bản

Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên Trong lịch sử phát triển ấy, tiến bộ xã hội được thể hiện thông qua sự tiến bộ của các hình thái kinh tế - xã hội Qua các hình thái kinh tế - xã hội đã

có trong lịch sử, ta thấy rõ mức bất công trong phân phối sản phẩm của lao động đã giảm dần và mức công bằng tăng dần Cùng với quan hệ phân phối như trên, quan hệ trao đổi theo nguyên tắc ngang giá giữa các chủ sở hữu hàng hóa trong nền sản xuất hàng hóa cũng được tăng lên theo sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội Như vậy, trình độ công bằng xã hội đạt được trong từng hình thái kinh tế - xã hội chính là thước đo về mặt xã hội của tiến bộ xã hội tương ứng với hình thái kinh tế - xã hội ấy

1.2 CÁC QUAN NIỆM VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG LỊCH SỬ 1.2.1 Quan niệm trước triết học Mác về công bằng xã hội

Tư tưởng triết học Trung Hoa cổ đại

Nếu phương Đông là chiếc nôi lớn của văn minh nhân loại thì Trung Hoa là một trong những trung tâm, rực rỡ và phong phú nhất của nền văn minh ấy Trong đó, tư tưởng triết học, được xem là nền tảng của nền văn hóa

cổ Trung Quốc

Với tính cách là hình thái ý thức xã hội, quá trình phát triển của tư tưởng triết học Trung Quốc cổ đại gắn liền với sự biến đổi của tính chất sinh hoạt xã hội Trung Hoa cổ đại Nội dung và đặc điểm của nền triết học đó tất yếu phản ánh và bị chi phối bởi những điều kiện lịch sử của xã hội ấy

h

Trang 15

Khổng Tử ( 551 – 479 tr CN), Người sáng lập ra học thuyết Nho, nhà

tư tưởng vĩ đại của Trung Hoa trong thời cổ đại Lịch sử Trung Hoa cổ đại cho rằng cuối thời Xuân - Thu sự thay đổi các quan hệ sản xuất trong phương thức chiếm hữu nô lệ bắt đầu dẫn đến sự thay đổi kiến trúc thượng tầng của xã hội Ông cho rằng: Muốn cho xã hội thái bình, thịnh trị thì không được để cho giàu nghèo quá cách biệt Về bản chất là biểu hiện của quan điểm công bằng, luận điểm này bị phê phán kịch liệt, rằng đó là cơ sở hình thành chủ nghĩa

bình quân Tuy nhiên, về mặt lịch sử, khi ông nói: Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng, không lo nghèo chỉ lo lòng người không yên thì giá trị nhân

văn của cộng đồng của bình đẳng được khẳng định và có vai trò to lớn trong đời sống xã hội

Mạnh Tử ( 371 – 289 tr CN) một triết gia lớn thời Tiên Tần khi đề cập

về công bằng xã hội, Ông đưa ra thuyết “Nhân chính” chống việc dùng vũ lực

thôn tính lẫn nhau giữa các nước, đòi hỏi bọn quý tộc phải để cho nhân dân có tài sản riêng thì họ mới yên tâm làm ăn Trong xã hội “Trên dưới tranh lợi lẫn nhau”, ông chủ trương chống điều lợi, chống làm giàu Để tránh được hiện tượng “Trên dưới tranh lợi lẫn nhau”, Ông đưa ra phép “Tỉnh điền” thực chất

là muốn quay trở lại mô hình xã hội thị tộc công xã thời Chu Ông cũng đề ra chủ trương “Chính trị được lòng dân” khá mới mẻ Ông nói: “Dân vi quý , xã tắc thứ chi, quân vi khinh” nghĩa là, đáng quý nhất là dân, kế đến là xã tắc, còn vua là thường, vua coi những người tôi như con chó, con ngựa, thì những người tôi coi vua như những người khác; vua coi người tôi như cỏ rác, thì những người tôi coi vua như kẻ thù Đó là những tư tưởng tiến bộ, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử

Mặc dù là người ủng hộ chế độ phân định đẳng cấp trong xã hội xuất phát từ thế giới quan của mình, cũng như xuất phát từ quan điểm trong quan

hệ hàng hóa; Mạnh Tử luôn nhấn mạnh cơ sở đảm bảo sự ổn định xã hội

h

Trang 16

chính là bị quy định bởi sự đối xử nhân nghĩa của người quân tử, của bậc quân vương đối với hạng bình dân Đặc biệt, với quan điểm về mối quan hệ hai chiều thể hiện sự công bằng mang tính “khế ước” ấy, và trên cơ sở này nếu đem so sánh với vị trí của xã tắc, của bậc quân vương, với người dân trong tư tưởng của Mạnh Tử, thì thậm chí, thứ hạng của người dân luôn một trật tự: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” Đây chính là nền tảng một

tư tưởng theo quan niệm của Mạnh Tử

Mặc Tử ( 480 – 420 tr.CN) sống trong bối cảnh xã hội thời kỳ tan rã của chế độ thị tộc dựa trên chế độ bất công Đây là thời kỳ đang phát triển của chế độ tư hữu, mà ở đó dân tự do và thợ thủ công ngày càng có vị trí kinh tế đáng kể trong xã hội, họ mong muốn được tham gia chính quyền Tư tưởng của Mặc Tử chính là sự phản ánh nguyện vọng của tầng lớp dân tự do, sản xuất nhỏ

Xuất phát từ thực tế như vậy, Mặc Tử đã mơ ước xây dựng được một

xã hội tốt đẹp mà ở đó mọi người trong xã hội không phân biệt trên dưới, cùng thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, cùng làm lợi cho nhau trên tinh thần

“kiêm ái” Tư Tưởng “kiêm ái” được Mặc Tử coi là mực thước của một xã hội tốt đẹp vì lợi ích của mọi người Điều đó cũng được thực hiện tinh thần dân chủ bình đẳng sơ khai và chủ nghĩa vị tha trong tư tưởng của ông Thậm chí, với học thuyết “kiêm ái” và chủ nghĩa công lợi, thì người ta cho rằng Mặc

Tử là người đầu tiên có ý tưởng về thế giới đại đồng (một xã hội hòa thuận

mà ở đó con người hoàn toàn bình đẳng với nhau và công lý được thi hành triệt để) Tuy nhiên, mong muốn xây dựng được một xã hội mà ở đó mọi người cùng có thể thương yêu lẫn nhau, cùng làm lợi cho nhau theo ông lại phải thông qua “ý chí của trời”, thì chính điều này lại khiến tư tưởng của Mặc

Tử trở thành một ảo tưởng trong việc xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn

h

Trang 17

Lão Tử ( 604 – 531 tr.CN) là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của Trung Hoa cổ đại, người sáng lập ra phái Đạo gia Ông có cái nhìn đúng đắn về nguyên nhân của hiện thực

Lão Tử phê bình một cách gay gắt giai cấp thống trị đương thời Ông chỉ ra rằng dân đói là do sự nhũng nhiễu của quan lại và sưu thuế nặng nề Lão Tử chỉ trích bọn mặc quần áo gấm vóc, mang thanh gươm sắc bén, ăn món ngon vật lạ và tích lũy quá nhiều, đó là kẻ trộm cướp…, thái độ trốn tránh hiện thực, phục cổ và thủ tiêu đấu tranh giai cấp của Lão Tử cũng thể hiện khá rõ Ông chủ trương “không chống lại cái xấu” bởi vì, “pháp luật càng nghiêm minh thì trộm cướp càng lắm”, đòi hỏi giai cấp thống trị cũng như nhân dân phải tuân theo quy luật tự nhiên Ông cho rằng người đứng đầu Nhà nước phải là thánh nhân trị vì thiên hạ bằng đạo “vô vi” Xóa bỏ mọi ràng buộc con người bởi quy phạm đạo đức, pháp luật trả lại cho con người cái bản tính tự nhiên của nó

Lão Tử tuyệt đối hóa quy luật khách quan (Đạo) Ông chủ trương không nên tiến lên, mà trở lại đời sống nguyên thủy, lên án kinh tế hàng hóa, muốn giữ nền kinh tế xã hội công xã thị tộc, không có tư hữu và Nhà nước Mặc dù vậy tư tưởng của ông có ảnh hưởng rất lớn ở Trung Hoa

Hàn Phi Tử (280 - 233 tr.CN) là một công tử nước Hàn, từ nhỏ Ông đã nổi tiếng thông minh, học giỏi Ông say mê nghiên cứu cả đạo Nho, đạo Lão, nhưng đặc biệt quan tâm là học thuyết của phái Pháp gia Ông đã phát triển tư tưởng pháp trị của các nhà triết học trước đó thành một học thuyết pháp trị khá hoàn chỉnh thực hiện chủ nghĩa quân chủ chuyên chế tập trung đến cao độ nhằm xóa bỏ tình trạng phân tán cát cứ kéo dài hơn 500 năm của thời Xuân Thu – Chiến Quốc nhằm thiết lập một xã hội công bằng Sau khi ông mất, học thuyết chính trị của ông được nhà Tần hết sức đề cao

h

Trang 18

Trong xã hội phong kiến, với sự phân chia giai cấp địa chủ và nông dân, đất đai và tư liệu sản xuất thuộc về giai cấp địa chủ, quý tộc, nông dân họ chỉ là người làm thuê, con người hàng ngày vẫn phải đối mặt với những bất công trong xã hội Đây cũng chính là nguyên nhân của hàng loạt các cuộc khởi nghĩa của nông dân chống lại bọn địa chủ phong kiến đòi công bằng và bình đẳng trong xã hội Ph Ăngghen đã từng nhận xét: "điều đó lý giải vì sao chế độ phong kiến lại có nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại địa chủ, lãnh chúa

để đòi công bằng xã hội" [42, tr 243]

Tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại

Trong nền văn minh rực rỡ của phương Đông, Ấn Độ cổ đại là một trong những cái nôi triết học, tôn giáo lâu đời, phong phú và đặc biệt của nhân loại Phật giáo là một trào lưu triết học tôn giáo xuất hiện vào khoảng thế kỷ

VI trước công nguyên, ở miền Bắc Ấn Độ, phía Nam dãy Himalaya, vùng biên giới giữa Ấn Độ và Nêpan bây giờ Đạo Phật được xây dựng trên cơ sở cuộc đời và tư tưởng triết lý của Thích Ca Mâu Ni Khi bàn về công bằng xã hội, Phật giáo thừa nhận sự tồn tại lâu dài của bất công, lý giải nó bằng các nguyên nhân sinh học và tâm lý, tìm con đường giải phóng bằng sự tu tập thiện nguyện và nhận thức Vì thế, những bất công trên cõi đời không phải là

tồn tại thực Khi con người nhận thức được bản thể chân thực của mình là vô ngã, vô thường Coi cuộc đời chỉ là một kiếp trong vòng luân hồi, hướng tới

cõi Niết bàn, nơi con người được giải thoát khỏi mọi sự khổ đau, trở về với trạng thái tĩnh lặng chỉ có như thế, con người mới tự do, viên mãn.Tuy nhiên, không vì thừa nhận tính chất tạm bợ, vô thường của kiếp người mà Phật giáo không chủ trương giảm thiểu sự bất công, nỗi đau khổ của chúng sinh trên cuộc đời này Lòng từ, bi, hỉ, xả chủ trương hành thiện và giáo hóa Phật pháp được người tu hành Phật giáo coi là phương tiện cứu giúp con người, hóa giải bất công, đau khổ trong xã hội

h

Trang 19

Quan niệm của triết học phương Tây về công bằng xã hội

Platon ( 427 – 347 tr, CN) nhà triết học phương Tây thời cổ đại, trong tác

phẩm Nhà nước và Luật lệ, ông đã khẳng định, không có sự bình đẳng giữa

những tầng lớp khác nhau trong xã hội, bởi vì theo ông, bản thân Nhà nước xuất hiện từ chính sự đa dạng của nhu cầu con người Do có sự đa dạng về nhu cầu nên xã hội cần phải duy trì các hạng người khác nhau để thỏa mãn các nhu cầu của xã hội

Theo Platon, trong xã hội đương thời hoàn toàn không có sự bình đẳng Đó

là điều tất yếu Vì thế, ông cho rằng : “Sự bình đẳng giữa những người không bình đẳng là tệ xấu chủ yếu của nền dân chủ”, và : “Đối với những người không bình đẳng, sự bình đẳng sẻ trở thành không bình đẳng Sự bình đẳng chân chính là ở tính cân đối – người này được nhiều hơn, người khác được ít hơn, căn cứ theo bản chất của mỗi người…” Ông coi việc người nô lệ mà được đối xử như người tự do là điều vượt ra khỏi lẽ phải thông thường.Tuy nhiên, ông lại cho rằng dù xã hội không có sự bình đẳng nhưng vẫn có công bằng, bởi lẽ công bằng là ở chỗ mỗi hạng người dù ở địa vị xã hội nào cũng phải làm hết trách nhiệm của mình Như vậy, quan niệm của ông về công bằng xã hội, cái được nhấn mạnh không phải là sự ngang bằng giữa người với người trong mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, mà là sự phân định về đẳng cấp

Những tư tưởng của Platon về công bằng và bình đẳng đã ảnh hưởng nhất định đến những quan điểm về công bằng xã hội sau này, nhưng với những mục đích chính trị - xã hội không hoàn toàn giống nhau

Arixtốt ( 384- 322 tr CN) là một nhà hiền triết vĩ đại thời kỳ cổ đại Hy Lạp,

đã có những tư tưởng sâu sắc về công bằng xã hội Ông đã đưa ra những quan điểm về vai trò của Nhà nước đối với việc thực hiện công bằng xã hội theo ông, Nhà nước là kết quả phát triển của con người khi con người chuyển từ

h

Trang 20

đời sống tự nhiên sang đời sống chính trị, chính vì con người là động vật chính trị sống cố kết trong một cộng đồng xã hội nhất định, cho nên con

người cần được đảm bảo không chỉ về vật chất, mà còn phải đảm bảo cả sự công bằng Ông cho rằng, công bằng là sự bình đẳng giữa những người có cùng địa vị xã hội Còn sự bất bình đẳng giữa những người không có cùng địa

vị xã hội thì cũng được ông coi là công bằng như đã dẫn ở trên Như vậy, trong quan niệm của ông dù công bằng là bình đẳng giữa những người có cùng địa vị xã hội hay là bất bình đẳng của những người không có điạ vị xã hội, thì cả sự bình đẳng và bất bình đẳng ấy đều là thước đo của sự công bằng Ông là người đầu tiên phát hiện ra thước đo của sự công bằng nằm trong chính cơ sở kinh tế Arixtốt cho rằng, cơ sở của sự công bằng xã hội là sự công bằng trong trao đổi vật phẩm Mặc dù ông thấy được rằng, phải có sự “ đồng nhất về chất” của những hàng hóa được trao đổi thì mới có thể tiến hành trao đổi được Ông chỉ nêu lên biểu hiện giá trị của hàng hóa bằng hình thái tiền của nó mà không thấy được chính lao động là thước đo chung của công bằng và bình đẳng trong mối trao đổi hàng hóa Chính hoàn cảnh xã hội ấy đã khiến cho quan niệm của ông về công bằng xã hội đã bị bó hẹp trong quan hệ đẳng cấp

Tuy vậy, những đóng góp của ông được C Mác cho rằng: Thiên tài của Arixtốt chính là ở chỗ, trong biểu hiện giá trị của các hàng hóa, ông đã tìm ra được một quan hệ bình đẳng chỉ có những giới hạn lịch sử của xã hội mà ông đang sống mới ngăn cản không cho ông thấy được “ trong thực tế”, mối quan

hệ bình đẳng đó là cái gì

Xanh Ximông ( 1760 – 1825) một nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng Pháp,

đã được C Mác đánh giá là người trực tiếp biểu hiện ra như là người phát ngôn của giai cấp cần lao Công lao của ông trước hết thể hiện ở chỗ ông đã thừa nhận sự phát triển của xã hội là một quá trình tiến bộ từ thấp đến cao, từ

h

Trang 21

giản đơn đến phức tạp, ông đặt niềm tin vào sự tiến bộ bằng một xã hội ngày càng công bằng hơn Xanh Ximông dõi theo cuộc đấu tranh giữa các tầng lớp nhân dân bị áp bức, cuộc đấu tranh giữa nô lệ và chủ nô, giữa nông dân và phong kiến Ông đã đi đến kết luận các giai cấp xuất hiện là do sự chiếm đoạt Đứng trước thực tế xã hội đầy rẫy những bất công và bất bình đẳng thì ông

đã mơ ước xây dựng một xã hội tốt đẹp nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần cho mọi người Tuy vậy, ông vẫn chưa đưa ra được phương án cụ thể để xóa bỏ sự bất công xã hội

Phuriê ( 1772 – 1837) là một trong ba nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng thời kỳ này, đã được Ăngghen đánh giá một trong ba nhà tư tưởng – mặc dù tất cả tính chất ảo tưởng và không tưởng trong các học thuyết của họ - thuộc

về những trí tuệ vĩ đại nhất của tất cả mọi thời đại và đã tiên đoán được… Ăngghen cho rằng, cái vĩ đại nhất của ông đã bộc lộ trong quan điểm lịch sử

xã hội là việc ông chia lịch sử xã hội ra làm 4 giai đoạn phát triển: giai đoạn mông muội, gia trưởng, dã man và giai đoạn văn minh

Mặc dù, ông cho rằng công bằng xã hội chỉ có được khi chế độ tư hữu tư bản bị xóa bỏ, nhưng ngược lại ông cũng không đưa ra phương pháp để thực hiện việc xóa bỏ chế độ xã hội bất công và bất bình đẳng

Rôbớt Ôoen ( 1771 – 1858) là người đưa ra phương án hết sức cụ thể cho việc thực hiện lý tưởng công bằng xã hội, đó là làm sao cho những người lao động được sống xứng đáng với nhân phẩm của mình bằng việc thực hiện một chế độ phân phối đồng đều cho người lao động những kết quả lao động của chính họ, bởi vì theo ông, mọi nguồn của cải đều là “sản phẩm của giai cấp lao động”, theo Ăngghen, chính là vì ông xuất phát từ việc khẳng định kết quả của lực lượng ấy cũng phải thuộc về giai cấp lao động Lực lượng sản xuất mạnh mẽ mới, chỉ để làm giàu cho một số cá nhân và nô dịch quần chúng thì bây giờ, đối với ông đã trở thành cơ sở để cải tạo cho xã hội, và với tư cách là

h

Trang 22

của chung của mọi người, nên phải được dùng để mưu cầu đời sống hạnh phúc chung Những tư tưởng của ông thực sự phản kháng mạnh mẽ đối với thực tế xã hội tư sản hết sức bất công

Tóm lại: Ôoen cùng Xanh Ximông, Rô bớt Ôoen đã thực sự trở thành ba đại

biểu xuất sắc ở thế kỷ XIX với những tư tưởng nhân đạo Các ông không chỉ

mơ ước, mà còn thực hiện những biện pháp cụ thể để muốn xóa bỏ đi chế độ

tư hữu nhằm thực hiện sự công bằng xã hội cho mọi người trong xã hội

Chủ nghĩa tư bản ra đời, cùng với chiêu bài: "Tự do, bình đẳng, bác ái", của giai cấp tư sản nhằm tập hợp lực lượng để thủ tiêu chế độ phong kiến,

đồng thời khẳng định các quyền tự do cá nhân, quyền được sống trong xã hội dân chủ theo mô hình Nhà nước "tam quyền phân lập" với một nền pháp luật tiến bộ, công bằng Đây là những nội dung cơ bản trong tư tưởng công bằng

xã hội của thời kỳ này

Tômát Hốpxơ (1588-1679) nhà triết học nổi tiếng đại biểu cho chủ nghĩa duy vật Anh thế kỷ XVII cho rằng: con người là giống nhau mà tạo hóa

đã ban cho nên con người phải được công bằng và bình đẳng, nhưng con

người thì lại có tính tham lam và ích kỷ nên không thể có sự bình đẳng và

công bằng, ông đã chỉ ra rằng: Để đi đến sự công bằng giữa con người với con người thì phải có một lực lượng đứng trên để dàn xếp các lợi ích cá nhân,

đó chính là Nhà nước Tư tưởng này của Tômát Hốpxơ đã mang tính duy vật

về xã hội nhưng lại chưa thấy được trong xã hội có đối kháng giai cấp thì Nhà nước mang tính giai cấp của giai cấp thống trị, vì vậy, ông đã cho rằng không thể thực hiện công bằng xã hội chung cho toàn xã hội được

Xpinôza (1632-1677) đã đưa ra những tư tưởng giải phóng con người và giải phóng mình đó là nhận thức, chính nhận thức mà làm cho con người tránh khỏi tệ nạn xã hội, giải phóng mọi áp bức và bất công Ông cho rằng, dốt nát là nguyên nhân của áp bức, bất công, không nhận thức được hiện thực

h

Trang 23

thì không thể chế ngự được lòng ham muốn của mình Tuy nhiên, quan điểm của ông vẫn chưa duy vật triệt để về vấn đề xã hội

J.Rútxô (1712-1778), nhà tư tưởng vĩ đại, nhà biện chứng lỗi lạc của triết học Khai sáng Pháp, ông cho rằng: xã hội công dân đã tạo ra một xiềng xích mới trói buộc kẻ yếu, thế lực thuộc về kẻ mạnh, luôn kìm hãm, thủ tiêu bình đẳng cá nhân và duy trì quan hệ bất bình đẳng Theo ông, muốn xóa bỏ bất công, bất bình đẳng thì phải xây dựng một Nhà nước kiểu mới do nhân dân làm chủ, đồng thời ông cũng phê phán sở hữu tư nhân vì sở hữu tư nhân là nguyên nhân làm phân hóa thành kẻ giàu người nghèo, muốn xóa được sở

hữu tư nhân thì phải thiết lập khế ước xã hội thì mới đạt được công bằng và

bình đẳng Đây là những lý tưởng nhân đạo nhưng cũng chưa thoát khỏi hạn chế lịch sự

I.Cantơ (1724-1804), đại biểu của nền triết học cổ điển Đức, một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của lịch sử tư tưởng phương Tây trước C Mác, khi bàn về vấn đề xã hội ông đã cho rằng: công bằng xã hội bao gồm công bằng và bảo hộ, công bằng trong trao đổi và phân phối Đây là tư tưởng tiến bộ của ông mà sau này được nhiều người kế thừa

J.Rawls (1921 – 2002) , người đã đưa ra một lý thuyết về công bằng xã hội Lý thuyết này được J.Rawls coi là sự tiếp nối những tư tưởng truyền thống về công bằng xã hội trong lịch sử, đặc biệt là tư tưởng của G.G.Rutxô.Trong quan niệm của J.Rawls thì sự công bằng hay không công bằng trong một thể chế xã hội không phải là sự khác nhau về xuất phát điểm của mỗi cá nhân, mà chỉ chủ yếu ở chỗ, khi tham gia vào hợp tác xã hội, cho

dù có sự bất bình đẳng do có những khác biệt bẩm sinh và địa vị xã hội nhưng

đó là sự chấp nhận mang tính tự nguyện trong cơ chế hoạt động hợp tác xã hội chung thì đó vẫn là công bằng

h

Trang 24

1.2.2 Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về công bằng xã hội

a Quan niệm của C Mác về công bằng xã hội

C Mác xây dựng quan điểm về công bằng xã hội mà nội dung của nó chính là nguyên tắc phân phối theo lao động Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, quan hệ trao đổi ngang giá khi mua và bán sức lao động được nhà tư bản coi là quan hệ công bằng vì, theo họ, nguyên tắc trao đổi ngang giá đã phân chia số giá trị gia tăng thu được sau chu trình sản xuất thành tiền công của công nhân và lợi nhuận của nhà tư bản đúng với tỷ lệ sức và tiền của mà mỗi bên đã tham dự vào sản xuất.Vì vậy, theo quan điểm của C Mác, muốn

có công bằng xã hội thực sự thì phải thực hiện được nguyên tắc phân phối theo lao động, nhưng phải phân phối đúng với sức lao động

Để xây dựng một xã hội công bằng thực sự thì phải xóa bỏ sự bất bình đẳng về những điều kiện ban đầu Muốn vậy, phải làm cho mọi người được bình đẳng trong quan hệ sở hữu, tức là phải làm cho mọi người phải ngang bằng về địa vị, đó chính là xuất phát điểm bình đẳng làm cơ sở để thực hiện công bằng xã hội

Trong tác phẩm Phê phán Cương lĩnh Gôta, C Mác cho rằng, quan điểm

của những người soạn thảo Cương lĩnh Gôta về việc thực hiện nguyên tắc phân phối theo giá trị sức lao động không thể coi là công bằng, dù nguyên tắc phân phối ấy được thực hiện dựa vào một xuất phát điểm bình đẳng về sở hữu, thế nhưng nguyên tắc ấy lại không phải chỉ được áp dụng riêng đối với những người lao động thực sự, mà còn được thực hiện cho mọi thành viên trong xã hội, kể cả những kẻ không lao động Do vậy, nguyên tắc phân phối trên đây cũng không coi là nguyên tắc phân phối thực sự công bằng

Theo C Mác, trước hết, việc thực hiện công bằng xã hội không phải chỉ phụ thuộc riêng vào lĩnh vực phân phối, mà đi đến phê phán những quan điểm nói đến công bằng xã hội nhưng lại muốn tách quan hệ phân phối khỏi quan

h

Trang 25

hệ sản xuất của một phương thức sản xuất nhất định, công bằng xã hội chỉ thực

sự có được trong chủ nghĩa xã hội, chỉ khi đó chế độ tư hữu mới bị thủ tiêu, chế

độ công hữu mới được thiết lập Nói cách khác, cơ sở của công bằng xã hội trong chủ nghĩa xã hội chính là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất

Như vậy, nguyên tắc phân phối theo lao động được thực hiện trong chủ nghĩa xã hội là một nguyên tắc phân phối công bằng Khi phân tích nguyên tắc phân phối đảm bảo công bằng xã hội trong chủ nghĩa xã hội, C Mác vạch

rõ mặt tiến bộ của nguyên tắc phân phối ấy so với trong chủ nghĩa tư bản và những hạn chế của nó so với trong giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa Về nguyên tắc những người lao động không phải ai cũng như ai Người này khác người kia về vật chất và tinh thần, về năng khiếu cá nhân và hoàn cảnh gia đình…Vì vậy, với một công việc ngang nhau, với một phần tham dự như nhau, người này vẫn lĩnh nhiều hơn người kia, người này vẫn giàu hơn người nọ… Muốn tránh tất cả những thiếu sót ấy thì thừa nhận thực tế là sẽ phải không bình đẳng, chứ không phải là bình đẳng C Mác chỉ rõ trong điều kiện chủ nghĩa xã hội, sự phân phối công bằng chẳng những chưa loại trừ, mà vẫn còn hàm chứa trong nó sự chấp nhận một tình trạng bất bình đẳng nhất định giữa các thành viên trong xã hội Đó vừa là ưu việt, vừu là thiếu sót của nguyên tắc phân phối lao động không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của Chủ nghĩa Cộng sản

b Quan niệm của Ph.Ăngghen về công bằng xã hội

Cũng như C Mác, Ph Ăngghen khẳng định sự thật bất công của cái gọi

là “Tiền công công bằng cho một ngày lao động công bằng”, Ph Ăngghen cũng đã chỉ rõ, bản chất của chế độ phân phối được cho là công bằng theo nguyên tắc trao đổi ngang giá, chỉ là vị thế có lợi đối với riêng giai cấp tư sản, đồng thời là sự bất lợi đối với riêng giai cấp công nhân trong cuộc trao đổi ngang giá giữa sức lao động mà công nhân bỏ ra và tiền công mà nhà tư bản

h

Trang 26

trả cho họ Sự bất công ở đây là ở chỗ “công nhân bỏ ra nhiều, nhà tư bản chi

ra ít” Ph Ăngghen đã viết một cách châm biếm: “Đó là một loại công bằng

hết sức đặc biệt” Nhưng tại sao lại có xảy ra tình trạng đó? Theo các nhà kinh

tế học tư sản tiền công và ngày lao động do cạnh tranh quy định, đã được thỏa

thuận giữa hai bên theo nguyên tắc ngang giá, thuận mua vừa bán Vậy là rất

công bằng Nhưng Ăngghen đã quan niệm: Sự thật không phải như vậy Nếu

nhà tư bản không đồng ý với công nhân, thì y có điều kiện để chờ đợi và sống

bằng tư bản của y Người công nhân không thể làm như thế được… Người

công nhân ngay từ đầu đã ở vào những điều kiện bất lợi trong cuộc đấu tranh

Cái đói đặt anh ta vào một hoàn cảnh hết sức bất lợi Thế nhưng, theo khoa

kinh tế chính trị của giai cấp các nhà tư bản, đó là đỉnh cao của sự công bằng

Vì vậy, theo quan điểm của Ph Ăngghen, muốn có công bằng xã hội thực sự

thì phải thực hiện được nguyên tắc phân phối theo lao động, nhưng phải phân

phối đúng với sức lao động

Bên cạnh việc phê phán quan điểm thực hiện công bằng xã hội theo

nguyên tắc “trao đổi ngang giá” của các nhà kinh tế tư sản, Ph Ăngghen còn

phê phán cả sự áp dụng thuyết Ricacđô theo kiểu bình quân Ăngghen cho

rằng, người nào hiểu biết ít nhiều sự phát triển của kinh tế chính trị học ở

nước Anh, người đó không thể không biết rằng, vào những thời kỳ khác nhau,

hầu hết những người theo chủ nghĩa xã hội nước này đều đề nghị áp dụng

theo kiểu bình quân nghĩa là theo kiểu xã hội chủ nghĩa theo quan niệm của

Ricacđô

c Quan niệm của V.I Lênin về công bằng xã hội

V.I.Lênin (1870- 1924) cho rằng: trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản

chủ nghĩa gọi là chủ nghĩa xã hội, pháp quyền tư sản chưa bị xóa bỏ hoàn toàn

mà chỉ bị xóa bỏ một phần, chỉ bị xóa bỏ với mức độ phù hợp với cuộc cách

mạng kinh tế đã được hoàn thành, nghĩa là chỉ trong phạm vi tư liệu sản xuất

h

Trang 27

thôi Pháp quyền tư sản thừa nhận tư liệu sản xuất là sở hữu riêng của cá nhân Chủ nghĩa xã hội biến tư liệu sản xuất thành tài sản chung

V.I Lênin rất chú ý đến công bằng xã hội trong phân phối lao động, ông cho rằng: "Người nào không làm thì không có ăn", nguyên tắc này được thực hiện "số lượng lao động ngang nhau, thì hưởng số lượng sản phẩm ngang nhau"

Để giải quyết công bằng xã hội, trước hết phải giải quyết vấn đề công bằng xã hội trên lĩnh vực kinh tế và phải thực hiện từng bước, xuất phát từ những điều kiện thực tế của sự phát triển sản xuất Công bằng xã hội, xét theo

xu thế vận động của nó, luôn đối lập với bất công xã hội, luôn hướng tới giải quyết tốt hơn những nhu cầu căn bản của con người, đảm bảo tốt hơn những điều kiện cho sự tồn tại và phát triển toàn diện của con người Do vậy, công bằng xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội

1.3 QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI

1.3.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về công bằng xã hội

Hồ Chí Minh vị lãnh tụ thiên tài, Người cha già dân tộc Việt Nam đã kế thừa các quan điểm trước đây của nhân loại, đặc biệt là C Mác và Ăngghen

về công bằng và bình đẳng xã hội, đồng thời trực tiếp chứng kiến những gì xảy ra trong đời sống kinh tế - xã hội của các nước trên thế giới cũng như ở nước ta trước Cách mạng Tháng Tám, năm 1945, từ đó Người đã khẳng định rằng, trong chế độ thực dân và phong kiến không có công bằng xã hội, trong

xã hội đó nhân dân chỉ có nghĩa vụ phải phục tùng mệnh lệnh Trên thực tế, người nông dân là lực lượng chủ yếu sáng tạo ra những của cải trong xã hội

và nhờ có sức lao động của họ, xã hội mới tồn tại và phát triển Tuy vậy, điều bất hợp lý là người lao động thì suốt đời nghèo khổ, nhưng ngược lại một số người không lao động thì lại “ngồi mát ăn bát vàng” Hồ Chí Minh đã giải

h

Trang 28

thích rằng, vì một số ít người đã chiếm làm tư hữu những tư liệu sản xuất của

xã hội Đồng thời, Người còn chỉ rõ, trong xã hội có giai cấp thống trị bóc lột, chỉ có lợi ích cá nhân của bọn thống trị là được thỏa mãn, còn lợi ích cá nhân của những người lao động thì bị giày xéo

Hồ Chí Minh đi đến kết luận, công bằng xã hội thực sự chỉ có được trong chế độ xã hội mới; xã hội xã hội chủ nghĩa, mà ở đó nhân dân vừa nghĩa

vụ, đồng thời có quyền lợi Hơn thế nữa, sự công bằng xã hội của chế độ xã hội chủ nghĩa được đảm bảo một cách vững chắc Điều này được chứng minh rằng, Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân lao động, người lao động là người chủ của đất nước, mọi công dân, tầng lớp đều bình đẳng về quyền lợi

và nghĩa vụ

Tư tưởng của Người còn thể hiện một cách sinh động, linh hoạt trong những hoàn cảnh khác nhau Một điều cần chú ý là, khi nói đến công bằng xã hội, Hồ Chí Minh thường gắn nó với quan niệm về bình đẳng xã hội, ở đây chính là mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi Người đã coi công bằng xã

hội là sự bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi Với những quan điểm như vậy

Hồ Chí Minh đòi hỏi tất cả những người lao động đều phải nhận thức rõ ràng mình là người chủ đất nước, khi đã có quyền làm chủ, thì phải làm tròn trách nhiệm, đó là phải tích cực xây dựng Nhà nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhằm mục đích không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đặc biệt là nhân dân lao động

Như vậy, trong quan niệm của Người, bình đẳng trước hết là bình đẳng

về nghĩa vụ và quyền lợi, đồng thời phải thực hiện sự bình đẳng giữa người với người, chúng ta thấy rằng việc thực hiện một chế độ phân phối công bằng Theo Hồ Chí Minh, công bằng chính là việc thực hiện nguyên tắc phân phối

mà trong đó, phần hưởng thụ tương xứng với mức độ đóng góp, cống hiến của từng cá nhân, chứ hoàn toàn không phải là sự ngang bằng về hưởng thụ

h

Trang 29

giữa các cá nhân mà không tính đến sự cống hiến của từng người Người khẳng định: “ chủ nghĩa xã hội là công bằng hợp lý: làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng Vì vậy, sự bình đẳng của những người lao động trong mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, mà cụ thể đó là sự ngang bằng về địa vị làm chủ Nhà nước, làm chủ tư liệu sản xuất

là những điều kiện cơ bản hàng đầu mà chế độ xã hội mới tạo ra, bảo đảm cho mọi người đều phát huy hết mọi khả năng của cá nhân mình để cùng hướng tới một mục tiêu hạnh phúc dài lâu

Trong tư tưởng của Người, công bằng xã hội không chỉ biểu hiện như

là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, mà còn là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trong điều kiện hiện nay, khi đất nước chúng ta đang chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, một số nhà khoa học lại đưa ra quan điểm cho rằng, công bằng xã hội chỉ có thực hiện được khi đã có sự phát triển về kinh tế, hoặc khẳng định rằng, khi chưa

có đủ điều kiện để phát triển về kinh tế mà thực hiện công bằng xã hội thì có thể dẫn đến chủ nghĩa bình quân Có thể nhận định rằng, một quốc gia nghèo,

có nền kinh tế chưa phát triển không có nghĩa là ở đó không thể thực hiện được công bằng xã hội Trong quan điểm của Người thì việc thực hiện công bằng xã hội là một yêu cầu bức thiết, và yêu cầu đó lại càng khó khăn hơn khi cuộc sống còn nhiều vất vả, lắm gian nan Hồ Chí Minh căn dặn: “ Trong công tác lưu thông phân phối, có những điều cần phải nhớ:“ Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”

Người nhấn mạnh: "Chủ nghĩa xã hội là lấy nhà máy, xe lửa, ngân hàng v.v làm của chung Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không

làm thì không ăn, tất nhiên là trừ những người già cả, đau yếu và trẻ em Thế

ta đã đến đấy chưa? chưa đến Chủ nghĩa xã hội không thể làm mau được mà phải làm dần dần " Người kiên quyết chống lại chủ nghĩa bình quân, "đồng

h

Trang 30

cam cộng khổ là một tinh thần cần phải có, nhưng nếu bình quân chủ nghĩa thì lại không đúng Bình quân chủ nghĩa là gì? là ai cũng như ai, bằng hết

Bình quân chủ nghĩa là trái với Chủ nghĩa xã hội, thế là không đúng"

Như vậy, trong quan điểm Hồ Chí Minh, công bằng và bình đẳng là một mục tiêu của sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội mới, nó không phải là chủ nghĩa bình quân cào bằng trong sự nghèo khổ Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội

là không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân lao động:

“Làm cho người nghèo thì đủ ăn Người đủ ăn thì khá giàu

Người khá giàu thì giàu thêm.”

Những quan điểm trên của Hồ Chí Minh một lần nữa cho thấy, ngoài ý nghĩa là mục tiêu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, công bằng xã hội còn mang ý nghĩa là động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước Việc thực hiện công bằng xã hội kích thích mọi người, tùy theo khả năng, trí tuệ đạo đức

mà cùng tham gia vào xây dựng một xã hội mới, một cuộc sống mới, từng bước tiến tới xã hội chủ nghĩa, xã hội cộng sản – một xã hội trong đó “ Mọi người làm hết tài năng; ai cần dùng gì có nấy”

Bên cạnh đó, Người rất chú trọng đến lợi ích cá nhân nhằm động viên

mỗi người không ngừng phấn đấu, cống hiến nhiều nhất cho xã hội, đồng thời đấu tranh chống lại chủ nghĩa cá nhân, chính chủ nghĩa cá nhân là căn nguyên gây ra trăm thứ bệnh như quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, tham ô, lãng phí, chủ quan v.v mang tính cá nhân, không nghĩ tới lợi ích giai cấp, dân tộc Tuy nhiên, cũng cần phân biệt rằng chủ nghĩa cá nhân khác lợi ích cá nhân, nếu chống chủ nghĩa cá nhân mà lại vi phạm lợi ích chính đáng của cá nhân thì sẽ dẫn tới sai lầm, Người khẳng định rằng : "Lợi ích cá nhân là nằm trong lợi ích tập thể, là một bộ phận của lợi ích tập thể Lợi ích chung của tập thể được đảm bảo thì lợi ích riêng của cá nhân mới có điều kiện để được thỏa mãn" [55, tr 291]

h

Trang 31

Việc đảm bảo lợi ích chung tức là bảo vệ điều kiện để thực hiện lợi ích của mỗi cá nhân

Tư tưởng "mình vì mọi người, mọi người vì mình" là thể hiện sự công bằng giữa lợi ích cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể và cộng đồng

Như vậy, Hồ Chí Minh đã có quan điểm về công bằng xã hội khá toàn diện và sâu sắc Công bằng xã hội theo Người là không gì khác ngoài mối

quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, ai làm nhiều thì hưởng nhiều, ai làm ít

thì hưởng ít, không làm thì không hưởng (trừ những người già cả, bệnh tật và trẻ em) Người cũng cho thấy rõ rằng, không nhất thiết phải xã hội giàu có thì mới thực hiện được công bằng xã hội, mà ngay khi xã hội còn chưa thật giàu

có vẫn thực hiện được công bằng xã hội, tùy điều kiện kinh tế xã hội khác nhau mà việc thực hiện công bằng xã hội khác nhau

Từ những nội dung trên có thể rút ra kết luận rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội là sự bổ sung và phát triển tiếp tục quan điểm của

C Mác và Ăngghen Người chỉ ra rằng, thực hiện công bằng xã hội là cả một quá trình, phải làm từng bước một, tránh sự nôn nóng vội vàng và tránh sự trì trệ, trông chờ ỷ lại Cuối cùng, Hồ Chí Minh khẳng định, công bằng xã hội là

mục tiêu của chủ nghĩa xã hội mà chúng ta cần phải vươn tới, chỉ có xã hội xã

hội chủ nghĩa mới thực sự đem lại công bằng xã hội cho nhân dân lao động, phương thức duy nhất để thực hiện công bằng xã hội là đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, công bằng xã hội là việc tạo ra điều kiện cho mỗi người có cơ hội tham gia vào quá trình phát triển của xã hội và hưởng thụ những thành quả của sự phát triển, là đảm bảo quyền tự do của mỗi người trong quan hệ gắn bó với cộng đồng Công bằng xã hội phải được thể hiện đầy đủ trong việc giải quyết quan hệ giữa phát triển kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội, giải quyết hài hòa giữa quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi con người Công bằng xã hội là trách nhiệm chung của Đảng, của Nhà nước,

h

Trang 32

của toàn xã hội trong việc chăm lo, bảo vệ quyền lợi của nhân dân và tạo ra điều kiện thuận lợi để nhân dân hoàn thành nghĩa vụ, quyền lợi của mình đối với Nhà nước và xã hội

Chính vì vậy, có thể hiểu một cách vắn tắt rằng, công bằng xã hội là

sự bình đẳng giữa người và người, nhưng bình đẳng ở đây không phải theo

nghĩa thông thường ( là sự ngang bằng nhau giữa người và người về mọi điều kiện cụ thể nào đó), bình đẳng được xét trong mối quan hệ tương ứng giữa cống hiến và hưởng thụ trên nguyên tắc cống hiến ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau

1.3.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công bằng xã hội

Hiện nay chúng ta đang xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước, đây là một mô hình kinh tế phù hợp với đất nước và là mô hình kinh tế lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử - mô hình kinh tế của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội Trong điều kiện

đó, việc thực hiện công bằng xã hội phải được hiểu như thế nào cho đúng với

điều kiện Việt Nam hiện nay

Công bằng xã hội là mục tiêu được Đảng ta xác định từ khi đất nước ta

tiến hành sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong quá trình thực hiện mục tiêu to lớn đó, chúng ta đã trải qua hai giai đoạn đó là: Thời kỳ trước đổi mới và thời kỳ từ đổi mới đến nay

Ở giai đoạn đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, mặc dù vấn đề thực hiện công bằng xã hội không được trực tiếp bàn đến trong những chủ trương của Đảng, nhưng xuất phát từ quan điểm cho rằng, chế độ tư hữu là nguồn gốc bóc lột, nên trong thực tiễn, việc xóa bỏ chế độ tư hữu đã trở thành nội dung chủ yếu trong hoạt động của Đảng và Nhà nước ta nhằm thực hiện công bằng

xã hội ở thời kỳ đổi mới Ngay từ Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ III của Đảng ( 9 -1960), Đảng ta đã nhận định: Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa

h

Trang 33

nhằm cải tạo những quan hệ sản xuất không xã hội chủ nghĩa thành quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, trong đó mấu chốt là cải biến chế độ sở hữu cá thể

và chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất thành các hình thức khác nhau của chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa, mở đường cho sức sản xuất phát triển…cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội là hai mặt của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa

Với những chủ trương đó, việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã giành được một số thành quả Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III đã nêu những thắng lợi có ý nghĩa đó là: Chúng ta đã căn bản xóa bỏ chế độ bóc lột

tư bản chủ nghĩa: kinh tế tư bản tư doanh đã trở thành kinh tế công tư hợp doanh, kinh tế của người sản xuất nhỏ phần lớn đã trở thành kinh tế hợp tác hóa Chúng ta đặc biệt nêu cao thắng lợi của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, mở đường cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nông thôn…

Việc triển khai và thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ III, xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đã giành được một số thắng lợi, xóa bỏ quan hệ sản xuất lạc hậu do chế độ cũ để lại, tạo cơ sở xây dựng chế độ công bằng như mục tiêu mà Đảng đề ra Đại hội Đảng lần thứ IV ( 12 – 1976) đã nhận định: Trên mặt trận cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền kinh tế quốc dân, miền Bắc đã đạt được những thành tựu đó là thủ tiêu chế độ người bóc lột người; chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa dưới hai hình thức toàn dân và tập thể đã được xác lập một cách phổ biến…

Khái niệm công bằng nêu ra sự tương quan giữa một số hiện tượng theo quan điểm phân phối hợp lý Công bằng xã hội đòi hỏi sự tương xứng giữa vai trò của những cá nhân (những giai cấp) với địa vị của họ, giữa hành vi với

sự đền bù (lao động và thù lao, thưởng và phạt), giữa quyền lợi với nghĩa vụ Không có sự tương xứng trong những quan hệ ấy là bất công

h

Trang 34

Công bằng xã hội là phương thức đúng đắn nhất để thỏa mãn một cách hợp lý những nhu cầu của các tầng lớp xã hội, các nhóm xã hội, các cá nhân xuất phát từ khả năng hiện thực của những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Về nguyên tắc, chưa có sự công bằng nào được coi là tuyệt đối trong chừng mực mà mâu thuẫn giữa nhu cầu con người và khả năng hiện thực của

xã hội còn chưa được giải quyết Bởi vậy, mỗi xã hội có sự đòi hỏi riêng về công bằng xã hội

Nội dung của công bằng không có tính chất chung chung, bất di, bất dịch không thời gian - nó thay đổi theo lịch sử, phán ánh hoàn cảnh kinh tế -

xã hội nhất định và sự đánh giá về mặt đạo đức của từng giai cấp theo quyền lợi của mình Trên cơ sở quan hệ kinh tế, xã hội và chính trị của chủ nghĩa xã hội, khái niệm công bằng mang một nội dung mới: Tất cả mọi người đều có

thể trong thực tế, phát triển như nhau nhân cách, tài năng, khả năng và đều

có nhiệm vụ hoạt động vì lợi ích xã hội Nguyên tắc mỗi người làm theo năng lực, và hưởng theo lao động được thực hiện, chỉ khi nào tới chủ nghĩa Cộng sản thì mới thực hiện được nguyên tắc Mỗi người làm theo năng lực và hưởng theo nhu cầu

Công bằng xã hội luôn là khát vọng lớn nhất của toàn dân tộc: Độc lập

- Tự do - Hạnh phúc Cương lĩnh chính trị năm 1930 của Đảng ta đã vạch ra

con đường đấu tranh đúng đắn vì công bằng xã hội: làm cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và đi lên chủ nghĩa xã hội Trong các kỳ Đại hội của Đảng toàn quốc lần thứ I, II, III, IV, V, công bằng xã hội được thể hiện thông qua việc cải cách ruộng đất, cải tạo Xã hội chủ nghĩa, thiết lập chế độ công hữu về

tư liệu sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, đặc quyền đặc lợi, các chính sách thuế, bảo hiểm và trợ cấp xã hội, trong vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động

Trước khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhiệm vụ giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc được đặt lên hàng đầu Sau khi miền Nam hoàn toàn

h

Trang 35

thống nhất, cả nước bước vào thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, do hậu quả chiến tranh để lại nặng nề, khó khăn chồng chất, lại áp dụng mô hình kinh tế theo kiểu Liên Xô (cũ,) cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp với hình thức

sở hữu quốc doanh và sở hữu hợp tác xã, công hữu về tư liệu sản xuất nên dẫn đến kinh tế phát triển chậm, thu không bù chi, kết hợp với chế độ phân phối bình quân bao cấp nên công bằng trong thời kỳ này được hiểu theo nghĩa bình quân - sự bình quân theo kiểu "chia đều sự nghèo khó", theo GS,TS Lê Hữu Tầng trong thời kỳ này là:

Trong cơ chế quản lý tập trung bao cấp mà chúng ta lầm tưởng duy nhất đúng, là cái duy nhất đảm bảo thành công xây dựng chủ nghĩa xã hội,

khái niệm công bằng được đồng nhất hoàn toàn với khái niệm bình đẳng, còn

khái niệm bình đẳng được hiểu là sự ngang bằng nhau hoàn toàn giữa người

và người về phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Kết quả là khái niệm công bằng về thực chất bị đem đồng nhất với khái niệm cào bằng một cách bình quân chủ nghĩa Mọi sự đi lệch khỏi trục bình quân đó đều bị coi là biểu hiện của không công bằng Chính quan điểm sai lầm đã làm suy giảm, thậm chí triệt tiêu mất động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội và việc thực hiện quan điểm đó trong cuộc sống về thực chất là bóc lột người có công đối với sản xuất và phát triển xã hội

Tại Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (8/1979) với chủ trương và quyết tâm làm cho sản xuất "bung ra" là bước đột phá đầu tiên của quá trình đổi mới

ở nước ta Đến Hội nghị Trung ương 8 khóa V (6/1985) đánh đấu bước đột phá thứ hai bằng chủ trương dứt khoát xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, thực hiện cơ chế một giá, xóa bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá thấp, chuyển mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh sang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, chuyển ngân hàng sang nguyên tắc kinh doanh, thừa nhận sản xuất hàng hóa và quy luật sản xuất hàng hóa Tháng 8/1986, trong quá trình chuẩn bị Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội VI, Bộ Chính trị

h

Trang 36

đã xem xét kỹ các vấn đề lớn trên lĩnh vực kinh tế và đưa ra kết luận thuộc lĩnh vực kinh tế: Lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, ra sức phát triển công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng được phát triển có chọn lọc, đồng thời xác định cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.Trong cơ chế quản lí kinh tế lấy kế hoạch làm trung tâm, đồng thời sử dụng đúng quan hệ hàng hóa - tiền tệ, chính sách giá phải vận dụng quy luật giá trị, tiến tới thực hiện cơ chế một giá Đây là bước đột phá thứ ba có ý nghĩa lớn trong quá trình đổi mới tư duy lý luận

Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước mà trước hết là đổi mới tư duy kinh tế Đại hội khẳng định dứt khoát chuyển nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước định hướng xã hội chủ nghĩa Đại hội VI

là bước đột phá lớn và toàn diện, làm xoay chuyển tình hình đưa nước ta tiến lên, Đại hội xác định: đảm bảo công bằng xã hội là một trong 5 mục tiêu kinh

tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ đổi mới, giải quyết việc làm và thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động là những vấn đề trọng tâm của chính sách công bằng xã hội; Thực hiện công bằng xã hội phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nước, chống thu nhập bất hợp pháp và đặc quyền đặc lợi

Đến Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VII (6/1991) với Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vấn đề công bằng

xã hội được Đảng ta xác định đây là một nội dung của chính sách xã hội và là điều kiện và động lực tiến bộ xã hội trong thời kỳ đổi mới Đại hội cũng xác định thực hiện công bằng xã hội không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, mà còn cả trong chính trị, văn hóa, giáo dục đặc biệt là khuyến khích tăng thu nhập và làm giàu chính đáng là bước đột phá trong quan điểm công bằng xã hội của Đảng, phù hợp với chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

h

Trang 37

Đại hội VIII của Đảng (6/1996) tiếp tục khẳng định phát triển, cụ thể hóa những chủ trương chính sách của Đảng về công bằng xã hội mà Đại hội VII đã nêu ra, công bằng xã hội được Đảng ta xác định là một động lực, nội dung, mục tiêu của sự nghiệp đổi mới Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh Đại hội cũng chỉ rõ:

Tăng trưởng kinh tế phải gắn với tiến bộ xã hội và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển, công bằng xã hội phải

được thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn cả khâu phân

phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình với nhiều hình thức, tạo ra cho mọi người có cơ hội phát triển và sử dụng hợp lý năng lực của mình [12, tr 113]

Đến Hội nghị Trung ương 4 khóa VIII Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh: phát triển kinh tế phải đi đôi với việc thực hiện công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa nông thôn với nông thôn, giữa thành thị với thành thị, giữa các tầng lớp xã hội Đây là những bước phát triển quan trọng có tính chất đột phá của Đảng ta trong giai đoạn mới

Đại hội Đại IX (4/2001) của Đảng tiếp tục khẳng định: phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ

và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường

Đại hội X (4/2006) Đảng ta một lần nữa khẳng định: "thực hiện tiến

bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội" [13, tr 26]

Kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, địa phương, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực hiện tốt các chính

h

Trang 38

sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến

và hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ và bền vững hơn cho phát triển kinh

tế-xã hội Tập trung giải quyết những vấn đề tế-xã hội bức xúc [13, tr 101]

Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo Từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng [13, tr.178-179]

Đại hội XI, Đảng tiếp tục khẳng định thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển là một chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa Tập trung giải quyết tốt chính sách lao động, việc làm và thu nhập; khắc phục những bất hợp lý về tiền lương, tiền công, trợ cấp xã hội phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của đất nước Bảo đảm an sinh xã hội; tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp

đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là những đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương Tập trung triển khai có hiệu quả chương trình xóa đói, giảm nghèo, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn; huy động mọi nguồn lực

xã hội cùng Nhà nước chăm lo tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần cho những người và gia đình có công với cách mạng Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân và công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em; quan tâm phát triển y tế dự phòng, củng cố mạng lưới y tế cơ sở

h

Trang 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Thực hiện công bằng xã hội hiện nay thì cần phải tập trung giải quyết các chính sách ưu đãi xã hội nhằm bảo đảm mức sống cho nhân dân, thực hiện các chính sách bảo hiểm xã hội, chính sách trợ giúp những người tàn tật, người già cô đơn, trẻ em mồ côi…các chính sách hỗ trợ xã hội nhằm phát huy truyền thống tương thân, tương ái “lá lành đùm lá rách” trong cộng đồng để giúp nhau vượt qua khó khăn, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống Bên cạnh đó, cần tiến hành một cuộc đấu tranh quyết liệt có sự chỉ đạo nhanh chóng, kịp thời từ các cơ quan quyền lực Nhà nước nhằm đẩy lùi có hiệu quả những hiện tượng làm giàu phi pháp, vì đây là nhân tố vừa làm tổn hại đến tăng trưởng kinh tế, vừa tạo ra sự mất công bằng xã hội Nếu giải quyết được những vấn đề trên thì nước ta nhanh chóng thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

h

Trang 40

CHƯƠNG 2 THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở TỈNH QUẢNG TRỊ

2 cửa khẩu là cửa khẩu quốc tế Lao Bảo và cửa khẩu quốc gia La Lay

Quảng Trị có tổng diện tích tự nhiên 4.745,5 km2

, chiếm 1,44% tổng diện tích của cả nước, với 3/4 diện tích là đồi núi, có 10 đơn vị hành chính trực thuộc: 2 thị xã và 8 huyện (trong đó có huyện đảo Cồn Cỏ) với 141 xã, phường, thị trấn Đông Hà là thành phố tỉnh lỵ Tuy diện tích không rộng, nhưng ở vị trí nối liền hai miền đất nước; Quảng Trị nằm trên các trục đường giao thông quan trọng cả về đường bộ, đường sắt cũng như đường thuỷ; có đường 9 xuyên Đông Dương qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo thông ra biển Đông Vì vậy, Quảng Trị đang giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ và khai thác biển Đông, bảo đảm giao thông thông suốt giữa hai miền Bắc - Nam của đất nước và với các nước trong khu vực Đông Nam Á như: Lào, Thái Lan, Myanma mở ra thời cơ hội nhập với các nước trong khu vực và quốc tế

Địa hình Quảng Trị rất phức tạp và bị chia cắt mạnh bởi mạng lưới nhiều sông, suối, đồi núi, bãi cát, xen kẽ nhau, đồng thời có độ cao nghiêng dần từ Tây sang Đông, được chia thành 04 vùng rõ rệt: Vùng núi, vùng trung

h

Ngày đăng: 20/11/2023, 05:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Lê Hữu Ái, Nguyễn Tấn Hùng (2010), Triết học, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học
Tác giả: Lê Hữu Ái, Nguyễn Tấn Hùng
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2010
[2]. Trần Bảo (1989), "Bàn về những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong xây dựng chủ nghĩa xã hội", Tạp chí Triết học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong xây dựng chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Trần Bảo
Năm: 1989
[3]. Đảng bộ tỉnh Quảng Trị (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng trị lần thứ XV, (Nhiệm kỳ 2010- 2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng trị lần thứ XV
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Quảng Trị
Năm: 2010
[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1986
[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
[6]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
[7]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, (Lưu hành nội bộ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1994
[8]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia"
Năm: 1996
[9]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Hội nghị lần thứ III Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ III Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
[10]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
[11]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
[12]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.h Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w