lịch sử của nhân loại các tư tưởng về công bằng xã hội đã được bàn như thế nào kể từ thời cỗ đại cho đến ngày hôm nay, sau đây là một số quan niệm của triết học phương Đông và phương Tây
Trang 1
BO GIAO DUC VA DAO TAO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRINH DINH ANH VIỆT
QUAN NIEM CUA CHU NGHIA MAC-LENIN
VE CONG BANG XA HOI VOI VIEC THUC HIEN
CONG BANG XA HOI O QUANG TRI HIEN NAY
Chuyén nganh: Triét hoc
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: LÊ HỮU ÁI
2013 | PDF | 90 Pages buihuuhanh@gmail.com
Da Ning - Nam 2013
Trang 2
LOL CAM DOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bồ trong bắt kỳ công trình nào khác
Người cam đoan
ANH VIỆT
Trang 3MUC LUC
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4, Phương pháp nghiên cứu của luận văn
2
2
5 Đồng góp của luận văn 2-2-2 3
6 Tổng quan tải liệu nghiên cứu 3
CHUONG 1 LY LUẬN CHUNG VE CONG BANG XA HOL 5 1.1 CONG BANG XA HOI VA VAI TRO CUA CONG BANG XA HOL 5
1.1.1 Khái niệm công bằng xã hội
1.1.2 Vai trò của công bằng xã hội
1.2 CAC QUAN NIEM VE CONG BANG XA HOI TRONG LICH SU’ 1.2.1 Quan niệm trước triết học Mác về công bằng xã hội
1.2.2 Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về công bằng xã hội
13 QUAN DIEM CUA HO CHi MINH VA DANG CONG SAN VIET
NAM VE CONG BANG XA HOI eee - a 22
1.3.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh vẻ công bằng xã hội 22 1.3.2 Quan điểm của Đăng Cộng sản Việt Nam về công bằng xã hội 27 KẾT LUẬN CHƯƠNG L 34 CHUONG 2 THYC HIEN CONG BANG XA HOI 6 TINH QUANG
2.1 KHÁI QUAT CHUNG VE TINH QUANG TRI 35 2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội 35
2.1.2 Về lịch sử - văn hóa kẻ Hà
Trang 4— 2.2 TINH HINH THUC HIEN CONG BANG XÃ HOI G6 QUANG TRI
2.2.1 Những thành tựu đạt được trong thực hiện công bằng xã hội 43 2.2.2 Những hạn chế và nguyên nhân 50
2.3 MOT SO VAN DE DAT RA TRONG THUC HIEN CONG BANG XA
HỘI Ở TỈNH QUANG TRỊ HIỆN NAY 54 2.3.1 Giải quyết hai hòa và hợp lý lợi ích giữa cá nhân và xã hội 54 2.3.2 Nghịch lý trong việc thực hiện chính sách kinh tế, chính sách
xã hội trong việc giải quyết lợi ích của cộng đồng dân cư 56 2.3.3.Giai quyét hài hòa, đúng pháp luật mâu thuẫn giữa lợi ích nhà đầu tư và lợi ích người lao động — ST 2.3.4 Thực hiện tốt có hiệu quả khi giải quyết các mâu thuẫn trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo nhằm thực hiện công bằng xã hội trong
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHAM DAM BAO CONG BANG
XÃ HỘI Ở TĨNH QUẢNG TRỊ HIỆN NAY OF 3.1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH GIẢI PHÁP "—
Trang 53.2.4 Đẩy mạnh công tác thanh tra, giám sát việc thực hiện công bằng xã hội
3.2.5 Xã hội hóa các nguồn lực cho thực hiện công bằng xã hội
3.3 CÁC KIỀN NGHỊ
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
DANH MUC TAI LIEU THAM KHAO
QUYET DINH GIAO DE TAI LUAN VAN THAC SI (BAN SAO)
74
75
7
78 79
Trang 6Dân tộc Việt Nam, sau hơn 25 năm đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, chúng ta đã đạt được những kết quả to lớn đáng khích lệ, kinh
tế tăng trưởng khá nhanh, chính trị ôn định, an ninh được giữ vững, quốc phòng được tăng cường, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện rõ rệt
vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định: Phải thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển là một chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa
Trong bối cảnh chung đó, với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và nhân dân Quảng Trị đã đạt được những thành tựu quan trọng trong việc thực hiện công bằng xã hội trên các phương diện của đời sống xã hội như: xóa đói, giảm nghèo, an sinh xã hội, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, y tế, giáo dục và đào tạo v.v Tuy nhiên, do các nguyên nhân
chủ quan và khách quan nên những thành tựu đã đạt được chưa thực sự đáp
ứng được yêu cầu của sự phát triển kinh tế, xã hội của Tỉnh
Đứng trước thực trạng đó, đòi hỏi cần có sự đánh giá khách quan và khoa học, trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng xã hội, nhằm tìm kiếm các giải pháp để thực hiện tốt mục tiêu công bằng xã hội,
Trang 7
đảm báo sự phát triển bền vững và hài hòa của Tỉnh Quảng Trị Nhận thức được tầm quan trọng đó, nên tôi chọn đề tài "Quan niệm của chủ nghĩa Mác- Lênin về công bằng xã hội với
Quảng Trị hiện nay” 'e thực hiện công bằng xã hội
làm luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích
“Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng xã hội, từ sự phân tích thực trạng công bằng xã hội ở Quảng Trị hiện nay, luận văn xây dựng các giải pháp nhằm thực hiện công bằng xã hội ở Tinh Quảng Trị hiện nay 3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ cơ ban sau: Thứ nhất: làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
~ Hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về công bằng xã hội
4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
Trang 8chủ nghĩa duy vật lịch sử, có sự kết hợp với các phương pháp: phân tích, tổng, hợp, so sánh, trừu tượng và khái quát hóa, thống kê nhằm thực hiện mục dich và nhiệm vụ mà đề tài đã dat ra
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin
về công bằng xã hội với việc thực hiện công bằng xã hội ở Quảng Trị hiện nay, từ đó đề xuất những phương hướng và giải pháp thích hợp nhằm thực hiện tốt công bằng xã hội ở Quảng Trị hiện nay
Kết quả nghiên cứu luận văn có thê dùng làm tài liệu tham khảo cơ quan hoạch định chính sách về công bằng xã hội, cũng như những ai quan tâm
“Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường ở nước ta”, do TS Hoang Thi Thanh lim chủ nhiệm để tài, Học viên Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1998; “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở một số nước châu Á và Việt Nam”, do
TS Lê Bộ Lĩnh làm chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; “Tang trưởng kinh tế và công bằng xã hội - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở một
số tỉnh miền Trung”, do TS Phạm Hảo, TS Võ Xuân Tiến, TS Mai Đức Lộc đồng chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000; "Tăng trưởng kinh tế
và công bằng xã hội lý thuyết và thực tiễn ở Thành Phố Hồ Chí Minh", do tác
giả Đỗ Phú Trần Tỉnh (chủ biên), Nxb Lao động, 2010; *Vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay", Luận án tiến sĩ của Vũ Anh Tuan, Hoc viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2001); “Giải
Trang 9quyết mâu thuẫn nhằm thực hiện tốt việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và
công bằng xã hội ở nước ta” của tác giả Nguyễn Tắn Hùng (Tạp chí Triết học,
số 5/1999); “Nhà nước với việc thực hiện công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay”, Luận văn thạc sĩ của
Vo Thị Hoa, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2002; “Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong giai đoạn hiện nay ở nước ta (Qua thực tế tỉnh Quảng Trị)”, Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Xuân Phong, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2003; “Thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc trong giáo dục - đảo tạo ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay", Luận văn thạc sĩ của Phạm Văn Dũng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2004; “Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới - vấn đề và giải pháp”, do TS Nguyễn Thị Nga làm chủ nhiệm dé tai, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2006; “Vai trò của Nhà nước trong việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ở nước ta hiện nay”, của PGS.TS Trần Thành, Tạp chí Triết học, số 2177), 2006; “Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
ở nước ta hiện nay - những quan điểm cơ bản của Đảng”, của TS Nguyễn Thị Nga, Tạp chí Triết học, số 9(184), 2006 “Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội”, của TS Nguyễn Minh Hoàn, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2009 Ngoài ra, còn rất nhiều bài viết của các nhà khoa học đăng trên các báo và tạp chí bàn về vấn đề công bằng xã hội ở Việt Nam và trên thế giới trong thời gian gần đây Tuy nhiên, vẫn chưa có tác giả nào đề cập vấn đề một cách trực tiếp dưới
góc độ triết học như tên đề tài đã nêu Những tài liệu nêu trên chứa đựng những
giá trị khoa học rất quý giá, được tác giả tiếp thu, kế thừa có chọn lọc đẻ phát triển trong luận văn này.
Trang 10CHUONG 1
LÝ LUẬN CHUNG VE CONG BANG XA HOI
1.1 CONG BANG XA HOI VA VAI TRO CUA CONG BANG XÃ HỘI
1.1.1 Khái niệm công bằng xã hội
“Trong lịch sử có rất nhiều quan điểm khác nhau về công bằng xã hội,
nó được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau Khái niệm công bằng xã hội thường gắn liền với khái niệm bình đẳng xã hội Vì vậy, việc phân biệt hai khái niệm này là cần thiết giúp ta hiểu được thực chất và các khía cạnh khác nhau khi nhận thức
Khi nói đến bình đẳng, là nói đến quan hệ ngang nhau giữa con người với con người trong một lĩnh vực kinh tế - xã hội cụ thể nào đó, ví dụ, sự ngang bằng nhau về địa vị kinh tế, chính trị, đạo đức, tín ngưỡng Ngoài những lĩnh vực đó, nếu xét sự ngang bằng nhau giữa người với người, chẳng hạn, về thé chat, trí lực, hay những điều kiện khác thì người ta không gọi đó là
sự bình đẳng mà thường coi đó là sự ngang bằng nhau
Xã hội bao giờ cũng là sự tác động lẫn nhau giữa những con người, do
đó sự bình đẳng giữa người và người trong một lĩnh vực kinh tế - xã hội nhất định bao giờ cũng là sự bình đẳng thể hiện ở mồi quan hệ xác định, mới là, sự bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ; hai /d, sự bình đẳng trong việc được
hưởng quyền lợi và öz /à, bản thân mối quan hệ tương ứng hoặc không tương,
ứng giữa sự ngang nhau
Khi nhấn mạnh rằng, công bằng xã hội chỉ là bình đẳng ở thực hiện nghĩa vụ hoặc chỉ là bình đẳng về quyền lợi, hoặc ở trường hợp thứ ba như đã nêu ở trên đã tạo nên những quan niệm rất khác nhau trong lịch sử về bình đẳng; bắt bình đẳng; về công bằng;
Trang 11“Thuật ngữ “công bằng” được dùng trong tiếng Việt theo nghĩa hẹp hơn
so với trong một số tiếng nước ngoài “Justice”, trong tiếng Anh và tiếng
Pháp, được hiểu theo nghĩa rộng hơn, là sự đúng đắn, chính đáng, lẽ phải, công lý Do đó, khi đề cập đến “social justice”, trước hết, người ta nói đến khía cạnh pháp lý của nó Như vậy, vấn đề phân phối chỉ là một trong những khía cạnh của công bằng xã hội Ngoài ra, vấn đề tự do cá nhân, quyền con người, vấn đề môi trường, cũng được coi là những khía cạnh khác nhau của công bằng xã hội
Trong tiếng Việt, khi nói tới công bằng, người ta thường liên tưởng đến
“sự bằng nhau”, tức sự bình đẳng Thật ra, công bằng và bình đẳng tuy có liên quan với nhau, nhưng đó là hai khái niệm khác nhau Công bằng có khía cạnh bình đẳng, đồng thời có khía cạnh bất bình đẳng Bình đẳng về quyển và
nghĩa vụ công dân trước pháp luật; bình đẳng về nhân phẩm, chủng tộc, giới
hoặc cũng có thể là điều xấu, có hại cho xã hội (thí dụ: tội phạm ) Còn cái
mà cá nhân được hưởng có thể là tiền công, phần thưởng, quyền lợi, địa vị xã hội, sự đánh giá, ghi công của xã hội, và cũng có thể là sự trừng phạt bằng những hình thức từ thấp đến cao.
Trang 12Mặc dù có rất nhiều quan niệm khác nhau vẻ thước đo bình đẳng của xã
hội, nhưng chung quy các quan điểm ấy thường có một điểm chung là nhắn
mạnh đến một xuất phát điểm bình đẳng ở sự tự nguyện như là thước đo thực
sự của công bằng xã hội Trong lịch sử, mỗi quan điểm khác nhau về công bằng được gắn với những nguyên tắc để đánh giá là công bằng hay không công bằng Điều đáng chú ý là một số học giả phương Tay hién dai cho ring, những nguyên tắc bình đẳng - thước đo của công bằng xã hội được nhấn mạnh thể hiện ở: bình đẳng về cơ hội; bình đẳng về kết quả; thậm chí cả ở nguyên tắc bình quân chủ nghĩa Với những quan niệm như vậy thì trong lịch sử của nhân loại các tư tưởng về công bằng xã hội đã được bàn như thế nào kể từ thời cỗ đại cho đến ngày hôm nay, sau đây là một số quan niệm của triết học phương Đông và phương Tây về công bằng xã hội
Như vậy, thi công bằng xã hội là một phạm trù xã hội dùng để chỉ erinh
độ phát triển về phương diện xã hội của con người (cá nhân và cộng đồng), được thực hiện và thể hiện trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tỉnh thần, mà trước hết là lĩnh vực xã hội Nó phản ánh mới quan hệ về nghĩa vụ và quyên lợi giữa xã hội và cá nhân, nhằm đảm bảo sự phát triển hài hòa của con người, của xã hội phù hợp với xu thé va tiến
bộ xã hội Công bằng xã hội vừa là khát vọng của con người, vừa là động lực,
là mục tiêu của sự phát triển xã hội, của cách mạng xã hội chủ nghĩa, của sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Công bằng xã hội là sự ngang bằng nhau giữa người và người về phân phối sản phẩm vật chất và tỉnh thần theo nguyên tắc cống hiến như nhau thì được hưởng thụ
giống nhau
1.1.2 Vai trò của công bằng xã hội
Công bằng xã hội có vai trò va vị trí quan trọng trên nhiều phương diện trong đời sóng xã hội.
Trang 13Trước hết, công bằng xã hội là động lực của sự phát triển xã hội Xã hội là hình thái vận động cao nhất của vật chất Hình thái vận động này lấy mối quan hệ của con người và sự tác động lẫn nhau giữa người với người làm nền tảng C Mác cho rằng, xã hội không phải gồm các cá nhân, mà xã hội biểu hiện tổng số những mối liên hệ và những quan hệ của các cá nhân đối với nhau Với tư cách vừa là một bộ phận của tự nhiên, vừa là sản phẩm của
sự tác động qua lại giữa con người, để tồn tại và phát triển, sự vận động của
xã hội phải tuân theo những quy tắc khách quan Khác với quy luật tự nhiên,
sự tác động của quy luật xã hội diễn ra thông qua hoạt động của con người Động lực thúc đẩy con người hoạt động trong mọi thời đại, mọi xã hội là lợi ích của chủ thể hoạt động Do vậy, lợi ích trở thành yếu tố quan trọng trong,
cơ chế hoạt động của các quy luật xã hội và trong nhận thức của con người về các quy luật đó
Công bằng xã hội là (hước đo vẻ mặt xã hội của tiến bộ xã hội Công, bằng xã hội là phạm trù chính trị - xã hội, đạo đức có tính lịch sử Trong hình thái kinh tế - xã hội, một quan hệ sản xuất thống trị sẽ có một nguyên tắc phân phối trên cơ sở quan hệ sản xuất ấy Nguyên tắc phân phối trong chế độ cộng sản nguyên thủy là bình quân Nguyên tắc phân phối chủ đạo trong chế độ nô
lệ là quan hệ bắt công, bắt bình đẳng giữa chủ nô và nô lệ vì trong xã hội này,
tư liệu sản xuất chủ yếu thuộc về tầng lớp chủ nô, nô lệ thuộc sở hữu của chủ
nô Nguyên tắc phân phối chủ đạo trong chế độ phong kiến là quan hệ bắt công, bắt bình đăng giữa giai cấp nông dân và giai cắp phong kiến vì trong xã hội này tư liệu sản xuất và sức lao động của người lao động là sở hữu của lãnh
chúa phong kiến Trong chủ nghĩa tư bản, tư liệu sản xuất thuộc về giai cấp tư
sản, vì vậy nguyên tắc phân phối chủ đạo trong xã hội này là quan hệ bắt công
và bắt bình đẳng giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân Trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội, còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau vẻ tư
Trang 14liệu sản xuất và các thành phần kinh tế Do đó, các nguyên tắc phân phối cũng khá đa dạng, trong đó, nguyên tắc phân phối theo lao động vẫn là nguyên tắc chủ đạo, bởi chế độ công hữu vẻ tư liệu sản xuất chủ yếu là đặc trưng cơ bản trong thời kỳ quá độ Theo đó, nguyên tắc phân phối này tiến bộ hơn so với chủ nghĩa tư bản
Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên Trong lịch sử phát triển ấy, tiến bộ xã hội được thể hiện thông qua sự tiến bộ của các hình thái kinh tế - xã hội Qua các hình thái kinh tế - xã hội đã
có trong lịch sử, ta thấy rõ mức bất công trong phân phối sản phẩm của lao
động đã giảm dẫn và mức công bằng tăng dần Cùng với quan hệ phân phối như trên, quan hệ trao đổi theo nguyên tắc ngang giá giữa các chủ sở hữu
hàng hóa trong nền sản xuất hàng hóa cũng được tăng lên theo sự phát triển
của các hình thái kinh tế
xã hội Như vậy, trình độ công bằng xã hội đạt được trong từng hình thái kinh tế - xã hội chính là thước đo về mặt xã hội của tiến bộ xã hội tương ứng với hình thái kinh tế - xã hội ấy
1.2, CAC QUAN NIEM VE CONG BANG XA HOI TRONG LICH SU"
1.2.1 Quan niệm trước triết học Mác về công bằng xã hội
Tự tưởng triết học Trung Hoa cỗ đại
Nếu phương Đông là chiếc nôi lớn của văn minh nhân loại thì Trung Hoa là một trong những trung tâm, rực rỡ và phong phú nhất của nẻn văn minh ấy Trong đó, tư tưởng triết học, được xem là nẻn tảng của nền văn hóa
cỗ Trung Quốc
Với tính cách là hình thái ý thức xã hội, quá trình phát triên của tư
tưởng triết học Trung Quốc cỗ đại gắn liền với sự biến đổi của tính chất sinh hoạt xã hội Trung Hoa cỗ đại Nội dung và đặc điểm của nên triết học đó tắt yếu phản ánh và bị chỉ phối bởi những điều kiện lịch sử của xã hội ấy.
Trang 15Khơng Từ ( 551 — 479 tr CN), Ngudi sang lap ra hoc thuyét Nho, nha
tư tưởng vĩ đại của Trung Hoa trong thời cổ đại Lịch sử Trung Hoa cỗ đại cho rằng cuối thời Xuân - Thu sự thay đổi các quan hệ sản xuất trong phương thức chiếm hữu nơ lệ bắt đầu dẫn đến sự thay đổi kiến trúc thượng tầng của xã hội Ơng cho rằng: Muốn cho xã hội thái bình, thịnh trị thì khơng được đề cho giàu nghèo quá cách biệt Về bản chất là biểu hiện của quan điểm cơng bằng, luận điểm này bị phê phán kịch liệt, rằng đĩ là cơ sở hình thành chủ nghĩa bình quân Tuy nhiên, về mặt lich sử, khi ơng nĩi: Khơng sợ thiếu, chỉ sợ khơng cơng bằng, khơng lo nghèo chỉ lo lịng người khơng yên thì giá trị nhân văn của cơng đồng của bình đẳng được khẳng định và cĩ vai trị to lớn trong đời sống xã hội
Mạnh Tử ( 371 ~ 289 tr CN) một triết gia lớn thời Tiên Tần khi đề cập
về cơng bằng xã hội, Ơng đưa ra thuyết “Nhân chính” chống việc dùng vũ lực thơn tinh lẫn nhau giữa các nước, địi hỏi bọn quý tộc phải dé cho nhân dân cĩ tài sản riêng thì họ mới yên tâm làm ăn Trong xã hội “Trên dưới tranh lợi lẫn nhau”, ơng chủ trương chống điều lợi, chống làm giàu Để tránh được hiện tượng “Trên dưới tranh lợi lẫn nhau”, Ơng đưa ra phép “Tỉnh điền” thực chất
là muốn quay trở lại mơ hình xã hội thị tộc cơng xã thời Chu Ơng cũng để ra chủ trương “Chính trị được lịng dân” khá mới mẻ Ơng nĩi: “Dân vi quý „ xã tắc thứ chỉ, quân vi khinh” nghĩa là, đáng quý nhất là dân, kế đến là xã tắc, cịn vua là thường, vua cọ những người tơi như con chĩ, con ngựa, thì những, người tơi coi vua như những người khác; vua coi người tơi như cỏ rác, thì những người tơi coi vua như kẻ thù Đĩ là những tư tưởng tiến bộ, phù hợp
với xu thế phát triển của lịch sử
Mặc dù là người ủng hộ chế độ phân định đẳng cắp trong xã hội xuất
phát từ thế giới quan của mình, cũng như xuất phát từ quan điểm trong quan
hệ hàng hĩa; Mạnh Tử luơn nhấn mạnh cơ sở đảm bảo sự ổn định xã hội
Trang 16chính là bị quy định bởi sự đối xử nhân nghĩa của người quân tử, của bậc quân vương đối với hạng bình dân Đặc biệt, với quan điểm về mối quan hệ
hai chiều thể hiện sự công bằng mang tính “khế ước” ấy, và trên cơ sở này nếu đem so sánh với vị trí của xã tắc, của bậc quân vương, với người dân trong tư tưởng của Mạnh Tử, thì thậm chí, thứ hạng của người dân luôn một trật tự: “Dân vi quý, xã tắc thứ chỉ, quân vi khinh” Đây chính là nền tảng một
tư tưởng theo quan niệm của Mạnh Từ
Mặc Tử ( 480 — 420 tr.CN) sống trong bối cảnh xã hội thời kỳ tan rã của chế độ thị tộc dựa trên chế độ bắt công Đây là thời kỳ đang phát triển của chế độ tư hữu, mà ở đó dân tự do và thợ thủ công ngày càng có vị trí kinh tế đáng kể trong xã hội, họ mong muốn được tham gia chính quyển Tư tưởng của Mặc Tử chính là sự phản ánh nguyện vọng của ting lp dan ty do, sin
xuất nhỏ
Xuất phát từ thực tế như vậy, Mặc Tử đã mơ ước xây dựng được một
xã hội tốt đẹp mà ở đó mọi người trong xã hội không phân biệt trên dưới, cùng thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, cùng làm lợi cho nhau trên tỉnh thần
“kiêm ái” Tư Tưởng “kiêm ái” được Mặc Từ coi là mực thước của một xã hội tốt đẹp vì lợi ích của mọi người Điều đó cũng được thực hiện tỉnh thằn dan chủ bình đẳng sơ khai và chủ nghĩa vị tha trong tư tưởng của ông Thậm chí, với học thuyết “kiêm ái” và chủ nghĩa công lợi, thì người ta cho rằng Mặc
Từ là người đầu tiên có ý tưởng về thế giới đại đồng (một xã hội hòa thuận
mà ở đó con người hoàn toàn bình đẳng với nhau và công lý được thi hành triệt để) Tuy nhiên, mong muốn xây dựng được một xã hội mà ở đó mọi người cùng có thể thương yêu lẫn nhau, cùng làm lợi cho nhau theo ông lại phải thông qua “ý chí của trời”, thì chính điều này lại khiến tư tưởng của Mặc 'Tử trở thành một ảo tưởng trong việc xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn
Trang 17Lao Tir ( 604 — 531 tr.CN) la m6t trong nhing nha tư tưởng vĩ đại nhất của Trung Hoa cổ đại, người sáng lập ra phái Đạo gia Ông có cái nhìn đúng đắn về nguyên nhân của hiện thực
Lão Tử phê bình một cách gay gắt giai cắp thống trị đương thời Ông chỉ ra rằng dân đói là do sự nhũng nhiễu của quan lại và sưu thuế nặng nề Lão Tử chỉ trích bọn mặc quần áo gắm vóc, mang thanh gươm sắc bén, ăn món ngon vật lạ và tích lũy quá nhiều, đó là kẻ trộm cướp , thái độ trồn tránh hiện thực, phục cô và thủ tiêu đấu tranh giai cấp của Lão Tử cũng thể
hiện khá rõ Ông chủ trương "không chống lại cái xấu” bởi vì, "pháp luật
càng nghiêm minh thì trộm cướp càng lắm”, đòi hỏi giai cấp thống trị cũng
như nhân dân phải tuân theo quy luật tự nhiên Ông cho rằng người đứng đầu Nhà nước phải là thánh nhân trị vì thiên hạ bằng đạo “vô vi” Xóa bỏ mọi ràng buộc con người bởi quy phạm đạo đức, pháp luật trả lại cho con người cái bản tính tự nhiên của nó
Lão Tử tuyệt đối hóa quy luật khách quan (Đạo) Ông chủ trương không nên tiến lên, mà trở lại đời sống nguyên thủy, lên án kinh tế hàng hóa, muốn giữ nền kinh tế xã hội công xã thị tộc, không có tư hữu và Nhà nước Mặc dù vậy tư tưởng của ông có ảnh hưởng rất lớn ở Trung Hoa
Hàn Phi Tử (280 - 233 tr.CN) là một công tử nước Hàn, từ nhỏ Ông đã
nỗi tiếng thông minh, học giỏi Ông say mê nghiên cứu cả đạo Nho, đạo Lao, nhưng đặc biệt quan tâm là học thuyết của phái Pháp gia Ông đã phát triển tư tưởng pháp trị của các nhà triết học trước đó thành một học thuyết pháp trị khá hoàn chỉnh thực hiện chủ nghĩa quân chủ chuyên chế tập trung đến cao độ
nhằm xóa bỏ tình trang phân tán cát cứ kéo đài hơn 500 năm của thời Xuân
Thu — Chiến Quốc nhằm thiết lập một xã hội công bằng Sau khi ông mắt, học
thuyết chính trị của ông được nhà Tần hết sức đề cao.
Trang 1813
Trong xã hội phong kiến, với sự phân chia giai cấp địa chủ và nông
dân, đất đai và tư liệu sản xuất thuộc về giai cấp địa chủ, quý tộc, nông dân họ
chỉ là người làm thuê, con người hàng ngày vẫn phải đối mặt với những bất công trong xã hội Đây cũng chính là nguyên nhân của hàng loạt các cuộc khởi nghĩa của nông dân chống lại bọn địa chủ phong kiến đòi công bằng và bình đảng trong xã hội Ph Ăngghen đã từng nhận xét: "điều đó lý giải vì sao chế độ phong kiến lại có nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại địa chủ, lãnh chúa
để đòi công bằng xã hội" 42, tr 243]
Tự tưởng triết học Án Độ cỗ dai
Trong nền văn minh rực rỡ của phương Đông, An Độ cổ đại là một trong những cái nôi triết học, tôn giáo lâu đời, phong phú và đặc biệt của nhân loại Phật giáo là một trào lưu triết học tôn giáo xuất hiện vào khoảng thế kỷ
VI trước công nguyên, ở miền Bắc Án Độ, phía Nam dãy Himalaya, vùng biên giới giữa Án Độ và Nêpan bây giờ Đạo Phật được xây dựng trên cơ sở cuộc đời và tư tưởng triết lý của Thích Ca Mâu Ni Khi bàn về công bằng xã hội, Phật giáo thừa nhận sự tồn tại lâu dài của bất công, lý giải nó bằng các nguyên nhân sinh học và tâm lý, tìm con đường giải phóng bằng sự tu tập thiện nguyện và nhận thức Vì thế, những bắt công trên cõi đời không phải là tồn tại thực Khi con người nhận thức được bản thể chân thực của mình là v6 ngã, vô thường Coi cuộc đời chỉ là một kiếp trong vòng luân hồi, hướng tới cõi Niết bàn, nơi con người được giải thoát khỏi mọi sự khổ đau, trở về với trạng thái tĩnh lặng chỉ có như thế, con người mới tự do, viên mãn.Tuy nhiên, không vì thừa nhận tính chất tạm bợ, vô thường của kiếp người mà Phật giáo không chủ trương giảm thiểu sự bắt công, nỗi đau khổ của chúng sinh trên cuộc đời này Lòng từ, bi, hi, xã chủ trương hành thiện và giáo hóa Phật pháp được người tu hành Phật giáo coi là phương tiện cứu giúp con người, hóa giải bắt công, đau khổ trong xã hội.
Trang 19Quan niệm của triết học phương Tây về công bằng xã hội
Platon ( 427 - 347 tr, CN) nhà triết học phương Tây thời cổ đại, trong tác phẩm Nhà nước và Luật lệ, ông đã khẳng định, không có sự bình đẳng giữa
những tầng lớp khác nhau trong xã hội, bởi vì theo ông, bản thân Nhà nước xuất hiện từ chính sự đa dạng của nhu cầu con người Do có sự đa dạng về nhu cầu nên xã hội cần phải duy trì các hạng người khác nhau để thỏa mãn các nhu cầu của xã hội
‘Theo Platon, trong xã hội đương thời hoàn toàn không có sự bình đẳng Đó
là điều tắt yếu Vì thế, ông cho rằng : “Sự bình đẳng giữa những người không
bình đẳng là tệ xấu chủ yếu của nền dân chủ”, và : “Đối với những người không bình đẳng, sự bình đẳng sẻ trở thành không bình đẳng Sự bình đẳng chân chính là ở tính cân đối ~ người này được nhiều hơn, người khác được ít hơn, căn cứ theo bản chất của mỗi người ” Ông coi việc người nô lệ mà được đối xử như người tự do là điều vượt ra khỏi lẽ phải thông thường.Tuy nhiên, ông lại cho rằng dù xã hội không có sự bình đẳng nhưng vẫn có công bằng, bởi lẽ công bằng là ở chỗ mỗi hạng người dù ở địa vị xã hội nào cũng, phải làm hết trách nhiệm của mình Như vậy, quan niệm của ông về công bằng xã hội, cái được nhắn mạnh không phải là sự ngang bằng giữa người với người trong mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, mà là sự phân định về đăng cấp
Những tư tưởng của Platon về công bằng và bình đẳng đã ảnh hưởng nhất định đến những quan điểm về công bằng xã hội sau này, nhưng với những mục đích chính trị - xã hội không hoàn toàn giống nhau
Arixtốt ( 384- 322 tr CN) là một nhà hiễn triết vĩ đại thời kỳ cỗ đại Hy Lạp,
đã có những tư tưởng sâu sắc về công bằng xã hội Ông đã đưa ra những quan điểm về vai trò của Nhà nước đối với việc thực hiện công bằng xã hội theo ông, Nhà nước là kết quả phát triển của con người khi con người chuyển từ
Trang 2015
đời sống tự nhiên sang đời sống chính trị, chính vì con người là động vật
chính trị sông cố kết trong một cộng đồng xã hội nhất định, cho nên con
người cần được đảm bảo không chỉ về vật chất, mà còn phải đảm bao ca su công bằng Ông cho rằng, công bằng là sự bình đảng giữa những người có cùng địa vị xã hội Còn sự bắt bình đẳng giữa những người không có cùng địa
vị xã hội thì cũng được ông coi là công bằng như đã dẫn ở trên Như vậy, trong quan niệm của ông dù công bằng là bình đẳng giữa những người có cùng địa vị xã hội hay là bất bình đăng của những người không có đia vị xã hội, thì cả sự bình đẳng và bắt bình đẳng ấy đều là thước đo của sự công bằng Ông là người đầu tiên phát hiện ra thước đo của sự công bằng nằm trong
chính cơ sở kinh tế Arixtốt cho rằng, cơ sở của sự công bằng xã hội là sự
công bằng trong trao đổi vật phẩm Mặc dù ông thấy được rằng, phải có sự “ đồng nhất về chất” của những hàng hóa được trao đổi thì mới có thể tiến hành trao đổi được Ông chỉ nêu lên biểu hiện giá trị của hàng hóa bằng hình thái tiền của nó mà không thấy được chính lao động là thước đo chung của công bằng và bình đẳng trong mối trao đổi hàng hóa Chính hoàn cảnh xã hội ấy đã khiến cho quan niệm của ông vẻ công bằng xã hội đã bị bó hẹp trong quan hệ đăng cấp
Tuy vậy, những đóng góp của ông được C Mác cho rằng: Thiên tài của Arixtốt chính là ở chỗ, trong biểu hiện giá trị của các hàng hóa, ông đã tìm ra được một quan hệ bình đẳng chỉ có những giới hạn lịch sử của xã hội mà ông đang sống mới ngăn cản không cho ông thấy được “ trong thực tế”, mối quan
hệ bình đẳng đó là cái gì
Xanh Ximông ( 1760 ~ 1825) một nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng Pháp,
đã được C Mác đánh giá là người trực tiếp biểu hiện ra như là người phát ngôn của giai cấp cần lao Công lao của ông trước hết thể hiện ở chỗ ông đã thừa nhận sự phát triển của xã hội là một quá trình tiến bộ từ thấp đến cao, từ
Trang 21đã mơ ước xây dựng một xã hội tốt đẹp nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh than cho mọi người Tuy vậy, ông vẫn chưa đưa ra được phương án cụ thể để xóa bỏ sự bất công xã hội
Phuriê ( 1772 — 1837) là một trong ba nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng thời kỳ này, đã được Ăngghen đánh giá một trong ba nhà tư tưởng - mặc dù tất cả tính chất ảo tưởng và không tưởng trong các học thuyết của họ - thuộc
về những trí tuệ vĩ đại nhất của tất cả mọi thời đại và đã tiên đoán được Ăngghen cho rằng, cái vĩ đại nhất của ông đã bộc lộ trong quan điểm lịch sử
xã hội là việc ông chia lịch sử xã hội ra làm 4 giai đoạn phát triển: giai doan mông muội, gia trưởng, đã man và giai đoạn văn minh
Mặc dù, ông cho rằng công bằng xã hội chỉ có được khi chế độ tư hữu tư bản bị xóa bỏ, nhưng ngược lại ông cũng không đưa ra phương pháp để thực hiện việc xóa bỏ chế độ xã hội bắt công và bắt bình đẳng
Rôbớt Ôoen ( 1771 — 1858) là người đưa ra phương án hết sức cụ thể cho việc thực hiện lý tưởng công bằng xã hội, đó là làm sao cho những người lao động được sống xứng đáng với nhân phẩm của mình bằng việc thực hiện một chế độ phân phối đồng đều cho người lao động những kết quả lao động của chính họ, bởi vì theo ông, mọi nguồn của cải đều là “sản phẩm của giai cấp lao động”, theo Ăngghen, chính là vì ông xuất phát từ việc khẳng định kết quả của lực lượng ấy cũng phải thuộc về giai cấp lao động Lực lượng sản xuất mạnh mẽ mới, chỉ để làm giàu cho một số cá nhân và nô dịch quần chúng thì bây giờ, đối với ông đã trở thành cơ sở đề cải tạo cho xã hội, và với tư cách là
Trang 227
của chung của mọi người, nên phải được dùng dé mưu cầu đời sống hạnh phúc chung Những tư tưởng của ông thực sự phản kháng mạnh mẽ đối với thực tế xã hội tư sản hết sức bắt công
Tóm lại: Ôoen cùng Xanh Ximông, Rô bớt Ôoen đã thực sự trở thành ba đại biểu xuất sắc ở thế kỷ XIX với những tư tưởng nhân đạo Các ông không chỉ
mơ ước, mà còn thực hiện những biện pháp cụ thê để muốn xóa bỏ đi chế độ
tư hữu nhằm thực hiện sự công bằng xã hội cho mọi người trong xã hội
Chủ nghĩa tư bản ra đời, cùng với chiêu bài: "Tự do, bình đẳng, bác ái", của giai cấp tư sản nhằm tập hợp lực lượng để thủ tiêu chế độ phong kiến,
đồng thời khẳng định các quyền tự do cá nhân, quyền được sống trong xã hội
dân chủ theo mô hình Nhà nước "tam quyền phân lập" với một nền pháp luật tiến bộ, công bằng Đây là những nội dung cơ bản trong tư tưởng công bằng
xã hội của thời kỳ này
Tômát Hốpxơ (1588-1679) nhà triết học nỗi tiếng đại biểu cho chủ nghĩa duy vật Anh thé ky XVII cho rằng: con người là giống nhau mà tạo hóa
đã ban cho nên con người phải được công bằng và bình đẳng, nhưng con người thì lại có tính tham lam va ich kỹ nên không thể có sự bình đẳng và công bằng, ông đã chỉ ra rằng: Để đi đến sự công bằng giữa con người với con người thì phải có một lực lượng đứng trên để dàn xếp các lợi ích cá nhân,
đó chính là Nhà nước Tư tưởng này của Tômát Hópxơ đã mang tính duy vật
về xã hội nhưng lại chưa thấy được trong xã hội có đối kháng giai cấp thì Nhà nước mang tính giai cấp của giai cấp thống trị, vì vậy, ông đã cho rằng không thể thực hiện công bằng xã hội chung cho toàn xã hội được
Xpinôza (1632-1677) đã đưa ra những tư tưởng giải phóng con người và giải phóng mình đó là nhận thức, chính nhận thức mà làm cho con người tránh khỏi tệ nạn xã hội, giải phóng mọi áp bức và bắt công Ông cho rằng, dốt nát là nguyên nhân của áp bức, bất công, không nhận thức được hiện thực.
Trang 23thì không thể chế ngự được lòng ham muốn của mình Tuy nhiên, quan điểm của ông vẫn chưa duy vật triệt để về vấn đề xã hội
J.Rútxô (1712-1778), nhà tư tưởng vĩ đại, nhà biện chứng lỗi lạc của triết học Khai sáng Pháp, ông cho rằng: xã hội công dân đã tạo ra một xiềng xích mới trói buộc kẻ yếu, thế lực thuộc về kẻ mạnh, luôn kìm hãm, thủ tiêu bình đăng cá nhân và duy trì quan hệ bất bình đảng Theo ông, muốn xóa bỏ bất công, bất bình đẳng thì phải xây dựng một Nhà nước kiểu mới do nhân dân làm chủ, đồng thời ông cũng phê phán sở hữu tư nhân vì sở hữu tư nhân là nguyên nhân làm phân hóa thành kẻ giàu người nghèo, muốn xóa được sở hữu tư nhân thì phải thiết lập khế ước xã hội thì mới đạt được công bằng và bình đẳng Đây là những lý tưởng nhân đạo nhưng cũng chưa thoát khỏi hạn chế lịch sự
L.Cantơ (1724-1804), đại biểu của nền triết học cỗ điển Đức, một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của lịch sử tư tưởng phương Tây trước C Mác, khi bàn về vấn đề xã hội ông đã cho rằng: công bằng xã hội bao gồm công bằng và bảo hộ, công bằng trong trao đổi và phân phối Đây là tư tưởng, tiến bộ của ông mà sau này được nhiều người kế thừa
J.Rawls (1921 ~ 2002) , người đã đưa ra một lý thuyết về công bằng xã hội
thối
G.G.Rutxô.Trong quan niệm của J.Rawls thì sự công bằng hay không công
thuyết này được J.Rawls coi là sự tiếp nối những tư tưởng truyền
g về công bằng xã hội trong lịch sử, đặc biệt là tư tưởng của
bằng trong một thể chế xã hội không phải là sự khác nhau về xuất phát điểm của mỗi cá nhân, mà chỉ chủ yếu ở chỗ, khi tham gia vào hợp tác xã hội, cho
dù có sự bắt bình đăng do có những khác biệt bẩm sinh và địa vị xã hội nhưng
đó là sự chấp nhận mang tính tự nguyện trong cơ chế hoạt động hợp tác xã hội chung thì đó vẫn là công bằng.
Trang 241.2.2 Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về công bằng xã hội
4 Quan niệm của C Mác về công bằng xã hội
C Mác xây dựng quan điểm về công bằng xã hội mà
¡ dung của nó chính là nguyên tắc phân phối theo lao động Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, quan hệ trao đổi ngang giá khi mua và bán sức lao động được nhà tư bản coi là quan hệ công bằng vì, theo họ, nguyên tắc trao đổi ngang giá đã phân chia số giá trị gia tăng thu được sau chu trình sản xuất thành tiền công của công nhân và lợi nhuận của nhà tư bản đúng với tỷ lệ sức và tiền của mà mỗi bên đã tham dự vào sản xuất.Vì vậy, theo quan điểm của C Mác, muốn
có công bằng xã hội thực sự thì phải thực hiện được nguyên tắc phân phối theo lao động, nhưng phải phân phối đúng với sức lao động
Để xây dựng một xã hội công bằng thực sự thì phải xóa bỏ su bat bình đăng về những điều kiện ban đầu Muốn vậy, phải làm cho mọi người được bình đẳng trong quan hệ sở hữu, tức là phải làm cho mọi người phải ngang bằng về địa vị, đó chính là xuất phát điểm bình đẳng làm cơ sở để thực hiện công bằng xã hội
Trong tác phẩm Phé phán Cương lĩnh Góia, C Mác cho rằng, quan điểm của những người soạn thảo Cương lĩnh Gôta vẺ việc thực hiện nguyên tắc phân phối theo giá trị sức lao động không thể coi là công bằng, dù nguyên tắc
phân phối ấy được thực hiện dựa vào một xuất phát điểm bình đăng về sở
hữu, thế nhưng nguyên tắc ấy lại không phải chỉ được áp dụng riêng đối với những người lao động thực sự, mà còn được thực hiện cho mọi thành viên trong xã hội, kể cả những kẻ không lao động Do vậy, nguyên tắc phân phối trên đây cũng không coi là nguyên tắc phân phối thực sự công bằng
Theo C Mác, trước hết, việc thực hiện công bằng xã hội không phải chỉ phụ thuộc riêng vào lĩnh vực phân phối, mà đi đến phê phán những quan điểm nói đến công bằng xã hội nhưng lại muốn tách quan hệ phân phối khỏi quan
Trang 2520
hệ sản xuất của một phương thức sản xuất nhất định, công bằng xã hội chỉ thực
sự có được trong chủ nghĩa xã hội, chỉ khi đó chế độ tư hữu mới bị thủ tiêu, chế
độ công hữu mới được thiết lập Nói cách khác, cơ sở của công bằng xã hội
trong chủ nghĩa xã hội chính là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất
Nhu vay, nguyên tắc phân phối theo lao động được thực hiện trong chủ nghĩa xã hội là một nguyên tắc phân phối công bằng Khi phân tích nguyên tắc phân phối đảm bảo công bằng xã hội trong chủ nghĩa xã hội, C Mác vạch
rõ mặt tiến bộ của nguyên tắc phân phối ấy so với trong chủ nghĩa tư bản và những hạn chế của nó so với trong giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa VỀ nguyên tắc những người lao động không phải ai cũng như ai Người này khác người kia về vật chất và tỉnh thần, về năng khiếu cá nhân và hoàn cảnh gia đình Vì vậy, với một công việc ngang nhau, với một phần tham dự như nhau, người này vẫn lĩnh nhiều hơn người kia, người này vẫn giàu hơn người nọ Muốn tránh tắt cả những thiếu sót ấy thì thừa nhận thực tế là sẽ phải không bình đẳng, chứ không phải là bình đẳng C Mác chỉ rõ trong điều kiện chủ nghĩa xã hội, sự phân phối công bằng chẳng những chưa loại trừ, mà vẫn còn hàm chứa trong nó sự chấp nhận một tình trạng bắt bình đẳng nhất định giữa các thành viên trong xã hội Đó vừa là ưu việt, vừu là thiếu sót của nguyên tắc phân phối lao động không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của Chủ nghĩa Cộng sản
b Quan niệm của Ph Àngghen về công bằng xã hội
Cũng như C Mác, Ph Angghen khang định sự thật bắt công của cái gọi
là “Tiền công công bằng cho một ngày lao động công bing”, Ph Angghen cũng đã chỉ rõ, bản chất của chế độ phân phối được cho là công bằng theo nguyên tắc trao đổi ngang giá, chỉ là vị thế có lợi đối với riêng giai cấp tư sản, đồng thời là sự bất lợi đối với riêng giai cấp công nhân trong cuộc trao đồi ngang giá giữa sức lao động mà công nhân bỏ ra và tiền công mà nhà tư bản
Trang 2621
trả cho họ Sự bắt công ở đây là ở chỗ “công nhân bỏ ra nhiễu, nhà tư ban chi
ra it” Ph Ăngghen đã viết một cách châm biếm: “Đó là một loại công bằng
hết sức đặc bị:
" Nhưng tại sao lại có xảy ra tình trạng đớ? Theo các nhà kinh
tế học tư sản tiền công và ngày lao động do cạnh tranh quy định, đã được thỏa thuận giữa hai bên theo nguyên tắc ngang giá, thuận mua vừa bán Vậy là rất công bằng Nhưng Ăngghen đã quan niệm: Sự thật không phải như vậy Nếu nhà tư bản không đồng ý với công nhân, thì y có điều kiện để chờ đợi và sống
bằng tư bản của y Người công nhân không thể làm như thế được Người
công nhân ngay từ đầu đã ở vào những điều kiện bắt lợi trong cuộc đấu tranh Cái đói đặt anh ta vào một hoàn cảnh hết sức bất lợi Thế nhưng, theo khoa kinh tế chính trị của giai cấp các nhà tư bản, đó là đỉnh cao của sự công bằng
Vi vay, theo quan điểm của Ph Ängghen, muốn có công bằng xã hội thực sự thì phải thực hiện được nguyên tắc phân phối theo lao động, nhưng phải phân phối đúng với sức lao động
Bên cạnh việc phê phán quan điểm thực hiện công bằng xã hội theo nguyên tắc “trao đổi ngang giá” của các nhà kinh tế tư san, Ph Angghen con phê phán cả sự áp dụng thuyết Ricacđô theo kiểu bình quân Ăngghen cho tầng, người nào hiểu biết ít nhiều sự phát triển của kinh tế chính trị học ở nước Anh, người đó không thể không biết rằng, vào những thời kỳ khác nhau, hầu hết những người theo chủ nghĩa xã hội nước này đều đề nghị áp dung theo kiểu bình quân nghĩa là theo kiểu xã hội chủ nghĩa theo quan niệm của Ricacđô
© Quan niệm của V.I Lênin về công bằng xã hội
V.LLénin (1870- 1924) cho ring: trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa gọi là chủ nghĩa xã hội, pháp quyền tư sản chưa bị xóa bỏ hoàn toàn
mà chỉ bị xóa bỏ một phần, chi bị xóa bỏ với mức độ phủ hợp với cuộc cách mạng kinh tế đã được hoàn thành, nghĩa là chỉ trong phạm vi tư liệu sản xuất
Trang 2722
thôi Pháp quyền tư sản thừa nhận tư liệu sản xuất là sở hữu riêng của cá
nhân Chủ nghĩa xã hội biến tư liệu sản xuất thành tải sản chung
V.1 Lénin rat chú ý đến công bằng xã hội trong phân phói lao động, ông cho rằng: "Người nào không làm thì không có ăn”, nguyên tắc này được thực
xu thế vận động của nó, luôn đối lập với bắt công xã hội, luôn hướng tới giải quyết tốt hơn những nhu cầu căn bản của con người, đảm bảo tốt hơn những điều kiện cho sự tồn tại và phát triển toàn diện của con người Do vậy, công bằng xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội
1.3 QUAN DIEM CUA HO CHi MINH VA DANG CONG SAN VIET NAM VE CONG BANG XA HOI
1.3.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về công bằng xã hội
Hồ Chí Minh vị lãnh tụ thiên tai, Người cha già dân tộc Việt Nam đã kế thừa các quan điểm trước đây của nhân loại, đặc biệt là C Mac va Angghen
về công bằng và bình đăng xã hội, đồng thời trực tiếp chứng kiến những gì
xảy ra trong đời sống kinh tế - xã hội của các nước trên thế giới cũng như ở
nước ta trước Cách mạng Tháng Tám, năm 1945, từ đó Người đã khẳng định rằng, trong chế độ thực dân và phong kiến không có công bằng xã hội, trong
xã hội đó nhân dân chỉ có nghĩa vụ phải phục tùng mệnh lệnh Trên thực tế,
người nông dân là lực lượng chủ yếu sáng tạo ra những của cải trong xã hội
và nhờ có sức lao động của họ, xã hội mới tồn tại và phát triển Tuy vậy, điều bắt hợp lý là người lao động thì suốt đời nghèo khổ, nhưng ngược lại một số người không lao động thì lại “ngồi mát ăn bát vàng” Hồ Chí Minh đã giải
Trang 2823
thích rằng, vì một số ít người đã chiếm làm tư hữu những tư liệu sản xuất của
xã hội Đồng thời, Người còn chỉ rõ, trong xã hội có giai cấp thống trị bóc lột, chỉ có lợi ích cá nhân của bọn thống trị là được thỏa mãn, còn lợi ích cá nhân của những người lao động thì bị giày xéo
Hồ Chí Minh đi đến kết luận, công bằng xã hội thực sự chỉ có được trong chế độ xã hội mới; xã hội xã hội chủ nghĩa, mà ở đó nhân dân vừa nghĩa
vụ, đồng thời có quyền lợi Hơn thế nữa, sự công bằng xã hội của chế độ xã hội chủ nghĩa được đảm bảo một cách vững chắc Điều này được chứng minh rằng, Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân lao động, người lao động là người chủ của đất nước, mọi công dân, tầng lớp đều bình đẳng về quyền lợi
và nghĩa vụ
Tư tưởng của Người còn thể hiện một cách sinh động, linh hoạt trong những hoàn cảnh khác nhau Một điều cần chú ý là, khi nói đến công bằng xã hội, Hồ Chí Minh thường gắn nó với quan niệm về bình đẳng xã hội, ở đây chính là mỗi quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi Người đã coi công bằng xã hội là sự bình đẳng về nghĩa vụ và quyển lợi Với những quan điểm như vậy
Hồ Chí Minh đòi hỏi tất cả những người lao động đều phải nhận thức rõ rằng mình là người chủ đắt nước, khi đã có quyển làm chủ, thì phải làm tròn trách nhiệm, đó là phải tích cực xây dựng Nhà nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhằm mục đích không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tỉnh thần của nhân dân, đặc biệt là nhân dân lao động
'Như vậy, trong quan niệm của Người, bình đẳng trước hết là bình đẳng
về nghĩa vụ và quyền lợi, đồng thời phải thực hiện sự bình đẳng giữa người
với người, chúng ta thấy rằng việc thực hiện một chế độ phân phối công bằng
Theo Hồ Chí Minh, công bằng chính là việc thực hiện nguyên tắc phân phối
mà trong đó, phần hưởng thụ tương xứng với mức độ đóng góp, cống hiến của từng cá nhân, chứ hoàn toàn không phải là sự ngang bằng về hưởng thụ
Trang 2924
giữa các cá nhân mà không tính đến sự cống hiến của từng người Người khẳng định: “ chủ nghĩa xã hội là công bằng hợp lý: làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng Vì vậy, sự bình đẳng của những người lao động trong mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, mà cụ thể đó là sự ngang bằng về địa vị làm chủ Nhà nước, làm chủ tư liệu sản xuất
là những điều kiện cơ bản hàng đầu mà chế độ xã hội mới tạo ra, bảo đảm cho mọi người đều phát huy hết mọi khả năng của cá nhân mình để cùng hướng tới một mục tiêu hạnh phúc dài lâu
Trong tư tưởng của Người, công bằng xã hội không chỉ biểu hiện như
là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, mà còn là động lực thúc đây sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trong điều kiện hiện nay, khi đắt nước chúng ta đang chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, một số nhà khoa học lại đưa ra quan điểm cho rằng, công bằng xã hội chỉ có thực hiện được khi đã có sự phát triển về kinh tế, hoặc khẳng định rằng, khi chưa
có đủ điều kiện để phát triển về kinh tế mà thực hiện công bằng xã hội thì có thể dẫn đến chủ nghĩa bình quân Có thể nhận định rằng, một quốc gia nghèo,
có nền kinh tế chưa phát triển không có nghĩa là ở đó không thể thực hiện được công bằng xã hội Trong quan điểm của Người thì việc thực hiện công bằng xã hội là một yêu cầu bức thiết, và yêu cầu đó lại càng khó khăn hơn khi cuộc sống còn nhiều vất vả, lắm gian nan Hồ Chí Minh căn dặn: “ Trong công tác lưu thông phân phối, có những điều cần phải nhớ:'“ Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dan không yên”
Người nhắn mạnh: "Chủ nghĩa xã hội là lấy nhà máy, xe lửa, ngân hàng v.v làm của chung Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không
làm thì không ăn, tất nhiên là trừ những người già cá, đau yếu và trẻ em Thể
ta đã đến đấy chưa? chưa đến Chủ nghĩa xã hội không thể làm mau được mà phải làm dần dần " Người kiên quyết chống lại chủ nghĩa bình quân, "đồng.
Trang 3025
cam cộng khổ là một tinh thần cần phải có, nhưng nếu bình quân chủ nghĩa
thì lại không đúng Bình quân chủ nghĩa là gì? là ai cũng như ai, bằng hết
Bình quân chủ nghĩa là trái với Chủ nghĩa xã hội, thế
không đún, Như vậy, trong quan điểm Hồ Chí Minh, công bằng và bình đẳng là một mục tiêu của sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội mới, nó không phải là chủ nghĩa bình quân cào bằng trong sự nghèo khổ Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội
là không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân lao động:
“Làm cho người nghèo thì đủ ăn Người đủ ăn thì khá giàu Người khá giàu thì giàu thêm.”
Những quan điểm trên của Hồ Chí Minh một lần nữa cho thấy, ngoài ý nghĩa là mục tiêu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, công bằng xã hội còn mang ý nghĩa là động lực thúc đây sự phát triển của đất nước Việc thực hiện công bằng xã hội kích thích mọi người, tùy theo khả năng, trí tuệ đạo đức
mà cùng tham gia vào xây dựng một xã hội mới, một cuộc sống mới, từng bước tiến tới xã hội chủ nghĩa, xã hội cộng sản = một xã hội trong đó “ Mọi người làm hết tài năng; ai cần dùng gì có nấy”
Bên cạnh đó, Người rất chú trọng đến [oi ich cá nhân nhằm động viên mỗi người không ngừng phấn đấu, cống hiến nhiều nhất cho xã hội, đồng thời đấu tranh chống lại chủ nghĩa cá nhân, chính chủ nghĩa cá nhân là căn nguyên gay ra tram thứ bệnh như quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, tham 6, lãng phi, chủ quan v.v mang tính cá nhân, không nghĩ tới lợi ích giai cấp, dân tộc Tuy nhiên, cũng cần phân biệt rằng chủ nghĩa cá nhân khác lợi ích cá nhân, nếu chống chủ nghĩa cá nhân mà lại vi phạm lợi ích chính đáng của cá nhân thì sẽ dẫn tới sai lầm, Người khẳng định rằng : "Lợi ích cá nhân là nằm trong lợi ich tap thé, là một bộ phận của lợi ích tập thể Lợi ích chung của tập thể được đảm bảo thì lợi ích riêng của cá nhân mới có điều kiện để được thỏa mãn" [55, tr 291].
Trang 31có vẫn thực hiện được công bằng xã hội, tùy điều kiện kinh tế xã hội khác nhau mà việc thực hiện công bằng xã hội khác nhau
Từ những nội dung trên có thé rút ra kết luận rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội là sự bỗ sung và phát triển tiếp tục quan điểm của
C Mác và Ăngghen Người chỉ ra rằng, thực hiện công bằng xã hội là cả một quá trình, phải làm từng bước một, tránh sự nôn nóng vội vàng và tránh sự trì trệ, trông chờ ÿ lại Cuối cùng, Hồ Chí Minh khẳng định, công bằng xã hội là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội mà chúng ta cần phải vươn tới, chỉ có xã hội xã hội chủ nghĩa mới thực sự đem lại công bằng xã hội cho nhân dân lao động, phương thức duy nhất đẻ thực hiện công bằng xã hội là đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, công bằng xã hội là việc tạo ra điều kiện cho mỗi người có cơ hội tham gia vào quá trình phát triển của xã hội và hưởng thụ những thành quả của sự phát triển, là đảm bảo quyền tự do của mỗi người trong quan hệ gắn bó với cộng đồng Công bằng xã hội phải được thể hiện đầy đủ trong việc giải quyết quan hệ giữa phát triển kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội, giải quyết hài hòa giữa quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi con người Công bằng xã hội là trách nhiệm chung của Đảng, của Nhà nước,
Trang 3227
của toàn xã hội trong việc chăm lo, bảo vệ quyền lợi của nhân dân và tạo ra điều kiện thuận lợi để nhân dân hoàn thành nghĩa vụ, quyền lợi của mình đối với Nhà nước và xã hội
Chính vì vậy, có thể hiểu một cách vắn tắt rằng, công bằng xã hội là
sự bình đẳng giữa người và người, nhưng bình đẳng ở đây không phải theo nghĩa thông thường ( là sự ngang bằng nhau giữa người và người về mọi điều kiện cụ thể nào đó), bình đẳng được xét trong mối quan hệ tương ứng giữa cống hiến và hưởng thụ trên nguyên tắc cống hiến ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau
1.3.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công bằng xã hội Hiện nay chúng ta đang xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước, đây là một mô hình kinh tế phù hợp với đất nước và là mô hình kinh tế lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử - mô hình kinh tế của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội Trong điều kiện
đó, việc thực hiện công bằng xã hội phải được hiểu như thế nào cho đúng với điều kiện Việt Nam hiện nay
'Công bằng xã hội là mục tiêu được Đảng ta xác định từ khi đất nước ta tiến hành sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong quá trình thực hiện mục tiêu to lớn đó, chúng ta đã trải qua hai giai đoạn đó là: Thời kỳ trước đổi mới và thời kỳ từ đổi mới đến nay
Ở giai đoạn đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, mặc dù vấn đẻ thực hiện công bằng xã hội không được trực tiếp bàn đến trong những chủ trương của
Đảng, nhưng xuất phát từ quan điểm cho rằng, chế độ tư hữu là nguồn gốc
bóc lột, nên trong thực tiễn, việc xóa bỏ chế độ tư hữu đã trở thành nội dung chủ yếu trong hoạt động của Đảng và Nhà nước ta nhằm thực hiện công bằng
xã hội ở thời kỳ đổi mới Ngay từ Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thir III cia Dang ( 9 -1960), Đảng ta đã nhận định: Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa
Trang 3328
nhằm cải tạo những quan hệ sản xuất không xã hội chủ nghĩa thành quan hệ
sản xuất xã hội chủ nghĩa, trong đó mắu chót là cải biến chế độ sở hữu cá thể
và chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất thành các hình thức khác nhau của chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa, mở đường cho sức sản xuất phát triển cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội là hai mặt của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
'Với những chủ trương đó, việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã giành được một số thành quả Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III đã nêu những thắng lợi có ý nghĩa đó là: Chúng ta đã căn bản xóa bỏ chế độ bóc lột
tư bản chủ nghĩa: kinh tế tư bản tư doanh đã trở thành kinh tế công tư hợp doanh, kinh tế của người sản xuất nhỏ phần lớn đã trở thành kinh tế hợp tác hóa Chúng ta đặc biệt nêu cao thắng lợi của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, mở đường cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nông thôn
Việc triển khai và thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ II, xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miễn Bắc đã giành được một số thắng lợi, xóa bỏ quan hệ sản xuất lạc hậu do chế độ cũ để lại, tạo cơ sở xây dựng chế độ công bằng như mục tiêu mà Đảng đề ra Đại hội Đảng lần thứ IV ( 12 ~ 1976) đã nhận định: Trên mặt trận cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền kinh tế quốc dân, miền Bắc đã đạt được những thành tựu đó là thủ tiêu chế độ người bóc lột người, chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa dưới hai hình thức toàn dân và tập thể đã được xác lập một cách phổ biến
Khái niệm công bằng nêu ra sự tương quan giữa một số hiện tượng theo quan điểm phân phối hợp lý Công bằng xã hội đòi hỏi sự tương xứng giữa vai trò của những cá nhân (những giai cấp) với địa vị của họ, giữa hành vi với
sự đền bù (lao động và thủ lao, thưởng và phạt), giữa quyền lợi với nghĩa vụ Không có sự tương xứng trong những quan hệ ấy là bắt công.
Trang 34chừng mực mà mâu thuẫn giữa nhu cầu con người và khả năng hiện thực của
xã hội còn chưa được giải quyết Bởi vậy, mỗi xã hội có sự đòi hỏi riêng về
có nhiệm vụ hoạt động vì lợi ích xã hội Nguyên tắc mỗi người làm theo năng lực, và hưởng theo lao động được thực hiện, chỉ khi nào tới chủ nghĩa Cộng sản thì mới thực hiện được nguyên tắc Mỗi người làm theo năng lực và hưởng theo nhu cầu
Công bằng xã hội luôn là khát vọng lớn nhất của toàn dân tộc: Độc lập
~ Tự do - Hạnh phúc Cương lĩnh chính trị năm 1930 của Đảng ta đã vạch ra
con đường đấu tranh đúng đắn vì công bằng xã hội: làm cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân và đi lên chủ nghĩa xã hội Trong các kỳ Đại hội của Đảng
toàn quốc lần thứ I, II, III, IV, V, công bằng xã hội được thể
việc cải cách ruộng đắt, cải tạo Xã hội chủ nghĩa, thiết lập chế độ công hữu về
Trước khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhiệm vụ giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc được đặt lên hàng đầu Sau khi miền Nam hoàn toàn
Trang 3530
1g nhat, cd nước bước vào thời ki quá độ lên chủ nghĩa xã hội, do hậu qua chiến tranh để lại nặng nẻ, khó khăn chồng chất, lại áp dụng mô hình kinh tế theo kiểu Liên Xô (cũ,) cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp với hình thức
sở hữu quốc doanh và sở hữu hợp tác xã, công hữu về tư liệu sản xuất nên dẫn đến kinh tế phát triển chậm, thu không bù chỉ, kết hợp với chế độ phân phối bình quân bao cấp nên công bằng trong thời kỳ này được hiễu theo nghĩa bình quân - sự bình quân theo kiểu "chia đều sự nghèo khó", theo GS,TS Lê Hữu Tang trong thời kỳ này là:
Trong cơ chế quản lý tập trung bao cấp mà chúng ta lầm tưởng duy nhất đúng, là cái duy nhất đảm bảo thành công xây dựng chủ nghĩa xã hội, khái niệm công bằng được đồng nhất hoàn toàn với khái niệm bình đẳng, còn khái niệm bình đẳng được hiểu là sự ngang bằng nhau hoàn toàn giữa người
và người về phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Kết quả là khái niệm công bằng về thực chất bị đem đồng nhất với khái niệm cào bằng một cách bình quân chủ nghĩa Mọi sự đi lệch khỏi trục bình quân đó đều bị coi là biểu hiện của không công bằng Chính quan điểm sai lầm đã làm suy giảm, thậm chí triệt tiêu mắt động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội và việc thực hiện quan điểm đó trong cuộc sống vẻ thực chất là bóc lột người có công đối với sản xuất và phát triển xã hội
Tại Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (8/1979) với chủ trương và quyết tâm làm cho sản xuất "bung ra" là bước đột phá đầu tiên của quá trình đổi mới
ở nước ta Đến Hội nghị Trung ương 8 khóa V (6/1985) đánh đấu bước đột phá thứ hai bằng chủ trương dứt khoát xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, thực hiện cơ chế một giá, xóa bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá thấp, chuyển mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh sang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, chuyển ngân hàng sang nguyên tắc kinh doanh, thừa nhận sản xuất hàng hóa và quy luật sản xuất hàng hóa Tháng 8/1986, trong, quá trình chuẩn bị Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội VI, Bộ Chính trị
Trang 3631
đã xem xét kỹ các vấn đề lớn trên lĩnh vực kinh tế và đưa ra kết luận thuộc
lĩnh vực kinh tế: Lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, ra sức phát triển
công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng được phát triển có chọn lọc, đồng thời xác
định cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.Trong cơ chế quản lí kinh tế lấy kế hoạch làm trung tâm, đồng thời sử dụng đúng quan hệ hàng hóa - tiền tệ, chính sách giá phải vận dụng quy luật giá trị, tiến tới thực hiện cơ chế một giá Đây là bước đột
phá thứ ba có ý nghĩa lớn trong quá trình đồi mới tư duy lý luận
Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) đã đưa ra đường lỗi đổi mới toàn diện đất nước mà trước hết là đổi mới tư duy kinh tế Đại hội khẳng định dứt khoát chuyển nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước định hướng xã hội chủ nghĩa Đại hội VI
là bước đột phá lớn và toàn diện, làm xoay chuyển tình hình đưa nước ta tiến
lên, Đại hội xác định: đảm bảo công bằng xã hội là một trong 5 mục tiêu kinh
tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ đổi mới, giải quyết việc làm và thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động là những vấn đề trọng tâm của chính sách công bằng xã hội; Thực hiện công bằng xã hội phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nước, chống thu nhập bắt hợp pháp và đặc quyền đặc lợi
Đến Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VII (6/1991) với Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vấn đề công bằng
xã hội được Đảng ta xác định đây là một nội dung của chính sách xã hội và là
điều kiện và động lực tiến bộ xã hội trong thời kỳ đổi mới Đại hi
định thực hiện công bằng xã hội không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, mà còn cả trong chính trị, văn hóa, giáo dục đặc biệt là khuyến khích tăng thu
cũng xác
nhập và làm giàu chính đáng là bước đột phá trong quan điểm công bằng xã hội của Đảng, phù hợp với chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Trang 3732
Dai hdi VIII cia Dang (6/1996) tiép tuc khang dinh phat triển, cụ thể hóa những chủ trương chính sách của Đảng về công bằng xã hội mà Đại hội 'VII đã nêu ra, công bằng xã hội được Đảng ta xác định là một động lực, nội dung, mục tiêu của sự nghiệp đổi mới Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh Đại hội cũng chỉ rõ:
‘Tang trưởng kinh tế phải gắn với tiến bộ xã hội và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển, công bằng xã hội phải
được thể hiện ở cả khâu øhẩn phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn cả khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình với nhiều hình thức, tạo ra cho mọi người có cơ hội phát triển và sử dụng hợp lý năng lực của mình [12, tr 113]
Đến Hội nghị Trung ương 4 khóa VIII Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh: phát triển kinh tế phải đi đôi với việc thực hiện công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa nông thôn với nông thôn, giữa thành thị với thành thị, giữa các tằng lớp xã hội Đây là những bước phát triển quan trọng có tính chất đột phá của Đảng ta trong giai đoạn mới
Đại hội Đại IX (4/2001) của Đảng tiếp tục khẳng định: phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện vat chat va tinh than của nhân dân, thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường
Đại hội X (4/2006) Đảng ta một lần nữa khẳng định: "thực hiện tiến
bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triễ
Trang 3833
sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến
và hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ và bền vững hơn cho phát triển kinh tế-
xã hội Tập trung giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc [13, tr 101]
Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo
'Từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng [13, tr.178-179]
Đại hội XI, Đảng tiếp tục khẳng định thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển là một chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa Tập trung giải quyết tốt chính sách lao động, việc làm và thu nhập; khắc phục những bắt hợp lý về tiền lương, tiền công, trợ cấp xã hội phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của đất nước Bảo đảm an sinh xã hội; tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã hội da dang, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp
đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là những đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương Tập trung triển khai có hiệu quả chương trình xóa đói, giảm nghèo,
nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn; huy động mọi nguồn lực
xã hội cùng Nhà nước chăm lo tốt hơn đời sống vật chất và tỉnh thin cho những người và gia đình có công với cách mạng Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân và công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em; quan tâm phát triển y tế dự phòng, củng cố mạng lưới y tế cơ Sở.
Trang 3934
KET LUAN CHUONG 1
Thực hiện công bằng xã hội hiện nay thì cẳn phải tập trung giải quyết các chính sách ưu đãi xã hội nhằm bảo đảm mức sống cho nhân dân, thực hiện các chính sách bảo hiểm xã hội, chính sách trợ giúp những người tàn tật, người già cô đơn, trẻ em mồ côi các chính sách hỗ trợ xã hôi nhằm phát huy truyền thống tương thân, tương ái “lá lành đùm lá rách” trong cộng đồng để giúp nhau vượt qua khó khăn, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống Bên cạnh đó, cần tiến hành một cuộc đấu tranh quyết liệt có sự chỉ đạo nhanh chóng, kịp thời từ các cơ quan quyền lực Nhà nước nhằm đây lùi có hiệu quả những hiện tượng làm giàu phi pháp, vì đây là nhân tố vừa làm tôn hại đến
tăng trưởng kinh tế, vừa tạo ra sự mắt công bằng xã hội Nếu giải quyết được
những vấn đề trên thì nước ta nhanh chóng thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Trang 40Quang Trị nằm trong vùng Bắc Trung Bộ của Việt Nam có tọa độ địa lý
ở vào vị trí 16°18' - 17°10' vĩ độ Bắc và 106°32!' - 10724' Kinh độ Đông Phía Bắc Quảng Trị giáp với tỉnh Quảng Bình, phía Nam giáp tỉnh Thừa Thiên -
ng 4kmỶ, án ngữ phía biển Đông, cách bờ biển gần 30km Phía Tây giáp 2 tỉnh
Huế, phía Đông giáp biển Đông với bờ biển dài 75 km, có đảo Cồn Cỏ
Savanakhet và Sanavane của nước Lào với đường biên giới dai 206 km gắn với
2 cửa khẩu là cửa khâu quốc tế Lao Bảo và cửa khâu quốc gia La Lay
Quảng Trị có tổng diện tích tự nhiên 4.745,5 km, chiếm 1,44% tổng diện tích của cả nước, với 3⁄4 diện tích là đồi núi, có 10 đơn vị hành chính trực thuộc: 2 thị xã và 8 huyện (trong đó có huyện đảo Cồn Cỏ) với 141 xã, phường, thị trấn Đông Hà là thành phố tỉnh ly Tuy diện tích không rộng,
nhưng ở vị trí nối liền hai miễn đất nước; Quảng Trị nằm trên các trục đường giao thông quan trọng cả về đường bộ, đường sắt cũng như đường thuỷ; có đường 9 xuyên Đông Dương qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo thông ra biển Đông Vì vậy, Quảng Trị đang giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ và khai thác biển Đông, bảo đảm giao thông thông suốt giữa hai miền Bắc - Nam của đất nước và với các nước trong khu vực Đông Nam Á như: Lào, Thái Lan, Myanma mé ra thời cơ hội nhập với các nước trong khu vực và quốc tế Địa hình Quảng Trị rất phức tạp và bị chia cắt mạnh bởi mạng lưới nhiều sông, suối, đồi núi, bãi cát, xen kế nhau, đồng thời có độ cao nghiêng dần từ Tây sang Đông, được chia thành 04 vùng rõ rệt: Vùng núi, vùng trung