Tín hiệu vệ tinh GPS
Trang 1Tín hiệu vệ tinh GPS
1. Tần số và điều chế
2. Mức công suất
3. Hàm tự tương quan và mật độ phổ công suất
4. Hàm tương quan chéo & hiệu năng CDMA
5. Định dạng bản tin GPS
Trang 3Tổng quan về tín hiệu GPS
Để bám tín hiệu của một vệ tinh cùng trong tầm nhìn với nhiều vệ tinh khác, bộ thu GPS phải phát lặp lại bản sao của:
Dãy PRN của vệ tinh đó
Tín hiệu sóng mang với Doppler
Máy thu 2 tần số cho phép đo trễ tầng điện ly bởi trễ này
có quan hệ với hệ số vi sai giữa 2 tần số sóng mang của tín hiệu đo TOA
Trong khi đó, máy thu 1 tần số phải ước lượng trễ tầng điện ly bằng các tham số mô hình được phát quảng bá trong bản tin định vị
Trang 41 Tần số và điều chế
Trang 5mã hóa với mã P => mã P(Y)
Bản tin định vị có tốc độ 50 bps, được cộng modulo 2 với
mã trải phổ trước khi điều chế
Điều chế BPSK được sử dụng
Pha sóng mang được dịch 90o trước khi điều chế với mã C/A và data
Trang 8điều chế với sóng mang L1 pha 0 o
(f) C/A XOR data
điều chế với sóng mang L1 pha 90 o
(g) Tín hiệu L1
tổng hợp
Trang 91 Tần số và điều chế
Trang 10Bộ tạo mã GPS
Trang 11Bộ tạo mã C/A
Trang 12Bộ tạo mã P
Mã P của GPS là dãy
PRN tạo bởi 4 thanh
ghi dịch 12-bit X1A,
Trang 131 Tần số và điều chế
Trang 15 Các đa thức sinh của bộ tạo mã GPS
Trang 161 Tần số và điều chế
Chu kỳ tự nhiên của cả 2 thanh ghi bị cắt ngắn
Chu kỳ tự nhiên: 4095 chips
Chu kỳ X1A và X2A: 4092 chips
Chu kỳ X1B và X2B: 4093 chips
Các thanh ghi sẽ reset khi sau 4092 hay 4093 chips
Thiết kế như vậy nhằm đảm bảo pha vượt trước của
thanh ghi X1A với X1B, tương tự với X2A và X2B
Cũng có pha vượt trước giữa cặp thanh ghi X2A/X2B
so với X1A/X1B Sử dụng bộ đếm chia 37 làm cho pha vượt trước là 37 chips cho mỗi chu kỳ giữa X1 và X2 và như vậy chu kỳ X2 dài hơn X1 là 37 chips
Trang 171 Tần số và điều chế
Chi tiết pha vượt trước như sau:
Chu kỳ X1 được định nghĩa là 3750 chu kỳ X1A, tương
đương 3750 x 4092 = 15.345.000 chips, ~1,5 giây
Sau 3749 chu kỳ của X1B, mỗi chu kỳ 4093 chips,
tương đương 3749 x 4093 = 15.344.657 chips
Để đồng bộ với X1A, X1B phải dừng và chờ 343 chips
(cho đến hết chu kỳ 1,5s)
Như vậy, X1 có chu kỳ là 15.345.000 chips
Tương tự với X2A và X2B, chỉ khác khi kết thúc
15.345.000 chips, cả 2 thanh ghi cùng dừng và chờ 37 chips tới khi bắt đầu của tuần
Như vậy, các thanh ghi X2 có chu kỳ 15.345.037 chips,
hơn 37 chips so với X1
Trang 181 Tần số và điều chế
• Lưu ý rằng, nếu trong trường hợp không thực hiện
reset vào cuối mỗi tuần, dãy P = XOR(X1, X2) sẽ có độ dài là 15.345.000 x 15.345.037 = 2,3547 x 1014 chips Tốc độ chip là 10.23 x 106, dãy sẽ có chu kỳ là 266,41 ngày hay 38,058 tuần
• Tuy nhiên do cắt ngắn tại cuối tuần, mỗi vệ tinh chỉ sử
dụng đoạn mã của 1 tuần nên có 38 đoạn riêng biệt sử dụng cho mỗi vệ tinh
• Vậy độ dài của mã P đã cắt ngắn 7-ngày là 6,1871 x
Trang 192 Mức công suất
• Mức công suất tín hiệu thu tối thiểu của 3 tín hiệu GPS, tính
theo dBW, như sau:
• Sử dụng ăng-ten RHCP, phân cực tuyến tính, tăng ích 3-dB
Trang 202 Mức công suất
Trang 21Ví dụ:
• Tín hiệu L1 C/A, công suất yêu cầu là:
-158.5 – 3.0 + 184 + 0.5 + 3.4 = 26.8 dbW
• Nếu Ăng-ten vệ tinh L1 có tăng ích tối thiểu là 13.4dB trong
trường hợp góc nhìn 14.3 o thì công suất máy phát tối thiểu cho mã C/A là
• Để đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, công suất tối thiểu đưa tới
ăng-ten phát của vệ tinh phải đạt:
• L1: 32.9W
• L2: 6.6W
1 10
log − 26.8 13.4 /10− = 21.9W
Trang 233 Hàm tự tương quan và mật độ phổ công suất
Tính tự tương quan của các mã PRN trong GPS là cơ
sở của quá trình giải điều chế
Mật độ phổ công suất của mã PRN xác định băng
thông yêu cầu để truyền và nhận các tín hiệu trải phổ
Các mã PRN có hàm tương quan dạng tam giác lặp lại
theo chu kỳ, dạng phổ gần giống dãy giả ngẫu nhiên độ dài cực đại (Maximum Length sequences)
Mã PRN không thực sự là dãy giả ngẫu nhiên độ dài
cực đại bởi vì:
• Tính tương quan chéo của dãy ML không tốt đối với GPS
• Khoảng thời gian xử lý trong máy thu GPS rất ngắn (1- 5ms)
nên làm tăng xác suất tìm kiếm sai đỉnh hàm tương quan.
Trang 243 Hàm tự tương quan và mật độ phổ công suất
Hàm tự tương quan của tín hiệu GPS C/A như sau
Trang 253 Hàm tự tương quan và mật độ phổ công suất
Hàm tự tương quan của mã C/A 1023 chips hay 1ms có
dạng tam giác như sau:
Có những thay đổi nhỏ ở khoảng giữa hai đỉnh tương
quan so với mức 1/1023 của dãy ML 10-bit
Chính sự thay đổi này gây ra sự thay đổi trên đường
bao phổ dạng sinc2(x)
Trang 263 Hàm tự tương quan và mật độ phổ công suất
Đường bao phổ của dãy ML chính là đường sinc2(x) chỉ
trừ thành phần tần số 0 như với mã C/A thì có thay đổi nhỏ
Trang 273 Hàm tự tương quan và mật độ phổ công suất
Hàm tự tương quan của tín hiệu GPS mã P như sau
Trang 283 Hàm tự tương quan và mật độ phổ công suất
Mã P cũng không phải dãy ML.
Tuy nhiên, do chu kỳ mã dài, tốc độ chip cao nên hàm tự tương
quan trông lý tưởng hơn.
Trang 293 Hàm tự tương quan và mật độ phổ công suất
Trang 30 Khi mã GPS kết hợp với số liệu 50bps có ảnh hưởng
không đáng kể tới hàm tự tương quan và phổ công
suất
Giả thiết dãy PRN được điều chế BPSK với sóng mang,
phổ công suất như sau:
Trang 313 Hàm tự tương quan và mật độ phổ công suất
Phổ công suất của mã L1 P(Y) và C/A từ bộ phát tín hiệu GPS
Trang 323 Hàm tự tương quan và mật độ phổ công suất
Phổ công suất của mã L2 P(Y) từ bộ phát tín hiệu GPS
Trang 333 Hàm tự tương quan và mật độ phổ công suất
Phổ công suất của mã L1 C/A từ bộ phát tín hiệu GPS
Trang 344 Hàm tương quan chéo và hiệu năng CDMA
Kỹ thuật CDMA: điều chế và giải điều chế trong GPS
dựa trên việc sử dụng PRN khác nhau nhưng cùng tốc
độ chip và tần số sóng mang trên mỗi vệ tinh
Đối với máy thu GPS, để bám vệ tinh, bản sao mã
PRN phải được dịch pha để tương quan với PRN phát bởi vệ tinh
Mỗi mã PRN phải tương quan chéo cực tiểu với PRN
của vệ tinh khác với bất kỳ pha hay dịch Doppler nào trong 1 chu kỳ mã
Trang 354 Hàm tương quan chéo và hiệu năng CDMA
Hàm tương quan chéo lý tưởng của mã GPS được
định nghĩa như sau:
Phương trình trên cho thấy dạng sóng PRN của vệ tinh
i không tương quan với bất kỳ PRN của vệ tinh khác
với dịch pha τ bất kỳ
Thực tế, điều này là không thể bởi không thể có một vệ
tinh đạt được tự tương quan zero ngoài khoảng thời gian tương quan của nó
Trang 364 Hàm tương quan chéo và hiệu năng CDMA
Kỹ thuật CDMA chỉ khả thi khi tương quan chéo giữa
Nên mức tương quan chéo chỉ khoảng -24dB so với đỉnh
tương quan khi Doppler = 0 giữa 2 mã bất kỳ, trường hợp xấu nhất có thể là -21.1dB
Trang 374 Hàm tương quan chéo và hiệu năng CDMA
Trang 395 Định dạng bản tin định vị
Cả mã P(Y) và mã C/A đều được điều chế với dòng số
liệu 50bps
Số liệu này cung cấp cho NSD thông tin cần thiết để
tính toán chính xác vị trí của mỗi vệ tinh trong tầm nhìn
và thời gian truyền của mỗi tín hiệu định vị
Bản tin định vị được truyền trong 5 khung con, mỗi
khung con 300 bits bao gồm 10 từ mã 30-bit
6 bit cuối của mỗi từ mã dùng cho kiểm tra chẵn lẻ
(parity check với mã Hamming) để máy thu NSD có thể phát hiện lỗi bit khi giải điều chế
Trang 415 Định dạng bản tin định vị
Mỗi 5 khung con được truyền bắt đầu từ khung 1
Khung con 4 và 5 bao gồm 25 trang (page)
Bit 1-60 của mỗi khung con là số liệu telemetry (TLM)
và HOW (Handover word)
TLM = 10001011 (8-bit) => fixed preamble để máy thu
NSD xác định đầu khung con
TLM cũng bao gồm 14 bits số liệu dùng cho NSD được
ủy quyền
Trang 425 Định dạng bản tin định vị
HOW : cho phép máy thu NSD chuyển giao từ bám mã
C/A sang bám mã P(Y), cung cấp GPS time-of-week (TOW) dưới dạng modulo 6 giây tương ứng với ranh giới của khung tiếp theo
HOW cũng cung cấp 2 bit cờ
o 1 chỉ thị kích hoạt antispoofing
o 1 dùng cho cảnh báo (chất lượng tín hiệu rất tồi)
Trang 435 Định dạng bản tin định vị
Khung con 1 cung cấp số tuần GPS, là số của tuần
modulo 1024, tính từ January 5, 1980, lần chuyển đầu tiên là August 22, 1999, lần chuyển tiếp theo là April
2019
Khung con 1 chứa thông tin hiệu chỉnh đồng hồ vệ tinh:
a f0 , a f1 , a f2 và thời gian của đồng hồ t oc Các tham số
này quan trọng trong đo chính xác khoảng cách bởi nó cho phép đồng bộ thời gian giữa tín hiệu truyền từ vệ tinh và thời gian hệ thống
Khung con 2 và 3 cung cấp thông tin về quỹ đạo vệ
tinh (các thành phần Keplerian), cho phép xác định
chính xác vị trí của vệ tinh Các thông tin này cập nhật mỗi 4 giờ
Trang 445 Định dạng bản tin định vị
Trang 2-5 và 7-10 của khung con 4, trang 1-24 của khung
con 5 chứa thông tin almanac cho phép máy thu NSD xác định tương đối vị trí vệ tinh Các thông tin này hỗ trợ nhận biết tín hiệu
Trang 13 của khung con 4 chứa các tham số hiệu chỉnh đo
khoảng cách
Trang 18 của khung con 4 chứa thông tin hiệu chỉnh lỗi
tầng điện ly cho máy thu đơn tần và thông số về quan hệ thời gian UTC và thời gian GPS
Trang 25 của khung con 4 và 5 cung cấp thông tin về cấu
hình và trạng thái (sức khỏe) của các vệ tinh từ 1-32
Có một số trang của khung con 4-5 để dự phòng
Trang 46 Tuy nhiên L2C có nhiều điểm khác biệt.
L2C sử dụng 2 PRN cho mỗi vệ tinh;
Mã PRN thứ nhất gọi là CM (civil moderate) có chu kỳ
10230 chips;
Mã PRN thứ 2 gọi là CL (civil long) dài hơn nhiều CM với chu kỳ 767250 chips
Trang 47Các tín hiệu GPS mới
Tạo tín hiệu L2C băng cơ sở
Trang 48 Ghép kênh mã CM và CL:
2 x 511.5 k-chip/s = 1.023 Mchip/sTạo ra tín hiệu có phổ giống mã C/A nhưng có độ dài mã lớn hơn nên khả năng “chống” nhiễu tốt hơn
Trang 50 Mã PRN tốc độ 10,023MHz được sử dụng cả cho I5 và Q5, dẫn đến chu kỳ mã là 1ms;
Trang 51Tạo tín hiệu L5
Trang 52 Cứ mỗi 1ms, bit của mã NH được cộng
modulo-2 với chip của mã PRN
Trang 53Tạo mã PRN I5 và Q5
Trang 54 Được thiết kế dùng riêng cho quân sự, nhằm thay thế mã P(Y) Trong quá trình chuyển đổi, máy thu quân sự có thể dùng kết hợp mã P(Y),
mã M và mã C/A Thiết bị thu như vậy gọi là
YMCA.
Trang 55 M Code tăng cường bảo mật và có phổ
tách biệt hẳn khỏi tín hiệu dân dụng để
tránh bị nhiễu, tăng khả năng chống nhiễu.
tín hiệu và giải điều chế số liệu so với mã C/A và mã P(Y).
(Binary Offset Carrier) để phân tách phổ.
Các tín hiệu GPS mới
Trang 56 Tín hiệu M Code dùng BOCs(10,5):
10 x 1,023MHz: tần số sóng mang phụ
5 x 1,023Mhz: tốc độ chip của bộ phát mã M Code
Các tín hiệu GPS mới