Bo thu GPSx
Trang 1Bộ thu GPS
Trang 2Bộ thu GPS
Bộ thu GPS phải phát bản sao mã PRN, rồi dịch pha của bản sao mã cho tới khi
tương quan với mã PRN của vệ tinh;
Nhờ tính chất tương quan, máy thu tìm và nhận biết đỉnh tương quan;
Điều này có nghĩa máy thu nhận biết và bám tín hiệu vệ tinh theo pha mã;
Trang 3Bộ thu GPS
Bộ thu GPS cũng phải xác định pha sóng mang bằng cách phát bản sao tần số sóng mang có kèm Doppler (sử dụng khóa pha sóng mang tín hiệu vệ tinh);
Vậy nhận biết và bám tín hiệu vệ tinh là
quá trình phát bản sao tín hiệu ở cả hai
thành phần mã và tần số.
Trang 4Sơ đồ khối tổng quát bộ thu GPS
Trang 5 Ăng-ten: thường sử dụng ăng-ten RHCP, tăng ích
tuyến tính gần cầu;
Preamp (LNA): tiền khuếch đại tín hiệu RF, có thể có
1 BPF ở giữa ăng-ten và LNA để hạn chế nhiễu RF ngoại băng;
Down-converter: chuyển đổi tần số xuống trung tần
IF, sử dụng các bộ dao động nội (LO), mỗi tầng sẽ sử dụng 1 LO;
ADC: Bộ biến đổi số tương tự, số hóa tín hiệu IF;
Trang 6Sơ đồ khối tổng quát bộ thu GPS
Với máy thu số N kênh, mỗi kênh trung tần số được xử lý riêng mà không cần sử dụng bộ giải điều chế, mà chỉ cần ADC có thêm AGC;
Các bộ thu số như vậy còn goi là bộ thu SDR (Software Defined Radio), thường sử dụng các mạch tích hợp khả trình như ASIC, hoặc FPGA hoặc DSP để xử lý tín hiệu GPS.
Trang 7Sơ đồ khối tổng quát bộ thu GPS
Khối Receiver Processing thường là 1 vi xử lý
tốc độ cao thực hiện các chức năng:
Xử lý băng cơ sở như bộ lặp tách sóng và
lọc, giải điều chế số liệu, đo SRN, chỉ thị khóa pha…
Ra quyết định liên quan đến điều khiển các chức năng xử lý tín hiệu cho mỗi kênh.
Tính toán vị trí, dẫn đường.
Trang 8Sơ đồ khối 1 kênh tín hiệu
Trang 9 Sơ đồ trên chỉ thể hiện chức năng liên quan đến vòng lặp bám mã và pha;
Tín hiệu IF số là đầu vào Khối Digital Receiver
Channel, được trộn với bản sao sóng mang để
được các mẫu số liệu I (in-phase) và Q
(quadraphase).
Bản sao sóng mang được trộn với tín hiệu của mọi tín hiệu vệ tinh trong tầm nhìn kể cả nhiễu.
giá trị hàm SIN và COS rời rạc.
Trang 10Sơ đồ khối 1 kênh tín hiệu
Với việc tạo ra thành phần I và Q khác pha nhau
90 độ, biên độ tín hiệu ra được tính toán từ tổng của 2 véc-tơ thành phần I và Q, và pha so với
trục I được tính bằng arctang của Q/I.
mang được điều khiển bởi vòng bám sóng mang
(carrier tracking loop) trong receiver processor.
phase lock loop), mục đích của vòng lặp bám
sóng mang là giữ sai pha bằng không giữa bản sao sóng mang và sóng mang tín hiệu đến từ vệ tinh
Trang 11Sơ đồ khối 1 kênh tín hiệu
Trang 12 Khi xảy ra mất đồng pha giữa bản sao sóng
mang và sóng mang tín hiệu đến từ vệ tinh, pha véc-tơ I và biên độ véc-tơ Q khác không, do đó biến đổi và độ lớn và góc được phát hiện và sửa bởi vòng bám sóng mang.
Khi PLL ở trạng thái khóa pha, tín hiệu I đạt max (cả tín hiệu và nhiễu) và Q đạt min (chỉ có
nhiễu).
Tín hiệu I và Q sau đó được cho cho tương
quan với bản sao mã Sớm (Early),Đúng
(Prompt) và Muộn (Late).
Trang 13Sơ đồ khối 1 kênh tín hiệu
Muộn (Late) được tạo ra bởi bộ tạo mã , thanh ghi dịch 2 bit và NCO mã
khiển bởi vòng bám mã trong receiver
processor.
NCO mã tạo ra nhịp đồng hồ gấp 2 lần tốc độ
mã 2fco cung cấp cho thanh ghi dịch, và nhịp
đồng hồ bằng tốc độ mã fco cho bộ tạo mã.
nhiều fco.
Trang 14Sơ đồ khối 1 kênh tín hiệu
Trang 15 Bản sao mã Sớm (Early),Đúng (Prompt) và Muộn
(Late) được tạo ra với khác pha 1 chip và tín hiệu P
ở giữa
Bản sao P được coi là đồng pha với tín hiệu đến từ
vệ tinh tạo ra giá trị tương quan tối đa Trong trường hợp này, bản sao E và L sẽ là sớm và muộn pha so với pha mã tín hiệu đến, dẫn đến giá trị tương quan tương ứng sẽ vào khoảng một nửa giá trị tương
quan tối đa
Nếu xảy ra mất đồng pha giữa bản sao mã và tín
hiệu đến từ vệ tinh thì xuất hiện thay đổi giá trị đầu
ra bộ tương quan (sớm và muộn), do đó thay đổi pha được phát hiện và sửa bởi vòng bám mã
Trang 16Sơ đồ khối 1 kênh tín hiệu Predetection integration
Trang 17Sơ đồ khối 1 kênh tín hiệu
số được hạ tần xuống băng gốc bằng quá trình tách sóng mang và mã.
giải mã hóa chỉ từ 1 đến 3 bit cũng tạo ra số số hạng rất lớn khi thực hiện phép tính tích lũy.
thành phần {IE IP IL} và {QE QP QL} bằng cách tích phân
và hạ tần các tín hiệu vào I và Q, thực hiện ở tốc độ lấy mẫu IF => vào khoảng 50MHz.
ngắn tùy thuộc điều kiện tín hiệu và ứng dụng.
Trang 18Xử lý tín hiệu băng gốc
Sơ đồ khối bộ xử lý băng gốc các vòng lặp mã và sóng mang
Trang 19Xử lý tín hiệu băng gốc
pha chính là sự kết hợp của các chức năng xử
lý tín hiệu băng gốc, tách mã và sóng mang tín
hiệu số (carrier and code wipeoff) và chức năng
predetection integration.
Thời gian predetection integration là tổng thời
gian mà bộ thu và VXL thực hiện chức năng tích phân và hạ tần Thông thường, thời gian này
không quá 20ms – là khoảng thời gian của 1 bit
số liệu của bản tin định vị.
Trang 20Xử lý tín hiệu băng gốc
Về nguyên tắc, thời điểm bắt đầu và kết thúc
của quá trình tích phân và hạ tần không nên
bước qua thời điểm chuyển bit số liệu bởi vì khi bit số liệu đổi dấu dẫn đến làm đổi dấu một phần
số liệu I và Q đã tích phân Điều này làm cho kết quả tích phân và hạ tần bị hỏng.
Trường hợp xấu nhất là nếu chuyển bit xảy ra
đúng giữa thời gian predetection integration thì
kết quả là tín hiệu bị triệt tiêu trong khoảng thời gian đó.
Trang 21Xử lý tín hiệu băng gốc
Thông thường, trong khi khởi tạo tìm kiếm tín
hiệu mã C/A, nhận biết, và đóng vòng lặp, máy thu không hề biết điểm chuyển bit ở đâu Vì vậy, trong thời gian này, phải chấp nhận việc thu tín hiệu có thể bị hỏng do chuyển bit cho tới khi quá trình đồng bộ định vị được thời điểm chuyển bit.
Trong trường hợp này nên dùng thời gian
predetection integration ngắn nhất có thể để
trong phần lớn số lần thực hiện tích phân và hạ tần không chứa điểm chuyển bit.
Trang 22Đồng pha của các khoảng thời gian tích phân và hạ tần với
điểm chuyển bit số liệu
Trang 23Xử lý tín hiệu băng gốc
hiệu đến từ vệ tinh.
sẽ nhanh chóng được xác định trong quá trình đồng bộ bit khi mà máy thu chưa biết vị trí của nó và đồng bộ với thời gian GPS.
tinh mặc dù số liệu được truyền đồng pha từ các vệ tinh.
vệ tinh ở thẳng đỉnh đầu (zenith) tới chân trời (horizon).
thời gian predetection integration tối ưu.
Trang 24tất khi NCO tràn (overflow).
lệch (bias) nhất định Độ lệch này chỉnh tần số NCO về tần số danh định (bằng tốc độ chip của
mã trải phổ hay tần số của IF).
Trang 25Tổng hợp tần số số
(Digital Frequency Synthesys)
Sơ đồ khối bộ tổng hợp tần số
Trang 26với độ phân giải 200x106/232= 0,046566Hz
biên độ của đầu ra bậc thang của NCO thành
hàm lượng giác phù hợp.
Trang 27Tổng hợp tần số số
(Digital Frequency Synthesys)
Dạng sóng bộ tổng hợp tần số
Trạng thái pha NCO
Đầu ra COS map
Đầu ra SIN map
Trang 28Tổng hợp tần số số
(Digital Frequency Synthesys)
Thiết kế bộ tổng hợp tần số
Trang 29Sóng mang trợ giúp vòng mã
(Carrier aiding of code loop)
Đầu ra bộ lọc vòng sóng mang nhân với hệ số tỷ
lệ rồi cộng với đầu ra bộ lọc vòng mã gọi là trợ
giúp vòng mã => carrier-aided code loop.
Phải sử dụng Hệ số tỷ lệ bởi Doppler ảnh
hưởng tỷ lệ nghịch với bước sóng tín hiệu,
nghĩa là Doppler trên tốc độ chip của mã trải phổ nhỏ hơn nhiều so với trên băng L.
độ lệch NCO sóng mang đặt tương ứng với IF thì ảnh hưởng Doppler vẫn là ở Băng L.
Trang 30Sơ đồ khối bộ xử lý băng gốc các vòng lặp mã và sóng mang
Sóng mang trợ giúp vòng mã
(Carrier aiding of code loop)
Trang 31Sóng mang trợ giúp vòng mã
(Carrier aiding of code loop)
Trang 32Sóng mang trợ giúp vòng mã
(Carrier aiding of code loop)
Trang 33Sóng mang trợ giúp vòng mã
(Carrier aiding of code loop)
Sự trợ giúp của vòng sóng mang đối với vòng
mã là cần thiết bởi lệch vòng sóng mang gây ít nhiễu hơn vòng mã do vậy chính xác hơn.
Sự trợ giúp vòng sóng mang loại bỏ hầu hết dải động LOS từ vòng mã, làm giảm bậc của bộ lọc vòng mã, giảm tốc độ cập nhật và làm hẹp băng thông hơn so với không có trợ giúp do vậy làm giảm nhiễu trong các phép đo vòng mã.
Trang 34Vòng bám sóng mang
(Carrier tracking loop)
Sơ đồ khối vòng bám sóng mang
Trang 35Vòng bám sóng mang
(Carrier tracking loop)
hiệu năng của bộ thu không có trợ giúp
Trang 36Vòng bám sóng mang
(Carrier tracking loop)
Trang 37Vòng bám mã (Code tracking loop)
Sơ đồ khối vòng bám mã
Trang 38Vòng bám mã (Code tracking loop)
mã cũng đặc trưng bởi 3 thành phần:
Hai đặc tính chất lượng:
trong bộ thu GPS
Trang 39Vòng bám mã (Code tracking loop)
Trang 40Vòng bám mã (Code tracking loop)
Thuật toán:
Tính chất:
Tách sóng Noncoherent, đường bao mẫu sớm trừ mẫu muộn, chuẩn hóa bởi E+L để loại bỏ tính nhạy cảm với biên độ;
Trang 41Vòng bám mã (Code tracking loop)
Thuật toán:
Tính chất:
Tách sóng Noncoherent, công suất mẫu sớm trừ mẫu muộn;
Tính toán vừa phải;
Với độ rộng tương quan 1-chip E-L, kết quả tương tự đường bao 0,5(E – L) trong khoảng ± 0,5 chip của lỗi đầu vào (không nhiễu);
Với ± 1,5 chip của lỗi đầu vào, DLL trở nên thiếu ổn định nhưng vẫn trong ngưỡng bám dù có nhiễu.
Có thể được chuẩn hóa với E2 + L2;
Trang 42Vòng bám mã (Code tracking loop)
Trang 43Vòng bám mã (Code tracking loop)
Trang 44Vòng bám mã (Code tracking loop)
ra mất công suất trong coherent DLL.
Với quasi-coherent DLL có thể hoạt động với bộ phát hiện khóa pha nhạy cảm và chuyển trạng thái nhanh.
Chuẩn hóa nhằm loại bỏ thành phần biên độ nhạy cảm, tăng hiệu năng trong điều kiện SNR biến đổi nhanh.
Trang 45Vòng bám mã (Code tracking loop)
Quá trình tương quan mã cho 3 bản sao mã pha khác nhau
Trang 46Vòng bám mã (Code tracking loop)
tương quan mã với pha khác nhau
Trang 47Sự hình thành giả khoảng cách
(pseudorange, delta pseudorange and integrated Doppler)
cách hay delta giả khoảng cách.
sao sóng mang (nếu bộ thu ở trạng thái khóa pha với tín hiệu sóng mang từ vệ tinh) hay bản sao của tần số
Doppler (nếu bộ thu ở trạng thái khóa tần số với tín hiệu sóng mang từ vệ tinh).
truyền tín hiệu và tính toán giả khoảng cách.
thành delta giả khoảng cách.
Trang 48Sự hình thành giả khoảng cách
(pseudorange, delta pseudorange and integrated Doppler)
Giả khoảng cách (pseudorange)
Trang 49Sự hình thành giả khoảng cách
(pseudorange, delta pseudorange and integrated Doppler)
Trang 50Sự hình thành giả khoảng cách
(pseudorange, delta pseudorange and integrated Doppler)
của tuần GPS Mỗi chip của PRNi được truyền quan hệ tuyến tính với thời gian đồng hồ vệ tinh SVi.
vệ tinh SVi với mã PRN tương ứng, bản sao mã được lặp lại ở thời điểm n ở máy thu.
thời gian thu lại là thời điểm n trong máy thu.
thời gian tuần GPS
thành công thì bù pha của bản sao mã tới đầu tuần GPS
được coi là thời gian truyền của SVi.
Trang 51Sự hình thành giả khoảng cách
(pseudorange, delta pseudorange and integrated Doppler)
Tại sao khối đo trong máy thu không gửi thời gian truyền tới khối định vị để tính vị trí mà lại gửi giả khoảng cách?
Bởi vì thời gian truyền đã bị mất sau quá trình tính toán
Điều này khiến cho khối định vị mất nhiều thời gian để tính toán lại thời gian truyền.
Các máy thu hiện đại có thể dùng cách thức bám vector
(vector tracking) thay cho bám vô hướng (scalar tracking), nghĩa là đầu ra bộ tách sóng (đo thô thành phần I và Q)
được gửi tới khối định vị và ở đây sử dụng lọc Kalman để
xử lý Bằng cách này sẽ tối ưu hóa xử lý nhiễu băng của các vòng lặp bám.
Bộ thu GPS xử lý đồng thời một số phép đo và đồng hồ thu thì có lệch với thời gian GPS Lệch thời gian được xác định khi giải phương trình định vị.
Trang 52Sự hình thành giả khoảng cách
(pseudorange, delta pseudorange and integrated Doppler)
từ vòng bám mã, đó chính là đo đạc giả khoảng cách.
xác định bù pha mã so với bắt đầu của tuần GPS Giữa pha mã của bản sao mã và thời gian GPS luôn có mối
quan hệ 1-1, nghĩa là pha mã của mã PRN vượt trước bắt đầu của tuần bao nhiêu (tính theo phần lẻ và phần
nguyên của chip) thì vượt trước thời gian GPS bấy nhiêu.
Trang 53Sự hình thành giả khoảng cách
(pseudorange, delta pseudorange and integrated Doppler)
Phần vượt trước tính theo phần lẻ và phần
nguyên của chip như vậy được gọi là trạng thái
mã (code state).
Đồng hồ trong máy thu duy trì thời gian, lưu thời gian GPS tương ứng với trạng thái mã như trên gọi là bộ tích lũy mã (code accumulator).
chuẩn nhất của thời gian SV truyền Quá trình
xử lý băng gốc biết trạng thái mã bởi nó được đặt là trạng thái khởi tạo của quá trình tìm kiếm
và duy trì bám trạng thái mã.
Trang 54Sự hình thành giả khoảng cách
(pseudorange, delta pseudorange and integrated Doppler)
Quá trình của vòng bám mã duy trì bám thời
gian truyền tương ứng với trạng thái pha của NCO mã và trạng thái bộ tạo bản sao mã sau mỗi lần cập nhật NCO.
Kể từ lần cập nhật cuối cùng của NCO, sự tăng của pha mã được xác định bằng tích phân rời rạc trong từng khoảng thời gian và bộ tích lũy cộng giá trị này mỗi lần cập nhật.
Trạng thái mã của bản sao mã là kết hợp trạng thái mã của bộ tạo mã (phần nguyên) và trạng thái của NCO (phần lẻ)
Trang 55Sự hình thành giả khoảng cách
(pseudorange, delta pseudorange and integrated Doppler)
Trạng thái pha mã của bộ tạo mã PRN là giả ngẫu nhiên, sẽ là không thực tế để đọc trạng thái pha mã của bộ tạo PRN rồi chuyển đổi trạng thái mã không tuyến tính về trạng thái tuyến tính của thời gian GPS
sử dụng bảng giá trị (lookup table)
Có quá nhiều trạng thái mã, đặc biệt là đối với mã P
Giải quyết vấn đề này trên thực tế: nhằm duy trì thời gian GPS trong bộ thu GPS, sử dụng một bộ tích lũy
mã riêng tại khối xử lý băng gốc và đồng bộ bộ tích lũy này với trạng thái pha của bộ tạo bản sao PRN
Trang 56Quan hệ giữa bộ tạo mã PRN và bộ tích lũy mã
Trang 57Sự hình thành giả khoảng cách
(pseudorange, delta pseudorange and integrated Doppler)
Bộ thu GPS thông thường có tốc độ cập nhật vị trí là
1 giây Khung thời gian cơ sở FTF cho các phép đo
là 20ms tương ứng với tốc độ số liệu 50bps
Khối xử lý băng gốc cập nhật NCO mã và NCO sóng mang sau một số phần nguyên lần FTF thường là
Trang 58Sự hình thành giả khoảng cách
(pseudorange, delta pseudorange and integrated Doppler)
Giả thiết tốc độ của bộ thu GPS là 1 vị trí/giây, các kết quả đo lấy ra từ các vòng bám mã và sóng mang
cứ sau 50 FTF Khi khối xử lý băng gốc lấy kết quả
đo từ vòng bám mã và sóng mang, nó gắn thẻ thời gian với bộ đếm FTF
Khối xử lý định vị gán và duy trì thời gian GPS theo
bộ đếm FTF
Thời gian nhận khởi tạo có thể là thời gian truyền
của vệ tinh đầu tiên cộng với khoảng thời gian lan truyền danh định khoảng 76ms nếu khối định vị
không biết chính xác thời gian GPS Vậy thời gian khởi tạo được thiết lập với độ chính xác 20ms
Trang 59Sự hình thành giả khoảng cách
(pseudorange, delta pseudorange and integrated Doppler)
Khi phép đo giả khoảng cách được thực hiện vào
thời gian FTF(n), vòng bám mã băng gốc của bộ thu
lấy thời gian truyền SVi từ bộ tích lũy mã và đưa thời
gian này tới FTF(n) Nếu N là số bit của bộ cộng
NCO mã thì thời gian truyền được đo với độ phân
giải là 2-N của chip mã
phân giải của phép đo nhỏ hơn ¼ nanochip, như vậy
có thể loại trừ nhiễu lượng tử của phép đo mã.
Khối xử lý băng gốc có thể tính toán phép đo giả
khoảng cách từ thời gian truyền SVi và thẻ thời gian
FTF(n) trước khi truyền kết quả tới khối định vị.
Trang 60Sự hình thành giả khoảng cách
(pseudorange, delta pseudorange and integrated Doppler)
Tuy nhiên, khối xử lý định vị cần thời gian chính xác
mà SVi truyền tín hiệu để tính toán vị trí vệ tinh Do
vậy, phép đo tốt nhất cần đưa sang khối xử lý định vị
là thời gian truyền của vệ tinh cùng với thẻ thời gian TFT
Khối xử lý định vị áp dụng hiệu chỉnh đồng hồ, sử
dụng thời gian truyền đã hiệu chỉnh để tính vị trí vệ tinh, sau đó tính giả khoảng cách và các hiệu chỉnh khác trước khi tính toán vị trí