1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu nhu cầu về địa chỉ tin cậy hỗ trợ phụ nữ là nạn nhân bạo lực gia đình (nghiên cứu tại xã tiên nguyên huyện quang bình tỉnh hà giang)

128 126 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 2,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Công tác xã hội với đề tài “Tìm hiểu nhu cầu về “địa chỉ tin cậy” hỗ trợ phụ nữ là nạn nhân bạo lực gia đình Nghiên cứu tại xã Tiên Nguyên huyện

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HàNội-2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

HOÀNG THỊ SẦU

TÌM HIỂU NHU CẦU VỀ “ĐỊA CHỈ TIN CẬY” HỖ TRỢ PHỤ NỮ LÀ NẠN NHÂN BẠO LỰC GIA ĐÌNH

(Nghiên cứu tại xã Tiên Nguyên huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang)

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Công tác xã hội

Mã số: 60.90.01.01

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Hoàng Bá Thịnh

Hà Nội – 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Công tác xã hội với đề tài “Tìm hiểu nhu cầu

về “địa chỉ tin cậy” hỗ trợ phụ nữ là nạn nhân bạo lực gia đình (Nghiên cứu tại xã Tiên Nguyên huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang)” là kết quả của quá trình cố gắng không ngừng của bản thân và được sự giúp đỡ, động viên khích lệ của các thầy, bạn

bè đồng nghiệp và người thân Qua trang viết này tác giả xin gửi lời cảm ơn tới những người đã giúp đỡ tôi trong thời gian học tập - nghiên cứu khoa học vừa qua Tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với thầy giáo GS.TS Hoàng

Bá Thịnh đã trực tiếp tận tình hướng dẫn cũng như cung cấp tài liệu thông tin khoa học cần thiết cho luận văn này

Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, khoa Xã hội học chuyên ngành Công tác xã hội đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt công việc nghiên cứu khoa học của mình

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, đơn vị công tác đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện Luận văn

TÁC GIẢ

Hoàng Thị Sầu

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan nghiên cứu 3

3 Mục đích, nhiệm vụ đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 10

4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 11

5 Câu hỏi nghiên cứu 12

5 Giả thuyết nghiên cứu 13

6 Phương pháp nghiên cứu 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 17

1.1 Các khái niệm công cụ 17

1.1.1 Khái niệm nhu cầu 17

1.1.2 Khái niệm địa chỉ tin cậy 18

1.1.3 Khái niệm Gia đình 19

1.1.4 Khái niệm nạn nhân BLGĐ 20

1.1.5 Khái niệm hỗ trợ phụ nữ là nạn nhân BLGĐ 20

1.1.6 Khái niệm BL và BLGĐ, các hình thức BLGĐ 21

1.2 Các lý thuyết vận dụng 24

1.2.1 Lý thuyết nhu cầu của Maslow 24

1.2.2 Lý thuyết nhận thức hành vi 29

1.2.3 Lý thuyết Xung đột xã hội 31

1.3 Cơ sở pháp lý 32

1.3.1 Luật bình đẳng giới năm 2006 33

1.3.2 Luật phòng, chống bạo lực gia đình 2007 34

1.3.3 Thông tư quy định quy trình tiếp nhận, chăm sóc y tế và thống kê, báo cáo đối với người bệnh là nạn nhân bạo lực gia đình tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Bộ y tế năm 2017 35

1.3.4 Thông tư liên tịch 143/2011/TT-BTC-BVHTTDL ngày 21 tháng 10 năm 2011 36

1.3.5 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 38

1.4 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 39

1.4.1 Vị trí, địa lý 39

Trang 5

1.4.2 Đặc điểm về kinh tế, chính trị, 39

1.4.3 Điều kiện tự nhiên 39

1.4.4 Lịch sử hình thành 40

1.4.5 Văn hóa xã hội 40

1.4.6 Trình độ nhận thức, hiểu biết của người dân 41

1.4.7 Quá trình thực thi pháp luật về BLGĐ 41

Tiểu kết chương 1 42

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BLGĐ VÀ NHU CẦU CỦA NẠN NHÂN BLGĐ VỀ ĐỊA CHỈ TIN CẬY TẠI XÃ TIÊN NGUYÊN HUYỆN QUANG BÌNH TỈNH HÀ GIANG 43

2.1 Đặc điểm của phụ nữ bị BLGĐ 43

2.2 Thực trạng bạo lực gia đình tại xã Tiên Nguyên huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang 46

2.3 Các hình thức bạo lực gia đình trên địa bàn nghiên cứu 47

2.4 Nguyên nhân BLGĐ 50

2.5 Lý do khiến nạn nhân chấp nhận sống chung với bạo lực 52

2.6 Hậu quả của BLGĐ 53

2.7 Thực trạng về phản ứng của những người có liên quan 55

2.7.1 Phản ứng của những người trong gia đình 55

2.7.2 Phản ứng của cộng đồng, hàng xóm 58

2.7.3 Phản ứng của chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội 59

2.8 Nhu cầu về địa chỉ tin cậy của phụ nữ bị bạo lực gia đình 62

2.8.1 Phản ứng của nạn nhân khi có BLGĐ xảy ra 62

2.8.2 Nhận thức của phụ nữ bị BLGĐ về địa chỉ tin cậy 65

2.8.3 Nhu cầu cần hỗ trợ của phụ nữ bị bạo lực gia đình 67

Tiểu kết chương 2 77

CHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI VIỆC HÌNH THÀNH CÁC ĐỊA CHỈ TIN CẬY VÀ ĐỀ XUẤT HÌNH THÀNH ĐỊA CHỈ TIN CẬY TẠI XÃ LỒNG GHÉP VAI TRÒ TRONG CÔNG TÁC XÃ HỘI 78

3.1 Đánh giá mức độ nhu cầu của phụ nữ bị BLGĐ về địa chỉ tin cây 78

3.1.1 Tính cấp thiết về nhu cầu địa chỉ tin cậy của phụ nữ bị BLGĐ 78

Trang 6

3.1.2 Đánh giá của những người có liên quan về địa chỉ tin cậy tại cơ sở hỗ trợ

nạn nhân bị BLGĐ 78

3.2 Những thuận lợi và khó khăn trong việc hình thành các địa chỉ tin cây tại các thôn 81 3.1.1 Thuận lợi 81

3.1.2 Khó khăn 82

3.3 Vai trò của nhân viên CTXH trong lĩnh vực phòng, chống BLGĐ 82

3.3.1 Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hình thành các địa chỉ tin cậy 83

3.3.2 Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong phát triển các hoạt động tại các địa chỉ tin cậy 84

3.4 Đề xuất mô hình “địa chỉ tin cậy lồng ghép vai trò của nhân viên CTXH trợ giúp phụ nữ là nạn nhân BLGĐ 86

3.4.1 Căn cứ thực hiện: 86

3.4.2 Mục đích 86

3.4.3 Đối tượng hưởng lợi 86

3.4.4 Nguồn lực thực hiện 86

3.4.5 Quy trình thành lập (căn cứ tài liệu xây dựng và triển khai hoạt động địa chỉ tin cậy ở cộng đồng của luật phòng chống BLGĐ năm 2007) 88

3.4.6 Nguyên tắc hoạt động hỗ trợ tại các “địa chỉ tin cậy” 90

3.4.7 Miêu tả mô hình “địa chỉ tin cậy” đề xuất 91

Tiểu kết chương 3 95

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

PHỤ LỤC 102

Trang 7

5 NVCTXH: Nhân viên Công tác xã hội

6 NVXH: Nhân viên xã hội

7 PN: Phụ nữ

8 WB: Ngân hàng thế giới

9 UNICEF: Quỹ nhi đồng liên hợp quốc

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH

BẢNG

Bảng 2.1: Trình độ học vấn của nhóm phụ nữ bị BLGĐ (N = 168) 44

Bảng 2.2: BLGĐ và phân loại theo dân tộc và nghề nghiệp (Điều tra số liệu thống kê qua các năm 2013, 2014, 2015, 2016 và đầu nằm 2017 của Hội liên hiệp phụ nữ xã) 46

Bảng 2.3: BLGĐ và các hình thức BLGĐ 48

Bảng 2.4: BLGĐ và các biện pháp xử lý 49

Bảng 2.5: Phản ứng của nhóm phụ nữ bị BLGĐ trước và sau khi bị 64

BLGĐ (N = 168) 64

Bảng 2.6: Nhu cầu cần hỗ trợ của nạn nhân BLGĐ (N = 168) 67

BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Tình trạng BLGĐ 43

Biểu đồ 2.2: Tình trạng hôn nhân và BLGĐ của nhóm phụ nữ bị BL 45

Biểu đồ 2.3: Nguyên nhân dẫn đến BLGĐ tại xã Tiên Nguyên, N = 168 51

Biều đồ 2.4: Hậu quả của BLGĐ 54

Biều đồ 2.5: Bảng biểu so sánh sự can thiệp của các bên với kỳ vọng của nạn nhân (N = 168) 56

Biểu đồ 2.6: Tỉ lệ hiểu biết pháp luật và mong muốn về hiểu biết pháp luật của nhóm phụ nữ bị BLGĐ: 74

Biểu đồ 3.1: Hiểu biết về địa chỉ tin cậy của nhóm phụ nữ không bị 79

BLGĐ (N = 168) 79

HÌNH Hình 1 Theo thang nhu cầu của Maslov 25

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Gia đình là tế bào của xã hội, là tổng hợp tổng hợp các mối quan hệ ứng xử,

giá trị nhân cách, là nơi con người được sinh ra, lớn lên và được chia sẻ những vui buồn trong cuộc sống Gia đình có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi cá nhân và cả xã hội

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói trong bài nói chuyện tại Hội nghị thảo luận

dự thảo Luật Hôn nhân - Gia đình (tháng 1-1959) rằng: “Rất quan tâm đến gia đình là đúng vì nhiều gia đình cộng lại mới tạo nên được xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt” Trong cái tế bào gia đình ấy thì người phụ nữ luôn được coi là “người giữ lửa” duy trì sự đầm ấm, hạnh phúc của mỗi gia đình Cùng với

sự phát triển của xã hội, người phụ nữ Việt Nam hiện nay đã và đang ngày càng khẳng định được vị thế, tài năng và vai trò của mình không chỉ trong gia đình mà còn nhiều lĩnh vực khác trong đời sống xã hội Tuy nhiên, họ cũng phải đối mặt với rất nhiều vấn đề khác nhau trong cuộc sống trong việc chăm sóc con cái, công việc và giữ gìn hạnh phúc gia đình Họ phải chịu đựng những nỗi đau khác nhau về thể chất

và tinh thần Đó chính là vấn đề BLGĐ

BLGĐ là vấn đề mà cả xã hội đang rất quan tâm, nó ảnh hưởng tới đời sống

của rất nhiều người mà đặc biệt là phụ nữ và trẻ em Gây nhức nhối cho nhân loại,

để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho con người, nhất là đối với phụ nữ, trẻ em

(GiadinhNet) Bạo lực gia đình đem đến nhiều hậu quả nặng nề về cả thể xác và

tinh thần đối với con người (Ngô Sỹ Bình - Lớp BCK09 - khoa Báo chí & Truyền thông - Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQGTPHCM)

Theo thống kê của Vụ Gia đình (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) 5 năm trở lại đây, số vụ bạo lực gia đình được ghi nhận khoảng 20.000 vụ/năm và mức độ bạo lực ngày càng nghiêm trọng Ngay từ năm 2014, báo cáo của các tổ chức phi chính phủ đã chỉ ra cứ 2-3 ngày ở Việt Nam lại có một người bị giết liên quan đến bạo lực gia đình, trong đó đa phần là phụ nữ và trẻ em Riêng trong năm 2015 có 31 phụ nữ, 7 trẻ em bị người thân giết hại Theo con số thống kê chưa đầy đủ, 6 tháng đầu năm đã có hơn 20

phụ nữ và trẻ em thiệt mạng do bạo lực gia đình

Trang 10

Còn Theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, trung bình một năm trên cả

nước có tới 8.000 vụ ly hôn mà nguyên nhân do bạo lực gia đình Cũng theo số liệu thống kê của bệnh viện, các trung tâm, phòng cấp cứu lớn của cả nước, có hơn 27% phụ nữ bị ngược đãi nhập viện, hơn 10% điều trị y khoa nghiêm trọng hằng năm do

nguyên nhân bạo lực gia đình

Ở Việt Nam, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã dành nhiều

sự quan tâm tới việc phòng, chống bạo lực gia đình và đã ban hành nhiều Khoản luật, điều Luật trực tiếp và gián tiếp như: Hiến pháp, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Bộ luật Dân sự, và đặc biệt Luật phòng, chống bạo lực gia đình 2007 Những văn bản này đã tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong đời sống xã hội trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình Trong đó quy định về giải pháp can thiệp BLGĐ tại cơ sở thông qua hệ thống các “địa chỉ tin cậy” Mô hình là một tổ chức hoạt động xã hội tình nguyện tại cộng đồng với nội dung gồm các hoạt động như: Tiếp nhận, hỗ trợ và thông báo kịp thời cho nạn nhân bị bạo lực; bảo đảm an toàn cho nạn nhân; bảo đảm bí mật thông tin về người báo tin và nạn nhân Đây cũng là nơi để các hội viên phụ nữ gặp gỡ, chia sẻ, tháo gỡ những mối bất hòa của nạn nhân Đồng thời, tuyên truyền nâng cao ý thức của cộng đồng và vai trò của mỗi người dân trong công tác phòng chống bạo lực gia đình, giữ gìn an ninh trật tự đã đem đến những kết quả đáng kể và cũng là biện pháp hiệu quả giảm thiểu các vụ BLGĐ trên cả nước Tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan thì các quy phạm pháp luật này chưa thực sự đi vào cuộc sống, sự quan tâm và hiểu biết của đối tượng thụ hưởng

về lĩnh vực này chưa đi vào chiều sâu, do sự triển khai của các cấp có thẩm quyển và nhận thức của người dân về vai trò của mô hình và BLGĐ còn hạn chế

Do đó chưa phát huy được hiệu quả thực sự tại nhiều địa phương Do vậy, tình trạng bạo lực trong gia đình chưa có nhiều thay đổi, chuyển biến tích cực và hơn thế nữa nó dần trở thành như một hiện tượng của xã hội

Theo thống kê năm 2016 của Hội nông dân, Việt Nam có khoảng 23 triệu hộ, trong đó số hộ ở nông thôn cao gấp hơn 2 lần số hộ ở thành thị Số nhân khẩu bình quân một hộ của nông thôn cũng cao hơn của thành thị (3,9 người so với 3,7 người);

Trang 11

trong đó hầu hết nam nông dân là chủ hộ và có tiếng nói chủ đạo trong gia đình Chính vì vậy, giải quyết vấn đề bạo lực gia đình ở nông thôn đang trở nên cấp thiết

(Hải Tâm, Báo Hội nông dân Việt Nam, 06/07/2016)

Xã Tiên Nguyên huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang là một trong những xã thuộc khu vực vùng sâu, vùng xa, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số Tỷ lệ nghèo đói còn rất cao, dân trí thấp Điều kiện sống túng thiếu, chưa đủ đáp ứng nhu cầu của người dân về những điều kiện cơ bản nhất của cuộc sống Tại đây những vụ bạo lực gia đình thường xuyên diễn ra với những nguyên nhân khác nhau Và không ai khác người phụ nữ chính là nạn nhân đáng thương của vấn nạn này Mặc dù, đảng và nhà nước đã có rất nhiều chủ trương, chính sách chung nhằm giảm thiểu và phòng ngừa BLGĐ và chính quyền địa phương đã triển khai rất tốt các chính sách Tuy nhiên, do trình độ nhận thức của người dân, đặc biệt là đối tượng và nạn nhân của BLGĐ và việc thực hiện các chính sách mang tính chủ quan, chưa đi sâu vào nhu cầu và nguyện vọng của người thụ hưởng Do đó, việc can thiệp của các chính sách chưa đem lại hiệu quả cao Đặc biệt là các mô hình dịch vụ tại cơ sở

Với những lý do trên tác giả thực hiện đề tài: “Tìm hiểu nhu cầu về “địa chỉ tin cậy” hỗ trợ phụ nữ là nạn nhân bạo lực gia đình Nghiên cứu tại xã Tiên Nguyên huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành Công tác xã hội của mình với mong muốn tìm hiểu nhu cầu của người phụ nữ là nạn nhân bạo lực gia đình dưới góc nhìn Công tác xã hội (CTXH) nhằm hướng tới bình đẳng giới cho người dân trên địa bàn nghiên cứu

2 Tổng quan nghiên cứu

BLGĐ không phải chỉ là vấn đề của một gia đình hay chỉ tồn tại ở một vài nước mà BLGĐ, đặc biệt là bạo lực với phụ nữ đang trở thành vấn đề phổ biến trong tất cả các nước trên toàn cầu Do tính chất phức tạp và mức độ nghiêm trọng cũng như ảnh hưởng của BLGĐ đến nền an sinh của mỗi cá nhân và toàn xã hội, nhiều quốc gia trên thế giới Bạo lực gia đình đã vô tình làm xói mòn đạo đức xã hội, tác động xấu đến thế hệ tương lai, làm tổn thương tinh thần, tình cảm và sức khỏe của mỗi thành viên trong gia đình Do đó, bạo lực gia đình đã trở thành hiện

Trang 12

tượng xã hội mang tính toàn cầu – là đề tài thu hút giới nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trên thế giới và Việt Nam

2.1 Trên thế giới

Công ƣớc quốc tế về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ

(Convention on the Elimination of all Forms of Discrimination Against Women - CEDAW) - điều ước quốc tế quan trọng nhất về bảo vệ quyền con người của phụ nữ

- không có quy định đề cập cụ thể đến vấn đề bạo lực chống lại phụ nữ nói chung, BLGĐ nối riêng Đây được coi là một trong những hạn chế lớn nhất của Công ước này Tuy nhiên, với việc xác định quan hệ gia đình là một trong các lĩnh vực phụ nữ

bị phân biệt đối xử phổ biến nhất và có những quy định cụ thể nhằm xóa bỏ tình trạng phân biệt đối xử với phụ nữ nói chung, phân biệt đối xử với phụ nữ trong quan hệ gia đình nói riêng, CEDAW góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý quốc tế có liên quan đến phòng, chống BLGĐ

Tác phẩm “Violence, Silence and Anger – Women’s Writing as Transgession (Sự im lặng, bạo lực và sự giận dữ - các bài viết của phụ nữ như là một tội lỗi) của nhiều tác giả Deirdre Lashgari chủ biên Cuốn sách là cơ sở cho các nhà nữ quyền trình bày các tư tưởng về sự im lặng, sự tức giận và nhu cầu lên tiếng chống lại bạo lực

Bên cạnh đó, trên thế giới cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu và các

cuộc điều tra về bạo lực gia đình Các bài báo, các báo cáo cũng cho thấy sự hiện diện của hiện tượng bạo lực gia đình trên thế giới đang diễn ra nghiêm trọng như: Ngân hàng Thế giới (WB) công bố báo cáo với nhan đề "Tiếng nói và Năng lực" cho biết, hơn 700 triệu phụ nữ trên toàn thế giới là nạn nhân của tình trạng bạo lực gia đình, phần lớn trong số họ hầu như không có khả năng bảo vệ

Báo cáo mới nhất mang tính bao quát của WB cho biết tình hình nghiêm trọng nhất xảy ra tại khu vực Nam Á và châu Phi, nơi có hơn 40% phụ nữ từng là nạn nhân của hành động bạo lực gia đình Tình trạng bị bạo hành cùng với những thua thiệt mang tính

hệ thống mà phụ nữ phải chịu đựng đang là những nhân tố quan trọng cản trở sự tiến bộ

và khiến hàng trăm triệu phụ nữ rơi vào cảnh đói nghèo

Trang 13

Báo cáo cũng cho rằng trao quyền hợp pháp cho phụ nữ và dỡ bỏ những rào cản về luật pháp và xã hội đối với sự phát triển của họ sẽ đem lại nhiều lợi ích hơn cho các nhóm trong xã hội Đồng thời miêu tả nhiều cách mà theo đó phụ nữ trên toàn thế giới bị phủ nhận "năng lực" - khả năng vượt lên hoàn cảnh của họ bằng chính nỗ lực của bản thân

Báo cáo thông qua tại Hội nghị thế giới về Thập kỷ về Phụ nữ của Liên hợp quốc: Bình đẳng, Phát triển và Hòa bình (the World Conference of the United Nations Decade for Women: Equality, Development and Peace) tổ chức năm 1982 ởCopenhagen (Đan mạch) Báo cáo này đánh dấu lần đầu tiên vấn đề BLGĐ được

đề cập cụ thể trong một văn kiện chính thức của Liên hiệp quốc Báo cáo nêu rõ:

"Cấn ban hành và thực hiện các văn bản pháp luật dể phòng, chống BLGĐ và bạo lực tình dục với phụ nữ Cần thực thi tất cả các biện pháp cần thiết, kể cả biện pháp lập pháp, để bảo đảm các nạn nhân của BLGĐ và bạo lực tình dục được đối xử công bằng trong tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự"

 Những nghiên cứu liên quan đến giải pháp hỗ trợ nạn nhân

Mỗi tác giả đều đưa ra những nghiên cứu theo quan điểm riêng và theo các hướng khác nhau

Henry Murray, nhà tâm lý học người Mỹ, khi nghiên cứu về vấn đề nhu cầu khẳng định: nhu cầu là một tổ chức cơ động, hướng dẫn và thúc đẩy hành vi Nhu cầu ở mỗi người khác nhau về cường độ mức độ, đồng thời các loại nhu cầu chiếm ưu thế cũng khác nhau ở mỗi người Ảnh hưởng của phâm tâm học, ông cho rằng nhu cầu quy định xu hướng nhân cách đều xuất phát từ nguồn năng lượng libido vô thức

Tuy nhiên, ông cũng đưa ra quan điểm tiến bộ về nhu cầu: thể nghiệm ban đầu là cảm giác băn khoăn luôn ám ảnh, con người cũng như con người đều thiếu thốn một cái gì đó, nó là cần thiết của chủ thể cần cho hoạt động sống và do đó, gây cho chủ thể một mục đích tính tích cực nhất định Như vậy, theo ông nhu cầu là một

tổ chức hoạt động Nó tổng hợp quá trình nhận thức tưởng tượng, hành vi Ông cũng đã chỉ ra những khác biệt giữa nhu cầu và áp lực

Trang 14

Ông chia nhu cầu thành 2 loại:

Nhu cầu nguyên phát: Nhu cầu tự nhiên của con người với tư cách là một cơ thể sống Bao gồm các nhu cầu ăn, hít thở không khí…đảm bảo cho nhu cầu tồn tại của cá nhân

Nhu cầu thứ phát là đặc trưng của nhu cầu con người như một tồn tại xã hội

và bắt nguồn từ sự giao tiếp của con người Quan trọng nhất trong các nhu cầu là nhu cầu về tình yêu, sự hợp tác, sự khẳng định

Kế thừa và dựa trên những luận điểm của ông đối với luận văn nghiên cứu này, có thể thấy rằng những phụ nữ bị BLGĐ họ luôn bị tổn thương về thể chất và tinh thần Họ rơi vào trạng thái mất an toàn Họ cần được tìm nơi cư trú an toàn khi

có BL xảy ra và cần được tâm sự, chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống để tìm cách thoát ra khỏi tình trạng họ gặp phải

Do đó, tìm hiểu nhu cầu về địa chỉ tin cậy hỗ trợ tại cơ sở lồng ghép các tiêu chí theo nguyện vọng của nạn nhân là một hoạt động có chủ đích nhằm phân tích các tiêu chí cần hỗ trợ để giải quyết vấn đề của họ bằng cách hình thành các địa chỉ tin cậy lồng ghép vai trò của nhân viên Công tác xã hội nhằm đáp ứng các tiêu chí

về nhu cầu tự nhiên của họ khi họ gặp tình huống không an toàn

Leonchiev lại đi sâu phân tích bản chất tâm lý của nhu cầu đã khẳng định: “Nhu cầu với tính chất là một sức mạnh nội tại chỉ có thể được thực thi trong hoạt động Nhu cầu không chỉ là những cái mà chủ thể sinh ra đã có và chi phối hoàn toàn hoạt động của con người mà nó nảy sinh trong quá trình hoạt động và sau đó chi phối hoạt động của con người theo sơ đồ: Hoạt động  Nhu cầu  Hoạt động

Khi PN trong gia đình có BL, họ bị đe dọa tính mạng, họ có những lo lắng, căng thẳng trong cuộc sống, họ mong muốn được chia sẻ, đó là trạng thái thiếu thốn, kích thích tìm kiếm cách thức thoả mãn nhu cầu Nhu cầu được cụ thể hoá bằng những hành động trong thực tiễn đó là họ chạy trốn, tìm kiếm tới bạn bè, người thân, chính quyền địa phương để tìm nơi ở an toàn, để chia sẻ thoả mãn nhu cầu của mình Nhu cầu đã chi phối sự tham gia vào hoạt động của họ, và thông qua hoạt động hình thành các địa chỉ tạm lánh an toàn, nhu cầu về tâm lý của PN được thoả mãn

Trang 15

Như vậy, các nghiên cứu và báo cáo trên cho thấy rằng, bạo lực gia đình thực

sự là một vấn đề cần để nghiên cứu và chủ yếu xoay quanh vấn đề tự trị chủ quan và những thiệt thòi chưa được giải quyết của người phụ nữ

2.2 Tại Việt Nam

Ở Việt Nam, vấn đề bạo lực trong gia đình bắt đầu được quan tâm nghiên

cứu từ những năm 90 của thế kỷ XX Sau Hội nghị quốc tế về bạo lực trên cơ sở giới tổ chức ở Bali năm 1993 và Hội nghị quốc tế về phụ nữ lần thứ 4 tổ chức tại

Bắc Kinh năm 1995,“bạo lực trong gia đình” đã được khẳng định là một chủ đề

quan trọng trong nghiên cứu xã hội phục vụ cho công cuộc phát triển Trên cơ sở định nghĩa của Liên hợp quốc về bạo lực đối với phụ nữ, các nghiên cứu về bạo lực gia đình của Việt Nam đã đưa ra nhiều phân loại khác nhau về các hành vi bạo lực trong gia đình Trong đó hầu hết các nghiên cứu đều đề cập đến thực trạng, nhận

thức, nguyên nhân, hậu quả của hành vi bạo lực về thể chất là chủ yếu:

Năm 2001, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã thực hiện đề tài “BLGĐ đối với phụ nữ tại Việt Nam” nghiên cứu tại 3 tỉnh Lạng Sơn, Thái Bình và Tiền giang

đề tài đã tìm hiểu nhận thức, thái độ của người dân và cán bộ thi hành pháp luật của các tổ chức đoàn thể xã hội Đồng thời đề tài cũng chỉ ra những hậu quả nặng nề của BLGĐ đối với phụ nữ

Trong khuôn khổ chương trình hợp tác quốc gia giữa Chính phủ Việt Nam và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) 2006-2010, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch

đã phối hợp với Tổng cục Thống kê và Viện Gia đình và Giới thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam tiến hành điều tra Gia đình Việt Nam Cuộc điều tra này được tiến hành trên phạm vi toàn quốc, tập trung vào 4 lĩnh vực là: quan hệ gia đình; các giá trị, chuẩn mực của gia đình; kinh tế gia đình và phúc lợi gia đình Những điều tra này nhằm nhận diện thực trạng, thu thập thông tin cần thiết phục vụ công tác quản lý và hoạch định chính sách về gia đình

Cùng với thực trạng này, cuốn sách “Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam, thực trạng, diễn tiến và nguyên nhân” của nhóm tác giả Nguyễn Hữu Minh và Trần Thị Vân Anh (chủ biên), năm 2009 tập trung vào vấn đề bạo lực của người chồng đối với

Trang 16

người vợ với mong muốn cung cấp các dữ liệu thông tin đầu vào cho một cuộc nghiên cứu trên quy mô toàn quốc về bạo lực gia đình Công trình nghiên cứu cung cấp cho độc giả, cho những người quan tâm đến việc giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới và trên hết cho các nhà hoạch định chính sách một cách nhìn sâu hơn về bản chất của vấn đề bạo lực gia đình đối với phụ nữ, tính tiến triển của nó và sự cần thiết áp dụng các giải pháp phòng ngừa mầm mống của bạo lực gia đình trước khi nó trở thành bạo lực thật sự Trong “Hỗ trợ nạn nhân bị bạo lực gia đình tái hòa nhập cộng đồng thông qua các hoạt động văn hóa” (2013) của Nguyễn Thu Hiền Nội dung đề tài đã cung cấp thông tin khoa học về vấn đề BLGĐ hiện nay thông qua các báo cáo về tình hình bạo lực với phụ

nữ tại Việt Nam những năm gần đây của các trung tâm, tổ chức về giới và phụ nữ (Trung tâm phụ nữ và phát triển, trung tâm SAGA) Trên cơ sở đó hướng tới các giải pháp, khuyến nghị cho các nạn nhân bị bạo lực gia đình thông qua các hoạt động văn hóa và đồng thời góp phần đưa ra những bằng chứng cần thiết để đưa vấn đề bạo lực gia đình vào cùng đường lối của các vấn đề chính trị- xã hội, chung tay vào công tác phòng chống bạo lực gia đình trên toàn quốc và thế giới

 Các nghiên cứu liên quan đến địa chỉ tin cậy và nhu cầu về địa chỉ tin cậy hỗ

trợ nạn nhân BLGĐ tại cơ cở

Mô hình Ngôi nhà Bình yên - Trung tâm Phụ nữ và Phát triển - CWD (Peace

House Shelter - Center for Women and Development - CWD) hoạt động với mục

Trang 17

Cuốn “Bạo lực gia đình - một sự sai lệch giá trị” của Lê Thị Quý - Đặng Vũ

Cảnh Linh, NXB khoa học xã hội, Hà Nội, 2007 tập trung nghiên cứu tình trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam hiện nay, những nguyên nhân và hậu quả của bạo lực gia đình và đặc biệt là công tác phòng chống bạo lực gia đình - những bài học kinh nghiệm của Việt Nam, đề cập tới mô hình tạm lánh, các địa chỉ tin cậy

hỗ trợ nạn nhân BLGĐ

Dự án “Xây dựng năng lực địa phương phòng chống bạo lực gia đình” là

một chương trình dự án do Đan Mạch tài trợ để thực hiện tại Việt Nam năm

2009, trong dự án này, họ đã đề cập rất rõ đến các địa chỉ tin cậy có vai trò như thế nào với phụ nữ bị bạo lực, được đánh giá dựa trên khảo sát thực tế đối với

tư vấn đối với những trường hợp BLGĐ

Dự án mô hình nhà tạm lánh tại xã Mò Ó, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị là một

hoạt động thuộc Dự án 4 của Chương trình quốc gia bình đẳng giới giai đoạn

2011-2015 về “hỗ trợ thực hiện bình đẳng giới trong những lĩnh vực, ngành, vùng, địa phương có bất bình đẳng giới hoặc có nguy cơ cao bất bình đẳng giới

Thông qua hoạt động của mô hình giúp cho người dân nâng cao nhận thức về bình đẳng giới, đặc biệt là bạo lực trên cơ sở giới, nguyên nhân và tác hại của bạo lực trên cơ sở giới, tạo cơ hội để các nạn nhân bạo lực tiếp cận hoạt động can thiệp nhằm giảm thiểu tác hại của bạo lực tại cộng đồng; đồng thời xây dựng, hình thành

và duy trì đội ngũ cộng tác viên làm công tác bình đẳng giới tại cơ sở Tạo ra một môi trường an toàn cho đối tượng

Tuy nhiên, mô hình chỉ dừng lại đúng nghĩa là mô hình mà phụ nữ đến

Trang 18

tránh né xâm phạm về thể chất cũng như tinh thần Chưa giải quyết sâu xa gốc rễ và khắc phục tình trạng bạo lực gia đình

Như vậy, có thể thấy vấn đề bạo lực trong gia đình đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề tài này tác giả đã tiếp thu chắt lọc và áp dụng có bổ sung các đề tài đã được thực hiện trước đó vào đề tài luận văn của mình Việc tìm hiểu nhu cầu không chỉ để nhận diện vấn đề trước mắt mà còn nhằm giải quyết triệt để vấn đề bạo lực gia đình, định hướng bình đẳng giới trên toàn xã nói riêng và toàn tỉnh Hà Giang nói chung

3 Mục đích, nhiệm vụ đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

31.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm hiểu nhu cầu về “địa chỉ tin cậy”

hỗ trợ phụ nữ là nạn nhân bạo lực gia đình và đề xuất giải pháp hỗ trợ nạn nhân BLGĐ dưới góc độ Công tác xã hội

3.1.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ 1: Tìm hiểu thực trạng bạo lực gia đình, việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng chống BLGĐ và phản ứng của chính quyền, các bên các liên quan khi có bạo lực xảy ra tại xã Tiên Nguyên huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang Nhiệm vụ 2: Tìm hiểu về các nhu cầu mong muốn được hỗ trợ của nạn nhân khi bị BLGĐ

Nhiệm vụ 3: Tìm hiểu về sự đánh giá của các bên có liên quan về việc hình thành các địa chỉ tin cậy nhằm đáp ứng nhu cầu, mong muốn của nạn nhân BLGĐ Nhiệm vụ 4: Tìm hiểu vai trò của nhân viên CTXH và đề xuất mô hình “địa chỉ tin cậy” lồng ghép vai trò của nhân viên CTXH tại các thôn

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Nhu cầu về địa chỉ tin cậy hỗ trợ phụ nữ là nạn nhân BLGĐ tại xã Tiên Nguyên huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang

3.3 Khách thể nghiên cứu

Phụ nữ là nạn nhân bạo lực gia đình tại địa bàn nghiên cứu

Trang 19

Người dân trên địa bàn nghiên, bao gồm nam giới và các thành viên trong gia đình

Các cơ quan chức năng có thẩm quyền tại địa phương (công an, trưởng thôn các thôn, thanh niên, Hội phụ nữ xã)

Thực hiện đề tài còn giúp chúng ta hiểu sâu và rõ nét hơn về những vấn đề lên quan đến đối tượng người phụ nữ phần lớn là dân tộc thiểu số và cái nhìn về bạo lực gia đình của họ

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

4.2.1 Đối với chính quyền địa phương

Giúp cán bộ xã và các ban ngành chuyên môn đánh giá, nhìn nhận lại thực trạng bạo lực gia đình tại địa bàn cũng như quá trình thực thi Luật Phòng chống BLGĐ tại địa phương Những thông tin thu được trong quá trình nghiên cứu sẽ tạo cơ sở cho chính quyền địa phương có những bổ sung, điều chỉnh về chính sách, chủ trương nhằm thực hiện bình đẳng giới, phòng chống BLGĐ Hạn chế và hỗ trợ kịp thời khi có BLGĐ xảy

ra Tạo động lực cho sự tiến bộ của phụ nữ và sự phát triển chung của địa phương

4.2.2 Đối với người dân

Giúp người dân có cái nhìn đúng đắn hơn về nhu cầu hình thành các địa chỉ tin cậy hỗ trợ nạn nhân là phụ nữ khi có BLGĐ xảy nhằm đảm bảo sự an toàn về

Trang 20

tính mạng và bảo vệ quyền con người cho người dân nói chung và phụ nữ là nạn nhân bị BLGĐ nói riêng

Đồng thời, kết quả nghiên cứu góp phần vào việc biện hộ và là cầu nối giữa người dân với các cơ quan, đoàn thể, tổ chức về việc đáp ứng nhu cầu về sự an toàn cho đối tượng khi có BLGĐ xảy ra tại địa phương Góp phần tạo nên sự yên ấm, bình yên, ấm no, hạnh phúc của mỗi gia đình nhằm tiến tới xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh

4.2.3 Đối với cá nhân

Đề tài nghiên cứu là một trong những công cụ thực hành nghề công tác xã hội cho bản thân người nghiên cứu Là cơ hội vận dụng các kiến thức, kỹ năng trong công tác xã hội vào trong thực tiễn Góp phần hoàn thiện bản thân trong quá trình trợ giúp đối tượng

Đồng thời, qua nghiên cứu giúp cá nhân hiểu sâu sắc hơn về đối tượng yếu thế trong công tác xã hội Hiểu đúng đắn hơn về nhu cầu, nguyện vọng của người dân Từ đó, có những đề xuất biện pháp giải quyết đúng vấn đề mà đối tượng đang gặp phải nhằm hỗ trợ đối tượng tự giải quyết được vấn nạn của mình, góp phần vào quá trình bảo vệ quyền con người, phát triển con người một cách hiệu quả

4.2.4 Đối với ngành công tác xã hội

Kết quả nghiên cứu là quá trình vận dụng các kiến thức, kỹ năng, kỹ thuật trong ngành CTXH Góp phần làm phong phú thêm vai trò của ngành trong việc hỗ trợ đa dạng các đối tượng yếu thế trong xã hội Chứng minh và khẳng định vị trí, vai trò của CTXH trong việc hỗ trợ các nạn nhân bị BLGĐ, đặc biệt đối với những đối tượng là dân tộc thiểu số trên địa bàn nông thôn

Kết quả của đề tài là tài liệu giúp ích cho việc học tập và nghiên cứu của sinh viên, học viên khoa Công tác xã hội

5 Câu hỏi nghiên cứu

` Bạo lực gia đình tại xã Tiên Nguyên huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang diễn ra như thế nào?

Nạn nhân là phụ nữ bị BLGĐ có những nhu cầu nào cần hỗ trợ?

Trang 21

Nhân viên CTXH có vai trò gì trong việc hình thành và duy trì các “địa chỉ tin

cậy” tại xã để đáp ứng các nhu cầu của nạn nhân?

5 Giả thuyết nghiên cứu

BLGĐ tại xã Tiên Nguyên vẫn đang tồn tại với các hình thức và mức độ khác nhau

Nạn nhân bị BLGĐ có những mong muốn, nhu cầu khác nhau về “địa chỉ tin cậy” hỗ trợ cho họ khi có BLGĐ xảy ra

Việc hình thành các địa chỉ tin cậy cần được sự hỗ trợ bởi các nguồn lực tại cồng đồng và xã hội Đặc biệt là nguồn lực từ dịch vụ CTXH

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Tài liệu là những hiện vật mang lại cho con người những thông tin về vấn đề mà nhà nghiên cứu quan tâm

Trong bài nghiên cứu của mình tác giả có sử dụng và tìm hiểu nhiều tài liệu có liên quan đến BLGĐ Đó là các bài viết, bài nghiên cứu của các tác giả về nhận thức, thực trạng, nguyên nhân, hậu quả các giải pháp về BLGĐ và các đánh giá, báo cáo tổng kết về đặc điểm kinh tế, xã hội, tình hình BLGĐ và công tác phòng, chống BLGĐ trên địa bàn xã của chính quyền địa phương

Phương pháp này đã góp phần vào sự thành công của nghiên cứu Các tài liệu là cơ sở, là công cụ để tác giả có được những nhận định, những đánh giá chính xác về tình hình thực tế và đánh giá đúng nhu cầu, vấn đề đang tồn tại Từ đó đề xuất những giải pháp đúng và hiệu quả

Mục đích: Sử dụng phương pháp điều tra bảng hỏi nhằm đưa ra cái nhìn tổng

thể về thực trạng BLGĐ và nhu cầu về địa chỉ tin cậy hỗ trợ PN bị BLGĐ tại địa

bàn nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích tài liệu về tình hình BLGĐ, điều tra 336 phụ nữ trong độ tuổi từ 20 đến 45 trên địa bàn 14 thôn Độ tuổi này được đánh giá có hiện tượng

Trang 22

BLGĐ phổ biến Kết quả thu được có 168 phụ nữ cho rằng mình từng bị BLGĐ là đối tượng nghiên cứu chính của luận văn

Do đặc điểm của người được hỏi có nhận thức thấp và chủ yếu là dân tộc thiểu số không biết chữ nhiều Bởi vậy, trước khi các chị trả lời câu hỏi trong phiếu khảo sát, tác giả đã tiến hành Công tác xã hội nhóm cho 7 thành viên nòng cốt được trang bị và nâng cao nhận thức về BLGĐ và các địa chỉ tin cậy tại cơ sở hỗ trợ nạn nhân bị BL Được tiến hành trong thời gian 1 tháng từ 20/4/1017 đến 20/5/2017 theo 4 bước trong tiến trình Công tác xã hội nhóm (Thành lập nhóm, khảo sát nhóm,

duy trì nhóm, kết thúc nhóm)

Sau thời gian sinh hoạt nhóm, các thành viên trong nhóm nòng cốt này được

phân công phụ trách 2 thôn Hướng dẫn cách thức điền phiếu bảng hỏi và giải đáp các thắc mắc liên quan đến kiến thức BLGĐ và địa chỉ tin cậy

Trong phiếu khảo sát có nội dung về một số thông tin liên quan như nghề nghiệp, trình độ học vấn, vùng địa bàn Từ những thông tin đó, có thể xác định mối tương quan giữa các thông tin đó với nhu cầu nhận thức của họ đối với BLGĐ và địa chỉ tin cậy để đánh giá mức độ hiệu quả và tính xác thực của các thông tin trong bảng hỏi

Các thông tin trên thu về và được xử lý bằng phương pháp thông kê mô tả Đây là một trong những phương pháp chính của đề tài nghiên cứu Phương pháp này đã góp phần vào thành công của đề tài trong việc thu thập thông tin tổng thể, nhanh và thực tế từ đối tượng nghiên cứu Từ đó, tác giả có cái nhìn tổng thể, đánh giá chính xác nhu cầu và đề xuất giải pháp phù hợp và hiệu quả

Phỏng vấn sâu là những cuộc đối thoại được lặp đi lặp lại giữa nhà nghiên cứu và người cung cấp thông tin nhằm tìm hiểu cuộc sống, kinh nghiệm và nhận thức của người cung cấp thông tin thông qua chính ngôn ngữ của người ấy

Mục đích: Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu nhằm thu thập những thông

tin liên quan đến BLGĐ từ chính nạn nhân và những người xung quanh để có được cái nhìn khách quan nhất về thái độ, nhận thức của họ về BLGĐ và nhận thức về

Trang 23

cách giải quyết vấn đề của họ về vai trò của mô hình “địa chỉ tin cậy” hỗ trợ nạn

nhân BLGĐ tại cơ sở

Nội dung: Sử dụng phỏng vấn sâu đối với các đối tượng là: Nạn nhân của

BLGĐ, đối tượng BLGĐ, những người trong gia đình (ông bà nội, ngoại, con cái, anh chị em ) chính quyền địa phương (Công an xã, công an viên, Hội liên hiệp phụ

nữ xã, chi hội phụ nữ thôn, y tế )

Ngoài ra, phương pháp phỏng vấn sâu được vận dụng trong các buổi sinh hoạt tập thể của từng thôn và khi làm việc với nhóm nòng cốt

Đây cũng là một trong những phương pháp nghiên cứu chính của đề tài Là

công cụ để tác giả có được đánh giá khách quan và thiết thực nhất từ những đối

tượng có liên quan trực tiếp và gián tiếp của nạn BLGĐ

CTXH nhóm là phương pháp CTXH nhằm giúp tăng cường, củng cố chức năng xã hội của cá nhân thông qua các hoạt động nhóm và khả năng ứng phó với

các vấn đề của cá nhân thông qua nhóm, có nghĩa là :

Ứng dụng những kiến thức, kỹ năng liên quan đến tâm lý nhóm (hoặc năng động nhóm)

Nhóm nhỏ thân chủ có cùng vấn đề giống nhau hoặc có liên quan đến vấn đề Các mục tiêu xã hội được thiết lập bởi nhân viên xã hội trong kế hoạch hỗ trợ thân chủ (cá nhân, nhóm, cộng đồng) thay đổi hành vi, thái độ, niềm tin nhằm giúp thân chủ tăng cường năng lực đối phó, chức năng xã hội thông qua các kinh nghiệm của nhóm có mục đích nhằm để giải quyết vấn đề của mình và thỏa mãn nhu cầu Trong đề tài này, phương pháp CTXH nhóm được vận dụng trong việc hình thành nhóm là các chi hội trưởng các thôn (gồm 7 chi hội trưởng của 7 thôn có tình trạng BLGĐ xảy ra nhiều nhất: Xuân Hồng, Xuân Hòa, Hòa Bình, Tân Tiến, Nậm Cài, Quang Sơn, Tây Sơn) nhằm xây dựng nhóm nòng cốt hỗ trợ các đối tượng được hỏi trong phiếu điều tra bảng hỏi và góp phần nâng cao nhận thức của người dân về BLGĐ và vai trò của mô hình “địa chỉ tin cậy” tại cơ sở

Trang 24

Lồng ghép với đó là việc hình thành nhóm gồm 7 thành viên là phụ nữ bị BLGĐ điển hình tại 14 thôn bằng phương pháp tự nguyện Thông qua cuộc họp và triển khai chung Nêu ý tưởng và mục đích của việc thành lập nhóm nòng cốt và lên các hoạt động (diễn ra trong thời gian thực tập) Sau đó, dựa trên nhu cầu của các thành viên, nhân viên xã hội lựa chọn được 7 thành viên cùng chung nguyện vọng chia sẻ và mong muốn được nâng cao nhận thức về BLGĐ và các địa chỉ tin cậy hỗ trợ nạn nhân BL tại

cơ sở Tập hợp lại và lên kế hoạch hoạt động trong thời gian 1 tháng

Ngoài ra, trong quá trình sử dụng các phương pháp trên tác giả có kết hợp với các kỹ năng khác như quan sát, lắng nghe, đặt câu hỏi, thấu cảm…

Trang 25

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Các khái niệm công cụ

1.1.1 Khái niệm nhu cầu

Từ lâu nhu cầu đã là đối tượng nghiên cứu của hầu hết các ngành khoa học nghiên cứu sinh học và xã hội Trong lĩnh vực kinh tế - xã hội vấn đề về nhu cầu được tìm thấy trong nghiên cứu của các nhà khoa học tên tuổi như Jeremy Bentham, Benfild, William Stanley Jevons, John Ramsay McCulloch, Edward S Herman Đó

là hiện tượng phức tạp, đa diện, đặc trưng cho mọi sinh vật Sự hiện diện của nhu cầu ở bất kì sinh vật nào, ngay cả ở bất kì xã hội nào được xem như cơ thể sống phức tạp, là đặc điểm để phân biệt chủ thể đó với môi trường xung quanh

Cho tới nay chưa có một định nghĩa chung nhất cho khái niệm nhu cầu Các sách giáo khoa chuyên ngành hay các công trình nghiên cứu khoa học thường có những định nghĩa mang tính riêng biệt

Alfred Marshall viết rằng: “Không có số để đếm nhu cầu và ước muốn”

Về vấn đề cơ bản của khoa học kinh tế - vấn đề nhu cầu con người - hầu hết các sách đều nhận định rằng nhu cầu không có giới hạn

Khi bàn đến nhu cầu không thể không nhắc tới Abraham Maslow, một nhà tâm

lý học Theo ông, nhu cầu chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs)và được cấu trúc có 5 tầng Trong đó, những nhu cầu con người được liệt kê theo một trật tự thứ bậc hình tháp kiểu kim tự tháp

Tầng thứ nhất: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc "thể lý" (physiological) -

thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi

Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn (safety) - cần có cảm giác yên tâm về an toàn

thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo

Tầng thứ ba: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc

(love/belonging) - muốn được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình

yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy

Tầng thứ tư: Nhu cầu được quý trọng, kính mến (esteem) - cần có cảm giác

được tôn trọng, kính mến, được tin tưởng

Trang 26

Tầng thứ năm: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân (self-actualization) - muốn

sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt

Sau Maslow, có nhiều người đã phát triển thêm tháp này như thêm các tầng khác nhau, thí dụ:

Tầng Cognitive: Nhu cầu về nhận thức, hiểu biết: - Học để hiểu biết, góp phần vào kiến thức chung

Tầng Aesthetic: Nhu cầu về thẩm mỹ - có sự yên bình, ham muốn hiểu biết về những gì thuộc nội tại

Tầng Self-transcendence: Nhu cầu về tự tôn bản ngã - một trạng thái siêu vị

kỷ hướng đến trực giác siêu nhiên, lòng vị tha, hòa hợp bác ái

Tuy nhiên, mô hình căn bản được chấp nhận rộng rãi vẫn chỉ có 5 tâng như Maslow

Như vậy, có nhiều khái niệm và cách hiểu về nhu cầu Tuy nhiên, tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu và cách hiểu về nhu cầu khác nhau

Nhu cầu trong đề tài nghiên cứu này dựa trên 5 bậc thang nhu cầu của Maslow để nhìn nhận, đánh giá và phân tích và vấn đề cụ thể, vấn đề địa chỉ tin cậy

hỗ trợ nạn nhân BLGĐ Giải quyết các nhu cầu đang bị thiếu hụt nhằm giúp họ có được sự đầy đủ về các nhu cầu của mình

1.1.2 Khái niệm địa chỉ tin cậy

Căn cứ theo Điều 30, mục 2, Luật Phòng chống Bạo lực gia đình ngày 21/11/2007 của Quốc hội quy định về địa chỉ tin cậy ở cộng đồng:

Địa chỉ tin cậy ở cộng đồng là cá nhân, tổ chức có uy tín, khả năng và tự nguyện giúp đỡ nạn nhân bạo lực gia đình tại cộng đồng dân cư

Cá nhân, tổ chức thông báo về việc nhận làm địa chỉ tin cậy, nơi đặt địa chỉ tin cậy với Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đặt địa chỉ tin cậy

Tùy theo điều kiện và khả năng thực tế, địa chỉ tin cậy ở cộng đồng tiếp nhận nạn nhân bạo lực gia đình, hỗ trợ, tư vấn, bố trí nơi tạm lánh cho nạn nhân và thông báo cho cơ quan có thẩm quyền biết

Trang 27

Uỷ ban nhân dân cấp xã lập danh sách và công bố các địa chỉ tin cậy ở cộng đồng; thực hiện việc hướng dẫn, tổ chức tập huấn về phòng, chống bạo lực gia đình

và bảo vệ địa chỉ tin cậy ở cộng đồng trong trường hợp cần thiết

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường, thị trấn và các tổ chức thành viên có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân cùng cấp trong việc tuyên truyền, vận động, xây dựng các địa chỉ tin cậy ở cộng đồng

1.1.3 Khái niệm Gia đình

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình của các nhà khoa học nghiên cứu ở từng góc độ khác nhau:

Theo định nghĩa chuẩn của ngành xã hội học thì: “Gia đình là một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở hôn nhân và quan hệ huyết thống, những thành viên trong gia đình có sự gắn bó và ràng buộc với nhau về trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa

vụ có tính hợp pháp được nhà nước thừa nhận và bảo vệ”

Từ khái niệm này, chúng ta tìm hiểu đặc trưng cơ bản của gia đình để xem xét các mối quan hệ của gia đình ở góc độ là một nhóm xã hội, nhóm tâm lý - tình cảm đặc thù, với các mối quan hệ bên trong, với sự tác động qua lại trong nội bộ của các thành viên để thỏa mãn những nhu cầu của mỗi người, đặc biệt là mối quan hệ giữa vợ và chồng Gia đình là mô ̣t thiết chế xã hô ̣i đă ̣c thù , mô ̣t hình ảnh “xã hô ̣i thu nhỏ” , cơ bản nhất của xã hô ̣i

Gia đình hình thành từ rất sớm và trải qua mô ̣t quá trình phát triển lâu dài Lịch sử nhân loại có những hình thức hôn nhân : tạp hôn , đối ngẫu , mô ̣t vợ mô ̣t chồng thì cũng có các hình thức gia đình: tâ ̣p thể, că ̣p đôi, cá thể và cũng có các loại gia đình: mô ̣t thế hê ̣, hai thế hê ̣ và nhiều thế hê ̣

Gia đình trong đề tài hướng đến chính là những gia đình không hạnh phúc, hay xảy ra bạo lực ảnh hưởng đến cá nhân từng gia đình và xã hội Bằng cách tìm hiểu nhu cầu cảu họ về địa chỉ tin cậy hỗ trợ tại cơ sở nhằm hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp can thiệp vào nạn BLGĐ để góp phần vào quá trình nâng cao bình đẳng giới, giảm thiểu và từng bước xóa bỏ vấn nạn BLGĐ tại xã Tiên Nguyên nói riêng và toàn tỉnh Hà Giang Tiến tới bình đảng xã hội theo hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 28

1.1.4 Khái niệm nạn nhân BLGĐ

Nạn nhân BLGĐ là những người bị chính người thân trong gia đình của mình gây ra những tổn thương nhất định về thể chất và tinh thần Họ rất cần được sự giúp

đỡ của cộng đồng và xã hội Đồng thời họ cũng có những quyền và nghĩa vụ (Theo quy định tại Điều 5 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, 2007) như:

Quyền, nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình được quy định cụ thể tại Điều

5 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, bao gồm:

Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình

Yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc theo quy định của Luật này

Được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý, pháp luật

Được bố trí nơi tạm lánh, được giữ bí mật về nơi tạm lánh và thông tin khác theo quy định của Luật này

Các quyền khác theo quy định của pháp luật

Nạn nhân bạo lực gia đình có nghĩa vụ cung cấp thông tin liên quan đến bạo lực gia đình cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khi có yêu cầu

Nạn nhân BLGĐ trong đề tài hướng đến là những phụ nữ bị chính người chồng của mình gây ra những tổn thương về thể chất và tinh thần dưới các hình thức khác nhau Họ có những nhu cầu cần được hỗ trợ để có một cuộc sống tốt đẹp hơn

1.1.5 Khái niệm hỗ trợ phụ nữ là nạn nhân BLGĐ

Hỗ trợ là khái niệm dùng để chỉ những việc nhằm giúp đỡ, tạo điều kiện về vật chất, tinh thần từ chính sách, tổ chức xã hội, từ người khác đối với những người

gặp hoàn cảnh khó khăn (Theo từ điển Tiếng Việt)

Hỗ trợ nạn nhân là phụ nữ bị BLGĐ là giải pháp can thiệp từ những người xung quanh (các thành viên trong gia đình, cộng đồng hang xóm, chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội) dưới các hình thức khác nhau tới người phụ nữ là nạn nhân của BLGĐ nhằm cung cấp những phương tiện, công cụ đáp

Trang 29

ứng nhu cầu bị thiếu hụt của họ bằng các cách thức (Quy định tại điều 29 chương 3 của Luật Phòng chống BLGĐ 2007) như:

Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tham gia thành lập cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình, cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình; hỗ trợ kinh phí cho một số cơ sở hỗ trợ, cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình theo chương trình, kế hoạch về phòng, chống bạo lực gia đình; kinh phí

hỗ trợ, đối tượng được hỗ trợ do Chính phủ quy định

Theo quy chế hoạt động hoặc chức năng, nhiệm vụ của mình, cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình, cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình được cung cấp các dịch vụ tư vấn về pháp luật, tâm lý, chăm sóc sức khỏe, bố trí nơi tạm lánh và các điều kiện cần thiết khác cho nạn nhân bạo lực gia đình

Cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình, cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình phải có các điều kiện sau đây:

Có cơ sở vật chất và nhân lực chuyên môn phù hợp với nội dung hoạt động trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình;

Có nguồn tài chính bảo đảm chi phí cho các hoạt động trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình

Nhân viên tư vấn phải có phẩm chất đạo đức tốt và bảo đảm yêu cầu về chuyên môn theo quy định của pháp luật đối với lĩnh vực tư vấn Trong quá trình tư vấn cho nạn nhân bạo lực gia đình, nhân viên tư vấn có trách nhiệm giữ bí mật thông tin về nạn nhân bạo lực gia đình; trường hợp phát hiện hành vi bạo lực gia đình có dấu hiệu tội phạm phải báo ngay cho người đứng đầu cơ sở để báo cho cơ quan công an nơi gần nhất

Trong đề tài này, hỗ trợ phụ nữ là nạn nhân BLGĐ chính là việc hỗ trợ những điều kiện cần và đủ để họ nhận ra được nhu cầu của mình và cung cấp các công cụ, phương tiện thông qua giải pháp “địa chỉ tin cậy”

1.1.6 Khái niệm BL và BLGĐ, các hình thức BLGĐ

Bạo lực gia đình hay còn được gọi là bạo hành gia đình là một trong những hình thức bạo lực trong xã hội và nó đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững

Trang 30

của gia đình cũng như sự phát triển của xã hội Nhận thức rõ và thống nhất về khái niệm bạo lực gia đình sẽ là điều kiện để ngăn chặn và đẩy lùi bạo lực gia đình trong

xã hội

Có nhiều định nghĩa, nhiều quan điểm khác nhau về "bạo lực gia đình" Theo quan niệm của Hiệp hội Luật sư Hoa kỳ: bạo lực gia đình là thuật ngữ chỉ những hình thức ngược đãi mà một thành viên trong gia đình, một người sống chung trong

hộ gia đình, hoặc một bạn tình gây ra cho một thành viên khác trong gia đình, một người chung sống khác, hoặc bạn tình kia

Theo Luật mẫu về bạo lực gia đình của Uỷ ban nhân quyền của Liên Hợp Quốc ngày 02/ 02/ 1996 : "Bạo lực gia đình là tất cả các hành vi lạm dụng thể chất, tinh thần, tình dục dựa trên cơ sở giới đối với một thành viên, một người phụ nữ trong gia đình, từ hành vi đánh đập giản đơn đến gây thương tích nặng, bắt cóc, đe doạ, doạ dẫm, cưỡng bức, quấy rối, lăng nhục bằng lời nói, dùng vũ lực để vào nhà trái pháp luật, phóng hoả, huỷ hoại tài sản, bạo lực tình dục, hiếp dâm trong hôn nhân, bạo lực liên quan đến thách cưới hoặc của hồi môn, cắt bộ phận sinh dục nữ, bạo lực liên quan đến bóc lột mại dâm, bạo lực đối với người giúp việc trong gia đình "[56]

Luật Phòng ngừa và điều chỉnh bạo lực gia đình B.E của Thái Lan quy định:

"Bạo lực gia đình là bất kỳ hành vi nào được thực hiện một cách cố ý nhằm gây ra những thương tích về thân thể, sức khoẻ hoặc tinh thần hoặc các hành vi có khả năng gây nguy hiểm cho thân thể, sức khoẻ hoặc tinh thần của các thành viên hộ gia đình hoặc cưỡng ép lạm dụng quyền lực để các thành viên hộ gia đình phải thực hiện, không thực hiện hoặc phải chấp nhận thực hiện những hành vi sai trái, bỏ mặc"[44]

Theo Luật bảo vệ chống bạo lực gia đình của Bun-ga-ri ngày 29-3-2005:

"Bạo lực gia đình là bất kỳ hành vi bạo lực về thể chất, tinh thần hay tình dục nào,

kể cả những hành vi trên trong giai đoạn chưa đạt, cũng như việc áp đặt hạn chế tự

do và sự riêng tư cá nhân, nhằm vào các cá nhân đang hay đã có quan hệ gia đình hoặc họ hàng sống chung như vợ chồng hoặc sống chung trong một nhà" [10]

Trang 31

Theo khoản 2, Điều 1, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 được Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 21 tháng 11 năm 2007 quy định: "Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia đình" Bao gồm:

Bạo hành thể xác: Những hành vi như đá, đấm, tát tác động trực tiếp đến

sức khỏe nạn nhân Kiểu hành vi này hay xảy ra khi hai bên chênh lệch về sức mạnh thể chất như giữa chồng và vợ, bố mẹ và con cái hoặc con cái và bố mẹ già

Bạo hành tình dục: Ép quan hệ tình dục khi bạn đời không muốn Hành vi

loạn luân giữa cha và con gái, hoặc mẹ và con trai, giữa anh chị em cũng được xếp vào loại này

Bạo hành tinh thần: Chửi bới, mắng nhiếc, im lặng không nói chuyện trong

thời gian dài

Bạo hành xã hội: Ngăn không cho tiếp xúc với gia đình, bạn bè, bao vây

kinh tế nhằm hạn chế các hoạt động mang tính cộng đồng

Các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:

Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;

Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;

Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà

và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau; Cưỡng

Trang 32

đình) phải là thành viên trong gia đình và nạn nhân của bạo lực gia đình là một trong những thành viên còn lại của gia đình đó

+ Thứ hai, bạo lực gia đình được thực hiện bởi lỗi cố ý chứ không thể là lỗi

vô ý

+ Thứ ba, bạo lực gia đình là hành vi gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại

về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình Bạo lực gia đình đang là vấn đề được dư luận xã hội quan tâm sâu sắc

Bạo lực gia đình không phải là vấn đề mang tính địa phương, vùng miền mà là một vấn đề toàn cầu, ở đâu cũng có, từ các nước nghèo, nước đang phát triển cho đến nước giàu có, phát triển mạnh về kinh tế và xã hội Mọi gia đình thuộc mọi tầng lớp của xã hội đều có thể gặp phải tệ nạn này Đối tượng của các hành vi bạo hành gia đình có thể là bất kỳ ai trong đó có cả nam giới nhưng thường là những thành viên yếu đuối, dễ bị tổn thương và trong hầu hết các trường hợp là phụ nữ, người già và trẻ em

Như vậy với đề tài tìm hiểu nhu cầu về địa chỉ tin cậy hỗ trợ phụ nữ là nạn nhân bạo lực gia đình cần làm rõ các khái niệm trên trong quá trình nghiên cứu thông qua các hoạt động nghiên cứu thực tế về nhu cầu của người phụ nữ là nạn nhân bạo lực gia đình trong việc xây dựng “địa chỉ tin cậy” hỗ trợ khi có bạo lực xảy ra

1.2 Các lý thuyết vận dụng

1.2.1 Lý thuyết nhu cầu của Maslow

Maslow nhà khoa học xã hội nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con người vào những năm 1950 Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần

Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu Ông đã đem các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của con người tư thấp đến cao

Trang 33

Hình 1 Theo thang nhu cầu của Maslov

Nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người như

nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục Là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được Đặc biệt là với trẻ em vì chúng phụ thuộc rất

Nhu cầu vật chất :

Thức ăn, nước uống, nơi ở, …

Nhu cầu an toàn xã hội: Được khám chữa bệnh, An toàn thân thể, được sống trong gia đình,được yêu thương…

Nhu cầu được coi trọng : được tôn trọng, không phán xét đến tình trạng bệnh tật

bienphapthuchanh ctxhvoitreemhiv

1 thư

vinh ly

<ly_vinh2006@yahoo.com.vn>

16:58 Ngày

12 tháng

10 năm

2009

Tới: windcolen@gmail.com

Nhu cầu xã hội:

được hòa nhập cùng xã hội

Khẳng định mình mìnhb

ản thân

Trang 34

nhiều vào người lớn để được cung cấp đầy đủ các nhu cầu cơ bản này Ông quan niệm rằng, khi những nhu cầu này chưa được thoả mãn tới mức độ cần thiết để duy trì cuộc

sống thì những nhu cầu khác của con người sẽ không thể tiến thêm nữa

Khi PN bị BLGĐ, họ rơi vào tình trạng không nơi ở, ăn uống không đầy đủ,

nhu cầu tình dục không được đáp ứng Họ bị đuổi, tước đoạt quyền và nhu cầu cơ bản (nhu cầu sinh lý) Do đó, khi bị mất đi nhu cầu tức là họ mong muốn được cung cấp để tồn tại theo lẽ thường Họ có thể tìm đến sự trợ giúp từ chính quyền địa phương, từ người thân, bạn bè xung quanh trong thời gian ngắn, mang tính tạm thời

Do đó, cần có một cơ sở, địa điểm hay địa chỉ tin cậy đáp ứng được đủ nơi ở, ăn uống nhu cầu cơ bản nhất để họ được đáp ứng Đây chính là nhu cầu đầu tiên cũng là cần thiết nhất để họ nghĩ đến những nhu cầu cao hơn

Nhu cầu về an toàn hoặc an ninh: An ninh và an toàn có nghĩa là một môi

trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người Nội dung của nhu cầu an ninh: An toàn sinh mạng là nhu cầu cơ bản nhất, là tiền đề cho các nội dung khác như an toàn lao động, an toàn môi trường, an toàn nghề nghiệp, an toàn kinh tế, an toàn ở và đi lại, an toàn tâm lý, an toàn nhân sự,… Đây là những nhu cầu khá cơ bản và phổ biến của con người Để sinh tồn con người tất yếu phải xây dựng trên cơ sở nhu cầu về sự an toàn Nhu cầu an toàn nếu không được đảm bảo thì công việc của mọi người sẽ không tiến hành bình thường được và các nhu cầu khác sẽ không thực hiện được Do đó chúng ta có thể hiểu vì sao những người phạm pháp và vi phạm các quy tắc bị mọi người căm ghét vì đã xâm phạm vào nhu cầu an toàn của người khác

Có thể thấy rằng, PN bị BL đa số đều bị “tắc” ở bậc nhu cầu này bởi những rủi ro mà họ đang phải đối diện ở trong cuộc sống gia đình (bị đánh đập, chửi rủa, máng nhiếc, thậm chí là giết ) nguy hiểm trực tiếp đến tính mạng của Họ có nhu cầu được sử dụng các dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý và pháp luật: Người bị bạo lực cần được chăm sóc kịp thời khi họ bị đánh đập, gãy tay chân, chân thương ở nhiều mức

độ khác nhau… PN bị BL phải luôn cảnh giác với các rủi ro do người chồng nên không thể tập trung vào việc thỏa mãn các nhu cầu ở bậc cao hơn

Trang 35

Việc hình thành các địa chỉ tin cậy tại cơ sở các thôn, có đơn vị có thẩm quyền đứng ra bảo lãnh và ngăn chặn hành vi tiếp xúc nạn nhân của đối tượng BLGĐ là phương án tối ưu để khắc phục khó khăn để họ có thể đáp ứng được nhu cầu của mình ở mức độ 2 và tiến tới những nhu cầu ở bậc cao hơn

Nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận (tình yêu và sự chấp nhận)

Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần nằm trong xã hội và được người khác thừa nhận

Nhu cầu này bắt nguồn từ những tình cảm của con người đối với sự lo sợ bị

cô độc, bị coi thường, bị buồn chán, mong muốn được hòa nhập, lòng tin, lòng trung thành giữa con người với nhau

Nội dung của nhu cầu này phong phú, tế nhị, phức tạp hơn Bao gồm các vấn đề tâm lý như: Được dư luận xã hội thừa nhận, sự gần gũi, thân cận, tán thưởng, ủng hộ, mong muốn được hòa nhập, lòng thương, tình yêu, tình bạn, tình thân ái là nội dung cao nhất của nhu cầu này Lòng thương, tình bạn, tình yêu, tình thân ái là nội dung lý lưởng mà nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận luôn theo đuổi Nó thể hiện tầm quan trọng của tình cảm con người trong quá trình phát triển của nhân loại Như vậy, có thể thấy được sức mạnh to lớn của nhu cầu được quan hệ và được thừa nhận trong sự phát triển của mỗi cá nhân Nó cũng cho thấy con người cần được yêu thương và thừa nhận hơn là cần thức ăn, quần áo

và chỗ ở cho sự tồn tại của mình

Những người PN bị BL họ thường hay khép mình lại, đặc biệt là những nạn nhân cam chịu Họ sợ nói ra sẽ bị xã hội ruồng bỏ, sợ xấu hổ Nhiều người rơi vào

trạng thái không hòa nhập với cộng đồng (Hương Vũ – Báo an ninh - 30/12/2014)

Do đó, rất cần đến những người biết lắng nghe, chia sẻ Đặc biệt là cần đội ngũ có thẩm quyền có thể thay đổi nhận thức của họ Rằng họ là nạn nhân họ cần được bảo

vệ Không ai khác, cộng đồng xung quanh họ chính là liều thuốc tốt cho nạn nhân bị

BL gia đình Bởi vậy, thay đổi nhận thức của cộng đồng xung quanh và nạn nhân là điều không thể không làm để giải quyết nhu cầu bậc 3 này của PN bị BL Việc hình thành địa chỉ tin cậy tại cơ sở, là địa điểm thích hợp để tuyên truyền, trang bị các kỹ

Trang 36

năng cần thiết cho đối tượng phòng chống BLGĐ và nâng cao nhận thức cho toàn thể nhân dân về cách ứng xư, thái độ khi gặp BLGĐ

Nhu cầu được tôn trọng:

Nội dung của nhu cầu này gồm hai loại: Lòng tự trọng và được người khác tôn trọng

+ Lòng tự trọng bao gồm nguyện vọng muồn giành được lòng tin, có năng lực, có bản lĩnh, có thành tích, độc lập, tự tin, tự do, tự trưởng thành, tự biểu hiện và

tự hoàn thiện

+ Nhu cầu được người khác tôn trọng gồm khả năng giành được uy tín, được thừa nhận, được tiếp nhận, có địa vị, có danh dự,… Tôn trọng là được người khác coi trọng, ngưỡng mộ Khi được người khác tôn trọng cá nhân sẽ tìm mọi cách để làm tốt công việc được giao Do đó nhu cầu được tôn trọng là điều không thể thiếu đối với mỗi con người

PN bị BLGĐ họ có nguyện vọng muốn giành được lòng tin, tự tin, tự do biểu hiện và hoàn thiện mình Họ có nhu cầu được người khác kính nể và tôn trọng mình Khi sự tôn trọng không được đáp ứng, họ cho rằng mình không được người khác chấp nhận nên sinh ra cảm giác cô độc và tự ti Họ có nhu cầu được yêu tương và quan tâm đến người khác Với họ mái ấm gia đình đó là tình yêu thương của người chồng, người con và những người thân trong gia đình Gia

đình là chỗ dựa vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội (Nguyễn Kim Loan, Bài giảng Công tác xã hội với bạo lực gia đình, năm 2013, Trường Đại học Lao động xã hội) Do vậy, các địa chỉ tin cậy tại cơ sở là phù hợp cho

việc lồng ghét vào các hoạt động, buổi tập huấn, chia sẻ giữa người người cùng hoàn cảnh với nhau hoặc giữa nạn nhân với các chuyên gia tâm lý để họ được thỏa mãn các nhu cầu của mình

Nhu cầu phát huy bản ngã (được khẳng định mình):

Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp về nhu cầu của ông Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó

Trang 37

Nội dung nhu cầu bao gồm nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết, nghiên cứu,…) nhu cầu thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài,…), nhu cầu thực hiện mục đích của mình bằng khả năng của cá nhân

Nạn nhân của BLGĐ họ cần được tư vấn tâm lý và biết được các biện pháp ngăn chặn và tự bảo vệ bản thân Đó là biện pháp để họ tự đối phó với mọi tình huống có thể xảy ra trong cuộc sống Là cách mà PN bị BL có thể khẳng định được bản thân mình khỏi những rủi ro trong cuộc sống gia đình khi có BL xảy ra Các địa chỉ tin cậy tại cơ sở

là địa điểm có thể đan xen vào các buổi tư vấn tâm lý và tuyên truyền pháp luật không chỉ cho nạn nhân mà còn cả đối tượng BLGĐ và cho toàn thể nhân dân Để từng bước nâng cao nhận thức của người dân về BLGĐ và vai trò của địa chỉ tin cậy tại cơ sở Như vậy, thuyết này được vận dụng vào đề tài trong quá trình phân tích các nhu cầu cơ bản của con người Đặc biệt đề cao tới các nhu cầu của nạn nhân bị BLGĐ là các nhu cầu an toàn, nhu cầu được hỗ trợ tâm lý, được yêu thương và khẳng định mình Phục

vụ nhu cầu cao nhất là giữ vững cuộc sống bình an và một gia đình hạnh phúc

1.2.2 Lý thuyết nhận thức hành vi

Thuyết trị liệu nhận thức – hành vi hay còn gọi là thuyết trị liệu nhận thức (behavioral cognitive therapy) bởi nền tảng của nó là các ý tưởng hành vi hoặc là trị liệu nhận thức xã hội do sự liên kết của nó với lý thuyết học hỏi xã hội

Nội dung của thuyết: thuyết này cho rằng: chính tư duy quyết định phản ứng chứ không phải do tác nhân kích thích quyết định Sở dĩ chúng ta có những hành vi hay tình cảm lệch chuẩn vì chúng ta có những suy nghĩ không phù hợp Do đó để làm thay đổi những hành vi lệch chuẩn chúng ta cần phải thay đổi chính những suy nghĩ không thích nghi

Mô hình: S -> C -> R -> B

Trong đó: S là tác nhân kích thích, C là nhận thức, R là phản ứng, B là kết quả hành vi

Gỉai thích mô hình: Theo sơ đồ thì S không phải là nguyên nhân trực tiếp của hành vi mà thay vào đó chính nhận thức C về tác nhân kích thích và về kết quả hành

vi mới dẫn đến phản ứng R

Trang 38

Ví dụ: tâm lý của học viên khi có thông báo thanh tra xuống kiểm tra, người thì

lo lắng không biết mình có bị phát hiện đi học hộ, người thì trách móc trước sự khắt khe của thanh tra, người thì nghĩ mình may mắn khi không nghỉ quá buổi học, người thì thấy đúng và ủng hộ => xuất phát từ nhận thức về tác nhân kích thích thanh tra

Quan điểm về nhận thức và hành vi: 2 quan điểm

+ Theo các nhà lý thuyết gia nhận thức- hành vi thì các vấn đề nhân cách hành

vi của con người được tạo tác bởi những suy nghĩ sai lệch trong mối quan hệ tương

tác với môi trường bên ngoài (Aron T Beck và David Burns có lý thuyết về tư duy

méo mó) Con người nhận thức lầm và gán nhãn nhầm cả từ tâm trạng ở trong ra đến hành vi bên ngoài, do đó gây nên những niềm tin, hình tượng, đối thoại nội tâm tiêu cực Suy nghĩ không thích nghi tốt đưa đến các hành vi của một cái tôi thất bại.(ví dụ, đứa trẻ suy nghĩ và chắc mẩm rằng mẹ mình không yêu thương mình bằng em mình, từ

đó đứa trẻ xa lánh mẹ và tỏ thái độ khó chịu với mẹ, không gần gũi…)

+ Hầu hết hành vi là do con người học tập (trừ những hành vi bẩm sinh), đều bắt nguồn từ những tương tác với thế giới bên ngoài, do đó con người có thể học tập các hành vi mới, học hỏi để tập trung nghĩ về việc nâng cao cái tôi, điều này

sẽ sản sinh các hành vi, thái độ thích nghi và củng cố nhận thức

Như vậy, lý thuyết này cho ta thấy rằng cảm xúc, hành vi của con người không phải được tạo ra bởi môi trường, hoàn cảnh mà bởi cách nhìn nhận vấn đề Con người học tập bằng cách quan sát, ghi nhớ và được thực hiện bằng suy nghĩ và quan niệm của mỗi người về những gì họ đã trải nghiệm

Như vậy, thuyết này mang tính nhân văn cao cả và đúng đắn khi đã đặt đúng trọng tâm vai trò của chủ thể con người trong hành vi của họ (khác với thuyết hành

vi coi trọng yếu tố tác nhân kích thích; thuyết học tập xã hội coi trọng yếu tố thói

Trang 39

sự tồn tại của các địa chỉ tin cậy nhằm hỗ trợ nạn nhân tại cơ sở khi có BLGĐ xảy ra vào trong ý thức của đối tượng là nạn nhân của BLGĐ một cách hiệu quả

Ngoài ra, thuyết còn được vận dụng trong quá trình tương tác vs các bộ phận

trong cơ cấu nhà tạm lánh về việc giáo dục các kỹ năng phòng chống và xóa bỏ hành vi bạo lực của đối tượng thụ hưởng gián tiếp là các anh chồng có hành vi BL

1.2.3 Lý thuyết Xung đột xã hội

Thuyết xung đột xã hội bắt nguồn từ thuyết xung đột của nhà triết học nổi tiếng đồng thời là một nhà xã hội học người Đức Karl Marx ( 1818 – 1883) Sau ông, các học giả khác như Gluckman, Gumplovicz, Pareto, Simmel, Dahrendorf và Collins… đã phát triển thuyết này theo hướng sâu hơn

Thuyết xung đột nhấn mạnh mâu thuẫn là một phần không tránh được trong mối quan hệ giữa con người với con người Đồng thời thuyết cũng cho rằng xung đột và mâu thuẫn đóng góp vào sự thay đổi không ngừng của xã hội Thuyết này chủ yếu dùng

để giải thích mâu thuẫn giữa các tầng lớp xã hội, giữa người giàu và người nghèo, hoặc giữa nhóm xã hội với nhau Giai cấp, quyền lực chính trị và địa vị chính trị là những yếu

tố được đề cập trong thuyết xung đột Đối với thuyết này, tất cả các thể chế chính trị, luật pháp và truyền thống trong xã hội được tạo ra để hỗ trợ và bảo vệ người có quyền lực, hoặc nhóm người mà được xem như là người có địa vị cao hơn trong xã hội

* Ưu điểm của xung đột xã hội :

Xung đột là xây dựng có kết quả trong các vấn đề , lối kéo được mọi người , đem lại sự truyền thống tốt, giải phóng cảm xúc, xây dựng sự hợp tác, giúp cá nhân phát triển Xung đột mâu thuẫn có nguồn gốc tạo ra sự phát triển

Giải quyết xung đột giúp cho mọi người hiểu nhau hơn, về những giá trị, nhu cầu, và nhận thức của người khác trong nhóm sẽ thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tương tác giũa các thành viên và đem lại hiệu quả cao trong công việc

Thông qua giải quyết xung đột giúp cho nhóm kiểm tra lại tiến trình của mình, đồng thời, các nhu cầu, mục tiêu của nhóm sẽ dần thích hợp với các thành viên

* Nhược điểm :

Trang 40

- Giải quyết xung đột thường mất nhiều thời gian, kéo dài thời gian căng thẳng dẫn đến tâm lý làm việc căng thẳng luôn trong trạng thái strees lo lắng làm sao để vượt người khác

- Làm hạn chế việc sử dụng nguồn lực và giảm hiệu quả thời gian

Mâu thuẫn xung đột xảy ra mà không giải quyết được do sự chống đối và ngăn cản học hỏi trong quá trình xảy ra mâu thuẫn và giải quết mâu thuẫn từ đó làm cản trở các vị trí và lúc này các quyết định trở nên kém chất lượng

Trong đề tài này, nhân viên xã hội vận dụng thuyết vào để nhận diện và phân tích được các nguyên nhân dẫn đến xung đột BLGĐ tại địa phương Từ đó, tìm ra những hậu quả và nhu cầu của các đối tượng, đặc biệt là PN bị BL Từ đó, đưa ra đề xuất, biện pháp trong việc giải quyết vấn đề BLGĐ một cách hiệu quả

NVXH cũng vận dụng phương pháp giải quyết xung đột trong thuyết này để giải quyết mâu thuẫn khi hoạt động nhóm của nhóm nòng cốt Góp phần tăng cường khả năng đối phó với sự mạo hiểm làm tăng thêm hiệu quả tối đa nguồn lực giúp nhóm tạo thêm nhiệm vụ và duy trì chức năng của nhóm nòng cót

NVXH biết được các kỹ năng và cách thức điều chỉnh xung đột một cách sáng tạo, giúp các thành viên nhóm hiểu được các kỹ năng cơ bản, cách thức giải quyết mâu thuẫn giúp các thành viên trong nhóm có mối quan hệ gắn bó với nhau hơn và đạt được hiệu quả cao trong công việc

Vận dụng nội dung thuyết, NVXH xác định đúng vai trò, trách nhiệm và mục tiêu của từng người trong nhóm để tạo nên sự thống nhất về mục tiêu phát triển trong nhóm nòng cốt

Có thể nói, thuyết xung đột xã hội có vai trò rất quan trọng góp phần vào thành công của đề tài Giúp NVXH nhìn nhận và phân tích nguyên nhân của các vụ bạo lực gia đình tại địa bàn nghiên cứu Từ đó lên biện pháp can thiệp kịp thời theo nhu cầu, nguyện vọng của đối tượng thụ hưởng

1.3 Cơ sở pháp lý

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã dành nhiều sự quan tâm tới

việc phòng, chống bạo lực gia đình và đã ban hành nhiều đạo luật trực tiếp và gián

Ngày đăng: 26/12/2018, 10:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phương Thảo, http://citinews.net/phap-luat/im-lang--cam-chiu-la-tao-dieu-kiencho-bao-luc-gia-dinh--5P2PFPA/, 11/2013 Link
1. Cơ quan Liên Hợp Quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho Phụ nữ (UN Women), (2012), Báo cáo hoàn thiện về ước tính thiệt hại kinh tế do bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại Việt Nam Khác
2. Phạm Huy Dũng, Tập bài giảng Lý thuyết Công tác xã hội Khác
3. Đại hội đồng Liên hợp quốc, Nghiên cứu về Bạo lực với phụ nữ, Báo cáo của Tổng thư ký Liên hợp quốc Khác
4. Hội phụ nữ xã Tiên Nguyên, Báo cáo kết quả công tác hội và phong trào phụ nữ xã năm 2013 - 2017 Khác
5. Hội phụ nữ xã Tiên Nguyên, Báo cáo kết quả phối hợp tuyên truyền công tác phòng chống bạo lực gia đình năm 2016 Khác
6. Trần Thi ̣Minh Đức (2012), Giáo trình Tham vấn tâm lý , Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
7. Trần Văn Kham, Tập bài giảng Lý thuyết Công tác xã hội Khác
8. Nguyễn Thị Hòa (2007), Giới, việc làm và đời sống gia đình, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Khác
9. Nguyễn Hồi Loan, Nguyễn Thị Kim Hoa (chủ biên) (2014), Giáo trình Công tác xã hội đại cương Khác
10. Lê Ngọc Lân, Nguyễn Hữu Minh, Nguyễn Thị Mai Hoa, Trần Thị Cẩm Nhung (2006), Bạo lực của chồng đối với vợ ở Việt Nam trong những năm gần đây , Tạp chí Khoa học về phụ nữ, (3), tr 3-11 Khác
11. Vũ Mạnh Lợi, Vũ Tuấn Huy, Nguyễn Hữu Minh (1999), Bạo lực trên cơ sở giới, Viện nghiên cứu gia đình và giới Khác
12. Vũ Mạnh Lợi và Magali Romedenne (2006), Bạo lực gia đình: Sự thay đổi ở Việt Nam, Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA), Hà Nội Khác
13. Luật Bình đẳng giới (2006), Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Khác
14. Luật Hôn nhân và Gia đình (sửa đổi) (2000), Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Khác
15. Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Khác
16. Lê Thị Quý (2000), Bạo lực gia đình ở Việt Nam, Asia Pacific Forum on Women, Law and Development (Diễn đàn Châu Á Thái Bình Dương về Phụ nữ , Luật Pháp và Phát triển – APWLD) Khác
17. Tổng cục thống kê phối hợp với tổ chức Liên hợp quốc tại Việt Nam (2010), Nghiên cứu quốc gia về Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam Khác
18. Theo tài liệu hướng dẫn thực hiện trợ giúp pháp lý trong các vụ việc liên quan đến bạo lực gia đình) Khác
19. Nguyễn Văn Thanh (2014), Tham vấn cá nhân cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tại ngôi nhà Bình Yên – Trung ương hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w