Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN Các thước đo bất bình đẳng trong quan hệ PPTN • Đường Lorenz • Hệ số GINI • Tiêu chuẩn “40” của WB • Tỷ số Kuznets • Hệ số giãn cách t
Trang 1CHƯƠNG 3
PHÚC LỢI CHO CON NGƯỜI
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
CHƯƠNG 3
PHÚC LỢI CHO CON NGƯỜI
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Trang 2NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.1 Đánh giá phúc lợi con người
3.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
3.3 Bất bình đẳng giới
3.4 Nghèo khổ ở các nước đang phát triển
Trang 3TÀI LIỆU THAM KHẢO
• Slide bài giảng;
• ThS Lê Việt An, Nguyễn Thị Kim Hiền (2012), Bàigiảng Kinh tế phát triển, Tài liệu lưu hành nội bộ: KhoaTC-NH&QTKD, Trường ĐH Quy Nhơn: Chương 3;
• PGS TS Ngô Thắng Lợi (2012), Giáo trình Kinh tếphát triển, NXB ĐH Kinh tế quốc dân: Chương 5
Trang 43.1 Đánh giá phúc lợi con người
• Từ 1970s, hầu hết LDCs đã chuyển hướng ưu tiên trong quátrình PTKT: từ tập trung vào TTKT sang chú ý hơn các mụctiêu KT-XH rộng lớn như: xoá đói giảm nghèo, giảm chênhlệch thu nhập…
• Nguyên nhân chuyển hướng: Tỷ lệ tăng trưởng cao, nhưng
sự tăng trưởng mang lại ít lợi ích cho người nghèo
• Một số dẫn chứng: Brazil; khoảng cách thu nhập…
Trang 53.1 Đánh giá phúc lợi con người
Trang 63.1 Đánh giá phúc lợi con người
Trang 73.1 Đánh giá phúc lợi con người
Định nghĩa: Phân phối thu nhập là cách thức mà thu nhậpquốc dân của một nước được chia cho công dân của nướcđó
Các phương thức phân phối thu nhập:
– Phân phối lần đầu
– Phân phối lại
Phân phối thu nhập (PPTN)
Trang 8Phân phối lần đầu
méo” giá nhân tố (ưu đãi đặc
biệt về thuế, lãi suất…)
tạo TTKT cao hơn, nghèo
đói giảm, công bằng tăng
Phân phối lại
• Được thực hiện thông qua
các chính sách thuế, các
chương trình trợ cấp và chi
tiêu của Chính phủ giảm
bớt TN của người giàu, tăng
TN của người nghèo
Đây không phải là phươngthức cơ bản để nâng cao TNcủa đại bộ phận dân cư
3.1 Đánh giá phúc lợi con người
Phân phối thu nhập
Trang 93.1 Đánh giá phúc lợi con người
• “Không xã hội nào có thể phồn thịnh và hạnh phúc nếutrong xã hội đó phần lớn dân chúng là nghèo đói và khổcực.” (Adam Smith)
• “Tăng trưởng sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu nó không được thểhiện vào trong cuộc sống của con người” (UN, HDR 1995)
Quan điểm về phát triển con người (UN)
Trang 103.1 Đánh giá phúc lợi con người
Mục đích của phát triển:
• Ở cấp độ phát triển: 3 kỹ năng cơ bản: (1) có cuộc sốngtrường thọ, mạnh khỏe; (2) được hiểu biết; (3) có được cácnguồn lực cần thiết cho một mức sống tốt
• Ở cấp cao hơn, bao gồm: sự tự do kinh tế, chính trị, xã hội
để con người có cơ hội trở thành người lao động sáng tạo,
có năng suất, được tôn trọng cá nhân và được đảm bảoquyền con người
Phát triển con người là một quá trình mở rộng khả năng
lựa chọn của dân chúng trên 2 mặt: (1) sự hình thành các năng lực của con người và (2) việc sử dụng các năng lực đó
cho các hoạt động kinh tế, giải trí, văn hóa, xã hội, chính trị.1/18/2016 10
Quan điểm về phát triển con người (UN)
Trang 113.1 Đánh giá phúc lợi con người
Chỉ số phát triển con người (HDI)
(HDR 2013)
Trang 123.1 Đánh giá phúc lợi con người
Chỉ số phát triển con người (HDI)
1 Life Expectancy Index (LEI)
= −−
3 Income Index (II)
= ln(ln( ) − ln() − ln( ))
Trang 133.1 Đánh giá phúc lợi con người
Chỉ số phát triển con người (HDI)
(HDR 2013)
Trang 143.1 Đánh giá phúc lợi con người
Chỉ số phát triển con người (HDI)
(HDR 2013)
Trang 153.1 Đánh giá phúc lợi con người
Chỉ số phát triển con người (HDI)
(HDR 2013)
Trang 163.1 Đánh giá phúc lợi con người
Chỉ số phát triển con người (HDI) p.171
(HDR 2014)
Trang 173.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Các thước đo bất bình đẳng trong quan hệ PPTN
Trang 183.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Khái niệm về bình đẳng trong thu nhập
• Bình đẳng về thu nhập là việc mọi cá nhân đều nhận đượckhoản thu nhập như nhau
• Bình đẳng theo định nghĩa này không bao giờ xảy ra trongthực tế, nhưng là một tiêu chuẩn để đánh giá thực trạngphân phối thu nhập của một quốc gia hay một xã hội
Trang 193.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Các thước đo bất bình đẳng trong quan hệ PPTN
• Đường Lorenz
• Hệ số GINI
• Tiêu chuẩn “40” của WB
• Tỷ số Kuznets
• Hệ số giãn cách thu nhập
Trang 203.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Các thước đo bất bình đẳng trong quan hệ PPTN
Đường Lorenz: Khái niệm
Nhà thống kê người Mỹ - C Lorenz (1905)
Đường Lorenz là đường cong biểu diễn trên đồ thị mối
quan hệ giữa tỷ lệ phần trăm thu nhập cộng dồn với tỷ
lệ phần trăm dân số cộng dồn được sắp xếp thành các
nhóm dân cư có tỷ lệ đều nhau với mức thu nhập từ
thấp đến cao, qua đó chỉ rõ được mức độ bất bình đẳng
trong phân phối thu nhập.
Trang 213.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Các thước đo bất bình đẳng trong quan hệ PPTN
Đường Lorenz: Hình vẽ
Trang 223.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Các thước đo bất bình đẳng trong quan hệ PPTN
Đường Lorenz: Cách vẽ
• Sắp xếp thu nhập của dân cư theo thứ tự tăng dần.
• Chia dân số thành các nhóm có số dân bằng nhau, mỗi nhóm được gọi là một phân vị thông thường người ta hay chia dân số thành 5 nhóm, mỗi nhóm chứa 20% dân số, được gọi là ngũ phân vị.
• Xếp các phân vị dân cư này dọc theo cạnh đáy (trục hoành) và phần trăm thu nhập tương ứng của các nhóm đó vào cạnh bên (trục tung) của hình vuông Lorenz Nối các điểm kết hợp giữa phần trăm cộng dồn dân số và phần trăm cộng dồn thu nhập ta được đường Lorenz.
Trang 233.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Các thước đo bất bình đẳng trong quan hệ PPTN
Đường Lorenz: Ví dụ
Cho số liệu của Việt Nam và Thái Lan năm 2004 như sau:
Vẽ đường Lorenz của mỗi quốc gia.
Tên nước
20% dân số
Thu nhập thấp nhất
Thu nhập thấp
Thái Lan 4,3 7,8 11,9 19,7 56,3
Trang 243.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Các thước đo bất bình đẳng trong quan hệ PPTN
Đường Lorenz: Một số trường hợp
• Đường 45 0 phản ánh quan hệ phân phối bình đẳng tuyệt đối và
còn được gọi là đường phân phối lý thuyết.
• Bình đẳng tuyệt đối: khi đường Lorenz trùng với đường 450.
• Bất bình đẳng tuyệt đối trong PPTN : khi đường Lorenz trùng với đường OCD.
• Có bất bình đẳng trong phân phối thu nhập: khi đường Lorenz nằm giữa đường phân phối lý thuyết và đường OCD.
Trang 253.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Các thước đo bất bình đẳng trong quan hệ PPTN
Đường Lorenz: Ý nghĩa và hạn chế
• Ý nghĩa: Đường Lorenz càng cách xa đường 450 thì
mức độ bất bình đẳng càng lớn hay phần trăm thu nhập người nghèo nhận được sẽ giảm đi.
• Hạn chế: (1) Không thể lượng hóa được sự bất bình
đẳng; (2) Các đường Lorenz có thể cắt nhau không thể xếp hạng mức độ bất bình đẳng trong PPTN.
Trang 263.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Các thước đo bất bình đẳng trong quan hệ PPTN
Hệ số GINI: Công thức tính
Do nhà thống kê người Ý, Corado Gini, đưa ra năm
1912 và được tính dựa trên đường Lorenz.
Công thức tính:
= ( ) + ( ) = 2 ∗ S(A)
G là hệ số GINI.
S(A) là diện tích nằm giữa đường 450 và đường Lorenz.
S(B) là diện tích phần còn lại nằm dưới đường Lorenz.
Hãy tính hệ số GINI cho Việt Nam và Thái Lan
Trang 273.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Các thước đo bất bình đẳng trong quan hệ PPTN
Hệ số GINI: Các trường hợp
• G = 0: hoàn toàn bình đẳng trong PPTN
• G = 1: hoàn toàn bất bình đẳng trong PPTN
• 0 < G < 1: có xuất hiện tình trạng bất bình đẳng trong
Trang 283.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Các thước đo bất bình đẳng trong quan hệ PPTN
Hệ số GINI: Ý nghĩa và hạn chế
• Ý nghĩa: Đã khắc phục được hạn chế của đường Lorenz
• Hạn chế: (1) Không cho biết mức độ trầm trọng về bất bình
đẳng trong PPTN; (2) Dựa vào hệ số GINI không cho kếtluận nhất quán nếu chúng bằng nhau nhưng có mức độPPTN giữa các nhóm dân là khác nhau; (3) Không cho phépphân tách hệ số GINI theo các phân nhóm
Trang 293.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Các thước đo bất bình đẳng trong quan hệ PPTN
Trang 303.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Các thước đo bất bình đẳng trong quan hệ PPTN
Một số thước đo khác
(1) Tiêu chuẩn “40” của WB: Tỷ lệ thu nhập chiếm trong
tổng thu nhập dân cư của 40% dân số có mức thu nhập thấp nhất trong xã hội
– Nếu > 17% : tình trạng bất bình đẳng chấp nhận được.– Nếu từ 12% đến 17%: tình trạng bất bình đẳng tương đối.– Nếu < 12%: là tình trạng bất bình đẳng cao
Trang 311/18/2016 31
Trang 323.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Các thước đo bất bình đẳng trong quan hệ PPTN
Một số thước đo khác
(2) Tỷ số Kuznets: Tỷ trọng thu nhập của x% dân số giàu
nhất/tỷ trọng thu nhập của y% dân số nghèo nhất
(3) Hệ số giãn cách thu nhập: nếu x = y
Hệ số giãn cách càng lớn, tình trạng bất bình đẳng càng
cao.
Trang 331/18/2016 33
Trang 343.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Các thước đo bất bình đẳng trong quan hệ PPTN
Trang 353.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Các mô hình về sự bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế
a Mô hình “chữ U ngược” của Simon Kuznets
Simon Kuznets, nhà kinh tế học người Mỹ (1955, 1963)
Nghiên cứu mối quan hệ giữa thu nhập bình quân đầu người
và tình trạng bất bình đẳng trong PPTN
Phương pháp: Dùng tỷ số giữa tỷ trọng thu nhập của nhóm20% giàu nhất/thu nhập của nhóm 60% nghèo nhất (Tỷ sốKuznets)
Kuznets đưa ra giả thuyết: Bất bình đẳng tăng lên ở giaiđoạn đầu và giảm ở giai đoạn sau, khi lợi ích của tăngtrưởng kinh tế lan tỏa rộng hơn (đồ thị chữ U ngược)
Trang 363.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Các mô hình về sự bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế
a Mô hình “chữ U ngược” của Simon Kuznets
Kết quả nghiên cứu của Paukert (1973), khảo sát 56 nước có GDP/người khác nhau cho thấy
Trang 373.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Các mô hình về sự bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế
a Mô hình “chữ U ngược” của Simon Kuznets
Hạn chế:
Không giải thích được
những nguyên nhân cơ bảntạo ra sự bất bình đẳng
trong quá trình tăng trưởng
Không giải thích được xu
thế thay đổi khác nhau giữacác nước có các chính sáchkhác nhau tác động đến tăng
trưởng và bất bình đẳng
Trang 383.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Các thước đo bất bình đẳng trong quan hệ PPTN
Trang 393.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Các mô hình về sự bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế
b Mô hình tăng trưởng trước, bình đẳng sau của A Lewis
Đồng ý với Kuznets về mô hình chữ U ngược: bất bình đẳng tăng ở giai đoạn đầu sau đó giảm khi đạt được mức độ tăng trưởng và phát triển nhất định.
Giải thích nguyên nhân của xu thế này: Lúc đầu, LĐ dư thừa
trong NN được thu hút vào CN nhưng chỉ được trả lương ở mức
tối thiểu, còn nhà tư bản có thu nhập được tăng cao do (1) quy
mô mở rộng và (2) lao động của công nhân đem lại ngày càng
nhiều giá trị thặng dư; Giai đoạn sau, khi LĐ được thu hút hết và trở nên khan hiếm hơn + nhu cầu sử dụng ngày càng nhiều LĐ
lương tăng lợi nhuận tư bản giảm BBĐ giảm.
BBĐ về thu nhập không chỉ là kết quả của TTKT, mà còn là điều kiện cần để có TTKT.
Trang 413.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Các mô hình về sự bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế
c Mô hình tăng trưởng đi đôi với bình đẳng của H Oshima
Cho rằng có thể hạn chế BBĐ ngay từ giai đoạn đầu củatăng trưởng kinh tế
Biện pháp:
- Ban đầu, cải thiện khoảng cách về thu nhập giữa thànhthị và nông thôn dựa trên chính sách cải cách ruộng đất, trợgiúp của Nhà nước về giống, kỹ thuật, mở rộng ngành nghề đểcải thiện thu nhập ở nông thôn;
- Sau đó, cải thiện khoảng cách về thu nhập giữa xínghiệp có quy mô lớn và quy mô nhỏ ở thành thị, giữa trangtrại lớn và trang trại nhỏ ở nông thôn
Trang 423.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Các mô hình về sự bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế
d Mô hình phân phối lại cùng với tăng trưởng kinh tế của WB
Phân phối lại cùng với TTKT là cách thức phân phối lại cácthành quả của TTKT sao cho cùng với thời gian, phân phốithu nhập dần được cải thiện hoặc ít nhất là không xấu đitrong khi TTKT vẫn tiếp tục
Chính sách phân phối lại thu nhập:
Phân phối lại tài sản: cải cách ruộng đất, tăng cường cơ hội giáo dục cho nhiều người, tín dụng nông thôn, chính sách tiêu thụ
nông sản, chính sách công nghệ;
Phân phối lại từ tăng trưởng: thuế thu nhập, trợ cấp, giảm trừ
chi phí cho con em nông thôn…
WB đánh giá dựa trên chỉ tiêu như: 1% tăng trong GDP làm giảm bao nhiêu % số người nghèo
Trang 43 Các khía cạnh của bình đẳng giới: (1) được trang bị cácnăng lực phát triển con người; (2) không có sự phân biệtnam nữ trong các hoạt động KT-XH; (3) bình đẳng tronghưởng thụ các kết quả/lợi ích XH.
Trang 443.3 Bất bình đẳng giới
Thước đo bình đẳng giới
a Chỉ số phát triển giới (GDI – Gender Development Index):
GDI đo lường khoảng cách phát triển giữa nam và nữ trên ba phương diện phát triển con người (tương tự như HDI), bao gồm: sức khoẻ (đo lường bằng tuổi thọ trung bình), giáo dục (đo lường bằng số năm đến trường kỳ vọng cho trẻ em và số năm đi học
trung bình cho người lớn từ 25 tuổi trở lên) và thu nhập, nhưng
có sự điều chỉnh cho từng giới.
Mức độ phát triển không đồng đều về giới tính được đo bằng sự
chênh lệch giữa HDI và GDI.
GDI giảm khi các thành tựu phát triển của nam và nữ suy giảm
hay sự phát triển không đồng đều giữa nam và nữ tăng lên, khi
đó GDI < HDI.
Ví dụ: HDR 2014, pp 188
Link: http://hdr.undp.org/en/content/gender-development-index-gdi
Trang 453.3 Bất bình đẳng giới
Thước đo bình đẳng giới
a Chỉ số phát triển giới (GDI – Gender Development
Index):
Trang 463.3 Bất bình đẳng giới
Thước đo bình đẳng giới
b Thước đo quyền lực theo giới tính (GEM – Gender Empowerment Measure)
GEM dùng để đánh giá những tiến bộ trong việc nâng cao
vị thế của giới (đặc biệt là giới nữ) về kinh tế, chính trị,khoa học kỹ thuật
Các yếu tố: (1) Mức độ tham gia hoạt động chính trị và cóquyền quyết định được đo bằng tỷ lệ số ghế trong Quốc hộicủa nam hay nữ; (2) Tham gia các hoạt động kinh tế, khoahọc công nghệ và có quyền quyết định được đo bằng tỷ lệnam và nữ đảm nhiệm các vị trí quản lý, điều hành và tỷ lệnam và nữ đảm nhiệm các vị trí quản lý trong ngành kỹthuật; (3) quyền đối với các nguồn lực kinh tế được đo bằngtỷ lệ thu nhập ước tính của nam và nữ trong tổng thu nhập
Trang 473.3 Bất bình đẳng giới
Thước đo bình đẳng giới
b Thước đo quyền lực theo giới tính (GEM – Gender Empowerment Measure)
GEM càng lớn chứng tỏ XH càng quan tâm đến sử dụngnăng lực của nam và nữ để khai thác các cơ hội của cuộcsống
Khi đánh giá cần kết hợp xem xét GDI và GEM
Ví dụ: HDR 2008
Trang 483.3 Bất bình đẳng giới
Thước đo bình đẳng giới
c Chỉ số bất bình đẳng giới (GII – Gender Inequality Index):
GII (bắt đầu từ HDR 2010) phản ánh sự bất lợi của phụ nữtrên 3 phương diện: (1) sức khoẻ sinh sản; (2) quyền lực; và(3) thị trường lao động Chỉ số này phản ánh khá tổng hợpsự bất bình đẳng giới trong các quốc gia, là cơ sở để điềuchỉnh các yếu tố liên quan đến sự thiếu hụt của phụ nữ vềcác phương diện của phát triển con người
GII thay đổi từ 0 (khi nam và nữ là khá bình đẳng) đến 1 (cósự bất bình đẳng giữa nam và nữ)
Phương pháp tính: HDR 2013 technotes
Ví dụ: HDR 2014, pp.184
Link: gii
Trang 49http://hdr.undp.org/en/content/gender-inequality-index-3.3 Bất bình đẳng giới
Tóm tắt các kết quả nghiên cứu của UNDP về GDI và GEM
Sự bất bình đẳng giới không phụ thuộc vào mức thu nhậphoặc giai đoạn phát triển;
Thu nhập cao không phải là điều kiện tiên quyết để tạo ra cơhội cho phụ nữ;
Trong những thập kỷ qua dù đã có những tiến bộ về sự bìnhđẳng giới nhưng sự phân biệt giới vẫn còn tồn tại trên cácphương diện của cuộc sống tại các nước khác nhau trên thếgiới