Với 90% số người dân tự cho mình thuộc tầng lớp trung lưu và chỉ còn lại 10% là thuộc tầng lớp dưới, Nhật Bản có thể được coi như là một nước khá thành công trong việc giải quyết vấn đề
Trang 1CÁC CHÍNH SÁCH VỀ CHẾ ĐỘ PHÚC LỢI XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI
CÓ THU NHẬP THẤP Ở NHẬT BẢN
Tăng trưởng kinh tế luôn được xem như là một tiền đề quan trọng nhằm nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho nhân dân Song tăng trưởng kinh tế cũng có mặt trái của nó Tăng trưởng kinh tế sẽ dẫn sự chênh lệch về mức sống giữa người
có thu nhập cao và người có thu nhập thấp Và trong bất kỳ một xã hội nào, sự chênh lệch này là không thể tránh khỏi, đặc biệt ở những nước có nền kinh tế phát triển Thực tế cho thấy kinh tế càng phát triển thì biên độ chênh lệch này càng lớn Nhật Bản là một cường quốc về kinh tế duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao suốt nhiều thập kỷ, do vậy mức thu nhập bình quân đầu người được tăng lên nhanh chóng và trở thành một trong những nước mà người dân có cuộc sống cao và
ổn định Tăng trưởng và thu nhập cao cùng với các chế độ tiền lương lao động theo thâm niên, tuyển dụng suốt đời nhìn bề ngoài dễ cho ta suy đoán là người dân Nhật Bản không phải lo lắng gì đến thu nhập và cuộc sống
Song trên thực tế, Nhật Bản cũng không thể nằm ngoài quy luật chung Trong
xã hội Nhật Bản cũng có người giàu và người nghèo, có người thu nhập cao và có người thu nhập thấp Nhưng một điều dễ nhận thấy là mức độ chênh lệch giữa người giàu và người nghèo ở Nhật Bản không thể hiện rõ như ở Mỹ hay một số nước châu Âu Với 90% số người dân tự cho mình thuộc tầng lớp trung lưu và chỉ còn lại 10% là thuộc tầng lớp dưới, Nhật Bản có thể được coi như là một nước khá thành công trong việc giải quyết vấn đề phúc lợi đối với người có thu nhập thấp Như chúng tôi đã đề cập ở phần trước, hỗ trợ cho người nghèo cũng là một nội dung của phúc lợi xã hội Tuy nhiên, hiện nay việc quan niệm thế nào là người nghèo vẫn còn là đề tài được tranh luận chưa thống nhất Vì vậy chúng tôi tạm sử dụng khái niệm người có thu nhập thấp để phân tích thực trạng và các biện pháp giải quyết phúc lợi xã hội đối với đối tượng này Còn chuẩn mực để hiểu thế nào là người có thu nhập thấp chúng tôi căn cứ vào luật năm 1946, phương pháp xác định chuẩn mực sống năm 1948, tài liệu của Cục bảo hộ xã hội Bộ Y tế ấn hành năm
1992, trong đó có đưa ra chuẩn mực về “mức sống tối thiểu cho một hộ gia đình” Vậy Nhật Bản đã đưa ra những biện pháp và chính sách gì nhằm hỗ trợ cho những người có thu nhập thấp và làm giảm sự chênh lệch giữa hai nhóm người này?
1 Thực trạng người có thu nhập thấp ở Nhật Bản
Trang 2Trước hết chiến tranh thế giới thứ 2, Nhật Bản là một nước nông nghiệp với 90% dân số làm nghề nông, đối với một đất nước phải chịu nhiều thiên tai như động đất và núi lửa thì việc phát triển nông nghiệp là vô cùng khó khăn Một số chính sách nông nghiệp vẫn còn duy trì từ thời phong kiến, như chế độ tô thuế, đã làm cho đời sống người nông dân rất vất vả dù họ đã phải làm việc cật lực mà vẫn không đủ ăn Vào thời kỳ này, người nông dân chính là tầng lớp thấp kém nhất trong xã hội Nhật Bản, mặc dù họ là lực lượng chính sản xuất ra lúa gạo để nuôi cả nước Nhật
Chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, Nhật Bản bị tàn phá vô cùng nặng nề Lúc này, với quyết tâm khôi phục lại đất nước từ đống tro tàn và đổ nát, mọi người dân Nhật Bản bắt đầu lao vào công cuộc khôi phục và xây dựng lại đất nước Các nhà máy, xí nghiệp hoạt động trở lại và nhu cầu về sức lao động tăng lên nhanh chóng Một mặt, sự khan hiếm lực lượng lao động ở đô thị đã thu hút lực lượng lao động ở nông thôn Mặt khác, do cơ giới hoá và công nghiệp hoá nông nghiệp cũng đã tạo
ra một lực lượng lao động dư thừa ở nông thôn Số lao động dư thừa này đã di chuyển ra thành phố lớn, vào làm việc tại các xí nghiệp và nhà máy và họ trở thành những người công nhân “cổ xanh” Ở giai đoạn này có một thực trạng là lực lượng lao động ở nông thôn còn lại chủ yếu là ông bà già, phụ nữ và trẻ em Bởi vì nam giới và thanh niên đều đổ ra thành thị để tìm kiếm việc làm với đồng lương cao Quá trình cơ giới hoá và hiện đại hoá nông nghiệp, một mặt đã góp phần làm giảm nhẹ bớt lao động cho người nông dân Người nông dân ngoài công việc chính
là trồng lúa có thể làm thêm những công việc phụ khác hoặc ra thành phố để tìm kiếm việc làm thêm Cho nên, thực chất thu nhập của người nông dân được tăng lên nhiều do có công việc làm phụ thêm vào lúc nhàn, cùng với chính sách bảo hộ giá lúa gạo của nhà nước mà người nông dân hầu như không phải lo lắng về vụ mùa Được mùa hay mất mùa, Nhà nước vẫn thu mua lúa gạo của nông dân với một mức giá nhất định Chính điều này đã giúp cho cuộc sống của người nông dân được ổn định và phần nào còn sung túc hơn người dân đô thị lúc bấy giờ Điều này được thể hiện qua Bảng 25, mô tả tỷ lệ sở hữu các tiện nghi sinh hoạt gia đình giữa nông thôn và đô thị
Trong khi đời sống ở nông thôn được cải thiện và người nông dân có vẻ nông nhàn hơn thì ở đô thị, cuộc sống của người dân dường như vất vả và bận rộn hơn Sau chiến tranh, vào thời kỳ khôi phục đất nước, tất cả mọi người dân Nhật Bản đều có việc làm và tập trung hết sức lực cho công cuộc tái thiết đất nước Vào thời
kỳ đó từ bên ngoài nếu quan sát xã hội Nhật Bản có thể thấy cả xã hội Nhật Bản
Trang 3như một bầy ong chăm chỉ, đang cần mẫn cố gắng từng ngày, từng giờ để xây dựng lại tổ ấm của mình Có lẽ trong một xã hội như vậy thì không thể có người nghèo? Qua đồ thị 1 ta có thể thấy rằng tỷ lệ người có thu nhập thấp (hay những người thuộc tầng lớp hạ lưu) vào năm 1958 chiếm khoảng 17% dân số Trong quá trình tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ người có mức sống thấp ngày càng giảm đi, đến đầu những năm 1990 chỉ còn chiếm vào khoảng 6% dân số Nhưng nếu xét về mức chênh lệch giữa người có thu nhập cao (hay tầng lớp thượng lưu) và người có thu nhập thấp (hay tầng lớp hạ lưu) thì có một khoảng cách khá lớn, khoảng hơn 2 lần
Bảng 1: Tỷ lệ sở hữu tiện nghi sinh hoạt gia đình
(Đơn vị tính theo một hộ gia đình, % )
TV
Ô tô
4,3 97,2 98,3 88,7 55,9
17,4 99,2 99,3 97,6 74,5
31,3 98,1 97,7 99,8 85,4
40,3 98,1 99,2 100,0 88,6
TV
Ô tô
19,3 16,6 97,5 90,5 38,9
42,9 99,1 98,7 98,3 54,2
54,8 98,5 98,1 99,1 65,3
66,4 98,2 99,6 99,4 76,0
Nguồn: Theo báo cáo điều tra về “Xu hướng tiêu dùng của các hộ gia đình” và
“Xu hướng tiêu dùng và tiết kiệm” của EPA
Trong thực tế, số người có mức sống thấp cần phải hỗ trợ cuộc sống biến động tuỳ theo tình hình kinh tế và xã hội Số đông chủ yếu thuộc đối tượng này là người già, gia đình bà mẹ - trẻ em, thương bệnh binh, người tàn tật Hiện nay xu hướng này đang có chiều hướng tăng lên do đó mà đòi hỏi phải có chính sách thích hợp nhằm bảo đảm cuộc sống cho những người này
Vào năm 1995-1956, Nhật Bản bước vào thời kỳ phát triển cao về kinh tế Cuộc sống của phần đông dân cư được cải thiện, đời sống được nâng cao do đó mà
số người cần hỗ trợ cuộc sống giảm xuống tương đối từ 1.930.000 người năm 1955 xuống còn 1.624.000 người năm 1957 Thường sự biến động kinh tế làm cho con
số người cần hỗ trợ cuộc sống cũng biến đổi theo tỷ lệ nghịch Năm 1957 đến năm
Trang 41961 là thời kỳ “suy thoái tận đáy chảo” cho nên con số người cần hỗ trợ tăng lên Chẳng hạn năm 1961, trong cuộc cách mạng về năng lượng, người ta đã tiến hành hợp lý hoá ngành sản xuất than Song song với quá trình này, nhiều công nhân ngành than bắt đầu bỏ nghề để tìm kiếm việc làm mới Quá trình tìm kiếm công việc mới đã ảnh hưởng mạnh đến cuộc sống của công nhân và đẩy số người bị rơi xuống đáy xã hội, cần hỗ trợ cuộc sống tăng lên: năm 1963 con số này là 1.745.999 người Sau quá trình hợp lý hoá ngành sản xuất than, thị trường lao động trong nước dần dần được cải thiện, những người rời bỏ ngành than bắt đầu được tiếp nhận vào các ngành sản xuất khác, người công nhân bắt đầu có công ăn việc làm và
có thu nhập ổn định Nền kinh tế lúc này đang dần lấy lại được sinh lực và tiếp tục phát triển đã làm cho cuộc sống của người dân được nâng cao rõ rệt Chính vì lẽ đó
mà số người cần hỗ trợ cuộc sống tiếp tục giảm xuống
Vào nửa cuối năm 1971, sự biến động của đồng đôla Mỹ, hay còn được gọi là thời kỳ “Dola Shock” đã trực tiếp ảnh hưởng đến đồng yên Nền kinh tế Nhật Bản chủ yếu dựa vào xuất khẩu là chính đã bị biến động mạnh Điều này đã tác động không nhỏ tới tình hình kinh tế - xã hội trong nước Năm 1972, số người có mức sống thấp cần hỗ trợ cuộc sống lại tăng lên đến 1.349.000 người Trước tình hình
đó, Nhà nước đã sửa đổi và ban hành mới một số chính sách phúc lợi xã hội, nhằm
hỗ trợ và bảo đảm cuộc sống cho những người không may mắn trong xã hội Chẳng hạn, sau khi đưa ra chế độ “Chi trả chi phí y tế do Nhà nước và các tổ chức đoàn thể quần chúng địa phương thực hiện đối với người già” vào năm 1973, số người cần hỗ trợ cuộc sống giảm xuống còn 1.346.000 người Nhưng vào nửa cuối năm
1973, do cuộc khủng hoảng dầu lửa, nền kinh tế lại rơi vào tình trạng khủng hoảng
và suy thoái Lúc này kinh tế của Nhật Bản bắt đầu chuyển từ thời kỳ “tăng trưởng cao” sang thời kỳ “tăng trưởng ổn định” và điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình kinh tế - xã hội Hậu quả của nó là số người cần hỗ trợ cuộc sống tiếp tục tăng năm 1974 là 1.300.000 người, năm 1975 tăng lên 1.349.000 người, năm 1980
là 1.427.000 người, năm 1984 lên đến 1.469.000 người
Từ cuối những năm 1980, chính phủ đã có một số thay đổi về chế độ phúc lợi
xã hội Chẳng hạn, tháng 4 năm 1986 Chính phủ đã tiến hành cải cách về chế độ trợ cấp hàng năm Theo chế độ mới được cải cách này tiền trợ cấp hàng năm được tăng lên (tại thời điểm năm 1986 là 200.000 yên) Do đó số người già, người về hưu
có thể sống dựa vào trợ cấp tăng lên, và đồng thời số người cần hỗ trợ cuộc sống giảm xuống Năm 1986, số người cần hỗ trợ cuộc sống là 1.348.000 người Kể từ năm 1986 đến năm 1993, nền kinh tế Nhật Bản vẫn luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá ổn định và bền vững Do đó số người cần hỗ trợ cuộc sống vào năm
Trang 51993 giảm xuống còn 883.112 người1 (1 “Báo cáo về quản lý hoạt động phúc lợi
xã hội” của Bộ Y tế)
Như vậy, ở Nhật Bản số người có mức sống thấp, cần hỗ trợ cuộc sống luôn luôn biến động cùng với tình hình kinh tế - xã hội và sự biến động này luôn theo một tỷ lệ nghịch: Kinh tế phát triển thì số người cần hỗ trợ giảm xuống và ngược lại, kinh tế suy thoái thì số người cần hỗ trợ cuộc sống lại tăng lên
Xét về tỷ lệ bình quân trên toàn quốc, trong năm tài chính 1974, tỷ lệ người có mức sống thấp cần hỗ trợ cuộc sống là 11,9‰ (tỷ lệ này được tính trên 1000 người), từ năm tài chính 1975 đến năm tài chính 1984 là 12‰ đếp 12,4‰, năm tài chính 1985 là 11,8‰ và tỷ lệ này liên tục giảm Năm tài chính 1993 là 7,1‰ Tuy nhiên tỷ lệ này cũng khác nhau giữa từng địa phương và sự chênh lệch này không nhỏ Nếu bình quân toàn quốc là 7,1‰ thì tỷ lệ cao nhất là 15,7‰ ở Hokkaido và thấp nhất là 2,7‰ ở vùng Kantoll
Xét theo cơ cấu độ tuổi, từ năm 1965 đến khoảng năm 1974, số người cần hỗ trợ cuộc sống ở độ tuổi thanh thiếu niên có chiều hướng giảm xuống trong khi những người ở độ tuổi lao động luôn giữ ở mức trung bình và người cao tuổi có xu hướng tăng lên Điều này được lý giải bởi 3 nguyên nhân sau:
- Sự chuyển biến từ gia đình đông người trước đây thành những gia đình ít người mà chủ yếu là hộ độc thân;
- Tỷ lệ sinh giảm kéo theo số hộ gia đình phải chăm sóc trẻ nhỏ dưới 14 tuổi giảm theo;
- Tuổi thọ trung bình được kéo dài nên số hộ gia đình chỉ có 2 vợ chồng già và
số hộ gia đình người già độc thân tăng lên
2 Chính sách phúc lợi xã hôi đối với người có thu nhập thấp
Chính sách phúc lợi đối với người có thu nhập thấp thực chất là các hoạt động hay công việc phúc lợi mang tính chất hỗ trợ đối với người có thu nhập thấp trong
xã hội, nhằm nâng cao và duy trì cuộc sống cho họ Trong số đó còn bao gồm cả những người gặp rủi ro và không may mắn trong xã hội Sự hỗ trợ này chủ yếu là
hỗ trợ về tài chính với những chính sách ưu đãi về thuế thu nhập, chi phí y tế, chi phí về nhà ở, tiền học phí
Nguồn gốc ban đầu của các hoạt động hỗ trợ đối với người nghèo trong xã hội
là các hoạt động từ thiện, làm phúc của các nhà sư vào khoảng thế kỷ thứ 7 Các nhà sư đã tiếp nhận người già và trẻ em cô đơn, người ốm đau, bệnh tật vào các ngôi chùa để chăm sóc và chữa bệnh cho họ Về mặt pháp lý, các biện pháp đối với
Trang 6những người không may mắn trong xã hội đã được đề cập đến lần đầu tiên trong bộ Luật Taiho của Shotokn Taishi năm 701 Song các biện pháp này chỉ mang tính chất kêu gọi lòng nhân ái mà thôi
Sang đến thời kỳ Minh Trị, Nhà nước mới thực sự chú ý đến các hoạt động cứu trợ đối với những con người nghèo khổ này Năm 1876 đã ban hành “Quy tắc cứu bần”, một chế độ cứu trợ đối với người nghèo trong xã hội “Quy tắc cứu bần”
có thể được xem như là văn bản pháp lý đầu tiên liên quan đến các hoạt động cứu trợ đối với người có thu nhập thấp và qua đó có thể tìm thấy những yếu tố cơ bản hình thành nên hoạt động hỗ trợ cộng đồng ngày nay Chẳng hạn như về đối tượng, trách nhiệm, nhiệm vụ của hoạt động cứu trợ Vào năm 1932 “Quy tắc cứu bần” được đổi tên thành “Luật cứu hộ” với 2 điều sửa đổi Thứ nhất, cứu trợ đối với người nghèo là trách nhiệm của Nhà nước Thứ hai, về kinh phí sẽ được Nhà nước
và Chính quyền địa phương hỗ trợ
Nhìn chung, từ khi hình thành đến nay, đối tượng của hoạt động cứu trợ hầu như không thay đổi Đó là người già trên 65 tuổi, trẻ em dưới 13 tuổi, phụ nữ mang thai và người tàn tật về cơ thể và tinh thần, không có khả năng làm bất kỳ một công việc gì Thực tế hiện nay, do kinh tế phát triển, những người gặp khó khăn trong cuộc sống không chỉ là người già hay tàn tật, mà còn bao gồm cả người thất nghiệp, người không có công ăn việc làm ổn định, hay thậm chí cả người có công việc song mức lương của họ quá thấp không đủ nuôi gia đình Do đó hiện nay ở Nhật Bản
có 2 chính sách: thứ nhất, đó là chính sách đối với người có thu nhập thấp (Policies for low income earners), thứ hai, đó là hỗ trợ của cộng đồng (Public assistance) Hai chính sách này không hoàn toàn độc lập với nhau mà hỗ trợ, bổ sung cho nhau trong quá trình thực hiện, nhằm tạo mọi điều kiện tốt nhất và phù hợp nhất đối với mọi đối tượng
Ngoài ra ở Nhật Bản còn tồn tại nhiều hoạt động mang tính chất tự nguyện để giúp đỡ người thu nhập thấp, đáng chú ý là Hiệp hội tiêu dùng Hiệp hội tiêu dùng được tổ chức trên cơ sở tự nguyện của các địa phương và nơi làm việc nhằm ổn định cuộc sống và nâng cao đời sống văn hoá cho mọi người có nhu cầu Hiệp hội theo kiểu này chủ yếu dựa vào việc mua bán hàng hoá và dịch vụ theo số lượng lớn
mà có thể mua được với giá rẻ, tổ chức các hoạt động văn hoá và giáo dục nhằm nâng cao cuộc sống vật chất và tinh thần cho mọi người Hình thức hoạt động của Hiệp hội tiêu dùng được bắt đầu từ thế kỷ 19, xuất phát từ việc mua bán tập thể của những người lao động ở Anh Ở Nhật Bản hoạt động này cũng bắt đầu từ cuối thế
kỷ 19 khi giới quan chức và thương gia tự thành lập các Hiệp hội mua bán vật
Trang 7phẩm gia dụng cần thiết cho cuộc sống Hiện nay, hoạt động này được quy định theo “Luật hiệp hội tiêu dùng”, và cũng tổ chức một số hoạt động như cung cấp vật phẩm cần thiết cho nhu cầu sinh hoạt của mọi người, sử dụng cơ sở công cộng như nhà ăn, phòng khám chữa bệnh để cứu trợ trong trường hợp xẩy ra hỏa hoạn, tai nạn giao thông , tổ chức hoạt động văn hóa nhằm cải thiện đời sống tinh thần cho mọi người có nhu cầu nhưng không có đủ khả năng về tài chính
Hiện nay, Nhật Bản đang áp dụng một số chế độ chính sách để hỗ trợ cho người nghèo Chúng ta sẽ lần lượt xem xét các chính sách trợ giúp đó
a) Một số chính sách giúp đỡ người có thu nhập thấp
Nhằm giảm bớt khó khăn cho những người nghèo khổ, Nhật Bản đã áp dụng một số chủ trương và được thực hiện ở các lĩnh vực như y tế, nhà ở, và thuế Cụ thể như sau:
Thứ nhất, nhà nước áp dụng chế độ cho vay nợ chi phí y tế không chỉ cho đối tượng chính là những người nghèo và các hộ gia đình người già Việc mở rộng đối tượng là nhằm đáp ứng nhu cầu đang ngày càng được đa dạng hoá Nhu cầu thay đổi sẽ làm cho hình thức cho vay và các loại chi phí cùng thay đổi theo
Thứ hai, hoạt động tạo công ăn việc làm chủ yếu nhằm giới thiệu và tìm công
ăn việc làm thêm cho người có thu nhập thấp Đối với đối tượng này, nhà nước có các chính sách miễn thuế, hoặc áp dụng thuế ưu đãi để họ có thể tự vươn lên và nâng cao thu nhập của mình Song hiện nay hoạt động này đang có chiều hướng giảm do những biến động về kinh tế - xã hội
Thứ ba, dịch vụ nhà ở công cộng nhằm cung cấp nhà ở cho người có thu nhập thấp với giá thuê nhà rẻ nhằm làm giảm bớt các khoản chi tiêu trong gia đình Số nhà ở công cộng tăng lên theo từng năm và đang cho thấy một sự cần thiết lớn đối với hình thức hoạt động này Thêm vào đó, số hiệu cầm đồ hàng năm đều giảm, đặc biệt là những năm gần đây có xu hướng giảm rõ rệt, thực tế là đang có xu hướng bị triệt tiêu
Ngoài ra, Hiệp hội tiêu dùng cũng có nhiều hoạt động có tác dụng tích cực giúp đỡ những người nghèo Mặc dù hiện nay Hiệp hội tiêu dùng ở nơi làm việc có
xu hướng giảm nhưng hiệp hội theo từng địa phương lại tăng lên Ngoài việc mua bán tập thể vật phẩm tiêu dùng hàng ngày, hiệp hội còn tiến hành nhiều hoạt động
đa dạng khác như hoạt động văn hoá, thể thao, giáo dục, hoạt động cứu trợ trong trường hợp xẩy ra thiên tai Hiệp hội hoạt động với tính chất vừa là một hoạt động phúc lợi, vừa là một hoạt động độc lập của địa phương do đó những thành viên
Trang 8tham gia hiệp hội được miễn giảm chi phí sử dụng cơ sở phúc lợi xã hội, được miễn giảm thuế, miễn giảm chi phí sử dụng các cơ sở công cộng
Mặc dù các chính sách này đã giúp một bộ phận dân cư có hoàn cảnh không may mắn giảm bớt khó khăn để ổn định cuộc sống Song hiện nay, sự hỗ trợ cho đối tượng này vẫn còn hạn chế và còn nhiều vấn đề tồn đọng cần giải quyết Thực
ra, ban đầu chính sách này được đưa ra dành cho đối tượng là người có thu nhập thấp, song trong quá trình thực hiện đã mở rộng phạm vi đối tượng và hiện nay dành cho tất cả những ai gặp khó khăn trong cuộc sống, cần giúp đỡ Các chính sách này vốn dĩ được thực hiện với những thủ tục rất đơn giản và thuận lợi cho người nghèo Nhưng hiện nay, nội dung cũng như các thủ tục ngày càng trở nên phức tạp, gây khó khăn cho họ Đặc biệt hình thức hiệp hội người tiêu dùng hiện nay ít thu hút người tham gia và các hình thức hoạt động này đang dần bị lu mờ và không còn hiệu quả như trước nữa Từ thực tế đó có thể thấy hoạt động giúp đỡ người có thu nhập thấp phần nào khiếm khuyết, cần được cải thiện
b) Hỗ trợ của cộng đồng
Hệ thống hỗ trợ của cộng đồng là một loạt các chế độ của nhà nước nhằm bảo đảm cho mọi người dân có mức sống tối thiểu về văn hoá và sức khoẻ Vậy mức sống tối thiểu về văn hoá và sức khoẻ là như thế nào? Điều này được quy định theo chuẩn mực bảo đảm cuộc sống do Bộ Y tế và phúc lợi đưa ra Những chuẩn mực này như là nguyên lý cơ bản quy định việc trợ cấp cho ai Nếu thu nhập của một người dưới hoặc bằng mức chuẩn này, hay còn gọi là mức sống tối thiểu, thì được hưởng chế độ này
Hệ thống hỗ trợ của cộng đồng được thực hiện trên cơ sở của “Luật bảo hộ cuộc sống” Luật này được ban hành lần đầu tiên vào năm 1946 Theo luật 1946 này, chế độ bảo đảm cuộc sống với tính chất là hệ thống hỗ trợ của cộng đồng bao gồm 5 loại trợ giúp (trợ giúp sinh hoạt, trợ giúp y tế, trợ giúp đối với sản phụ, trợ giúp nghề nghiệp và trợ giúp mai táng) Kinh phí sử dụng cho chế độ trợ giúp này được tính theo tỷ lệ 8/2, có nghĩa là Nhà nước chịu phần lớn (80% chi phí) Một điểm cần lưu ý trong luật năm 1946 là phương pháp và cách xác định mức chuẩn bảo đảm cuộc sống có tính chất hành chính chủ quan và việc quyết định này không được quy định rõ ràng trong luật Để khắc phục nhược điểm này, năm 1948 đã đưa
ra một phương pháp tính mới, được gọi là phương pháp “Rỏ thị trường” để xác định chuẩn mực bảo đảm cuộc sống Phương pháp xác định mức sống tối thiểu này được áp dụng từ năm 1948 đến năm 1960 Theo phương pháp này, người ta tính toán chi phí sinh hoạt cần thiết cho một cuộc sống tối thiểu dựa trên các chi phí về
Trang 9thực phẩm, quần áo, một số đồ gia dụng tối thiểu Theo phương pháp này người ta
có thể dễ dàng xác định được các loại trợ giúp nhưng lựa chọn một hàng nào, giá cả nào để xác định mức chuẩn ít nhiều lại mang tính chủ quan của người làm công việc tính toán này Một nhược điểm nữa của Luật cũ là việc hỗ trợ hay không hỗ trợ
là do nhà nước quyết định, người cần trợ giúp không có quyền được yêu cầu hay đòi hỏi Để khắc phục vấn đề này vào năm 1950 Luật cũ được sửa đổi So với luật
cũ được ban hành năm 1946, luật mới có một số sửa đổi như sau:
- Làm rõ chế độ bảo đảm cuộc sống là một chế độ dựa trên quan niệm về quyền sinh tồn được quy định trong điều thứ 25 của Hiến pháp
- Mọi người dân đều có quyền được hưởng chế độ này nếu thoả mãn một số điều kiện nhất định
- Quy định rõ chuẩn mực bảo hộ này phải bảo đảm và duy trì sức khoẻ và cuộc sống tối thiểu về văn hoá
- Tăng thêm 2 loại hình hỗ trợ là trợ giúp về giáo dục và trợ giúp về nhà ở Thực chất tất cả những điều quy định trong Luật bảo hộ cuộc sống chủ yếu được dựa trên 4 nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất, nguyên tắc bảo đảm mức sống tối thiểu dựa vào trách nhiệm của
nhà nước Nguyên tắc này qui định nhà nước có trách nhiệm trực tiếp cung cấp sự trợ giúp cho tất cả mọi người dân có nhu cầu, tuỳ theo mức độ khó khăn nhằm bảo đảm cho họ mức sống tối thiểu và đồng thời tạo điều kiện khuyến khích họ vươn lên để tự bảo đảm cuộc sống
Thứ hai, nguyên tắc công bằng và không phân biệt đối xử Nhằm đảm bảo
công bằng, bình đẳng, nguyên tắc này nhấn mạnh: bất kỳ một công dân nào cũng
có quyền được trợ giúp theo yêu cầu nếu điều đó phù hợp với luật, không phụ thuộc vào tín ngưỡng, giới tính, tuổi tác hay vị trí xã hội
Thứ ba, nguyên tắc bảo đảm mức sống tối thiểu nhằm duy trì và bảo đảm sức
khoẻ và mức sống văn minh Nguyên tắc này xuất phát từ quan niệm rằng, sức khoẻ và mức sống văn minh là 2 yếu tố bảo đảm cho con người tồn tại về mặt xã hội và tinh thần Vì vậy xã hội cần quan tâm và bảo đảm cho con người có được sức khoẻ tốt và nâng cao mức sống cho người dân Nguyên tắc này chính là cụ thể hóa điều 25 trong Hiến pháp Nhật Bản quy định về quyền sinh tồn của con người
Thứ tư, nguyên tắc về tính chất bổ sung của sự hỗ trợ Nguyên tác này xác
định rằng: sự hỗ trợ cũng được cung cấp với điều kiện người có nhu cầu phải sử dụng hết mọi tài sản mà anh ta có, bao gồm cả tài sản cá nhân và khả năng của bản
Trang 10thân nhằm duy trì mức sống tối thiểu cho mình Khi đã sử dụng hết mọi tài sản và khả năng của mình mà vẫn không đủ để duy trì mức sống tối thiểu thì sẽ được trợ giúp căn cứ vào quy định của Luật trong nước và những quy định khác liên quan đến sự hỗ trợ Trong trường hợp này, hỗ trợ của cộng đồng sẽ được ưu tiên
Hệ thống hỗ trợ của cộng đồng được chia thành 7 loại trợ giúp theo tính chất
và điều kiện của mỗi loại nhu cầu, nhằm đáp ứng mọi nhu cầu đa dạng của người gặp khó khăn Đó là: trợ giúp về sinh hoạt, giáo dục, nhà ở, y tế, bà mẹ (đối với sản phụ), hướng nghiệp và ma chay
Tuy nhiên, chuẩn mực hỗ trợ cuộc sống có nhiều mức khác nhau, được xác định tương ứng với tính chất của yêu cầu, căn cứ vào các yếu tố về tuổi tác của người xin trợ giúp, số thành viên trong gia đình, nơi cứ trú, giá cả sinh hoạt theo từng thời kỳ và xu hướng tiêu dùng, v.v Những chuẩn mực này được đưa ra có tính chất khoa học, hợp lý và có thể được mọi người chấp nhận Hệ thống hỗ trợ của cộng đồng có thể được phân chia thành 4 nhóm đối tượng chính (xem Bảng 2)