Giai đoạn 1950 1973, thế kỷ XX loài người chứng kiến thời kỳ “phát triển vàng” với những “kỳ tích” bứt tốc ngoạn mục của nhiều nước trên thế giới về tăng trưởng kinh tế (đặc biệt là ở các nước TBCN). Nhưng những kết quả tăng trưởng đó mang lại rất ít lợi ích cho đại đa số dân chúng (đặc biệt là người nghèo). Xã hội tiềm ẩn những nguy cơ bất ổn. Những năm 70 của thế kỷ XX: từ việc quan tâm đặc biệt tới sự tăng trưởng kinh tế, hầu hết các quốc gia trên thế giới chuyển hướng chính sách sang các mục tiêu rộng lớn hơn như: xóa đói nghèo, giảm chênh lệch về thu nhập.
Trang 1Chuyên đề
PHÚC LỢI CHO CON NGƯỜI
VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Trang 2I TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG PHÚC LỢI CHO CON NGƯỜI
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1 Tăng trưởng kinh tế và vấn đề đáp ứng phúc lợi
- Giai đoạn 1950 - 1973, thế kỷ XX loài người chứng kiến thời
kỳ “phát triển vàng” với những “kỳ tích” bứt tốc ngoạn mục
của nhiều nước trên thế giới về tăng trưởng kinh tế (đặc biệt là
ở các nước TBCN) Nhưng những kết quả tăng trưởng đó mang lại rất ít lợi ích cho đại đa số dân chúng (đặc biệt là người nghèo) Xã hội tiềm ẩn những nguy cơ bất ổn
- Những năm 70 của thế kỷ XX: từ việc quan tâm đặc biệt tới
sự tăng trưởng kinh tế, hầu hết các quốc gia trên thế giới chuyển hướng chính sách sang các mục tiêu rộng lớn hơn như: xóa đói nghèo, giảm chênh lệch về thu nhập
Trang 3Nguyên nhân của thực trạng trên được phân tích
- Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở giai đoạn tiếp theo, chính phủ dùng phần lớn thu nhập để tái đầu tư
Trang 4- Mặc dù vậy, về lý thuyết cũng như từ những thực nghiệm nghiêm túc, khoa học, các nhà kinh tế đều cho rằng: nguyên nhân chính của việc tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng không đi đôi với cải thiện đời sống, nâng cao phúc lợi cho đa số dân chúng – những người nghèo – xuất phát từ “PHÂN PHỐI THU NHẬP”.
*****
-Tăng trưởng GDP là điều kiện cần nhưng chưa đủ để làm cho phúc lợi được phân phối rộng rãi và công bằng hơn Vì vậy, trong chiến lược phát triển quốc gia không chỉ đòi hỏi gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế mà còn phải quan tâm trực tiếp đến việc cải thiện đời sống vật chất cho người dân, tức là quan tâm đến vấn đề“phân phối thu nhập”
Trang 52 Các phương thức phân phối
Để đánh giá ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế đến việc cải thiện đời sống vật chất cho dân cư hay các nhóm dân cư cần nghiên cứu phân phối thu nhập để biết được các cá nhân có được thu nhập bao nhiêu, nguồn gốc tạo thu nhập từ đâu Và
để thực hiện mục đích đó, các nhà kinh tế quan tâm đến phân phối thu nhập theo chức năng (phân phối lần đầu) và phân phối lại
Phân phối thu nhập theo chức năng có liên quan đến sự phân chia thu nhập theo các yếu tố sản xuất khác nhau như: lao động, máy móc, thiết bị, vốn sản xuất, đất đai…
Những khoản thu nhập từ các yếu tố sản xuất được hình thành
từ kết quả tất yếu của hoạt động kinh tế Và giá cả các yếu tố sản xuất có tác động trực tiếp đến phân phối thu nhập theo chức năng (*****)
Trang 6Lý thuyết kinh tế học hiện đại khẳng định: Phân phối thu nhập được xác định chủ yếu và trước hết dựa vào quyền sở hữu các yếu tố sản xuất và vai trò của từng
yếu tố đó trong quá trình sản xuất.
Xuất phát từ kết luận trên, các nhà kinh tế học cho rằng: Phân phối theo chức năng có vai trò đặc biệt quan trọng bởi nó được coi là nguyên nhân chính dẫn đến mức độ phúc lợi (mức độ thu nhập) cao hay thấp khác nhau giữa các nhóm dân
Trang 7Phân phối thu nhập theo chức năng
và thu nhập cá nhân (hộ gia đình)
Trang 8II PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1 Quan điểm về phát triển con người
-Theo quan điểm của Liên hiệp quốc: Phát triển con người
là một quá trình nhằm mở rộng khả năng lựa chọn của dân chúng (của con người).
-Về nguyên tắc, những sự lựa chọn này là vô hạn và có thể thay đổi theo thời gian Tuy nhiên, ở cấp độ phát triển, con người cần có 3 khả năng cơ bản sau:
+ Có cuộc sống trường thọ, khỏe mạnh
+ Được hiểu biết (có tri thức)
+ Có được các nguồn lực cần thiết cho một mức sống tốt
Trang 9- Mặc dù vậy, phát triển con người còn cần được hiểu một cách
toàn diện, đầy đủ hơn, đó là: sự tự do kinh tế, xã hội, chính trị
để con người có được các cơ hội trở thành người lao động sáng tạo, có năng suất, được tôn trọng và được bảo đảm quyền con người
- Như vậy, phát triển con người gồm 2 mặt:
+ Sự hình thành các năng lực của con người
+ Khả năng sử dụng các năng lực đã tích lũy phục vụ cho các hoạt động (chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…)
- Do đó, thu nhập không phải là tất cả những gì con người mong muốn và hướng tới Mục đích của phát triển là mở rộngmọi sự lựa chọn của con người chứ không phải chỉ có thu nhập
Trang 101 Chỉ số phát triển con người (HDI)
- HDI được Cơ quan phát triển của UN đưa ra để kiểm soát,
đánh giá sự tiến bộ trong phát triển con người HDI đo thànhtựu trung bình của 1 quốc gia trên 3 phương diện (3 biến số): + Tuổi thọ trung bình từ lúc sinh
+ Tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ nhập học các cấp giáo GD + Thu nhập bình quân đầu người theo ngang giá sức mua
- Như vậy, HDI là thước đo tổng hợp so với các chỉ tiêu khác.Thu nhập và thu nhập bình quân chỉ là phương tiện để có được
sự phát triển con người; còn các chỉ tiêu về nhu cầu cơ bản của con người lại chỉ phản ánh từng mặt cụ thể Do vậy, từ năm
1990, UN đã sử dụng HDI để thực hiện việc xếp thứ hạng các nước theo tình trạng phát triển con người
Trang 11IE là chỉ số đo tri thức giáo dục (kiến thức) và được đo
bằng chỉ số tổng hợp giữa tỷ lệ biết chữ của người lớn (với trọng số 2/3) và tỷ lệ nhập học cấp giáo dục: tiểu học, trung học, đại học (với trọng số 1/3)
IIN là chỉ số đo mức sống
Trang 12CHỈ SỐ =
GIÁ TRỊ THỰC TẾ - GIÁ TRỊ TỐI THIỂU
GIÁ TRỊ TỐI ĐA – GIÁ TRỊ TỐI THIỂU
Các chỉ số tuổi thọ, giáo dục được tính toán dựa vào công thức toán sau:
Trang 13CHỈ TIÊU Giá trị tối đa Giá trị tối
Trang 14IIN =
log (TN thực tế) – log (TN tối thiểu) log (TN tối đa) – log (TNtối thiểu)
-Thông thường, chỉ số thu nhập được đưa vào HDI với vai trò
là biến đại diện cho mức sống thỏa đáng
- Cách tiếp cận này được chi phối bởi một thực tế là: để đạt được một mức độ đáng kể về sự phát triển con người không nhất thiết cần tới một khoản thu nhập vô hạn và cũng không chỉ đòi hỏi mức thu nhập cao Để phản ánh điều này, thu nhập thường được điều chỉnh trong tính toán HDI Phương pháp được sử dụng hiện nay là dùng logarit của thu nhập:
Trang 15* HDI nhận các giá trị biến thiên từ 0 đến 1 Trong thực tế, giá trị HDI của một nước cho ta thấy khoảng cách giữa mức độ tiến bộ trong phát triển con người đã đạt được so với giá trị cao nhất có thể (là 1) Thách thức lớn nhất đối với mỗi quốc gia là phải tìm giải pháp để rút ngắn khoảng cách đó.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
TỪ NĂM 1975 ĐẾN NAY CHO THẤY:
- Một số nước có thể bắt đầu với mức độ phát triển con người như nhau,nhưng tiến bộ với tốc độ khác nhau
- Ngược lại, một số nước khác có thể bắt đầu với các mức độ khác nhau nhưng cuối cùng đều đạt được trạng thái tương tự
Trang 16SO SÁNH HDI GIỮA TRUNG QUỐC VÀ GOATÊMALA
(Nguồn: Báo cáo phát triển con người năm 2006 của UN)
Kết quả trên cho thấy: sự phụ thuộc của HDI vào việc sử dụng các biện pháp,chính sách nhằm nâng cao phúc lợi cho người dân của mỗi quốc gia.
Trang 17- Thứ hạng của các quốc gia theo HDI có thể khác so với thứ hạng theo thu nhập thực tế GDP bình quân trên đầu người
- Ngược lại, một quốc gia có thể có mức thu nhập GDP/người
cao, nhưng nếu hiệu số của thứ hạng theo GDP với thứ hạng
theo HDI nhận kết quả âm (-), chứng tỏ quốc gia đó chưa thực
sự chú trọng đúng mức tới việc sử dụng thành quả của tăng trưởng kinh tế để cải thiện đời sống, nâng cao phúc lợi chongười dân nước mình
Điều cần đặc biệt quan tâm là:
Trang 18MƯỜI NƯỚC VÀ VÙNG LÃNH THỔ
GIÀU NHẤT THẾ GIỚI
(Nguồn: Ngân hàng Thế giới – WB, tính đến năm 2010)
ĐƠN VỊ TÍNH: GDP (Đồng giá sức mua)/năm/người
Trang 19TÊN NƯỚC GDP/người
(PPPUSD) Giá trị
HDI
Xếp hạngHDI
Xếp hạng GDP bình quân trừ xếp hạng
XẾP HẠNG THEO HDI MỘT SỐ NƯỚC ASEAN NĂM 2004
(Nguồn: Báo cáo phát triển con người của UN)
Trang 20III BẤT BÌNH ĐẲNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
- Bất bình đẳng và giảm tình trạng bất bình đẳng đã và đang trở thành vấn đề cốt lõi của mọi vấn đề phát triển trong thế giới đương đại Và trên thực tế, nó cũng đã và đang trở thành một trong những mục tiêu chủ yếu được thể hiện trong chiến lược, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của hầu hết các quốc gia trên thế giới
- Nhiệm vụ đặt ra với các nhà kinh tế là phải tập trung làm rõ bản chất của bất bình đẳng Và trọng tâm là sự bất bình đẳng
về mặt kinh tế trong phân phối thu nhập và tài sản
Trang 211 Bất bình đẳng về phân phối thu nhập
1.1 Thước đo bất bình đẳng về phân phối thu nhập
Thước đo bất bình đẳng về phân phối thu nhập đã được các nhà kinh tế, các nhà thống kê sử dụng nhiều trong các nghiên cứu và phân tích kinh tế là: đường Lorenz và hệ số GINI
1.1.1 Đường Lorenz
Đường cong trên đồ thị mang tên nhà thống kê học người Mỹ nổi tiếng Conrad Lorenz được ông xây dựngtừ năm 1905 biểu thị mối quan hệ giữa các nhóm dân sốvà tỷ lệ thu nhập tương ứng của họ
Trang 2280 40
A
B
Trang 23HẠN CHẾ CỦA VIỆC SỬ DỤNG ĐƯỜNG LORENZ
VÌ VẬY: Phải sử dụng kết hợp thước đo biểu thị bằng con số
Hệ số GINI là giải pháp cho vấn đề này
Trang 2480 40
Đường Lorenz 1
30
Trang 2580 40
Dân số cộng dồn (%) 100
20
20
60
60 0
Đường Lorenz 1
Trang 26Về lý thuyết, hệ số GINI nhận giá trị biến thiên từ 0 đến 1 Song trên thực tế, GINI nhận giá trị trong khoảng lớn hơn 0 và nhỏ hơn 1
Trang 2780 40
Dân số cộng dồn (%) 100
20
20
60
60 0
A
B
Trang 28- Dựa vào những số liệu thu thập được, WB cho rằng: Trong thực tế, giá trị của hệ số GINI thay đổi trong phạm vi hẹp hơn:
từ 0,2 đến 0,6 Với những nước có thu nhập thấp, hệ số GINI biến động từ 0,3 đến 0,5; những nước có thu nhập cao từ 0,2 đến 0,4
- Mặc dù hệ số GINI đã lượng hóa được chính xác hơn mức độ bất bình đẳng về phân phối (so với sử dụng đường Lorenz), nhưng hệ số GINI cũng mới chỉ phản ánh được mặt tổng quát nhất của sự phân phối Trong một số trường hợp, phương pháp này cũng chưa đánh giá được những vấn đề cụ thể
Trang 291.2 Các mô hình bất bình đẳng về thu nhập và
tăng trưởng kinh tế
1.2.1 Mô hình chữ U ngược của Simon Kuznets
- Năm 1955, Simon Kuznets - nhà kinh tế học người Mỹ - đưa
ra một mô hình nghiên cứu thực nghiệm nhằm xem xét mối quan hệ giữa thu nhập và tình trạng bất bình đẳng trong phânphối thu nhập
- Trên cơ sở những nghiên cứu, khảo sát thực tế trong nhiềunăm liền, Kuznets đã tổng kết và đưa ra những giả thiết, kết luận khoa học của riêng mình
Trang 30Năm 1963, các số liệu, kết quả nghiên cứu của Kuznets từ 18 nước cũng cho kết quả tương tự Vì vậy, ông đưa giả thiết: bất bình đẳng sẽ tăng ở giai đoạn đầu, giảm ở giai đoạn sau khi nền kinh tế đạt tới mức độ phát triển nhất định và khi lợi ích của sự phát triển được lan tỏa rộng rãi hơn
Nếu biểu diễn mối quan hệ trên đồ thị sẽ có dạng chữ U ngược
GINI
GDP/người 0
Trang 31HẠN CHẾ CỦA MÔ HÌNH KUZNETS LÀ KHÔNG GIẢI
Đây cũng là nguyên nhân mà trong một thời gian dài các nước đang phát triển không có được lời giải đáp cụ thể cho các câu hỏi: Có phải thu nhập thấp tất yếu phải chấp nhận
sự gia tăng về bất bình đẳng hay không ? Sự bất bình đẳng có chắc chắn được giảm bớt khi đã đạt đến mức độ cao của sự phát triển (tăng trưởng) kinh tế hay không?
Trang 321.2.2 Mô hình tăng trưởng trước, bình đẳng sau
của A.Lewis
- Dưới dạng tổng quát, Lewis nhất trí với nhận xét của Kuznets: sự bất bình đẳng sẽ tăng lên lúc đầu và sau đó sẽ giảm bớt
-Thành công đáng ghi nhận của Lewis là ông đã giải thích được nguyên nhân của xu thế này trên cơ sở phân tích mối quan hệ tương tác giữa bất bình đẳng, tiết kiệm và thu nhập
Trang 33+ Bất bình đẳng tăng lên ở giai đoạn đầu vì: Ở giai đoạn này,
khi cung lao động còn lớn hơn rất nhiều cầu về lao động.
Cùng với việc mở rộng quy mô sản xuất công nghiệp, số lượng lao động được thu hút vào làm việc ngày càng tăng nhưng tiền công của công nhân nói chung vẫn ở mức tối thiểu Như vậy, trong khi mức tiền công của công nhân không thay đổi thì thu nhập của các nhà tư bản vừa tăng lên do quy mô sản xuất mở rộng, vừa tăng lên do lao động của công nhân đem lại
Ở giai đoạn sau, sự bất bình đẳng giảm bớt bởi khi lao động dư thừa đã được thu hút hầu hết vào khu vực thành thị (sản xuất công nghiệp và dịch vụ), lao động trở thành yếu tố khan hiếm trong sản xuất (cung về lao động giảm) trong khi nhu cầu lao động vẫn tiếp tục tăng lên (cầu về lao động tăng), đòi hỏi phải tăng tiền công
Trang 34-Mặt khác, trong lý thuyết mô hình của mình, A.Lewis còn cho rằng: sự bất bình đẳng không chỉ là kết quả (hệ quả) của tăng trưởng kinh tế mà còn là điều kiện cần thiết của tăng trưởng Bởi khi sự bất bình đẳng về thu nhập được thiết lập trong quá trình tăng trưởng kinh tế cũng có nghĩa là các nhà
tư bản và nhóm người có thu nhập cao sẽ nhận được nhiều hơn Và chính họ là những người sẽ sử dụng phần tiết kiệm của mình để tạo ra nguồn tích lũy thực hiện tái sản xuất mở rộng
A.Lewis chỉ ra rằng: “Vấn đề trung tâm trong lý thuyết phát triển kinh tế là việc xã hội đã tăng tỷ lệ tiết kiệm để đầu tư từ 4
- 5% lên 12 – 15% trong thu nhập quốc dân (hoặc lớn hơn) Việc tăng tỷ lệ tiết kiệm này thực hiện được là do 10% dân số
đã nhận được 40% (hoặc lớn hơn) trong thu nhập quốc dân”
Trang 35-Trên cơ sở mô hình 2 khu vực, xuất phát từ đặc điểm sản xuất nông nghiệp châu Á là sản xuất lúa nước có tính thời vụ cao, H.Oshima cho rằng quá trình tăng trưởng cần được bắt đầu từ khu vực nông nghiệp và nhờ đó, sẽ dẫn đến hạn chế sự bất bình đẳng trong quá trình tăng trưởng.
- Theo H.Oshima, khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị sẽ được cải thiện ngay từ đầu, do việc Nhà nước tập trung phát triển khu vực nông thôn dựa trên chính sách cải cách ruộng đất, sự trợ giúp về giống, kỹ thuật…đồng thời với việc mở rộng và phát triển ngành nghề đã làm cho thu nhập ở khu vực nông thôn được tăng lên
1.2.3 Mô hình tăng trưởng đi đôi với bình đẳng của H.Oshima
Trang 36- Tiếp đó, quá trình cải thiện dần khoảng cách thu nhập sẽ diễn
ra giữa xí nghiệp có quy mô lớn và xí nghiệp quy mô nhỏ, giữa nông trại lớn và nông trại nhỏ Quá trình này thường chia làm hai giai đoạn: Trong giai đoạn đầu, khoảng cách thu nhập tăng lên do các cơ sở lớn có lợi thế về quy mô, kỹ thuật Ở giai đoạn sau, do lợi ích của cơ sở hạ tầng và khả năng áp dụng kỹ thuật mới tăng lên ở các cơ sở nhỏ, làm cho khoảng cách về thu nhập giảm dần
- Câu hỏi đặt ra là: kết quả của quá trình trên tác động thế nào đến tăng trưởng? Theo H.Oshima, tiết kiệm sẽ được tăng lên ở các nhóm dân cư, kể cả nhóm có thu nhập thấp nhất vì thu nhập của họ đã dần dần thỏa mãn được các khoản chi và khi
đó họ bắt đầu tiết kiệm để trả nợ các khoản vay đầu tư, tiếp tục đầu tư thêm cho phát triển sản xuất và đầu tư cho giáo dục – đào tạo của con em họ
Trang 371.2.4 Mô hình phân phối lại cùng với tăng trưởng kinh tế của
ngân hàng Thế giới (WB)
-Quan điểm khi thiết kế mô hình của WB cũng giống quan điểm cho rằng: tăng trưởng kinh tế đi đôi với bình đẳng hay tăng trưởng kinh tế đi đôi với giải quyết các vấn đề phúc lợi Tuy nhiên, mô hình của WB khác các mô hình khác (thí dụ:
mô hình của H.Oshima) ở cách thức tiếp cận để đạt mục tiêu
- Về thực chất, WB cho rằng: Phân phối lại cùng với tăng trưởng kinh tế là cách thức phân phối lại các thành quả của tăng trưởng sao cho cùng với thời gian, phân phối thu nhập dần được cải thiện hoặc ít nhất cũng không làm xấu đi, làm gia tăng sự bất bình đẳng trong xã hội trong khi quá trình tăng trưởng vẫn tiếp tục