Bài giảng Kinh tế phát triển: Chương 3 trình bày về Phúc lợi cho con người trong phát triển kinh tế. Nội dung cụ thể của chương này gồm có: Đánh giá phúc lợi con người, tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN, bất bình đẳng giới, nghèo khổ ở các nước đang phát triển.
Trang 1PHÚC LỢI CHO CON NGƯỜI
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
PHÚC LỢI CHO CON NGƯỜI
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Trang 2NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.1 Đánh giá phúc lợi con người
3.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
3.3 Bất bình đẳng giới
3.4 Nghèo khổ ở các nước đang phát triển
Trang 44
Trang 5 TTKT chỉ là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ đểcải thiện cuộc sống của đa số người dân.
Chiến lược phát triển quốc gia không chỉ bao gồm thúc đẩy
TTKT mà còn phải quan tâm trực tiếp tới phân phối thu
nhập và xóa đói giảm nghèo
Trang 63.1 Đánh giá phúc lợi con người
Định nghĩa: Phân phối thu nhập là cách thức mà thu nhậpquốc dân của một nước được chia cho công dân của nướcđó
Các phương thức phân phối thu nhập:
– Phân phối lần đầu
– Phân phối lại
Phân phối thu nhập (PPTN)
Trang 7méo” giá nhân tố (ưu đãi đặc
biệt về thuế, lãi suất…)
tạo TTKT cao hơn, nghèo
đói giảm, công bằng tăng
• Được thực hiện thông qua
các chính sách thuế, các
chương trình trợ cấp và chi
tiêu của Chính phủ giảm
bớt TN của người giàu, tăng
TN của người nghèo
Đây không phải là phươngthức cơ bản để nâng cao TNcủa đại bộ phận dân cư
Trang 83.1 Đánh giá phúc lợi con người
• “Không xã hội nào có thể phồn thịnh và hạnh phúc nếu
trong xã hội đó phần lớn dân chúng là nghèo đói và khổ
Trang 9Mục đích của phát triển:
• Ở cấp độ cơ bản: (1) có cuộc sống trường thọ, mạnh khỏe;
(2) được hiểu biết; (3) có được các nguồn lực cần thiết cho
một mức sống tốt
• Ở cấp cao hơn, bao gồm: sự tự do kinh tế, chính trị, xã hội
để con người có cơ hội trở thành người lao động sáng tạo,
có năng suất, được tôn trọng cá nhân và được đảm bảo
quyền con người
Phát triển con người là một quá trình mở rộng khả năng lựa chọn của dân chúng trên 2 mặt: (1) sự hình thành các năng lực của con người và (2) việc sử dụng các năng lực đó
Trang 103.1 Đánh giá phúc lợi con người
Chỉ số phát triển con người (HDI)
(HDR 2015)
Trang 11= −
2 Education Index (EI)
= +22.1 Mean Years of Schooling Index (MYSI)
= −−2.2 Expected Years of Schooling Index (EYSI)
= −−
3 Income Index (II)
= ln( ) − ln( )
Trang 123.1 Đánh giá phúc lợi con người
Chỉ số phát triển con người (HDI)
(HDR 2015)
Trang 13(HDR 2015)
Trang 143.1 Đánh giá phúc lợi con người
Chỉ số phát triển con người (HDI)
(HDR 2015)
Trang 163.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Khái niệm về bình đẳng trong thu nhập
• Bình đẳng về thu nhập là việc mọi cá nhân đều nhận đượckhoản thu nhập như nhau
• Bình đẳng theo định nghĩa này không bao giờ xảy ra trongthực tế, nhưng là một tiêu chuẩn để đánh giá thực trạng
phân phối thu nhập của một quốc gia hay một xã hội
Trang 17• Đường Lorenz
• Hệ số GINI
• Tiêu chuẩn “40” của WB
• Tỷ số Kuznets
• Hệ số giãn cách thu nhập
Trang 183.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Các thước đo bất bình đẳng trong quan hệ PPTN
Đường Lorenz: Khái niệm
Nhà thống kê người Mỹ - C Lorenz (1905)
Đường Lorenz là đường cong biểu diễn trên đồ thị mối
quan hệ giữa tỷ lệ phần trăm thu nhập cộng dồn với tỷ
lệ phần trăm dân số cộng dồn được sắp xếp thành các
nhóm dân cư có tỷ lệ đều nhau với mức thu nhập từ
thấp đến cao, qua đó chỉ rõ được mức độ bất bình đẳng
trong phân phối thu nhập.
Trang 19Đường Lorenz: Hình vẽ
Trang 203.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Các thước đo bất bình đẳng trong quan hệ PPTN
Đường Lorenz: Cách vẽ
• Sắp xếp thu nhập của dân cư theo thứ tự tăng dần.
• Chia dân số thành các nhóm có số dân bằng nhau, mỗi nhóm được gọi là một phân vị thông thường người ta hay chia dân số thành 5 nhóm, mỗi
nhóm chứa 20% dân số, được gọi là ngũ phân vị.
• Xếp các phân vị dân cư này dọc theo cạnh đáy (trục hoành) và phần trăm
thu nhập tương ứng của các nhóm đó vào cạnh bên (trục tung) của hình vuông Lorenz Nối các điểm kết hợp giữa phần trăm cộng dồn dân số và
phần trăm cộng dồn thu nhập ta được đường Lorenz.
Trang 21Thu nhập thấp
Trang 223.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Các thước đo bất bình đẳng trong quan hệ PPTN
Đường Lorenz: Một số trường hợp
• Đường 45 0 phản ánh quan hệ phân phối bình đẳng tuyệt đối và
còn được gọi là đường phân phối lý thuyết.
• Bình đẳng tuyệt đối: khi đường Lorenz trùng với đường 450.
• Bất bình đẳng tuyệt đối trong PPTN : khi đường Lorenz trùng với đường OCD.
• Có bất bình đẳng trong phân phối thu nhập: khi đường Lorenz nằm giữa đường phân phối lý thuyết và đường OCD.
Trang 23Đường Lorenz: Ý nghĩa và hạn chế
mức độ bất bình đẳng càng lớn hay phần trăm thu nhập người nghèo nhận được sẽ giảm đi.
• Hạn chế: (1) Không thể lượng hóa được sự bất bình
đẳng; (2) Các đường Lorenz có thể cắt nhau không
Trang 243.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Các thước đo bất bình đẳng trong quan hệ PPTN
Hệ số GINI: Công thức tính
Do nhà thống kê người Ý, Corado Gini, đưa ra năm
1912 và được tính dựa trên đường Lorenz.
Công thức tính:
G là hệ số GINI.
S(A) là diện tích nằm giữa đường 450 và đường Lorenz.
S(B) là diện tích phần còn lại nằm dưới đường Lorenz.
Hãy tính hệ số GINI cho Việt Nam và Thái Lan
Trang 25Hệ số GINI: Các trường hợp
• G = 0: hoàn toàn bình đẳng trong PPTN
• G = 1: hoàn toàn bất bình đẳng trong PPTN
• 0 < G < 1: có xuất hiện tình trạng bất bình đẳng trong
PPTN
WB cho rằng: thông thường G từ 0,2 đến 0,6
G > 0,5: bất bình đẳng lớn trong PPTN.
G từ 0,4 – 0,5: bất bình đẳng vừa
Trang 263.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Các thước đo bất bình đẳng trong quan hệ PPTN
Hệ số GINI: Ý nghĩa và hạn chế
• Ý nghĩa: Đã khắc phục được hạn chế của đường Lorenz
• Hạn chế: (1) Không cho biết mức độ trầm trọng về bất bình
đẳng trong PPTN; (2) Dựa vào hệ số GINI không cho kếtluận nhất quán nếu chúng bằng nhau nhưng có mức độ
PPTN giữa các nhóm dân là khác nhau; (3) Không cho phépphân tách hệ số GINI theo các phân nhóm
Trang 27Một số thước đo khác
(1) Tiêu chuẩn “40” của WB: Tỷ lệ thu nhập chiếm trong
tổng thu nhập dân cư của 40% dân số có mức thu nhập thấp nhất trong xã hội
– Nếu > 17% : tình trạng bất bình đẳng chấp nhận được.– Nếu từ 12% đến 17%: tình trạng bất bình đẳng tương đối.– Nếu < 12%: là tình trạng bất bình đẳng cao
Trang 282/12/2017 28
Trang 29Một số thước đo khác
(2) Tỷ số Kuznets: Tỷ trọng thu nhập của x% dân số giàu
nhất/tỷ trọng thu nhập của y% dân số nghèo nhất
(3) Hệ số giãn cách thu nhập: nếu x = y
Hệ số giãn cách càng lớn, tình trạng bất bình đẳng càng
Trang 302/12/2017 30
Trang 31a Mô hình “chữ U ngược” của Simon Kuznets
Simon Kuznets, nhà kinh tế học người Mỹ (1955, 1963)
Nghiên cứu mối quan hệ giữa thu nhập bình quân đầu người
và tình trạng bất bình đẳng trong PPTN
Phương pháp: Dùng tỷ số giữa tỷ trọng thu nhập của nhóm
20% giàu nhất/thu nhập của nhóm 60% nghèo nhất (Tỷ sốKuznets)
Kuznets đưa ra giả thuyết: Bất bình đẳng tăng lên ở giaiđoạn đầu và giảm ở giai đoạn sau, khi lợi ích của tăng
Trang 323.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Các mô hình về sự bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế
a Mô hình “chữ U ngược” của Simon Kuznets
Kết quả nghiên cứu của Paukert (1973), khảo sát 56 nước có GDP/người khác nhau cho thấy
Trang 33Hạn chế:
Không giải thích được
những nguyên nhân cơ bảntạo ra sự bất bình đẳng
trong quá trình tăng trưởng
Không giải thích được xu
thế thay đổi khác nhau giữacác nước có các chính sáchkhác nhau tác động đến tăng
trưởng và bất bình đẳng
Trang 343.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Các thước đo bất bình đẳng trong quan hệ PPTN
Trang 35 Đồng ý với Kuznets về mô hình chữ U ngược: bất bình đẳng tăng ở giai đoạn đầu sau đó giảm khi đạt được mức độ tăng trưởng và phát triển nhất định.
Giải thích nguyên nhân của xu thế này: Lúc đầu, LĐ dư thừa
trong NN được thu hút vào CN nhưng chỉ được trả lương ở mức
tối thiểu, còn nhà tư bản có thu nhập được tăng cao do (1) quy
mô mở rộng và (2) lao động của công nhân đem lại ngày càng
nhiều giá trị thặng dư; Giai đoạn sau, khi LĐ được thu hút hết và trở nên khan hiếm hơn + nhu cầu sử dụng ngày càng nhiều LĐ
lương tăng lợi nhuận tư bản giảm BBĐ giảm.
BBĐ về thu nhập không chỉ là kết quả của TTKT, mà còn là điều
Trang 37 Cho rằng có thể hạn chế BBĐ ngay từ giai đoạn đầu củatăng trưởng kinh tế.
Biện pháp:
- Ban đầu, cải thiện khoảng cách về thu nhập giữa thành
thị và nông thôn dựa trên chính sách cải cách ruộng đất, trợ
giúp của Nhà nước về giống, kỹ thuật, mở rộng ngành nghề để
cải thiện thu nhập ở nông thôn;
- Sau đó, cải thiện khoảng cách về thu nhập giữa xí
nghiệp có quy mô lớn và quy mô nhỏ ở thành thị, giữa trangtrại lớn và trang trại nhỏ ở nông thôn
Trang 383.2 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong PPTN
Các mô hình về sự bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế
d Mô hình phân phối lại cùng với tăng trưởng kinh tế của WB
Phân phối lại cùng với TTKT là cách thức phân phối lại các
thành quả của TTKT sao cho cùng với thời gian, phân phốithu nhập dần được cải thiện hoặc ít nhất là không xấu đitrong khi TTKT vẫn tiếp tục
Chính sách phân phối lại thu nhập:
Phân phối lại tài sản: cải cách ruộng đất, tăng cường cơ hội giáo dục cho nhiều người, tín dụng nông thôn, chính sách tiêu thụ nông sản, chính sách công nghệ;
Phân phối lại từ tăng trưởng: thuế thu nhập, trợ cấp, giảm trừ chi phí cho con em nông thôn…
WB đánh giá dựa trên chỉ tiêu như: 1% tăng trong GDP làm giảm bao nhiêu % số người nghèo
Trang 39ứng xử xã hội và những kỳ vọng liên quan đến nam và nữ.
Bình đẳng giới là tình trạng mà trong đó phụ nữ và nam giớiđược hưởng vị trí như nhau, có cơ hội bình đẳng trong việctiếp cận, sử dụng các nguồn lực để mang lại lợi ích chomình, phát hiện và phát triển các tiềm năng của mỗi giớinhằm cống hiến cho sự phát triển của mỗi quốc gia và đượchưởng lợi từ sự phát triển đó
Các khía cạnh của bình đẳng giới: (1) được trang bị cácnăng lực phát triển con người; (2) không có sự phân biệt
nam nữ trong các hoạt động KT-XH; (3) bình đẳng trong
Trang 403.3 Bất bình đẳng giới
Thước đo bình đẳng giới
a Chỉ số phát triển giới (GDI – Gender Development
Index):
GDI đo lường khoảng cách phát triển giữa nam và nữ trên
ba phương diện phát triển con người (tương tự như HDI),bao gồm: sức khoẻ (đo lường bằng tuổi thọ trung bình), giáo
dục (đo lường bằng số năm đến trường kỳ vọng cho trẻ em
và số năm đi học trung bình cho người lớn từ 25 tuổi trởlên) và thu nhập, nhưng có sự điều chỉnh cho từng giới
Mức độ phát triển không đồng đều về giới tính được đobằng sự chênh lệch giữa HDI và GDI
GDI giảm khi các thành tựu phát triển của nam và nữ suygiảm hay sự phát triển không đồng đều giữa nam và nữ tăng
lên, khi đó GDI < HDI
Trang 422/12/2017 42
Trang 43Index):
Trang 443.3 Bất bình đẳng giới
Tóm tắt các kết quả nghiên cứu của UNDP về GDI
Sự bất bình đẳng giới không phụ thuộc vào mức thu nhậphoặc giai đoạn phát triển;
Thu nhập cao không phải là điều kiện tiên quyết để tạo ra cơhội cho phụ nữ;
Trong những thập kỷ qua dù đã có những tiến bộ về sự bìnhđẳng giới nhưng sự phân biệt giới vẫn còn tồn tại trên cácphương diện của cuộc sống tại các nước khác nhau trên thếgiới
Trang 45Dương do ESCAP (Economic and Social Commission for
Asia and the Pacific) tổ chức tại Thái Lan (9/1993) định
nghĩa: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người
mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của
địa phương.
Trang 463.4 Nghèo đói ở các nước đang phát triển
Nghèo khổ về thu nhập:
Nghèo đói tuyệt đối: là tình trạng một người hoặc một hộ gia đình không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của cuộc sống (ăn, mặc, ở, được chăm sóc sức khỏe, được giáo dục
cơ bản và được hưởng các dịch vụ cần thiết khác) mà những nhu cầu đó đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh
tế xã hội của mỗi nước.
Nghèo đói tương đối là tình trạng mà một người hoặc một hộ gia đình thuộc về nhóm người có thu nhập dưới mức thu nhập phổ biến trong xã hội theo địa điểm cụ thể và thời gian xác định.
Trang 47Chuẩn nghèo hiện nay của WB là $1,90/ người/ngày (PPP)
Trang 482/12/2017 48
Trang 503.4 Nghèo đói ở các nước đang phát triển
Trang 51Khi α = 0, P = M/N, tức là tỷ lệ những người nằm dưới ngưỡng nghèo Tỷ lệ này được gọi là tỷ lệ đếm đầu hay tỷ lệ hộ nghèo, tức
là phần trăm số hộ nghèo trong tổng số hộ gia đình trên toàn quốc.
Khoảng cách nghèo:
Khi α = 1, đẳng thức trên cho biết sự thiếu hụt trong chi tiêu của các hộ nghèo so với ngưỡng nghèo, được tính bằng phần trăm so
với ngưỡng nghèo và nó được biểu hiện như mức trung bình của tất
cả mọi người trong dân cư.
Bình phương khoảng nghèo:
Khi α = 2, ta có chỉ số bình phương khoảng nghèo thể hiện mức độ nghiêm trọng (hay cường độ) của đói nghèo vì nó đã làm tăng thêm
trọng số cho những nhóm người có khoảng nghèo lớn hơn trong số
Trang 523.4 Nghèo đói ở các nước đang phát triển
Nghèo khổ tổng hợp:
Do UN đưa ra trong HDR 1997 Theo đó, nghèo khổ (thiệt thòi) của con người được xét trên cả 3 khía cạnh:
• Thiệt thòi về đảm bảo cuộc sống lâu dài và khoẻ mạnh;
• Thiệt thòi về tri thức;
• Thiệt thòi về đảm bảo kinh tế
Trang 53MPI đo lường tình trạng con người bị tước đoạt về nhiều mặt, bao
gồm: cơ hội học hành, chăm sóc sức khoẻ và có cuộc sống tốt
Trang 542/12/2017 54
Trang 55và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.
b) Chuẩn cận nghèo: 1.000.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông
thôn và 1.300.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.
2 Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản
a) Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở;
nước sạch và vệ sinh; thông tin;
b) Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo
dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố
xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ
Trang 563.4 Nghèo đói ở các nước đang phát triển
Phương pháp đo lường nghèo khổ của Việt Nam:
1 Hộ nghèo
a) Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
b) Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
2 Hộ cận nghèo
a) Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
b) Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
Trang 571.300.000 đồng đến 1.950.000 đồng.