Cuốn sách đem đến một cách nhìn mới, xem xét sáng tác của nhà văn Đôxtôiepxki dưới góc độ thi pháp; Dẫn luận nghiên cứu văn học của G.N.Pôxpêlôp do Trần Đình Sử dịch từ tiếng Nga, xuất b
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
-
LÂM THỊ THIÊN LAN
ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN NAM BỘ
(1945 – 1975)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
TP HỒ CHÍ MINH – 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
-
LÂM THỊ THIÊN LAN
ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN NAM BỘ
(1945 – 1975)
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 62 22 01 21
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 PGS.TS NGUYỄN THÀNH THI
2 TS LÊ NGỌC THÚY
TP HỒ CHÍ MINH – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tất cả những nội dung được trình bày trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả luận án
Lâm Thị Thiên Lan
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 8
1 Lý do ch ọn đề tài 8
2 L ịch sử vấn đề nghiên cứu 10
2.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 23
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 25
4 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 28
5 Phương pháp nghiên cứu 28
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 29
7 K ết cấu luận án 31
Chương 1: ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN NAM BỘ (1945 - 1975) NHÌN TỪ CHỦ THỂ VÀ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT 33
1.1 Nh ững nguồn ảnh hưởng đến sự hình thành hình thức chủ thể tr ần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) 33
1.1.1 Ảnh hưởng của yếu tố truyền thống (trên dẫn liệu truyện kể bình dân Nam Bộ) 33
1.1.2 Ảnh hưởng của tình hình lịch sử xã hội và sự giao lưu văn hóa 37 1.1.3 Sự chi phối của đặc trưng thể loại (tự sự cỡ nhỏ) 41
1.2 Các hình th ức chủ thể trần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) 43
1.2.1 Chủ thể trần thuật và vai trò của chủ thể trần thuật 43
Trang 51.2.2 Các dạng thức chủ thể trần thuật 71
1.3 Điểm nhìn trần thuật và các dạng thức phổ biến của điểm nhìn
tr ần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) 91
1.3.1 Điểm nhìn theo xu hướng cá thể hóa 921.3.2 Điểm nhìn theo xu hướng đối thoại, chia sẻ quan niệm, chia sẻ quyền phát ngôn 97
1.3.3 Kĩ thuật di chuyển điểm nhìn trần thuật và hiệu quả của nó trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) 98
1.3.3.1 Từ điểm nhìn khách quan sang điểm nhìn nội quan hóa 981.3.3.2 Di chuyển điểm nhìn và sự thay đổi các thái độ, bình diện phản ánh, nhận thức trong truyện ngắn 100
Ti ểu kết 104 Chương 2: ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN NAM BỘ (1945 – 1975) NHÌN TỪ THỜI GIAN TRẦN THUẬT 106 2.1 Nh ững nguồn ảnh hưởng đến sự lựa chọn thời gian trần thuật trong truy ện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) 106
2.1.1 Ảnh hưởng yếu tố truyền thống, yếu tố bản địa đối với sự vận động phát triển của thời gian trần thuật 107
2.1.2 Ảnh hưởng của yếu tố phi bản địa đối với sự vận động của thời gian trần thuật 112
2.1.3 Sự chi phối của đặc trưng thể loại trong quá trình vận động phát triển nghệ thuật trần thuật 116
2.2 Đặc điểm cấu trúc thời gian trần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) 118
2.2.1 Cấu trúc trần thuật theo thời gian đơn tuyến 1192.2.2 Cấu trúc trần thuật theo thời gian đa tuyến 129
Trang 62.2.3 Một số kĩ thuật xử lí thời gian trần thuật 140
2.3 Ý nghĩa, hiệu quả nghệ thuật của việc xử lí thời gian trần thuật trong truy ện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) 152
2.3.1 Hiệu quả trong việc thể hiện sự nối kết giữa cảm thức thời gian
và cảm thức số phận đời người 152
2.3.2 Ý nghĩa hiện đại hóa, đa dạng hóa quan niệm thời gian nghệ thuật 156
Ti ểu kết 161 Chương 3: ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN NAM BỘ (1945 - 1975) NHÌN TỪ CHẤT LIỆU VÀ CẤU TRÚC DIỄN NGÔN TRẦN THUẬT 163 3.1 Nh ững nguồn ảnh hưởng đến sự định hình diễn ngôn trần thuật trong truy ện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) 163
3.1.1 Ảnh hưởng của các yếu tố nội sinh đối với sự hình thành và phát triển của diễn ngôn trần thuật 164
3.1.2 Ảnh hưởng của các yếu tố phi bản địa đối với sự biến đổi diễn ngôn trần thuật 174
3.1.3 Sự chi phối của đặc trưng thể loại 178
3.2 Di ễn ngôn trần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975), nhìn t ừ chất liệu 181
3.2.1 Dấu ấn và hiệu quả của việc vận dụng phương ngữ trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) 181
3.2.2 Hiện tượng thâm nhập hòa phối các chất liệu ngôn ngữ trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) 185
3.3 Di ễn ngôn trần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975), nhìn t ừ cấu trúc 187
3.3.1 Cấu trúc diễn ngôn của người kể chuyện 188
Trang 73.3.2 Cấu trúc diễn ngôn của nhân vật 2103.3.3 Sự hòa phối giữa diễn ngôn của người kể chuyện và diễn ngôn của nhân vật 218
Ti ểu kết 221 KẾT LUẬN 223 DANH MỤC CÁC BÀI BÁO, CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 227 TÀI LIỆU THAM KHẢO 229 DANH MỤC CÁC LUẬN VĂN, LUẬN ÁN 244
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Về nguồn gốc của tên gọi “Nam Bộ”, năm 1884 (đời vua Minh
Mạng), nó được gọi là “Nam Kỳ”, theo nghĩa “Kỳ” là một cõi đất; “Nam Kỳ”
là cõi đất phương Nam Đến tháng 5 năm 1945, tên gọi “Nam Bộ” thay cho
“Nam Kỳ”, theo nghĩa “Bộ là một phần”; “Nam Bộ” là “một phần đất nước ở phía Nam” [32, tr.11-14]
Ngoài ra, danh xưng Nam Bộ theo lý giải của tác giả Nguyễn Văn Sâm
trong cuốn Văn chương Nam Bộ và cuộc kháng Pháp 1945–1950: “Dùng danh
từ Nam Bộ chúng tôi muốn gắn liền tên gọi với thời đại Tiếng Nam Bộ được
sử dụng chánh thức trong dụ số 108 của Quốc trưởng Bảo Đại xung chức Khâm Sai Nam Bộ cho Nguyễn Văn Sâm vào tháng 8/1945” (Dẫn theo Thụy Khuê) [188]
Đây là vùng đất mà bao thế hệ dân tộc Việt Nam đổ mồ hôi, xương máu khai phá Trải qua nhiều cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc, nó vẫn trường tồn và phát triển, trở thành vùng đất thiêng liêng không tách rời của lãnh thổ Việt Nam Người Nam Bộ trên bước đường khẩn hoang có sự cộng cư của ba dân tộc Việt, Hoa, Khmer, dẫn đến sự giao lưu sinh hoạt văn hóa với nhiều đặc tính khác nhau Thế hệ ngày sau kế thừa văn hóa đó nên tinh thần văn nghệ rất phong phú và đa dạng Mặt khác, điều kiện thiên nhiên ở đây tạo cho con người tính cách phóng khoáng, trung hậu, cương trực, không cố chấp, bảo thủ Tất cả những dấu ấn đó thể hiện rõ trong sáng tác văn học từ buổi khai hoang đến khi có chữ quốc ngữ
Vì lẽ đó nên trong bức tranh toàn cảnh của văn học Việt Nam, không thể thiếu văn học Nam Bộ Đây là một mảng văn học ra đời và phát triển trong hoàn cảnh lịch sử, xã hội rất đặc biệt, là kết tinh của tâm hồn, nếp sống, tư duy của người Nam Bộ với những nét bản sắc đặc thù
Trang 9Xét về thời gian, văn học quốc ngữ Nam Bộ hình thành từ những năm cuối thế kỷ XIX và phát triển không ngừng trong những thập niên đầu thế kỷ
XX Sau đó, nó tiến tới hội nhập vào văn học cả nước và trở thành một bộ phận của nền văn học Việt Nam hiện đại Một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu
đã được tuyển chọn đưa vào sách giáo khoa môn Ngữ văn trong nhà trường Việc nghiên cứu văn học quốc ngữ Nam Bộ cho đến nay, đã có nhiều thành tựu Tuy nhiên, vẫn còn không ít vấn đề cần nghiên cứu bổ sung hoặc nghiên cứu sâu hơn, nhất là khi việc dạy văn học địa phương Nam Bộ trong trường phổ thông hiện nay, chương trình đã ban hành, song, tài liệu dạy học ở nhiều địa phương lại chưa có Trong bối cảnh ấy, với chúng tôi, việc nghiên cứu trở nên thiết thực hơn
1.2 Truyện ngắn trong văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ giai đoạn 1945 –
1975, cùng với tiểu thuyết, là một trong hai thể loại có đóng góp quan trọng,
đã được chú ý nghiên cứu nhiều, nhưng các bài viết, công trình nghiên cứu chưa chú ý đến phương diện thi pháp thể loại, nhất là chưa chú ý nhiều đến nghệ thuật trần thuật
Nghệ thuật viết tiểu thuyết, truyện ngắn, suy cho cùng là nghệ thuật kể chuyện (hay nghệ thuật trần thuật) Bản sắc riêng của mỗi tác giả, giai đoạn, thời kì, mỗi vùng miền – khu vực văn học, bộc lộ rất rõ trên phương diện này Tuy vậy, cho đến nay, vẫn có rất ít công trình tập trung nghiên cứu kĩ truyện ngắn (hay tiểu thuyết) quốc ngữ Nam Bộ một cách hệ thống, để chỉ ra những đặc điểm riêng (sắc thái bản địa/thời đại,…) trong nghệ thuật trần thuật của hai thể loại văn học này
Đó là lý do thôi thúc chúng tôi chọn đề tài Đặc điểm nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) để thực hiện luận án tiến sĩ
của mình
Tuy nhiên, tiểu thuyết và truyện ngắn quốc ngữ Nam Bộ (1945 – 1975)
là hai thể loại quan trọng, có khối lượng tác phẩm rất lớn (nhất là khối lượng tiểu thuyết Nam Bộ trong khoảng thời gian gần nửa thế kỷ), khó có thể bao
Trang 10quát trong một đề tài trên dưới vài trăm trang, vì vậy công trình này chỉ nghiên cứu truyện ngắn
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Tình hình nghiên cứu, ứng dụng lý thuyết tự sự học ở Việt Nam
Tự sự học (Narratology) “là một lĩnh vực nghiên cứu đặc thù của lí luận văn học, lấy nghệ thuật tự sự làm đối tượng” [115, tr.7] Trên thế giới, lĩnh vực nghiên cứu này không còn mới Từ những năm 60 – 70 của thế kỷ XX, vấn đề lý thuyết tự sự đã được quan tâm, trong đó vấn đề diễn ngôn, lời kể, người kể, điểm nhìn, phương thức kể đã được hình thành một cách hệ thống, mặc dù nội hàm các khái niệm vẫn chưa hoàn toàn thống nhất
Ở Việt Nam, từ thập kỷ 80 của thế kỷ XX, xuất hiện những bản dịch khá công phu của nhiều nhà nghiên cứu, dịch giả liên quan đến tự sự, tiêu biểu là
cuốn Logic học và các thể loại văn học của Kate Hamburger do Vũ Hoàng
Địch và Trần Ngọc Vương dịch từ nguyên bản tiếng Pháp, xuất bản năm
1986, trong đó có đề cập đến diễn ngôn, thời gian trần thuật và ngôi kể;
Những vấn đề thi pháp của Đôxtôiepxki của Mikhain Mikhailôvích Bakhtin
do Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch từ nguyên bản tiếng Nga, xuất bản năm 1993 Cuốn sách đem đến một cách nhìn mới, xem xét
sáng tác của nhà văn Đôxtôiepxki dưới góc độ thi pháp; Dẫn luận nghiên cứu văn học của G.N.Pôxpêlôp do Trần Đình Sử dịch từ tiếng Nga, xuất bản năm
1998, trong đó có bài viết liên quan đến tự sự: “Quan hệ của người trần thuật
đối với nhân vật”, “Ngôi kể trong văn tự sự”; Cấu trúc văn bản nghệ thuật của
Ju M Lotman, do Trần Ngọc Vương, Trịnh Bá Dĩnh, Nguyễn Thị Thủy dịch
từ nguyên bản tiếng Nga năm 2004, trong đó có giới thiệu vấn đề nghĩa trong văn bản, nguyên tắc kết cấu, điểm nhìn văn bản, Gần đây có bản dịch từ
tiếng Pháp Thi pháp văn xuôi của Tzvetan Todorov do Đặng Anh Đào, Lê
Hồng Sâm dịch, xuất bản năm 2008, trong đó nổi bật là giới thiệu về “Truyện
kể nguyên sơ Odyssee”, “Ngữ pháp của truyện: Truyện mười ngày”, “Những biến đổi của tự sự”,…; Bài giới thiệu cuốn “Diễn ngôn tự sự của Gerard
Trang 11Genette” của Nguyễn Thị Ngọc Minh, giới thiệu thời gian trần thuật, góc nhìn
trần thuật và người trần thuật (qua các thuật ngữ thời, thức và giọng) Đặc biệt, công trình rất công phu do Lộc Phương Thủy chủ biên Lí luận – phê bình văn học thế giới thế kỉ XX, xuất bản năm 2007, tổng hợp giữa việc nghiên cứu,
giới thiệu và dịch thuật của nhà nghiên cứu, dịch giả Việt Nam, về một số cách tiếp cận như: chủ nghĩa hình thức Nga, Phê bình mác xít, Phê bình mới, Chủ nghĩa cấu trúc và kí hiệu học, Chủ nghĩa hậu cấu trúc, Chủ nghĩa hậu hiện đại, Phê bình phân tâm học, Hiện tượng học của nhiều nhà phê bình nổi tiếng ở nước ngoài (E.Husserl, M.Heidegger, M.Bakhtin, R.Barthes, Tz.Todorov, G.Genette, R.Jakobson, Ju.M Lotman,…)
Chính những công trình trên cho thấy sự quan tâm, hưởng ứng của giới nghiên cứu Việt Nam đối với tự sự học Đặc biệt, ở các trường đại học, GS.Trần Đình Sử là người khởi xướng tự sự học bằng hai cuộc hội thảo quốc
gia tại Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội, và cuốn Tự sự học, một số vấn đề lí luận và lịch sử xuất bản từ hai hội thảo này (Nhà xuất bản
Đại học Sư phạm, phần 1 năm 2003; phần 2 năm 2009) Đây là công trình đầu tiên tập hợp 79 bài giới thiệu lý thuyết, ứng dụng tự sự học ở Việt Nam, trong
đó, giới thiệu lý thuyết tự sự học có 26 bài; và 53 bài là nghiên cứu ứng dụng
tự sự học vào thực tiễn tác phẩm, cụ thể: nghiên cứu văn học dân gian: 09 bài, văn học trung đại: 06 bài, văn học hiện đại: 22 bài, văn học nước ngoài: 14 bài, văn học từ truyền thống dân gian đến hiện đại: 02 bài
Đối với những bài nghiên cứu lý thuyết tự sự, mặc dù mới là khởi đầu phác họa những nét cơ bản về lý thuyết, nhưng các tác giả trình bày khá chi tiết và chuyên sâu giúp người quan tâm tới tự sự học có thể hình dung về quá trình vận động, phát triển, mục đích, ý nghĩa của bộ môn này Từ đó, có thể
xác định văn học như là đối tượng nghiên cứu cơ bản, tiêu biểu có các bài: Tự
sự học – một bộ môn nghiên cứu liên ngành giàu tiềm năng (Trần Đình Sử), Trường phái hình thức Nga và văn xuôi tự sự (Huỳnh Như Phương), Điểm nhìn trong lời nói giao tiếp và điểm nhìn nghệ thuật trong truyện (Nguyễn
Trang 12Thái Hòa), Bút kí tự sự học (Phương Lựu), Việc mở ra môn trần thuật trong ngành nghiên cứu văn học ở Việt Nam (Lại Nguyên Ân), Dẫn luận về Tự sự học (Lê Lưu Oanh và Nguyễn Đức Nga) Tự sự học: tên gọi, lược sử và lý thuyết (Lê Thời Tân), Giới thiệu lý thuyết tự sự của Mieke Bal (Nguyễn Thị Ngọc Minh), Giới thiệu lý thuyết tự sự của Hayden White (Trần Ngọc Hiếu), Cấu trúc tự sự theo quan điểm của R.Barthes (Lê Trà My),
Các công trình giới thiệu và dịch thuật tự sự học, xác định thuật ngữ, các khái niệm chọn dùng đã bước đầu cung cấp những kiến thức cơ bản góp phần quan trọng vào sự phát triển của bộ môn nghiên cứu văn học Từ đó, lý thuyết
tự sự học cung cấp một hệ thống khái niệm công cụ nhằm phân tích cấu trúc
tự sự bên trong, sự vận động có tính quy luật của các yếu tố, mở ra một cách đọc mới cho tác phẩm tự sự Nó không chỉ giúp người đọc phát hiện mới về người trần thuật, vai trò của người trần thuật, phân biệt tác giả với người trần thuật và mức độ bộc lộ của người trần thuật, mà còn phát hiện về hàng loạt vấn đề khác như các tầng bậc trần thuật, sự biến dạng thời gian, góc nhìn, điểm nhìn, tiêu cự trần thuật, hành vi ngôn ngữ,
Đối với những bài viết ứng dụng tự sự học vào nghiên cứu văn học Việt
Nam từ quá khứ tới hiện đại, tiêu biểu: nghiên cứu văn học dân gian: Hệ thống cấu trúc và sự vận hành cấu trúc sử thi Êđê (Phan Đăng Nhật), Phương thức tự sự chủ yếu của sử thi Đam San (Đỗ Hồng Kỳ),…; nghiên cứu văn học trung đại: Về mô hình tự sự Truyện Kiều (Trần Đình Sử), Thiền uyển tập anh – tác phẩm mở đầu loại hình văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại (Nguyễn Hữu Sơn),…; nghiên cứu văn học hiện đại: Nghệ thuật trần thuật trong một số
tự truyện tiêu biểu 1930 – 1945 (Trần Mạnh Tiến), Những đổi mới về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết lãng mạn 1930 – 1945 (Lê Dục Tú), Mẫu gốc như
là thành phần tạo nghĩa (quan sát mẫu gốc lửa và nước trong tiểu thuyết Giàn thiêu của Võ Thị Hảo) (Đào Vũ Hoà An), ; nghiên cứu văn học nước ngoài như: Hình tượng người trần thuật trong tác phẩm Người tình của Marguerrite – Duras (Trần Huyền Sâm), Điểm nhìn nghệ thuật trong tiểu thuyết của Mạc
Trang 13Ngôn (Nguyễn Thị Tịnh Thy),… Nghiên cứu văn học từ truyền thống dân
gian đến hiện đại: Vài nét về tư duy tự sự của người Việt (Vương Trí
Nhàn),…Trong các bài viết này, các tác giả chọn một đặc điểm làm điểm nhấn trong nghệ thuật trần thuật: có khi là người kể chuyện, có khi là điểm nhìn, kết cấu,… để ứng dụng tìm hiểu một tác phẩm cụ thể hay một chặng đường sáng tác
Ngoài công trình trên, trong một số sách lý luận có nhiều bài viết liên
quan đến tự sự học, chẳng hạn: Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học (Trịnh Bá Dĩnh); Lý luận và văn học (Lê Ngọc Trà), trong bài viết Một số vấn đề về thi pháp học đề cập đến “người kể chuyện”; Những vấn đề về thi pháp của truyện (Nguyễn Thái Hòa); Phong cách học tiếng Việt (Đinh Trọng Lạc); 150 thuật ngữ văn học (Lại Nguyên Ân), Lí luận văn học và đổi mới đọc hiểu tác phẩm (Nguyễn Văn Tùng) có đoạn “Người kể chuyện”; Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản (Diệp Quang Ban); “Người kể chuyện và mối quan hệ giữa người kể chuyện với tác giả” (Cao Kim Lan); Từ Điển Văn học bộ mới (Đỗ
Đức Hiểu chủ biên), trong đó các các bài viết liên quan tự sự học của Lê Tiến Dũng: “Ngôn ngữ người kể chuyện”; Lê Ngọc Trà: “Người kể chuyện”; Lại Nguyên Ân “Trần thuật”, “Tự sự”; … cung cấp những khái niệm, kiến thức cơ bản liên quan đến nghệ thuật tự sự, về vai trò, chức năng của người kể chuyện, ngôi kể, điểm nhìn, ngôn ngữ trần thuật,…
Liên quan đến việc ứng dụng lý thuyết tự sự học, gồm có: Thời gian nghệ thuật trong cấu trúc văn bản tự sự (các truyện ngắn Việt Nam giai đoạn
1975 – 1995) (Lê Thị Tuyết Hạnh); “Người kể chuyện xưng “tôi” trong văn
chương hiện đại” trong Tiểu thuyết trên đường đổi mới nghệ thuật (Phùng Văn Tửu); Nghệ thuật tự sự trong tác phẩm của Honero de Balzac (Lê Nguyên Cẩn); Diễn ngôn tính dục trong văn xuôi hư cấu Việt Nam, từ đầu thế
kỉ XX đến 1945 (Trần Văn Toàn); Tiểu thuyết trần thuật ngôi thứ nhất ở Nam
Bộ từ 1887 đến 1932 (Phan Mạnh Hùng); Vấn đề người đọc – Tiếp nhận lí luận tiểu thuyết ở Việt Nam từ nửa sau thế kỉ XX cho đến nay (Nguyễn Ngọc
Trang 14Thiện); Bước đầu nhận diện diễn ngôn, diễn ngôn văn học, diễn ngôn thơ (Trần Thiện Khanh); Hình tượng người kể chuyện trong “Nghìn lẻ một đêm”(Nguyễn Ngọc Bảo Trâm); Kết cấu trần thuật trong truyện ngắn hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh (Lê Ngọc Phương) và hàng loạt bài nghiên cứu trên
các trang điện tử
Bên cạnh đó, có 71 luận văn, luận án ứng dụng tự sự học khoảng thời
gian từ năm 1997 – 2012 (Danh mục luận văn, luận án), trong đó: Trường Đại
học Sư phạm Huế có 13 luận văn thạc sĩ; Trường Đại học Sư phạm Thành phố
Hồ Chí Minh có 09 luận văn, luận án; Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh có 09 luận văn, luận án; Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội có 40 luận văn, luận án
Có thể chúng tôi chưa bao quát hết các công trình nghiên cứu, tiếp cận ở góc độ tự sự tại Việt Nam Tuy nhiên, với số lượng công trình nêu trên, phần nào cho thấy sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, dịch giả, học viên, nghiên cứu sinh ngành Ngữ văn đối với tự sự học, cũng như việc vận dụng lý thuyết
tự sự học giải mã bí ẩn trong cấu trúc tự sự nhằm tìm một cách đọc mới cho văn bản nghệ thuật Từ những công trình đó, chúng tôi nhận thấy rằng:
- Vấn đề lý thuyết tự sự học ở Việt Nam từ đầu thế kỷ đến thời điểm hiện nay mặc dù không còn mới (những công trình nghiên cứu ứng dụng nêu trên
đã minh chứng), nhưng tài liệu lý thuyết tự sự học vẫn rải rác ở nhiều nơi, một
số tài liệu dịch từ các nhà lý luận phương Tây, một số được các nhà nghiên cứu ở ta tập hợp, đánh giá và trình bày theo quan điểm cá nhân khi tiếp cận ý kiến của một hoặc một số nhà lý luận nước ngoài Cho đến thời điểm này, chúng tôi chưa thấy có công trình nào nghiên cứu lý thuyết, dịch thuật hoặc trình bày một cách hệ thống, cụ thể và cặn kẽ các tư tưởng tự sự học nước
ngoài để làm thành Giáo trình Tự sự học cho học sinh, sinh viên và những
người quan tâm nghiên cứu
- Việc ứng dụng tự sự học trong nghiên cứu văn xuôi Nam Bộ nói chung, truyện ngắn nói riêng trong từng chặng đường phát triển thì còn là khoảng
Trang 15trống, ngay cả việc ứng dụng lý thuyết tự sự học nghiên cứu tác phẩm của một
tác giả cũng đặc biệt hiếm hoi (trừ bài nghiên cứu của Phan Mạnh Hùng, Tiểu thuyết trần thuật ở ngôi thứ nhất ở Nam Bộ từ 1887 đến 1932, luận văn thạc sĩ Nhân vật xưng Tôi trong tiểu thuyết tự thuật ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX của Nguyễn Thị Mỹ Thẩm, luận văn thạc sĩ của Hoàng Thị Ngọc Bích về Nghệ thuật kể chuyện của Sơn Nam qua “Hương rừng Cà Mau”, bài viết của Nguyễn Thanh Tú Bi kịch hóa trần thuật - Một phương thức tự sự dựa trên cứ
liệu "Cánh đồng bất tận", Nguyễn Ngọc Tư) Điều đó chứng tỏ, chưa có sự quan tâm đúng mức đối với mảng văn học Nam Bộ
Thực tế, thời gian gần đây, các nhà nghiên cứu cũng đang quan tâm sưu tầm, khảo sát, đánh giá văn học Nam Bộ theo từng chặng đường phát triển Ngoài công trình sưu tầm, nghiên cứu chặng đường đầu của văn học quốc ngữ Nam Bộ của Đoàn Lê Giang (Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh); công trình nghiên cứu về văn học, văn hóa Nam Bộ trên báo An Hà Cần Thơ trong ba thập kỉ đầu thế kỉ XX của Lê Ngọc Thúy
(Trường Đại học Cần Thơ); Văn học Việt Nam thế kỉ XX, phần Văn chương chính luận ở Nam Bộ của ba tác giả Cao Xuân Mỹ, Phạm Đình Hảo, Lê Ngọc
Thúy; Tiểu thuyết Nam Bộ của Nguyễn Kim Anh; Một trăm câu hỏi về văn học quốc ngữ Nam Bộ của Võ Văn Nhơn, Tiểu thuyết Nam Bộ đầu thế kỉ XX của Mai Quốc Liên, Cao Xuân Mỹ; Truyện ngắn đầu tiên và các truyện ngắn Nam Bộ đầu thế kỉ XX của Cao Xuân Mỹ Gần đây, có hai công trình tiêu biểu, một của Đoàn Lê Giang là Khảo sát, Đánh giá, Bảo tồn Văn học Quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, công trình nền cho bộ Tổng tập
văn học Quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỉ XIX – 1945; sau đó, Võ Văn Nhơn tiếp
tục công trình Sưu tầm, khảo sát, đánh giá văn học Nam Bộ 1945 – 1954 Bên
cạnh đó, các luận án tiến sĩ nghiên cứu về nhiều phương diện, nhiều thể loại
của văn học quốc ngữ Nam Bộ đã bảo vệ thành công như Sự hình thành và vận động của tiểu thuyết văn xuôi tiếng Việt ở Nam Bộ giai đoạn từ cuối thế
kỷ XIX đến 1932 của Tôn Thất Dụng; Đóng góp của văn học quốc ngữ Nam
Bộ trong quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam của Lê Ngọc Thúy; Quá
Trang 16trình hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX của Cao Xuân Mỹ; Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX của Võ
Văn Nhơn,… Nhìn chung, các công trình trên chủ yếu tiếp cận tiểu sử tác giả, niên đại, bối cảnh lịch sử, nội dung phản ánh, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa nhân đạo,…
Trong khi đó, việc nghiên cứu, ứng dụng lý thuyết tự sự học, như Trần Đình Sử khẳng định: “không chỉ là kĩ thuật trần thuật của các thể loại, các nhà văn, mà còn cho thấy cả truyền thống văn hóa đằng sau nó, và từ đó cho thấy
ưu điểm và chỗ yếu của truyền thống văn học, để từ đó, cho ta nhìn lại các vấn
đề văn học sử dân tộc một cách tỉnh táo và sâu sắc” [115, tr.20] Vì vậy, để đặt văn học Nam Bộ ở vị trí xứng đáng, “hiểu lịch sử văn học với tư cách là lịch
sử nghệ thuật ngôn từ và lịch sử văn hóa, văn học của chính dân tộc” [115, tr.21], cần đặt vấn đề tìm hiểu văn học Nam Bộ theo nhiều hướng tiếp cận chuyên ngành, trong đó có tiếp cận theo góc nhìn tự sự học Việc phối hợp các hướng tiếp cận như thế sẽ giúp cho việc tìm hiểu cặn kẽ lịch sử văn học, lịch
sử văn hóa, sắc thái văn hóa ở một vùng đất có một quá trình khai phá và hoàn cảnh phát triển đặc biệt như Nam Bộ
2.2 Tình hình nghiên cứu ứng dụng tự sự học trong văn xuôi Nam
Bộ, đặc biệt là truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975)
Từ tình hình nghiên cứu, ứng dụng lý thuyết tự sự học ở Việt Nam như
đã nêu trên cho thấy: việc tiếp cận văn xuôi Nam Bộ từ góc nhìn này vẫn còn
là khoảng trống Tuy nhiên, từ những công trình nghiên cứu về văn học 1945 – 1975 nói chung, văn xuôi Nam Bộ 1945 – 1975, đặc biệt là truyện ngắn với nhiều hướng tiếp cận, chúng tôi tìm và tập hợp các ý kiến đánh giá liên quan đến vấn đề người kể chuyện, ngôi kể, vai kể, điểm nhìn, cách tổ chức trần thuật, thời gian trần thuật, kết cấu trần thuật, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật,… xem đây là những ý kiến gợi dẫn để chúng tôi tiếp tục khai thác vấn
đề
* Những công trình đánh giá về văn xuôi Nam Bộ (1945 – 1975)
Trang 17Trên cơ sở các tài liệu có được, chúng tôi phân loại các ý kiến đánh giá liên quan đến văn xuôi Nam Bộ như sau:
Thứ nhất là ý kiến đánh giá chung về Văn học Việt Nam 1945 – 1975, trong đó có văn xuôi Nam Bộ, gồm các công trình tiếp cận ở góc độ thi pháp
thể loại, nổi bật là Truyện ngắn Việt Nam hiện đại, lịch sử phát triển của các khuynh hướng và loại hình truyện ngắn, trích Truyện ngắn Việt Nam, Lịch sử – Thi pháp – Chân dung (Phan Cự Đệ); Diện mạo văn học Việt Nam 1945–
1975 (Nhìn từ góc độ thi pháp thể loại) (Lã Nguyên); Văn học Việt Nam trong thời đại mới (Nguyễn Văn Long); Bước phát triển của văn xuôi Việt Nam sau
1975 (Lê Tiến Dũng),…; Các công trình tiếp cận ở nhiều góc độ khác (liên quan đến lịch sử, xã hội, văn hóa, thi pháp, vấn đề tư tưởng, ), tiêu biểu có
Tiểu thuyết Việt Nam 1945–1975 (Phạm Ngọc Hiền); Văn học Việt Nam 1945–1975 (Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Trác, Trần Hữu Tá); bài viết “Về
một nền văn xuôi cách mạng ba mươi năm qua 1945–1975”, trích Nhà văn Việt Nam (Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức); Văn học Việt Nam 1945–1954 (Mã
Giang Lân); Văn học Việt Nam 1954–1964 (Mã Giang Lân, Lê Đắc Đô); Văn học Việt Nam 1965–1975 (Nguyễn Bá Thành, Bùi Việt Thắng); Mấy vấn đề
trong quan niệm con người của văn học thế kỉ XX (Trần Đình Sử); Truyện
ngắn giai đoạn 1945–1975 (Bùi Việt Thắng), Văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám – Một nền sử thi hiện đại (Lại Nguyên Ân); Đặc điểm cơ bản của sự phát triển văn học trong điều kiện chiến tranh 1945–1975 (Phan Trọng Thưởng); Đề tài chiến tranh trong sự vận động của thể truyện ngắn
(Tôn Phương Lan),
Đối với công trình tiếp cận ở góc độ thi pháp thể loại, có vài ý kiến đánh
giá liên quan đến nghệ thuật trần thuật, chẳng hạn: Lã Nguyên trong Diện mạo văn học Việt Nam 1945 – 1975 (Nhìn từ góc độ thi pháp thể loại) khẳng định tính chất văn học 1945–1975: vì mục đích chính phục vụ chính trị của thời đại
nên “khuynh hướng sử thi hóa loại hình nội dung văn học” và hiển nhiên nghệ thuật biểu hiện tập trung thể hiện khái niệm cộng đồng, “giai đoạn văn học
Trang 18diễn ra những thay đổi sâu sắc tư thế chứng nhân của tác giả, tư thế trần thuật của nhân vật người kể chuyện trong tác phẩm tự sự” [93] Phan Cự Đệ trong
Truyện ngắn Việt Nam, Lịch sử – Thi pháp – Chân dung đánh giá những đổi
mới thể loại ở góc độ thi pháp Chính phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa chi phối nghệ thuật thể hiện, đặc biệt là việc xây dựng hình tượng nhân vật trung tâm của văn học với nguyên tắc miêu tả nhân vật trong quá trình phát triển cách mạng Cốt truyện “thường có tình huống căng thẳng, giàu kịch tính
và khi nhân vật vượt qua những tình huống này không có điểm lùi này, họ sẽ trở thành anh hùng ngời sáng” [22, tr.361] Với các công trình nghiên cứu thi pháp thể loại, các nhà nghiên cứu thống nhất về sự tương tác thể loại trong văn học (1945 – 1975), Lã Nguyên dùng từ “cộng sinh”, Phan Cự Đệ cho là
“sự xâm nhập lẫn nhau”, Bùi Việt Thắng cho là có “tính tương đồng”,…
Đối với các công trình nghiên cứu tiếp cận ở góc độ khác, chủ yếu đánh
giá tiến trình vận động và phát triển của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 –
1975, một số công trình chia nhỏ và trình bày khá chi tiết từng chặng đường
1945 – 1954, 1954 – 1965, 1965 – 1975 Vấn đề trọng tâm được đề cập: bối cảnh lịch sử xã hội; yêu cầu cấp bách đặt ra đối với văn học; sự phân hóa các khuynh hướng; nội dung phản ánh như đề tài, chủ đề, cảm hứng tư tưởng; nghệ thuật biểu hiện và giới thiệu một số tác giả tiêu biểu Nhìn chung, các công trình chủ yếu tập trung khai thác chiều sâu của nội dung phản ánh và điểm qua vài nét về đặc điểm nghệ thuật
Trong các vấn đề được nêu ra về nghệ thuật, liên quan đến nghệ thuật trần thuật, chúng tôi thấy nổi bật các nghiên cứu về nghệ thuật xây dựng nhân vật, tổ chức cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ kể chuyện và giọng điệu; một số bài
viết dừng lại giới thiệu các nhà văn tiêu biểu của giai đoạn 1945 –1975, trong
đó có nhà văn viết truyện ngắn Nam Bộ tiêu biểu Bên cạnh đó còn có tác giả đặt văn học miền Bắc trong cái nhìn tham chiếu với văn học đô thị miền Nam Nhìn chung, các nhà nghiên cứu thống nhất cho rằng xuất phát từ yêu cầu thời đại nên văn học, nghệ thuật trở thành một mặt trận, nhà văn là chiến
Trang 19sĩ xung phong trên mặt trận đó Vì vậy, trọng trách đối với nhà văn là tìm tòi, sáng tạo một hình thức nghệ thuật tương ứng nhằm: một mặt chuyển tải thông tin đến người đọc về hiện thực thời đại; mặt khác, tuyên truyền, giáo dục, động viên tinh thần chiến đấu vì độc lập dân tộc Cho nên, hàng loạt sáng tác
về đề tài chiến tranh, yêu nước và cách mạng góp phần tạo nên diện mạo và đặc trưng cho nền văn học kháng chiến Sự khát khao độc lập của nhân dân tạo nên không khí văn chương sôi động Cảm hứng yêu nước là cảm hứng chủ đạo chi phối cả hệ thống nghệ thuật biểu hiện từ nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ,… vì “hình thức mang tính nội dung”, phản ánh tư duy của thời đại Từ
đó cho thấy, sáng tác văn học vừa chịu sự tác động của qui luật khách quan, vừa là hành vi đầy ý thức trách nhiệm của người cầm bút
Thứ hai là ý kiến đánh giá riêng mảng văn xuôi Nam Bộ (1945 – 1975), trong đó có truyện ngắn, tiêu biểu có các công trình, bài viết sau: Văn
học Nam Bộ từ đầu đến giữa thế kỉ XX (1900–1954) (Nhiều tác giả); Nhìn lại một chặng đường văn học (Trần Hữu Tá); Văn học giải phóng miền Nam 1954–1970 (Phạm Văn Sỹ); Văn học miền Nam (Huỳnh Ái Tông); Truyện ngắn miền Nam trên đà phát triển của cách mạng (Hà Minh Đức); Vài nét về văn xuôi đô thị miền Nam giai đoạn 1954–1975 (Nguyễn Thị Thu Trang); Văn học miền Nam tự do 1954–1975 (Nguyễn Vy Khanh); Văn học miền Nam; Văn học miền Nam 1954–1975 theo cách nhìn của Vương Trí Nhàn hôm nay (Thụy Khuê), Tinh thần tự do trong văn giới miền Nam (Nguyễn Văn Lục); Tổng quan văn học miền Nam (Võ Phiến), Những kỷ niệm của tôi về văn học miền Nam (Nguyễn Đức Tùng); Sưu tầm, khảo sát, đánh giá văn học Nam Bộ
1945 – 1954 (Võ Văn Nhơn); Truyện ngắn trong dòng văn học yêu nước đô thị miền Nam 1954 – 1965 (Phạm Thanh Hùng),…
Các công trình nghiên cứu văn học Nam Bộ ở nhiều góc độ, tựu trung đều ghi nhận đóng góp của nhà văn trong việc phản ánh sâu sắc hiện thực thời đại Nam Bộ là vùng đất chịu nhiều đau thương nhất trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ Dấu ấn của những biến động lịch sử in đậm trên
Trang 20từng trang viết Vì vậy, sự phân hóa nhiều khuynh hướng phức tạp của mảng
văn học Nam Bộ là không tránh khỏi.Bên cạnh văn học cách mạng vùng giải phóng còn có văn học trong lòng các đô thị miền Nam Việc nghiên cứu văn học thường tách riêng văn học cách mạng vùng giải phóng và văn học đô thị miền Nam Văn học các đô thị miền Nam phân chia hai dòng văn học, một là văn học cách mạng (bí mật hoặc bán công khai); hai là dòng văn học khác khá phức tạp, không theo dòng chảy sử thi mà chủ yếu khai thác vấn đề đạo đức, thế sự, đời tư Tuy nhiên, “trong dòng đục cũng có dòng trong”, có những sáng tác đề cập vấn đề đạo đức thế sự như miêu tả phong tục, quan niệm nhân sinh, cách sống có giá trị, phản ánh hiện thực cuộc sống Vì vậy, khi nhìn nhận lại văn học trong lòng đô thị miền Nam, Trần Hữu Tá cho rằng “Không định kiến hẹp hòi, không bị chi phối bởi quan điểm xã hội học dung tục; những gì có thể góp phần làm giàu cho sinh hoạt tinh thần, nâng cao tri thức văn hóa của người đọc hôm nay, chúng ta đều nên chắt chiu lưu giữ” [198]
Liên quan đến nghệ thuật văn xuôi Nam Bộ (1945 – 1975) nói chung,
truyện ngắn nói riêng, trong đó có nghệ thuật trần thuật, từ những công trình
đã giới thiệu trên, chúng tôi nhận thấy một số vấn đề cần nhấn mạnh:
- Các nhà nghiên cứu lưu ý đến hoàn cảnh sáng tác chi phối nghệ thuật thể hiện, một cách thể hiện độc đáo: cách nói bóng gió, tượng trưng vừa với dụng ý nghệ thuật, vừa vượt qua vòng kiểm duyệt khắt khe để thông điệp được chuyển tải đến người đọc trọn vẹn, tùy theo trình độ nhận thức cũng như
tầm đón đợi của công chúng Trần Hữu Tá (Nhìn lại một chặng đường văn
học) đánh giá cách viết của Lý Văn Sâm, Lê Vĩnh Hòa, Viễn Phương, Trang Thế Hy, uyển chuyển, kín đáo, phát huy ưu thế của biện pháp ẩn dụ, tượng trưng, biểu tượng hai mặt: “Truyện ngắn với cách biểu hiện riêng của nó, đã xây dựng được những hình tượng nghệ thuật cụ thể hơn, góp phần tích cực vào tiếng nói tố cáo mạnh mẽ chung” [121, tr.53]
- Các nghiên cứu còn chú ý sắc thái địa phương thể hiện trong trang viết của các nhà văn Nam Bộ, đặc sắc nhất là ở cách xây dựng tính cách Nam Bộ
Trang 21điển hình, cách dẫn chuyện, ngôn ngữ, giọng điệu,… Chẳng hạn, Nguyễn Đức Tùng trong Những kỷ niệm của tôi về văn học miền Nam cho rằng: Chất hài hước là một đặc điểm của văn chương miền Nam và văn chương Nam Bộ […] Lối đối thoại của các nhân vật trong truyện của Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, hay Hồ Trường An, Kiệt Tấn sau này, thật là linh hoạt, phóng khoáng, chộn rộn, vui vẻ” [206]; Hà Minh Đức, Truyện ngắn miền Nam trên đà phát triển của cách mạng, cho rằng cái cốt lõi và nét đặc sắc của truyện ngắn miền Nam
là giàu tính kịch, sự việc, cốt truyện, chất liệu từ thực tế sinh động, nhiều nhà văn khéo léo tạo ra những xung đột, căng thẳng, tập trung, mở và kết thúc hợp
lí, chặt chẽ; Võ Phiến qua Tổng quan văn học miền Nam khẳng định: Sự phát
huy bản sắc miền Nam là một đóng góp thật quan trọng vào nền văn học Việt Nam “Về sắc thái đặc biệt, điều nhận thấy trước nhất là những từ ngữ địa phương, những cách nói riêng của địa phương Từ ngữ riêng của miền Nam
thật nhiều [195]; Nguyễn Thị Thu Trang trong Vài nét về văn xuôi đô thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 đề cập đến vấn đề đặc sắc ngôn ngữ truyện ngắn
miền Nam, vừa mang nét riêng của vùng miền vừa có tính chất giao thoa do
hoàn cảnh đặc biệt [148]; Thụy Khuê trong Văn học miền Nam 1954 – 1975 theo cách nhìn của Vương Trí Nhàn hôm nay, liên quan đến ngôn ngữ trần
thuật, theo Vương Trí Nhàn: “Võ Phiến có giọng văn riêng, cho thấy một đời sống tinh thần không thể có ở thời tiền chiến được Dương Nghiễm Mậu, Phan Nhật Nam, … Thụy Vũ, Nhã Ca, Trùng Dương, Túy Hồng,… đều là những thể nghiệm ngôn ngữ mà đi sâu hơn thì ở đó nó có cái mạnh của tiếng nói Hà Nội, có cả cái mạnh của văn hóa miền Nam, của Sài Gòn lục tỉnh được kết hợp nhuần nhụy trong những nhà văn” [189]
Bên cạnh đánh giá chung, các nghiên cứu điểm qua vài nét đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện của các nhà văn Nam Bộ tiêu biểu Trần Hữu Tá nhấn mạnh nghệ thuật viết truyện của một số cây bút tiêu biểu như Lê Vĩnh Hòa
với tập truyện Chiếc áo thiên thanh đặc sắc ở thủ pháp dựng truyện, Sơn Nam với Hương rừng Cà Mau đặc sắc ở cách phản ánh hiện thực, Viễn Phương với Sắc lụa Trữ La có lối kể mộc mạc, Vũ Hạnh với Bút máu có nhiều kĩ xảo,
Trang 22“giọng văn trang nghiêm, những từ ngữ cổ kính, cấu trúc câu văn mang hơi hướng văn biền ngẫu, réo rắt bổng trầm, giàu tính nhạc [121, tr.53], Nguyễn
Văn Xuân với Hương máu, giọng kể đa dạng “nhiều truyện được kể theo quan
điểm tác giả nhưng vài truyện kể theo quan điểm nhân vật” [121, tr.102]
Phạm Văn Sỹ cho rằng Anh Đức thành công ở xây dựng nhân vật điển hình;
Giang Nam thì “nhìn con người miền Nam trong sự vươn lên của họ trong đấu tranh; Phan Tứ “có bút pháp hiện thực nghiêm ngặt [ ] nắm bắt đối tượng ngay trong hành động, cử chỉ và ngôn ngữ của họ”; Nguyễn Thi xây dựng được nhân vật “chân thực và độc đáo”, “phong cách hiện thực vừa có tính dân gian, vừa có tính hiện đại”; Nguyễn Sáng “nhạy cảm trong việc nắm bắt những sự kiện tiêu biểu, tinh tế trong khai thác tính cách người Nam Bộ [ ] vận dụng khéo léo những xung đột mang tính thẩm mĩ [ ] Anh tả con người hòa quyện với không khí đấu tranh và thiên nhiên cây cỏ” [120, tr.8-88] Hà Minh Đức cho rằng Nguyễn Thi hấp dẫn người đọc ở việc khai thác chiều sâu tâm lí [128, tr.587];
Ngoài đánh giá ưu điểm, nhiều nhà nghiên cứu đều nhận định rằng kĩ thuật viết truyện, bên cạnh tác phẩm đặc sắc, còn lại, do yêu cầu cấp bách của thời đại và yếu tố khách quan lẫn chủ quan nên còn hạn chế như: cốt truyện dài dòng, câu chuyện dàn trải, thiếu mũi nhọn và trọng điểm tư tưởng, nghệ
thuật sắc bén (Truyện ngắn miền Nam trên đà phát triển của cách mạng) [128,
tr.587]; “Sự tiến bộ về mặt nghề nghiệp của người viết truyện ngắn nhìn chung chưa đều Yêu cầu về tìm tòi cái mới, yêu cầu về kĩ thuật còn là vấn đề
đặt ra, kể cả cho một số người đã nhiều năm viết truyện ngắn” (Văn học giải phóng miền Nam 1954 – 1970) [120, tr.88]
*Những công trình nghiên cứu, giới thiệu chuyên sâu về sáng tác truyện ngắn Nam Bộ của một nhà văn
Hàng loạt bài viết giới thiệu truyện ngắn của các nhà văn Nam Bộ (1945 –
1975) như: Nhân đọc quyển “Đồng quê” được in lại của Phi Vân (Anh Đức); Tuyển tập Bình Nguyên Lộc: Bình Nguyên Lộc, một bút lực lớn (Nguyễn
Trang 23Q.Thắng); Đặc sắc Nguyễn Thi (Phong Lê); Những đứa con trong gia đình (Hoàng Dục); Thẩm định văn học (Phùng Quí Nhâm); Phê bình – Bình luận văn học (Vũ Tiến Quỳnh) giới thiệu truyện ngắn Anh Đức, Nguyễn Quang
Sáng; Anh Đức, về tác gia và tác phẩm (Bùi Việt Thắng); Yếu tố giọng điệu trong truyện ngắn Sơn Nam (Trần Phỏng Diều); Lời Nhà xuất bản trong Tuyển tập Lê Vĩnh Hòa; Lê Vĩnh Hòa – vị trí của anh trên nền văn xuôi cách mạng miền Nam (Chu Nga); Đồng quê, Dân quê, Tình quê trong Cảm nhận bản sắc Nam Bộ (Huỳnh Công Tín); Truyện ngắn Việt Nam, Lịch sử – Thi pháp – Chân dung (Phan Cự Đệ), tập hợp các bài giới thiệu: Anh Đức của Bùi Việt Thắng, Nguyễn Thi của Hà Văn Đức, Nguyễn Quang Sáng của Lý Hoài
Thu, Vũ Hạnh của Phan Cự Đệ, Sơn Nam của Nguyễn Thị Năm Hoàng,
Những công trình này đi sâu vào khảo sát truyện ngắn từng nhà văn Nam Bộ
từ nội dung đến nghệ thuật, từ đó, rút ra nhận xét về phong cách riêng của nhà văn Có thể nói, đa số những bài viết, tùy theo từng mức độ khai thác, khái quát hoặc chuyên sâu, có những đóng góp không nhỏ cho việc tiếp tục tìm hiểu truyện ngắn của các tác giả này ở góc độ trần thuật
Gần đây, nhiều luận văn liên quan đến truyện ngắn Nam Bộ qua các thời
kì lịch sử được thực hiện tại các trường đại học như: Văn hóa Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam của Đinh Thị Thanh Thủy; Phong cách truyện ngắn Bình Nguyên Lộc của Dương Thị Thanh (Đại học KHXH&NV Tp HCM); Đặc sắc truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng của Lâm Thị Thiên Lan; Truyện ngắn Sơn Nam trong góc nhìn văn hóa của Nguyễn Thị Điệp; Nông thôn và nông dân Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam của Trương Phước Khoa (Đại học Cần Thơ), Nghệ thuật kể chuyện của Sơn Nam qua Hương rừng Cà Mau
của Hoàng Thị Ngọc Bích (Đại học Sư phạm Hà Nội),… cung cấp thông tin cần thiết cho nghiên cứu đề tài
2.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Khảo sát tài liệu liên quan đến đề tài, chúng tôi phân loại thành ba nhóm: (1) Những công trình nghiên cứu về văn học Việt Nam 1945 – 1975, trong đó
Trang 24có văn học Nam Bộ, truyện ngắn Nam Bộ; (2) Những công trình nghiên cứu riêng về Văn học Nam Bộ 1945 – 1975, trong đó có truyện ngắn Nam Bộ; (3) Những công trình nghiên cứu truyện ngắn một tác giả Nam Bộ 1945– 1975 Chúng tôi chưa thể thống kê chính xác tất cả công trình về một giai đoạn văn học, mảng văn học Nam Bộ nói chung, truyện ngắn nói riêng, cá nhân tác giả trên vì nhiều lí do khách quan lẫn chủ quan Tuy nhiên, trên cơ sở những công trình đã có, chúng tôi tổng hợp và đánh giá các kết quả từ một số tài liệu chính, về cơ bản có thể đánh giá chung như sau:
- Hầu hết các công trình về văn học Nam Bộ, truyện ngắn Nam Bộ đi vào lịch sử hình thành, sự vận động và phát triển của văn học theo qui luật của chiến tranh Đánh giá về nội dung: các sáng tác khai thác đề tài, cảm hứng tư tưởng mang tính chất thời đại; về nghệ thuật: chịu chi phối bởi cảm hứng sáng tác và ít nhiều có điểm giống nhau giữa các nhà văn, cá biệt vài trường hợp nổi bật Về bản sắc địa phương, sắc thái Nam Bộ thể hiện trong sáng tác được nhà nghiên cứu lưu ý nhưng chưa phải là vấn đề khai thác chính Xuất phát từ góc độ tiếp cận nên các nhà nghiên cứu chủ yếu đánh giá trên phương diện hiện thực phản ánh Nhìn chung, những đánh giá ở phương diện nghệ thuật là gợi ý có giá trị giúp chúng tôi tiếp tục tìm hiểu sâu hơn về nghệ thuật trần thuật của truyện ngắn Nam Bộ (1945–1975)
- Một số công trình tiếp cận ở góc độ thi pháp cho thấy chiều sâu của tác phẩm qua nghệ thuật thể hiện Mặc dù các công trình nghiên cứu có liên quan
ít nhiều đến nghệ thuật tự sự, nhưng hầu như chúng tôi chưa tìm được công trình nào nghiên cứu công phu, dày dặn đặc điểm nghệ thuật trần thuật truyện ngắn hay tiểu thuyết của một giai đoạn văn học Nếu xét về văn học Nam Bộ trước đó, nghiên cứu về nghệ thuật trần thuật, chúng tôi thấy có công trình của
Phan Mạnh Hùng “Tiểu thuyết trần thuật ở ngôi thứ nhất ở Nam Bộ từ năm
1887 đến 1932”, đi vào tìm hiểu kết cấu truyện kể, người kể chuyện và ngôn ngữ trần thuật Trong luận án tiến sĩ của Phạm Thanh Hùng “Truyện ngắn trong dòng văn học yêu nước đô thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1965”, tác giả
Trang 25dành trọn chương 3 nói về hình thức tự sự linh hoạt, hiện đại (gồm cốt truyện, kết cấu, cách miêu tả tâm lí, xây dựng nhân vật và ngôn ngữ trần thuật) Số còn lại là những công trình nghiên cứu từng tác giả sáng tác truyện ngắn Nam
Bộ, trong đó, có một phần nhỏ đề cập đến hình thức tự sự, như ngôn ngữ, giọng điệu trần thuật Riêng công trình nghiên cứu truyện ngắn của một tác giả Nam Bộ cụ thể chỉ có một luận văn viết về nghệ thuật kể chuyện của Sơn Nam như đã giới thiệu, còn nhiều tác giả viết truyện ngắn Nam Bộ nổi bật khác trong giai đoạn này vẫn chưa được quan tâm tiếp cận ở góc độ này Nhìn chung, số lượng các công trình nghiên cứu, các luận án, luận văn
về văn chương Nam Bộ qua các thời kì lịch sử được thực hiện thời gian gần đây cho thấy giá trị, sức thu hút cũng như khả năng gợi mở nhiều đề tài nghiên cứu của mảng văn học này Riêng truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975),
mặc dù đã được nghiên cứu khá nhiều phương diện, kể cả nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ địa phương, nhưng theo cách nhìn truyền thống, hầu như chưa được nghiên cứu theo lý thuyết tự sự học Với đề tài Đặc điểm nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975), chúng tôi hi vọng
sẽ góp thêm cách nhìn một cách có hệ thống về bức tranh chung của truyện ngắn Nam Bộ xuất phát từ góc nhìn tự sự học – một hướng tiếp cận mới khi nghiên cứu nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Như nhan đề đã xác định, đối tượng nghiên cứu của đề tài này giới hạn trong phạm vi một thể loại (truyện ngắn) ở Nam Bộ và thời gian (1945 – 1975)
Trong nghiên cứu khoa học nói chung, nghiên cứu văn học nói riêng, cùng một đề tài, song mỗi hướng tiếp cận đều có thể cho ra một kết quả với những phát hiện riêng Các công trình nghiên cứu văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ
từ trước đến nay chưa đặt vấn đề nghiên cứu đối tượng này từ góc nhìn tự sự học
Trang 26Với những thành tựu lí luận, sự phát triển của tự sự học thời gian gần đây qua các công trình dịch thuật, nghiên cứu ứng dụng, chúng tôi hy vọng
rằng, đề tài trên cơ sở áp dụng một hướng tiếp cận mới – Nghệ thuật trần
thuật trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) – sẽ mang lại những kết quả
nghiên cứu khả quan Kết quả nghiên cứu ấy có thể góp phần trả lời những câu hỏi như:
- Những yếu tố nào đã tác động đến sự lựa chọn các phương thức trần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975)? Nhà văn đã lựa chọn các phương thức trần thuật nào để thể hiện cách tiếp nhận những vấn đề về cuộc sống và con người Nam Bộ trong truyện ngắn? Các phương thức trần thuật ấy thể hiện những tìm tòi, thể nghiệm nào trong sáng tác truyện ngắn?
- Ưu điểm và hạn chế của các phương thức trần thuật (bao gồm việc xác lập chủ thể trần thuật, xử lý thời gian trần thuật, tạo lập các loại diễn ngôn trần thuật …) mà truyện ngắn Nam Bộ thường lựa chọn là gì?
- Sắc thái bản địa/thời đại trong cách lựa chọn, sử dụng phương thức trần thuật qua truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) có thể xác định như thế nào? Truyền thống viết “truyện kể”, “thơ nói” của văn học truyền thống Nam Bộ (khác truyền thống viết “truyện đọc”, “thơ ngâm” Bắc Bộ, Trung Bộ) có để lại dấu ấn gì đáng kể không trong kĩ thuật trần thuật của truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) hay không?
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Truyện ngắn Nam Bộ trước năm 1930 đến 1945, trong bước đi ban đầu,
sẽ không thuộc phạm vi nghiên cứu trực tiếp của đề tài; truyện ngắn Nam Bộ sau năm 1975, do tình hình riêng của bối cảnh hậu chiến, hội nhập cũng cần được nghiên cứu riêng, không thuộc phạm vi, đối tượng khảo sát của luận án Đối với đề tài này, bước đầu, người nghiên cứu sẽ tìm hiểu những vấn đề quan trọng về văn học quốc ngữ Nam Bộ như: sự hình thành, quá trình phát triển và quá trình hiện đại hóa; các bộ phận chính của văn học quốc ngữ Nam
Trang 27Bộ từ khi bắt đầu hình thành đến đầu thế kỷ XX; một số hiện tượng văn học (tác giả, tác phẩm, phong trào văn học) cần chú ý Tiếp theo, người nghiên cứu thâm nhập mảng truyện ngắn các giai đoạn để có được cái nhìn ban đầu, toàn cảnh về truyện ngắn Nam Bộ
Riêng mảng truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975), chúng tôi tìm hiểu và chọn những tác giả là người Nam Bộ sống, chiến đấu trên quê hương Nam Bộ (tiêu biểu là Viễn Phương, Phi Vân, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Trang Thế
Hy, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức); nhóm tác giả khác không sinh ra trên mảnh đất Nam Bộ, nhưng sống và chiến đấu trên vùng đất Nam Bộ, và viết về con người, quê hương Nam Bộ (tiêu biểu là Lê Vĩnh Hòa, Vũ Hạnh, Nguyễn Thi), trong đó cũng có nhóm tác giả vùng miền khác sống và hoạt động ở các
đô thị miền Nam (tiêu biểu là Võ Phiến) Chúng tôi chọn lọc qua việc tìm hiểu tiểu sử và giai đoạn sáng tác của từng tác giả tiêu biểu, lưu ý những tác phẩm sáng tác tại Nam Bộ Như vậy, mỗi giai đoạn đều có những tác giả nổi tiếng
và tác giả không chuyên, cụ thể như:
- Truyện ngắn của Phi Vân đầu thập niên 40
- Truyện ngắn của Lê Vĩnh Hòa nửa sau thập niên 50
- Truyện ngắn của Sơn Nam từ cuối những năm 50 đến 1975
- Truyện ngắn của Trang Thế Hy từ thập niên 50 đến 1975
- Truyện ngắn của các nhà văn Nam Bộ thuộc lực lượng kháng chiến như: Anh Đức, Đoàn Giỏi, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Thi,
- Truyện ngắn của các nhà văn thành thị miền Nam như: Vũ Hạnh, Bình Nguyên Lộc, Võ Phiến, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trần Thị NgH, Thế Vũ, Phan Du, Thẩm Thệ Hà,…
Vì truyện ngắn Nam Bộ có khối lượng đồ sộ, cho nên, người nghiên cứu
sẽ tuyển chọn một số nhất định các tác giả và tác phẩm có dấu hiệu, đặc điểm nghệ thuật trần thuật tiêu biểu đáp ứng yêu cầu đề tài (100 truyện ngắn sáng
tác từ 1945 – 1975) (Phụ lục1) Như vậy, đề tài chủ yếu tập trung khảo sát
Trang 28đặc điểm nghệ thuật trần thuật trong 100 truyện ngắn Nam Bộ được tuyển chọn Ngoài ra, người nghiên cứu chọn một số truyện ngắn Nam Bộ thập niên
20 đến 1945 để khảo sát nhằm thể hiện quá trình vận động và phát triển của nghệ thuật tự sự buổi đầu ở Nam Bộ, một vài truyện ngắn Bắc Bộ cùng thời
để so sánh, thấy được những nét đặc trưng trong nghệ thuật tự sự của truyện ngắn Nam Bộ bên cạnh những yếu tố giao thoa, tiếp xúc trong dòng chảy của nền văn học dân tộc
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu: Truyện ngắn quốc ngữ Nam Bộ (1945 –
1975), sẽ được xem xét từ hai góc nhìn lịch đại và đồng đại, nhằm tìm ra các đặc điểm chính trong nghệ thuật trần thuật của các nhà văn thuộc khu vực văn
5 Phương pháp nghiên cứu
Ứng dụng tự sự học và một số lý thuyết hiện đại liên quan trong nghiên cứu văn học, đề tài vận dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yếu:
- Phương pháp loại hình: nghiên cứu bao quát truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) ở các dạng thức biểu hiện, xét từ phương diện trần thuật, chỉ ra các kiểu chủ thể trần thuật, hình thức tổ chức thời gian trần thuật, ngôn ngữ trần thuật,…
Trang 29- Phương pháp hệ thống: đặt sự vật, hiện tượng trong một hệ thống, xem xét sự tương tác qua lại giữa các yếu tố trong hệ thống
- Phương pháp so sánh: (đồng đại, lịch đại) chỉ ra những những đóng góp riêng của truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) từ phương diện nghệ thuật trần thuật
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: nghiên cứu có sự phối hợp văn hóa, văn học, lịch sử, địa lí,
Các thao tác khảo sát thống kê, lựa chọn phân tích mẫu, so sánh sẽ được
sử dụng kết hợp trong khi áp dụng các phương pháp trên để tiếp cận đối tượng
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Trước hết, đề tài mở ra một hướng tiếp cận mới cho văn học quốc ngữ Nam Bộ, cụ thể là truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) ở góc độ trần thuật Từ trước đến nay, tìm hiểu truyện ngắn Nam Bộ từ nửa sau thế kỷ XX đến 1975, người ta chỉ quan tâm nghiên cứu thế giới được kể mà ít chú trọng đến cách
kể, quá trình hư cấu con đường tiếp cận thế giới đó như thế nào? Chú trọng đến nội dung hơn là nghệ thuật kể chuyện – phương thức truyền tải thông tin Với quá trình nghiên cứu nghệ thuật trần thuật, người nghiên cứu tìm hiểu bình diện nội dung lẫn hình thức Nghiên cứu nhiều bình diện để đi đến kết luận ở nghệ thuật trần thuật
Thứ hai, do truyện ngắn Nam Bộ sinh ra trong một môi trường lịch sử, văn hoá đặc biệt, nên việc tìm hiểu những phương diện đặc sắc nghệ thuật, nhất là nghệ thuật trần thuật trong tiến trình hình thành, phát triển, hoàn thiện
và hội nhập vào dòng văn học dân tộc Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Thời gian từ 1945 đến 1975 là một quãng đường dài với bao biến cố, truyện ngắn của các nhà văn Nam Bộ cũng phát triển qua từng chặng đường của lịch sử đất nước và lịch sử văn học dân tộc Đó là các chặng đường lịch sử
Trang 301945 – 1954, 1954 –1965, 1965 – 1975 Đây là một quãng thời gian đầy ý nghĩa trong lịch sử dân tộc, lịch sử Nam Bộ trên nhiều phương diện như: lịch
sử đấu tranh giành độc lập tự do; lịch sử mở rộng giao lưu văn hóa văn học với thế giới; lịch sử xây dựng và hoàn thiện nền văn học dân tộc hiện đại,…Từ đó, các thể loại văn học cũng như các tác phẩm trong từng thể loại, trong đó có truyện ngắn đều ít nhiều thể hiện những dấu ấn của xã hội và con người Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng
Khi tìm hiểu truyện ngắn Nam Bộ từng thời kì, ta thấy giá trị của truyện ngắn Nam Bộ không chỉ là giá trị phản ánh thực tại về đời sống xã hội, lịch sử
và con người một thời mà còn là sự phản ánh một kiểu tư duy văn học rất đặc sắc trong bước đường định hình nghệ thuật trần thuật Trong từng giai đoạn lịch sử, truyện ngắn phản ánh sâu sắc tư duy nghệ thuật nơi các nhà văn viết truyện ngắn, trong đó, nghệ thuật trần thuật nổi lên như một phương tiện nghệ thuật quan trọng góp phần làm nên chất bản sắc đậm đà của văn học vùng đất phương Nam Bản sắc này vốn gắn bó rất sâu nặng với truyền thống kể chuyện, nói thơ, nói truyện trong quần chúng; mặt khác, lại nhanh chóng tiếp nhận phương thức trần thuật mới mẻ được du nhập từ bên ngoài trong quá trình giao lưu với văn học nước ngoài, đặc biệt là văn học Pháp Vì vậy, nghiên cứu nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ (1945–1975) góp phần khẳng định: việc xác định giá trị của một mảng văn học không chỉ quan tâm môi trường lịch sử, văn hoá mà còn phải chú trọng đến sắc thái bản địa, vùng miền Vì bản thân sắc thái bản địa, vùng miền cũng có giá trị riêng Thứ ba, đề tài góp phần xóa bỏ định kiến về chất lượng nghệ thuật của truyện ngắn Nam Bộ Có thể vẫn còn những quan niệm cho rằng truyện ngắn Nam Bộ cũng như con người vùng đất này, có một cái gì đó không sắc cạnh, nông cạn, hời hợt trong tư duy, nhận thức Cho nên, các tuyển tập truyện ngắn Việt Nam, hoặc ngay trong chương trình sách giáo khoa thể hiện rõ sự phân biệt đó, rất ít tác phẩm Nam Bộ được đưa vào để người đọc hoặc học sinh tìm
Trang 31hiểu Đề tài góp phần xóa bỏ cách nhìn chưa ổn thỏa đó, khẳng định thêm giá trị của mảng văn học Nam Bộ
Cuối cùng, việc tìm hiểu nội hàm các khái niệm tự sự học, ứng dụng linh hoạt vào nghiên cứu tác phẩm giúp hiểu rõ hơn bản chất, phương thức, lịch sử và những bí ẩn của nghệ thuật tự sự – phương tiện biểu đạt và lí giải thế giới, góp phần quan trọng vào công tác giảng dạy văn học ở nhà trường, đáp ứng yêu cầu đổi mới trong tình hình hiện nay, nhất là đối với truyện ngắn, hiểu rõ vai trò của người trần thuật trong việc tạo ra truyện kể, dẫn dắt truyện, cách tổ chức thời gian kể, ngôn ngữ kể, giúp người dạy và người học dễ dàng thâm nhập vào thế giới văn học,…
7 Kết cấu luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận án triển khai thành 3
chương:
Chương 1: Đặc điểm truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) nhìn từ chủ thể
và điểm nhìn trần thuật: Chương này khảo sát, mô tả cách xác lập các dạng
thức tiêu biểu của chủ thể trần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ Những dạng thức tiêu biểu này được lựa chọn, dĩ nhiên nhằm thực hiện ý đồ nghệ thuật của nhà văn, song cũng mang sắc thái thời đại/bản địa nhất định
Chương 2: Đặc điểm truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) nhìn từ thời
gian trần thuật: Chương này tập trung tìm hiểu phương thức tổ chức thời gian
tự sự: từ cấu trúc thời gian đơn tuyến đến cấu trúc đa tuyến; các kĩ thuật xử lý thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn như: đảo thuật, dự thuật, tăng tốc, trì hoãn,… Cách tổ chức thời gian này vừa thể hiện trình độ nhận thức, cảm thụ nghệ thuật mang tính thời đại, vừa thể hiện quá trình vận động và phát triển của truyện ngắn từ truyền thống (thời gian một chiều như là nguyên tắc) đến hiện đại (thời gian đa chiều, phức tạp)
Chương 3: Đặc điểm truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) nhìn từ cấu
trúc và chất liệu diễn ngôn trần thuật: Nghiên cứu ngôn ngữ trần thuật, chủ
Trang 32yếu đi sâu vào diễn ngôn trần thuật như diễn ngôn kể, tả, bình nhằm xác định được đặc điểm nổi bật của cấu trúc diễn ngôn trần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ Đặc biệt, dấu ấn và hiệu quả của việc vận dụng phương ngữ Nam Bộ trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) được thể hiện như thế nào?
Trang 33Chương 1: ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN NAM BỘ (1945 - 1975) NHÌN TỪ CHỦ THỂ VÀ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT
Với cách hiểu “Trần thuật là một hiện tượng có tính ngôn ngữ một cách đặc biệt, một hành động nói năng được xác định bởi sự có mặt của người trần thuật” [115, tr 21], thì vai trò quan trọng của người trần thuật – chủ thể của hành động kể – đã được xác định Và cho dù việc nghiên cứu nghệ thuật trần thuật của một tác phẩm “có thể được tiếp cận bằng các con đường khác nhau như lịch sử, chủ đề, điển hình, phong cách…” [115, tr 21] thì những con đường tiếp cận này cũng gắn chặt với chủ thể trần thuật và điểm nhìn trần thuật
Theo yêu cầu của đề tài, luận án tiến hành tiếp cận truyện ngắn Nam Bộ (1945–1975) với 100 truyện được tuyển chọn từ nhiều xu hướng (cách mạng,
về nguồn, tư tưởng khác) (Phụ lục 2), thể hiện cách nhìn, cách nghĩ của nhà
văn khi tiếp nhận thực tại xã hội và con người từ nhiều điểm nhìn khác nhau Truyện ngắn Nam Bộ đã là một thể loại vững vàng trước nhiệm vụ thể hiện muôn ngàn vấn đề của cuộc sống và con người trong chặng đường lịch sử đầy biến động Mặt khác, trong giai đoạn mà quá trình hiện đại hóa văn học quốc
ngữ Nam Bộ cơ bản hoàn tất, nghệ thuật trần thuật cũng in đậm dấu ấn của quá trình này Điều này thể hiện trong sự hiện diện của các yếu tố truyền thống và cách tân về phương diện chủ thể và điểm nhìn trần thuật trong truyện
ngắn mà luận án sẽ triển khai dưới đây
1.1 Nh ững nguồn ảnh hưởng đến sự hình thành hình thức chủ thể trần thu ật trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975)
1.1.1 Ảnh hưởng của yếu tố truyền thống (trên dẫn liệu truyện kể bình dân Nam B ộ)
Trong văn xuôi truyền thống, từ truyện kể dân gian (như thần thoại, cổ tích, truyện cười) đến các tác phẩm tự sự cuối thời trung đại, việc xử lý, lựa chọn ngôi kể thường khá đơn giản Tác phẩm chủ yếu được kể dưới dạng “vô
Trang 34nhân xưng” Chủ thể trần thuật ít để lại dấu vết riêng trong văn bản, thậm chí, thường ẩn sau ngôi thứ ba – người kể chuyện ẩn mình, không danh tính Đặc điểm này có thể giải thích bằng nhiều nguyên nhân, song, không thể không nói đến sự chi phối của nhu cầu giao tiếp trực diện giữa người kể và người nghe trong sinh hoạt văn nghệ của giới bình dân Nam Bộ, nhu cầu chuẩn hóa các quan niệm và diễn ngôn về đạo lí/đạo đức truyền thống của nhân dân Sau
đó, có thể nói đến sự chi phối của mục đích giáo huấn, tải đạo và tinh thần phi ngã trong văn học trung đại ở Nam Bộ
Ngay từ lúc mới hình thành, những giai thoại, truyền thuyết lịch sử xuất hiện sớm nhất, đương nhiên cũng tiếp nhận lại những phương thức trần thuật truyền thống của người Nam Bộ Do đặc thù của các truyện kể đơn sơ được lưu truyền chủ yếu bằng phương thức truyền khẩu, nên việc thuật kể chú trọng đến sự dễ dàng cho tiếp nhận Kiểu người kể chuyện toàn tri, toàn quyền phát
biểu, phán đoán mọi sự việc, hiện tượng trong câu chuyện là phương thức cơ
bản của việc trần thuật trong các truyện kể, giai thoại về buổi đầu của đất và người phương Nam Chẳng hạn trong truyện dưới đây, chủ thể trần thuật là lời
“tục truyền” mang ý nghĩa xác định sự đồng thuận của số đông trong cộng đồng, cùng khẳng định sự hiện hữu của một cõi lạc thổ bình yên – một chốn ước mơ của người dân Nam Bộ đang khai phá U Minh lúc bấy giờ: “Tục truyền, hằng năm ở U Minh vào mùa lúa chín, thỉnh thoảng có vài bó rơm từ trên rừng trôi xuống hạ lưu Những đêm trăng sáng, văng vẳng từ ngọn tràm
xa xôi vang lên tiếng cười nói, tiếng chày giã gạo hay tiếng gà gáy, tiếng chó
sủa […] Dân chúng trong vùng tin rằng ở rừng sâu ấy là nơi cư ngụ của
những người khuất mặt, chẳng bao giờ người phàm mắt thịt nhìn thấy được” [149, tr.155]
Lạc thổ trong truyền thuyết ấy lại nằm ngay trong lòng rừng U Minh thâm u, rừng thiêng nước độc đầy thách thức với người khai phá buổi đầu Rồi
từ cuối thế kỷ XIX, U Minh lại có sức mạnh cơ giới khai phá cùng lúc với sức
ép của thực dân Pháp xâm lăng ở bên ngoài Trong hoàn cảnh đó, người kể
Trang 35chuyện “toàn quyền, toàn tri” khẳng định chốn lạc thổ ước mơ bất khả xâm
phạm Rừng U Minh càng được xem là một thực tại có thật, là sự hiện hữu của chốn hạnh phúc và bình an Bên cạnh đó, tính “toàn quyền”, ‘toàn tri” trong cách kể chuyện trên hoàn toàn phù hợp với tâm tình và nguyện vọng của quần chúng Nam Bộ Họ muốn bảo vệ những giá trị thiêng liêng của đất và người trước thử thách của những biến cố lịch sử hoàn toàn bất lợi Vì thế, câu chuyện về chốn lạc thổ ấy còn tồn tại cho tới ngày nay và sẽ còn lâu dài trong kho tàng truyện dân gian Nam Bộ
Sau đó, kho tàng truyện dân gian Nam Bộ còn được làm giàu, làm phong phú hơn với những truyền thuyết lịch sử, xuất hiện trong thời kì kháng chiến
chống Pháp Cuộc kháng chiến buổi đầu hoàn toàn được tiến hành trên tinh
thần yêu nước của những người “mến nghĩa làm quân chiêu mộ” (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc – Nguyễn Đình Chiểu) Trong hoàn cảnh triều đình gần
như bỏ rơi, nghĩa quân hoàn toàn tự túc về lương thực, vũ khí, lúc đó, điểm
tựa quí báu cho hoạt động yêu nước chính là hồn thiêng của đất đai lãnh thổ,
hiện thân dưới những sức mạnh siêu nhiên luôn che chở bảo vệ con dân Nam
Bộ Người kể chuyện ẩn mình toàn quyền phát huy mọi khả năng tưởng tượng, hi vọng và phán đoán sự thật đằng sau sự siêu nhiên Mục đích là làm
ấm lòng người nghĩa quân đang chiến đấu trong một thế không tương quan về sức: “Trong lúc khói lửa mịt mù, thì thình lình có tiếng ào ào như giông gió
nổi lên Từ trong rừng một con rắn hổ mây bề tròn như miệng thúng phóng lên như vũ bão, lăn xả vào lửa, há họng, đập đuôi, nhe răng, thở khò khè […]
Bọn lính Pháp bỏ chạy tán loạn […] Thuở đó, người ta cho rằng rắn thần phò
trợ cho Thiên Hộ Dương” [149, tr.54]; hoặc trong truyền thuyết Vườn Trầu
d ấy nghĩa nổi tiếng ở Gia Định có đoạn kể: “Ở đây vẫn còn nhiều rừng rậm,
mãnh hổ thường hay bắt người nên có câu “Dữ như cọp Vườn Trầu” […] Người dân dùng đuốc có dầu chai để soi đường trong đêm và ánh lửa của
ngọn đuốc chiếu sáng nhấp nhô khiến cọp hoa mắt không dám tấn công […] Chính những điều kiện sống như vậy đã tạo nên truyền thống đoàn kết và thượng võ Ai cũng học đôi chút võ nghệ để phòng thân và giúp đỡ chòm xóm
Trang 36khi bị cọp beo làm hại hay khi gặp chuyện bất bình” [149, tr.194] Người kể chuyện toàn tri có cách khẳng định chắc chắn, không thể hoài nghi về phẩm chất đoàn kết, tinh thần thượng võ của cư dân Phẩm chất ấy phổ biến nơi cư dân mười tám thôn vườn trầu, nên “ai cũng thế”, ai cũng có võ nghệ để phòng thân và giúp đỡ chòm xóm
Trong những truyện kể dân gian về sự việc, con người Nam Bộ thời kì khai phá như đã nêu trên, người kể tuyệt đối ẩn mình nhưng lại độc quyền kể,
tả, bình Trong trường hợp này, thủ thuật chính là đưa ra người kể phiếm định như “người ta cho rằng…”, “tục truyền ”, “dân chúng tin rằng ” hoặc khẳng định “ai cũng ” Những chủ thể số đông, phiếm định và những quán ngữ khẳng định tính hiển nhiên, phổ cập của chân lí được truyền dẫn như trên rất thích hợp với tính độc quyền của người kể chuyện ngôi thứ ba với điểm nhìn toàn tri, toàn quyền xác định những vấn đề lớn nhất của truyện kể Trong tình hình này, các chủ thể trần thuật làm cho câu chuyện được lưu truyền trước hết trong dân gian (trước khi chúng được chép lại thành văn bản) chính là “dân chúng”, là dư luận xã hội có một độ thống nhất cao “ai cũng”, “đồn rằng”,…
Có vẻ như người kể chuyện chỉ đóng vai trò khiêm nhường là kẻ phát ngôn mang tính đại diện Họ đại diện cho quan niệm, tư tưởng, khát vọng của cộng đồng Họ tôn vinh cái đẹp, cái thiện xứng đáng với truyền thống, được thần linh ủng hộ, được xã hội đồng tình và không thế lực đen tối nào có thể hủy hoại được Đây cũng chính là kiểu trần thuật mà tự sự học hiện đại gọi là người kể chuyện “có vai trò như thượng đế, biết hết mọi chuyện nhân sinh, vũ trụ, quá khứ, hiện tại, tương lai” [115, tr.115] Nhìn từ “khoảng cách” tự sự,
G.Genette gọi đó là mô thức tự sự với tiêu cự bằng không: không có một cách
ngăn nào trong quan niệm về các tiêu chí giá trị giữa người kể và cái được kể Sau đó, truyện cười dân gian xuất hiện với cách trần thuật có kết cấu công phu hơn Truyện cười dân gian Nam Bộ vẫn thể hiện vai trò của người
kể duy nhất và độc quyền trong việc “sắp xếp để lôi cuốn người nghe vào
cuộc, phân bổ chi tiết, lướt qua những đoạn mào đầu và dừng lại lâu hơn ở đối
Trang 37thoại có khả năng làm bật ra tiếng cười” [115, tr.157], chẳng hạn như trường
hợp truyện Thầy bói bị trác cổi quyền giữa chợ dưới đây trong tập Truyện khôi hài do Trương Vĩnh Ký sưu tầm: “Thằng cha thầy bói kia, đi đâu, có mướn một đứa dắt để chỉ chừng đường sá Mà nhằm đứa lý lắc hay chơi pha lửng, dặn nó hễ có mương thì nó la lên, cho thầy ta biết mà nhảy kẻo sụp Đi ngang qua chợ đông, nó muốn khuấy chơi, nó nói: Mương, thầy, mương!
Nhảy, thầy, nhảy! Thầy nghe nói nhảy một chặp Rồi nó nói: Đây có cái hào
lớn, thầy cổi quần ra mà lội thì mới được Anh thầy tin tưởng là thật, cổi tuột
quần ra vắt vai đi xung xăng giữa chợ Thiên hạ thấy trếu làm vậy, cười om cả
chợ” [61, tr.67] Trong truyện này, người trần thuật ngôi thứ ba đã toàn quyền
sắp xếp trật tự các chi tiết chuẩn bị cho sự bùng nổ tiếng cười
1.1.2 Ảnh hưởng của tình hình lịch sử xã hội và sự giao lưu văn hóa
Việc xác lập chủ thể và điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Nam Bộ (1945 – 1975) chịu sự tác động từ hai nhân tố cơ bản: thực tế hoàn cảnh lịch
sử, xã hội và sự giao lưu, tiếp xúc với văn hóa bên ngoài, đặc biệt là văn học
phương Tây
Về hoàn cảnh lịch sử, xã hội: từ cách mạng tháng Tám năm 1945 đến
1975, cả nước tập trung vào hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ Cách mạng ở mỗi vùng miền (Nam, Bắc) có nhiệm vụ chiến lược riêng nhưng phối hợp chặt chẽ với nhau để hướng đến thống nhất đất nước Văn học hai miền cũng trên cơ sở thực hiện nhiệm vụ cao cả: nhiệm vụ chính trị Bên cạnh văn xuôi miền Bắc, còn có văn xuôi đô thị miền Nam, văn xuôi giải phóng miền Nam luôn đồng hành cùng với đời sống con người, với cách mạng trên
bước đường chiến đấu Lúc này, văn học – nghệ thuật trở thành một mặt trận
Trọng trách của mỗi nhà văn là tìm tòi, sáng tạo một hình thức nghệ thuật nhằm: một mặt, chuyển tải thông tin đến người đọc về hiện thực thời đại; mặt khác, tuyên truyền, giáo dục, động viên tinh thần chiến đấu vì độc lập dân tộc
Để chuyển tải tư tưởng đó, việc lựa chọn phương thức tự sự rất quan trọng Chính sự khát khao độc lập của nhân dân góp phần tạo nên không khí văn
Trang 38chương sôi động Cảm hứng yêu nước và cách mạng là cảm hứng chủ đạo chi phối cả hệ thống nghệ thuật biểu hiện Sự sáng tạo nghệ thuật của nhà văn trên mạch nguồn cảm hứng đó thể hiện qua sự xác lập chủ thể trần thuật, ngôi kể, điểm nhìn, cách tổ chức thời gian trần thuật và chọn lọc ngôn ngữ trần thuật Trong đó, người kể chuyện với tư cách là một công cụ được nhà văn tạo ra nhằm chuyển tải thông điệp của thời đại Về thực chất, việc lựa chọn người kể chuyện không phải ngẫu nhiên mà mang tư tưởng và ý thức hệ của nhà văn Ý thức của một thời đại đầy gian khổ nhưng vẻ vang của Nam Bộ nói riêng và
của cả dân tộc nói chung
Trên mảnh đất Nam Bộ lúc này, người Nam Bộ bước vào thời kì lịch sử mới với cuộc đấu tranh chống xâm lược, đồng thời, phải chống lại nhiều thế lực đen tối đang chiếm lĩnh vùng đất này, nhất là tại các đô thị Thế lực đó có nguy cơ làm tha hóa con người, làm lung lay những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc Văn học Nam Bộ nói chung, truyện ngắn nói riêng đối diện với thực
tế đầy thách thức đòi hỏi nỗ lực rất lớn của nhà văn trong sứ mệnh thể hiện một chặng đường gian khổ của con người Nam Bộ Từ đó, nhằm phản ánh thực trạng cuộc sống vô cùng đa tạp ở Nam Bộ, trong đó có cuộc sống trong lòng các đô thị miền Nam, các mảng chủ đề khác nhau trong truyện ngắn được hình thành, phương thức tự sự cũng mới mẻ, nhất là việc xác lập hình tượng người trần thuật, điểm nhìn trần thuật
Mặt khác, tại Nam Bộ, giai đoạn 1945 –1975, tư duy nghệ thuật trong văn chương Nam Bộ đã liên tiếp đón nhận nhiều luồng ảnh hưởng Tây phương rồi được bản địa hóa nhuần nhuyễn qua hai giai đoạn là buổi giao thời nửa đầu thế kỷ XX và giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975 Trong đó, mốc thời gian phải kể là từ giữa thế kỉ XX, công cuộc hiện đại hóa văn học cơ bản đã hoàn tất ở Nam Bộ trong xu hướng phát huy những giá trị truyền thống, tiếp biến những ảnh hưởng ngoại lai có nguồn gốc từ văn học phương Tây
Trang 39Trong bối cảnh đó, hiện tượng có ba dòng văn học cùng tồn tại trên đất Nam Bộ (trong các thập niên 40, 50, 60 và nửa đầu thập niên 70) dưới tác động của các xu hướng tư tưởng khác nhau như:
(1) Văn học yêu nước – cách mạng được sáng tác bởi các nhà văn hoạt
động cách mạng, tiêu biểu là Lê Vĩnh Hòa, Nguyễn Thi, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức,… Mảng văn chương này là một vũ khí lợi hại, ưu tiên cho yêu cầu chuyển tải trực tiếp và nhanh chóng các nội dung giáo dục, tuyên truyền, dẫn dắt công chúng tiến đến các mục tiêu yêu nước, cách mạng
(2) Văn học yêu nước –về nguồn của nhà văn nặng lòng với các giá trị
văn hóa truyền thống, nhất là khi nó đứng trước thử thách và nguy cơ bị tổn hại, tiêu biểu là Phi Vân, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Viễn Phương, Vũ Hạnh, Trang Thế Hy,…
Thành thị miền Nam là nơi chịu nhiều áp lực của chế độ thực dân mới
Từ đó, truyện ngắn có những hành trình và diện mạo khác nhau khi nó phản ánh thực trạng thành thị, cuộc sống khủng hoảng và hoài nghi của người dân;
và vượt lên trên bầu khí xã hội nặng nề với âm hưởng chiến tranh xâm lược chính là những khoảng sáng của nhận thức, hi vọng, nỗ lực,… Tất cả điều đó thể hiện qua những truyện ngắn có cảm hứng yêu nước – về nguồn, tìm về những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc như một thành lũy hữu hiệu để đối đầu với nguy cơ tha hóa văn hóa đang thử thách con người
(3) Văn học thuộc xu hướng khác, ảnh hưởng các trào lưu tư tưởng
phương Tây hiện diện ở các đô thị miền Nam suốt một chặng đường dài 1954 – 1975, trong đó có tư tưởng hiện sinh, tiêu biểu là Võ Phiến, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trần Thị NgH, Thanh Tâm Tuyền,…
Với tính chất là một thể loại đặc thù, truyện ngắn Nam Bộ hiện diện trong các mảng chủ đề như trên đã khẳng định những nét riêng mới mẻ trong nhiều bình diện cấu thành nó Trong đó, việc xác lập chủ thể trần thuật trong truyện ngắn rất quan trọng khi cần thể hiện quan niệm, thái độ của nhà văn đối với cuộc sống, sự việc, con người trong một thời đại đầy biến động Vì vậy,
Trang 40nghệ thuật trần thuật với các hình thức đa dạng của chủ thể trần thuật, dẫn tới
sự phong phú của các kiểu chủ thể trần thuật (với tư cách là người kể, tả, người phát ngôn của các miêu tả, các bình luận những vấn đề của lịch sử, xã hội và con người) Cùng với chủ thể trần thuật, việc tổ chức điểm nhìn trần thuật cũng linh hoạt hơn trong khả năng hoán chuyển vị trí cho nhau của các chủ thể trần thuật có khi cùng hiện diện trong một tác phẩm
Chẳng hạn, trong các truyện ngắn yêu nước – cách mạng, phát ngôn của người kể chuyện cũng là phát ngôn của người đại diện cho lí tưởng cách
mạng, đại diện cho sự ưu tiên tuyệt đối dành cho quyền sống còn của đất nước, dân tộc Vì thế, trong buổi đầu, hình tượng người kể chuyện toàn tri chiếm ưu thế Từ đó, điểm nhìn trần thuật thường là ổn định, duy nhất, không
có yêu cầu đặt lại vấn đề Tuy nhiên, ngay trong các truyện ngắn có mạch nguồn cảm hứng yêu nước – cách mạng sản sinh trong sự nhất quán về lí tưởng thẩm mĩ, đạo đức, thì phương thức tự sự, đặc biệt là cách xác lập chủ
thể trần thuật và tổ chức điểm nhìn trần thuật vẫn lác đác những tìm tòi mới
của những nhà văn Sự nhường vai người kể chuyện xuất hiện trong truyện
ngắn yêu nước làm nên sắc thái tư duy mới Trong đó, sự hài hòa giữa cá nhân
và cộng đồng trong nhân vật kể chuyện xưng “tôi” được thực hiện một cách
có kết quả để thể hiện tâm tình con người trong một thời đại với những dấu ấn lịch sử đặc thù Do đó, có những cách kể với nhân vật xưng “tôi” nhưng không phải là tác giả, những cách trần thuật không bị tác giả độc chiếm, không có những điểm nhìn độc chiếm về sự việc, con người xuất hiện khá nhiều trong truyện ngắn của dòng văn học yêu nước – cách mạng như Đất ( Anh Đức), Chiếc lược ngà, Một truyện vui (Nguyễn Quang Sáng), Anh Thơm râu r ồng (Trang Thế Hy),
Bên cạnh đó, chủ thể trần thuật trong các mảng truyện ngắn về đề tài con người và thực trạng cuộc sống thành thị chịu ảnh hưởng dòng tư tưởng hiện sinh phương Tây, truyện ngắn có nội dung về nguồn, là một hiện tượng rất đáng chú ý Phương pháp tự sự, tạo dựng hình tượng người kể chuyện, điểm