Mỗi năm hoa đào nởLại thấy ông đồ già Bày mực tàu giấy đỏ Bên phố đông người qua.. Bao nhiêu người thuê viết Tấm tắc ngợi khen tài “Hoa tay thảo những nét Như phượng múa rồng bay .” Hình
Trang 3- ễng từng tham gia phong trào thơ mới từ rất sớm.
- Thơ ông thường mang nặng lòng thương người và tình hoài cổ.
- Ông l m à thơ, dạy học, dịch thuật và nghiờn cứu, phờ bỡnh văn học; được nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân
Tiết 65:
(Vũ Đỡnh Liờn)
Trang 4(Vũ Đình Liên)
Trang 6-Hình tượng này được xây dựng trên một
nguyên mẫu có thực ngoài đời Đó là vào
khoảng những năm 1935 - 1936 trên phố
Hàng Bồ ( Hà Nội ) có một ông đồ nghèo
ngồi viết chữ thuê Ông đồ này nghèo đến
mức không có sẵn giấy để viết chữ, khi nào có khách đến thì ông mới chạy đi mua giấy Từ nhân vật này Vũ Đình Liên đã xây dựng hình tượng ông đồ bất hủ trong thi ca Việt Nam
( ảnh tư liệu chụp cuối TK XIX )
-Bài thơ được sáng tác năm 1936, in trên báo Tinh hoa “ ”
Trang 8Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua.
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
“Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay ”
Hình
ảnh ông
đồ thời thịnh vượng
Hình ảnh
ông đồ thời suy tàn
Sự hoài niệm của nhà thơ
Nhưng mỗi năm mỗi vắng Người thuê viết nay đâu ? Giấy đỏ buồn không thắm;
Mực đọng trong nghiên sầu …
Ông đồ vẫn ngồi đấy, Qua đường không ai hay, Lá vàng rơi trên giấy;
Ngoài giời mưa bụi bay.
Năm nay đào lại nở, Không thấy ông đồ xưa.
Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ?
(Vũ Đỡnh Liờn)
Trang 9Mỗi năm hoa đào nở Lại thấy ông đồ già Bày mực tàu giấy đỏ Bên phố đông người qua.
Bao nhiêu người thuê viết Tấm tắc ngợi khen tài
“Hoa tay thảo những nét Như phượng múa rồng bay ”
Trang 10Nhưng mỗi năm mỗi vắng Người thuê viết nay đâu ? Giấy đỏ buồn không thắm;
Mực đọng trong nghiên sầu …
Ông đồ vẫn ngồi đấy, Qua đường không ai hay, Lá vàng rơi trên giấy,
Ngoài giời mưa bụi bay.
Trang 11Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua.
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
“Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay ”
Nhưng mỗi năm mỗi vắng Người thuê viết nay đâu ? Giấy đỏ buồn không thắm;
Mực đọng trong nghiên sầu …
Ông đồ vẫn ngồi đấy, Qua đường không ai hay, Lá vàng rơi trên giấy,
Ngoài giời mưa bụi bay.
Tiết 65:
(Vũ Đỡnh Liờn)
- Tỡm sự giống nhau và khỏc nhau
về cảnh vật và con người ở hai khổ thơ
giữa so với hai khổ thơ đầu ?
- Để thể hiện thời tàn suy của ụng đồ
ở hai khổ thơ giữa nhà thơ đó sử dụng
những biện phỏp nghệ thuật nào ?
Giống
hai khổ thơ
giữa
Trang 12Giống nhau Khỏc nhau Biện phỏp nghệ thuật ở hai khổ
- Có lá rơi trên giấy, mưa bụi bay ngoài trời
- Điệp ngữ: mỗi“ ”
- Câu hỏi:
“Người thuê viết nay đâu ? ”
-Nhân hóa: Giấy đỏ buồn“ …”; “… nghiên sầu”
- Ẩn dụ:“Lá vàng…” “…; mưa bụi”
(Vũ Đỡnh Liờn)
Ông đồ vẫn ngồi đấy, Qua đường không ai hay, Lá vàng rơi trên giấy,
Ngoài giời mưa bụi bay.
Trang 13Năm nay đào lại nở,
Trang 15Hãy chọn câu trả lời đúng nhất thể hiện được đầy đủ
những nét nghệ thuật đặc sắc của bài thơ:
Thể thơ ngũ ngôn được sử dụng hiệu quả.
Chưa đủ
Chưa đủ
Đúng nhất
Tiết 65:
(Vũ Đình Liên)
Trang 16- Thể thơ ngũ ngôn được sử dụng hiệu quả.
- Kết cấu bài thơ giản dị nhưng chặt chẽ Hình ảnh và các biện pháp tu từ được chọn lọc
- Ngôn ngữ thơ trong sáng, bình dị nhưng hàm súc.
(Vũ Đình Liên)
Trang 17Hãy chọn câu trả lời đúng nhất thể hiện được đầy đủ
nội dung, tư tưởng của bài thơ:
Sự tàn tạ của ông đồ.
A
Thể hiện niềm cảm thương chân thành đối với
ông đồ, một lớp người đang tàn lụi.
C
Chưa đủ
Chưa đủ
Chưa đủ
Đúng nhất
Tiết 65:
(Vũ Đình Liên)
Trang 18- Thể thơ ngũ ngôn được sử dụng hiệu quả.
- Kết cấu bài thơ giản dị nhưng chặt chẽ Hình ảnh và các biện pháp tu từ được chọn lọc
- Ngôn ngữ thơ trong sáng, bình dị nhưng hàm súc.
Bài thơ thể hiện tình cảnh tàn tạ của nhân vật ông đồ, đồng thời cũng thể hiện niềm cảm thương, nỗi tiếc nhớ ngậm ngùi của nhà thơ đối với một lớp người, một nét văn hóa cổ truyền của dân tộc đang bị xã hội lãng quên.
(Vũ Đình Liên)
Trang 20Dặn dò
- Đọc diễn cảm và học thuộc lòng bài thơ;
- Soạn bài tiết 66: “ Hai chữ nước nhà”.