1. Trang chủ
  2. » Nghệ sĩ và thiết kế

KIEM SOAT NOI BO VA KE TOAN

8 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 129,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

− Cuoái cuøng, ñoái vôùi muïc tieâu veà tuaân thuû phaùp luaät vaø quy ñònh, keá toaùn coù aûnh höôûng nhaát ñònh trong vieäc giaùm saùt vieäc chaáp haønh caùc chính saùch, cheá ñoä veà[r]

Trang 1

TỪ LÝ LUẬN ĐẾN THỰC TIỄN

KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ KẾ TOÁN

Vũ Hữu Đức

(Trường Đại học Kinh tế TPHCM)

Việc hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng của báo cáo tài chính nói riêng và của toàn bộ hệ thống kế toán doanh nghiệp nói chung Tuy nhiên, khái niệm KSNB rất rộng và bao gồm nhiều lĩnh vực vượt khỏi chức năng kế toán Bài viết dưới đây giới thiệu các lý luận khác nhau về KSNB để làm cơ sở xem xét những ảnh hưởng của khái niệm này đến công tác kế toán Qua đó, chúng tôi mong rằng sẽ cung cấp một số thông tin định hướng cho các bạn đọc làm công tác kế toán hoàn thiện hơn nữa tổ chức kế toán đơn vị mình.

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHÁI

NIỆM KIỂM SOÁT NỘI BỘ

Khái niệm KSNB bắt đầu được sử

dụng vào đầu thế kỷ 20 trong các tài

liệu về kiểm toán Lúc đó, KSNB

được hiểu như là một biện pháp để

bảo vệ tiền không bị các nhân viên

gian lận Sau đó, trong nhiều năm,

khái niệm này dần được mở rộng:

người ta cho rằng KSNB không chỉ

bảo vệ tài sản (không chỉ có tiền) mà

còn nhằm bảo đảm việc ghi chép kế

toán chính xác, nâng cao hiệu quả

hoạt động và khuyến khích tuân thủ

các chính sách của nhà quản lý Tuy

nhiên, cho đến năm 1992, KSNB vẫn

chỉ dừng lại là một phương tiện phục

vụ cho các kiểm toán viên trong quá

trình kiểm toán báo cáo tài chính

Báo cáo COSO 1992 là kết quả của một quá trình nghiên cứu của Ủy ban các tổ chức đồng bảo trợ 1 cho Hội đồng Quốc gia Hoa Kỳ về chống gian

1 The Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission, viết tắt là COSO, bao gồm các thành viên là các tổ chức nghề nghiệp trong lĩnh vực kiểm toán, kế toán và quản trị tài chính : Hiệp hội kế toán viên công chứng Mỹ (AICPA), Hội kế toán Mỹ (American Accounting Association), Hiệp hội quản trị viên tài chính (the Financial Executives Institute – FEI), Hiệp hội kế toán viên quản trị (Institute of Management Accountants – IMA), Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (the Institute of Internal Auditors – IIA)

Trang 2

lận báo cáo tài chính 2 Báo cáo này

gồm 353 trang, chia làm 4 phần:

ƒ Tóm tắt dành cho nhà quản lý

ƒ Khuôn khổ chung của KSNB

ƒ Báo cáo cho bên ngoài

ƒ Các công cụ đánh giá KSNB

Báo cáo COSO 1992 là tài liệu đầu

tiên trên thế giới nghiên cứu và định

nghĩa về KSNB một cách đầy đủ và

có hệ thống Đặc điểm nổi bật của nó

là một tầm nhìn rộng và mang tính

quản trị, trong đó KSNB không còn

chỉ là một vấn đề liên quan đến báo

cáo tài chính mà được mở rộng ra cho

các lĩnh vực hoạt động và tuân thủ

Báo cáo COSO mở đầu cho hàng loạt

các công trình nghiên cứu và ứng

dụng về KSNB dưới nhiều góc độ

khác nhau:

ƒ Dưới góc độ phục vụ cho quản trị

doanh nghiệp, nhiều công trình

tiếp tục phát triển các kỹ thuật

đánh giá hệ thống KSNB để hạn

chế rủi ro Nhiều công ty tư vấn

đã phát triển các dịch vụ tư vấn

về KSNB Gần đây, COSO xúc

tiến việc xây dựng Khuôn khổ

Đánh giá Rủi ro Doanh nghiệp

(Enterprise Risk Management

Framework – viết tắt ERM) trên

cơ sở của Báo cáo COSO 1992

Bản dự thảo đã hình thành và

công bố vào tháng 7.2003

ƒ Dưới góc độ KSNB trong môi

trường máy tính, năm 1996 Hiệp

hội Kiểm soát và Kiểm toán

Thông tin (Information System

Audit and Control Association –

viết tắt IACA) đã đưa ra Các

2 The National Commission on

Fraudulent Financial Reporting hay

mục tiêu kiểm soát cho công nghệ thông tin và các kỹ thuật liên quan (Control Objectives for Information and Related Technology- gọi tắt là CoBIT)

ƒ Trong lĩnh vực ngân hàng, Ủy ban Basle Các Ngân hàng Trung ương (Basle Committee on Banking Supervision) đã đưa một công bố về Khuôn khổ KSNB trong ngân hàng (Framework for Internal Control System in Banking Organisations) năm 1998

ƒ Ngoài ra, tổ chức nghề nghiệp

ở một số quốc gia đã xây dựng và ban hành các Khuôn khổ về KSNB, trong đó nổi bật là Báo cáo CoCo 1995 (Criteria of Control Board of Canadian Institute of Chartered Accountants) của Hiệp hội Kế toán viên Công chứng Canada Nhìn chung giai đoạn hậu COSO cho thấy sự phát triển mạnh mẽ việc nghiên cứu và ban hành các tiêu chuẩn về KSNB trên thế giới và trong nhiều lĩnh vực khác nhau ngoài xuất phát điểm ban đầu là kiểm toán Điều này cho thấy ý nghĩa quan trọng và tầm ứng dụng rộng rãi của KSNB trong hoạt động của các doanh nghiệp Nó cũng cho thấy một tiềm năng to lớn trong việc nghiên cứu và đưa vào ứng dụng các lý luận về KSNB ở Việt Nam

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BÁO CÁO COSO 1992

Định nghĩa KSNB

Báo cáo COSO 1992 định nghĩa KSNB là “KSNB là một quá trình bị chi phối bởi ban giám đốc, hội đồng

Trang 3

quản trị và các nhân viên của đơn vị,

được thiết kế để cung cấp một sự đảm

bảo hợp lý nhằm đạt được các mục

tiêu sau đây:

ƒ Mục tiêu về sự hữu hiệu và hiệu

quả của hoạt động

ƒ Mục tiêu về sự tin cậy của báo

cáo tài chính

ƒ Mục tiêu về sự tuân thủ các luật

lệ và quy định”

Định nghĩa này nhấn mạnh những vấn

đề sau:

ƒ KSNB là một quá trình, nghĩa là

một hoạt động cơ bản, được duy

trì liên tục và rộng khắp trong tổ

chức KSNB không chỉ đơn thuần

là một việc thiết kế ban đầu ra hệ

thống hay thực hiện một đợt cải

tiến cụ thể trong một hoạt động

nào đó của đơn vị …

ƒ KSNB được thiết lập và duy trì để

đạt được các mục tiêu của tổ

chức, bao gồm các mục tiêu về

hoạt động, tài chính và tuân thủ

Mục tiêu là tiền đề của mọi hệ

thống KSNB

ƒ KSNB chịu sự chi phối của con

người (bao gồm ban giám đốc, hội

đồng quản trị và các nhân viên

của đơn vị) Mặc dù các hoạt

động kiểm soát thường được ban

hành bởi ban giám đốc nhưng sự

vận hành của chúng chỉ hữu hiệu

khi có sự tham gia và phối hợp

giữa mọi thành viên trong đơn vị

ƒ KSNB chỉ cung cấp một sự bảo

đảm hợp lý trong việc đạt được

các mục tiêu xuất phát từ những

hạn chế tiềm tàng của KSNB:

Ràng buộc của quan hệ chi phí –

lợi ích, sự thông đồng của các cá

nhân trong hoặc ngoài tổ chức, sai

lầm của con người, sự lạm quyền của nhà quản lý…

Các yếu tố của hệ thống kiểm soát nội bộ

Báo cáo COSO đưa ra năm yếu tố của KSNB bao gồm môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông và giám sát

Môi trường kiểm soát là sắc thái chung, là “bầu không khí” kiểm soát của đơn vị Nó bao gồm các nhân tố như triết lý quản lý và phong cách điều hành, chính sách nguồn nhân lực, sự trung thực và giá trị đạo đức,

cơ cấu tổ chức, sự quan tâm của Hội đồng quản trị … Môi trường kiểm soát là nền tảng của các yếu tố khác Thí dụ, một tổ chức có môi trường kiểm soát yếu kém thì các hoạt động kiểm soát khó có thể đạt được mục tiêu

Đánh giá rủi ro bao gồm việc nhận dạng và phân tích rủi ro Nhận dạng rủi ro được thực hiện thông qua việc xem xét các nhân tố bên ngoài (sự thay đổi kỹ thuật, môi trường kinh doanh và cạnh tranh …) và bên trong (tính chất hoạt động của tổ chức, chất lượng đội ngũ nhân viên, hệ thống xử lý thông tin …) Phân tích rủi ro bao gồm việc xem xét tầm quan trọng và khả năng xảy ra rủi ro, từ đó cân nhắc việc đối phó với rủi ro Một hệ thống KSNB hữu hiệu cần có khả năng đánh giá rủi ro Một trong những tiền đề quan trọng của việc đánh giá rủi

ro là phải xác định được mục tiêu của tổ chức, bởi vì một sự kiện chỉ là rủi

ro khi nó đe dọa mục tiêu của tổ chức và tầm quan trọng của nó tùy thuộc vào mức độ nó có thể tác động xấu đến mục tiêu của tổ chức

Các hoạt động kiểm soát là các chính sách thủ tục nhằm bảo đảm công việc

Trang 4

được thực hiện theo đúng mong muốn

của người quản lý Có rất nhiều các

hoạt động kiểm soát được tiến hành

trong các tổ chức Những hoạt động

kiểm soát thường được sử dụng là

phân chia trách nhiệm, kiểm soát quá

trình xử lý thông tin, kiểm soát tài sản

vật chất và phân tích rà soát

Thông tin và truyền thông bao gồm

việc thu thập, xử lý và cung cấp

thông tin trong nội bộ tổ chức và với

bên ngoài Về mặt thông tin, hệ thống

phải đủ khả năng thu thập, xử lý

thông tin hình thành các báo cáo tài

chính và hoạt động Về mặt truyền

thông, hệ thống phải bảo đảm thông

tin cần thiết sẽ được chuyển cho

người thích hợp một cách kịp thời

Qua đó, trong nội bộ đơn vị, mọi cá

nhân phải được thông báo về mong

đợi và đánh giá về công việc của

mình và được khuyến khích báo cáo

lên cấp trên những trục trặc phát sinh

Đối với bên ngoài, mọi cá nhân và

đơn vị đều hiểu rằng tổ chức không

chấp nhận các hành vi sai phạm

Giám sát là việc thường xuyên và

định kỳ kiểm tra và đánh giá hệ

thống KSNB để điều chỉnh một cách

thích hợp Các hoạt động giám sát

thường xuyên như kiểm tra đối chiếu,

kiểm toán nội bộ, kiểm toán độc lập

… Các chương trình đánh giá định kỳ

cũng là một phương thức giám sát hữu

hiệu đối với các hoạt động hay bộ

phận trong đơn vị

Xuất phát từ việc phân tích tỉ mỉ các

yếu tố trên của KSNB, Báo cáo

COSO đưa ra một bộ công cụ đánh

giá toàn diện KSNB của một tổ chức

(Evaluation Tools) Đây chính là cơ

sở cho các tổ chức tiến hành quá trình

xem xét lại KSNB của mình Thí dụ,

để đánh giá về triết lý quản lý và

phong cách điều hành (thuộc môi trường kiểm soát), Báo cáo COSO cho rằng cần tìm hiểu những vấn đề như quan điểm của người quản lý về rủi ro trong kinh doanh, về báo cáo tài chính, mức độ tiếp xúc thường xuyên với cấp dưới …

KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ KẾ TOÁN

Kiểm soát nội bộ rõ ràng là một vấn đề quan trọng của các nhà quản lý trong việc thực hiện vai trò lãnh đạo trong tổ chức Đối với các kiểm toán viên độc lập, KSNB là cánh cửa cho phép họ xem xét khả năng xảy ra sai lệch trên báo cáo tài chính để thiết kế các thủ tục kiểm toán Câu hỏi đặt ra là KSNB có ảnh hưởng gì đến công việc kế toán, hay nói cách khác, người kế toán có thể sử dụng các khái niệm và lý luận về KSNB để phục vụ

gì cho công việc của mình

Theo chúng tôi, những hiểu biết về KSNB có thể giúp người kế toán:

ƒ Hoàn thiện trong bản thân công tác kế toán

ƒ Thúc đẩy hoàn thiện hệ thống KSNB chung cho toàn đơn vị

Hoàn thiện trong bản thân công tác kế toán

Bộ phận kế toán bản thân nó cũng là một tổ chức nhỏ trong một tổ chức lớn hơn là toàn đơn vị Vì vậy, phần lớn các khái niệm và lý luận về KSNB đều có thể áp dụng trong việc hoàn thiện bộ phận kế toán (dưới đây gọi tắt là Bộ phận)

Về mục tiêu của Bộ phận

Bộ phận kế toán cần xác lập rõ các mục tiêu của mình là:

ƒ Mục tiêu hoạt động: Hoàn thành các báo cáo tài chính, báo cáo nội

Trang 5

bộ đáng tin cậy và kịp thời với

một ngân sách hợp lý

ƒ Mục tiêu tuân thủ: Tổ chức và

duy trì công tác ghi chép kế toán

tài chính phù hợp với luật pháp và

các quy định nội bộ

Về các yếu tố KSNB

Hoàn thiện môi trường kiểm soát của

Bộ phận

Đây là giải pháp cơ bản nhất để hoàn

thành các mục tiêu Bộ phận Mặc dù

môi trường kiểm soát của mỗi bộ

phận không thể tách rời môi trường

chung của tổ chức, tuy nhiên người

phụ trách bộ phận có thể cố gắng tạo

lập một bầu không khí thích hợp cho

việc thực hiện các mục tiêu của mình

Aùp dụng các lý luận của Báo cáo

COSO vào Bộ phận, có thể nêu

những giải pháp chính sau:

ƒ Người phụ trách cần đưa ra các

quan điểm rõ ràng về sự trung

thực và đạo đức kinh doanh (thí

dụ vấn đề tuân thủ luật thuế, mức

độ quan hệ với khách hàng và

nhà cung cấp, cách xử lý các

trường hợp mâu thuẫn quyền lợi

…)

ƒ Xây dựng và thực hiện một chính

sách nhân sự phù hợp để từng

bước hình thành một đội ngũ nhân

viên đủ khả năng (tuyển dụng

nhân viên có năng lực, huấn

luyện nội bộ chu đáo, luân

chuyển công việc phù hợp …)

ƒ Hình thành các bảng mô tả công

việc cho từng cá nhân trong Bộ

phận, trong đó xác định trách

nhiệm và quyền hạn của mỗi

người

Đánh giá rủi ro

Với các mục tiêu của Bộ phận đã nêu, các rủi ro có thể đe dọa là:

ƒ Các thay đổi trong phương thức kinh doanh của đơn vị, trong quy định của Nhà nước, trong chuẩn mực, chế độ kế toán … không được cập nhật và phản ứng kịp thời

ƒ Sự bất cập trong đội ngũ nhân viên: không đủ số lượng hoặc chất lượng, sức ép công việc quá cao, sự gắn bó với đơn vị bị đe dọa bởi thu nhập thấp…

ƒ Hệ thống thông tin không đủ khả năng về tính ổn định, tính bảo mật và khả năng xử lý của thiết

bị, chương trình … Các biện pháp nhận dạng các rủi ro trên là:

ƒ Tổ chức sinh hoạt chuyên môn định kỳ, qua đó trao đổi thông tin và nhận biết các vấn đề đang đe dọa

ƒ Tham gia các câu lạc bộ, tổ chức nghề nghiệp kế toán, sử dụng các dịch vụ tư vấn thuế, kế toán …

ƒ Thực hiện tốt công tác bảo trì thiết bị, chương trình

Các hoạt động kiểm soát Một số hoạt động kiểm soát có thể sử dụng cho việc thực hiện các mục tiêu của Bộ phận là:

ƒ Xem xét sự phân chia trách nhiệm phù hợp, giảm thiểu những trường hợp kiêm nhiệm “nguy hiểm” Trong một số đơn vị hiện nay, bộ phận kế toán kiêm nhiệm công tác tài vụ Khi đó, việc phân công trong bộ phận cần đặc biệt chú ý vấn đề này

Trang 6

ƒ Phân định quyền xét duyệt và

thực hiện các nghiệp vụ một cách

rõ ràng

ƒ Hoàn thiện công tác chứng từ,

bảo đảm các chứng từ có biểu

mẫu phù hợp, được đánh số trước

liên tục, có quy trình lưu chuyển

hợp lý …

ƒ Bảo vệ tốt tài sản vật chất bao

gồm tiền mặt tồn quỹ, các chứng

từ có giá trị như tiền, các công cụ

dụng cụ …

ƒ Quy định chặt chẽ quy trình soát

xét số liệu qua các cấp trong Bộ

phận

ƒ Tổ chức hữu hiệu công tác phân

tích, bao gồm việc so sánh định

kỳ giữa kỳ này và kỳ trước, giữa

thực tế và kế hoạch (hoặc dự

toán), giữa tổng hợp và chi tiết,

giữa sổ sách và hiện vật …

Thông tin và truyền thông

Bộ phận kế toán chính là bộ phận thu

thập, xử lý và cung cấp thông tin tài

chính và hoạt động cho bên trong và

bên ngoài tổ chức Bên cạnh các quy

định bình thường như các bộ phận

khác (thông báo đầy đủ về trách

nhiệm và đánh giá về từng người,

thông báo cho bên ngoài biết rõ

những quy định về đạo đức của bộ

phận …), trong Bộ phận kế toán cần

chú ý thêm những vấn đề sau:

ƒ Xây dựng và phổ biến Sổ tay kế

toán bao gồm hệ thống tài khoản

chi tiết của đơn vị, các chính sách

kế toán của đơn vị, các phương

pháp xử lý các nghiệp vụ thường

xuyên ở đơn vị …

ƒ Xây dựng hệ thống dữ liệu về

văn bản, quy định của Nhà nước,

các quy định nội bộ liên quan đến

bộ phận, các định mức và tiêu

chuẩn làm cơ sở cho việc phân bổ và hạch toán …

ƒ Xây dựng quy trình lập báo cáo tài chính, bao gồm các bước công việc của từng nhân viên, các quy định về đối chiếu số liệu, các bước soát xét …

Giám sát Việc kiểm tra và đánh giá thường xuyên các hoạt động và nhân viên trong Bộ phận có tác dụng quan trọng để hoàn thiện KSNB của Bộ phận Trong lĩnh vực công tác kế toán, những thủ tục sau cần được chú trọng:

ƒ Thu thập thông tin từ khách hàng, nhà cung cấp, ngân hàng, các cơ quan quản lý nhà nước liên quan, các bộ phận khác trong đơn vị để điều chỉnh các hoạt động chưa thích hợp

ƒ Ghi nhận các kiến nghị của kiểm toán viên nội bộ, kiểm toán viên độc lập và các cơ quan kiểm tra, thanh tra khác

Việc sửa đổi các yếu kém cần được tiến hành nhanh chóng và kiên quyết

vì những biểu hiện lệch lạc ban đầu có thể sẽ biến thành những sai phạm nghiêm trọng nếu không ngăn chặn kịp thời

Thúc đẩy hoàn thiện hệ thống KSNB chung cho toàn đơn vị

Trong tất cả các bộ phận của một đơn

vị, ngoài bộ phận kiểm toán nội bộ (nếu có), kế toán là bộ phận có quan hệ mật thiết với hệ thống KSNB của toàn đơn vị Điều này xuất phát từ những lý do sau đây:

ƒ Công tác kế toán có ảnh hưởng đáng kể đến việc thực hiện hầu hết các mục tiêu của KSNB:

− Trước hết, kế toán ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu bảo

Trang 7

đảm báo cáo tài chính đáng

tin cậy

− Sau đó, thông qua việc cung

cấp thông tin cho quyết định

quản lý, công tác kế toán ảnh

hưởng nhiều đến mục tiêu

bảo đảm hoạt động hữu hiệu

và hiệu quả

− Cuối cùng, đối với mục tiêu

về tuân thủ pháp luật và quy

định, kế toán có ảnh hưởng

nhất định trong việc giám sát

việc chấp hành các chính

sách, chế độ về tài chính, kế

toán (một lĩnh vực “nhạy

cảm” trong hoạt động của

mọi loại hình tổ chức khác

nhau)

ƒ Việc hoàn thiện công tác kế toán

chỉ có thể đạt được nếu đặt trong

một hệ thống KSNB tương đối

hữu hiệu Có thể thấy rõ điều này

khi phân tích từng mục tiêu của

Bộ phận kế toán:

− Mục tiêu cung cấp báo cáo tài

chính và báo cáo hoạt động

đáng tin cậy, kịp thời sẽ

không thực hiện được nếu các

sai lệch đã xảy ra ngay trong

các nghiệp vụ do cơ cấu tổ

chức không hợp lý, phân chia

trách nhiệm không đúng, ủy

quyền và xét duyệt không

được thực hiện phù hợp …

− Mục tiêu thực hiện công tác tài

chính, kế toán tuân thủ pháp

luật và các quy định sẽ thất bại

nếu môi trường kiểm soát

không lành mạnh hoặc việc

giám sát không được thực hiện

Trong điều kiện đó, việc cố

gắng giữ gìn tính “tuân thủ hình

thức” đôi khi chỉ dẫn đến kế

toán trở thành người hợp pháp

hóa các sai phạm mà thôi

Những phân tích trên cho thấy vai trò quan trọng của công tác kế toán trong hoàn thiện hệ thống KSNB của đơn vị và người kế toán cần nâng cao tính chủ động của mình trong vấn đề này, trước hết là vì chính chất lượng của công việc kế toán Dĩ nhiên là các giải pháp bị hạn chế trong cương vị của một người phụ trách công tác kế toán (hoặc rộng hơn, công tác tài chính của tổ chức) Dưới đây là một số giải pháp có thể thực hiện cho mục tiêu hoàn thiện hệ thống KSNB chung toàn đơn vị xét từ cương vị nói trên:

Thúc đẩy việc tuân thủ pháp luật và các quy định về tài chính, kế toán trong đơn vị thông qua những công việc sau:

ƒ Thu thập, hệ thống và cập nhật các quy định pháp lý liên quan đến lĩnh vực tài chính, kế toán

ƒ Tập huấn, phổ biến, tư vấn cho các thành viên có liên quan trong đơn vị về các quy định nói trên Những vấn đề “nhạy cảm” (thuế, hóa đơn …) cần được nhắc lại thường xuyên

ƒ Phối hợp với các chuyên gia tư vấn pháp lý, kiểm toán viên độc lập, kiểm toán viên nội bộ trong việc xem xét và tìm giải pháp hợp lý cho các vấn đề tuân thủ pháp luật tài chính, kế toán trong đơn vị

Tham gia hoàn thiện các hoạt động kiểm soát trong các chu trình nghiệp vụ của đơn vị.

Hầu hết các chu trình nghiệp vụ trong một doanh nghiệp (mua hàng, bán hàng, tiền lương, tồn kho …) đều quan hệ chặt chẽ đến công tác kế toán, tài chính trong đơn vị Vì vậy, ý kiến của kế toán trong lĩnh vực này có vai trò quan trọng Các giải pháp hoàn thiện có thể thực hiện bao gồm những bước sau:

Trang 8

ƒ Thu thập thông tin và mô tả quy trình

thực hiện nghiệp vụ bằng các hình

thức thích hợp (bảng tường thuật, lưu

đồ…)

ƒ Phân tích và đánh giá quy trình thực

hiện trên về các mặt: hoạt động, tài

chính và tuân thủ Cơ sở để phân tích

và đánh giá là các mục tiêu phải đạt

được và các rủi ro đe dọa mục tiêu

ƒ Trên cơ sở phân tích và đánh giá, các

giải pháp sẽ được xem xét để nâng

cao KSNB trong chu trình nghiệp vụ

Việc lựa chọn giải pháp dựa trên cân

nhắc quan hệ lợi ích – chi phí

ƒ Xây dựng quy trình chuẩn với sự phê

duyệt của cấp có thẩm quyền trong

đơn vị Triển khai tập huấn và kiểm

tra việc thực hiện

ƒ Sau một thời gian thực hiện, tổ chức

kiểm tra và đánh giá quy trình chuẩn

để tiếp tục hoàn thiện

Quá trình trên cần được phối hợp giữa

nhiều bộ phận trong đơn vị và bộ phận kế

toán có thể đảm nhận vai trò thường trực

Công việc triển khai này sẽ thuận lợi hơn

nếu tiến hành đồng thời hoặc sau khi đơn

vị đã thực hiện hệ thống kiểm soát chất

lượng theo các tiêu chuẩn ISO, bởi vì khi

đó nhận thức của các cá nhân trong đơn vị

đã được chuyển hóa cũng như các quy

trình đã được làm cho minh bạch

Những hạn chế

Trong nhiều trường hợp, việc thúc đẩy

hoàn thiện hệ thống KSNB chung toàn

đơn vị xuất phát từ Bộ phận kế toán có

thể so sánh với mong muốn làm tăng tốc

chiếc xe ô tô bằng cách làm cho một

chiếc bánh quay nhanh hơn Nói cách

khác, Bộ phận kế toán chỉ có thể thúc đẩy

hoàn thiện KSNB chung cho đơn vị khi

bản thân người quản lý thực sự mong

muốn điều này và giao cho Bộ phận kế

toán một vai trò nhất định

KẾT LUẬN

Tóm lại, trong hơn một trăm năm qua, khái niệm KSNB đã phát triển nhanh chóng thành một hệ thống lý luận phục vụ cho nhiều hoạt động của các tổ chức Xét trong mối quan hệ với công tác kế toán, sự hiểu biết về KSNB giúp người kế toán hoàn thiện tổ chức công tác kế toán để đạt được các mục tiêu của bộ phận Hơn nữa, trong chừng mực nhất định, với sự ủng hộ của người quản lý, bộ phận kế toán có thể đóng một vai trò tích cực trong việc thúc đẩy hoàn thiện hệ thống KSNB chung trong toàn đơn vị

Tuy nhiên, xét cho cùng thì đáp số của bài toán KSNB nằm trong tay của người quản lý cao cấp chứ không phải bất cứ bộ phận nào trong đơn vị Nói cách khác, điều kiện tiên quyết để nâng cao KSNB trong một đơn vị là nhận thức và hành động của người quản lý đơn vị về vấn đề này Lịch sử phát triển của KSNB cho thấy điều này có thể đạt được khi:

ƒ Luật pháp khẳng định trách nhiệm của người quản lý đối với mọi mặt hoạt động của đơn vị, nhất là các gian lận, sai sót và hành vi phạm pháp Khi đó, người quản lý sẽ phải cần đến KSNB như một công cụ bảo vệ chính mình

ƒ Sự phát triển của các lý thuyết về KSNB cũng như hệ thống dịch vụ tư vấn cung cấp các giải pháp toàn diện hoặc từng phần về KSNB

Việc hình thành đội ngũ các chuyên gia kế toán được đào tạo đầy đủ để đảm nhiệm cương vị chủ chốt về tài chính, kế toán tại các đơn vị Trong chương trình đào tạo và cấp bằng cho các chuyên gia này, các lý luận và phương pháp KSNB được tích hợp vào tất cả các môn học giúp họ vận dụng một cách đương nhiên trong công tác tổ chức hệ thống kế toán và tài chính trong đơn vị

Ngày đăng: 15/12/2020, 09:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w