1. Trang chủ
  2. » Nghệ sĩ và thiết kế

Luận văn - Phân tích thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở tỉnh Vĩnh Long

107 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảng câu hỏi được thiết kế gồm 88 câu (xem phụ lục 1) xoay quanh đánh giá các thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ và chủ yếu theo dạng câu hỏi trả lời: “Có hoặc không”. Từ đó, t[r]

Trang 1

Luận văn tốt nghiệp Năm 2008

GVHD: Cô Vũ Thị Hồng Nhung SVTH: Nguyễn Ngọc Quyên -v-

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 1

GIỚI THIỆU 1

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

1.3.1 Không gian 3

1.3.3 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 2 4

PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN 4

2.1.1 Những vấn đề chung về hệ thống kiểm soát nội bộ 4

2.1.2 Các biến tham gia vào mô hình OLS 17

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu 19

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 19

2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 19

CHƯƠNG 3 21

THỰC TRẠNG VỀ VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VĨNH LONG 21

3.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VĨNH LONG 21

3.1.1 Sơ lược về địa bàn Vĩnh Long () 21

3.1.2 Sơ lược về các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Tỉnh Vĩnh Long 24

3.1.3 Thực trạng số mẫu điều tra về tình hình doanh nghiệp 26

3.2 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VĨNH LONG 29

3.2.1 Môi trường kiểm soát 30

Trang 2

3.2.2 Đánh giá rủi ro 44

3.2.3 Hoạt động kiểm soát 46

3.2.4 Thông tin và truyền thông 55

3.2.5 Giám sát 57

3.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VĨNH LONG 60

3.3.1 Môi trường kiểm soát 60

3.3.2 Đánh giá rủi ro 60

3.3.3 Hoạt động kiểm soát 61

3.3.4 Thông tin, truyền thông 61

3.3.5 Giám sát 62

3.3.6 Hệ thống kiểm soát nội bộ 62

CHƯƠNG 4 63

PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 63

4.1 MÔ TẢ DỮ LIỆU 63

4.2 XÂY DỰNG MÔ HÌNH 65

4.2.1 Mô hình kỳ vọng 65

4.2.2 Kết quả 66

4.3 PHÂN TÍCH MÔ HÌNH 68

4.3.1 Biến loại hình doanh nghiệp: LDN 68

4.3.2 Biến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: CSR 68

4.3.3 Biến chính sách hỗ trợ gia đình nhân viên: HTGD 69

4.3.4 Biến quy mô doanh nghiệp: LOG(QMDN) 69

4.3.5 Biến trình độ Ban giám đốc: TDGD 69

CHƯƠNG 5 70

GIẢI PHÁP CẢI THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG DOANH NGHIỆP 70

5.1 NHẬN XÉT CHUNG 70

5.1.1 Thuận lợi 70

5.1.2 Khó khăn 70

Trang 3

Luận văn tốt nghiệp Năm 2008

GVHD: Cô Vũ Thị Hồng Nhung SVTH: Nguyễn Ngọc Quyên -vii-

5.2 GIẢI PHÁP CẢI THIỆN HỆ TRỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG

DOANH NGHIỆP 71

5.2.1 Đối với môi trường kiểm soát 71

5.2.2 Đánh giá rủi ro 72

5.2.3 Hoạt động kiểm soát 72

5.2.4 Thông tin và truyền thông 73

5.2.5 Giám sát 73

CHƯƠNG 6 74

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74

6.1 KẾT LUẬN 74

6.2 KIẾN NGHỊ 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

PHỤ LỤC 77

Trang 4

DANH MỤC BIỂU BẢNG

Bảng 1: THỐNG KÊ DOANH NGHIỆP THEO LOẠI HÌNH QUA CÁC NĂM

TẠI TỈNH VĨNH LONG 24

Bảng 2: SỐ LƯỢNG CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ NẾU PHÂN THEO QUY MÔ NGUỒN VỐN (< 10 TỶ ĐỒNG) 25

Bảng 3: SỐ LƯỢNG CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ NẾU PHÂN THEO QUY MÔ LAO ĐỘNG (<300 NGƯỜI) 26

Bảng 4: THỐNG KÊ SỐ MẪU DOANH NGHIỆP THEO LOẠI HÌNH 27

Bảng 5: THỐNG KÊ SỐ MẪU DOANH NGHIỆP THEO VỐN ĐIỀU LỆ 27

Bảng 6: THỐNG KÊ SỐ MẪU DOANH NGHIỆP THEO LƯỢNG LAO ĐỘNG .27

Bảng 7: THỐNG KÊ SỐ MẪU DOANH NGHIỆP THEO NĂM THÀNH LẬP28 Bảng 8: THỐNG KÊ SỐ MẪU DOANH NGHIỆP THEO LĨNH VỰC KINH DOANH 29

Bảng 9: ĐIỂM TRUNG BÌNH CỦA CÁC THÀNH PHẦN 30

Bảng 10: THỐNG KÊ SỐ MẪU DOANH NGHIỆP THEO CÁC CHỈ TIÊU THỂ HIỆN TÍNH CHÍNH TRỰC VÀ GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC 31

Bảng 11: THỐNG KÊ DOANH NGHIỆP THEO TRÌNH ĐỘ CÁC CẤP 33

Bảng 12: THỐNG KÊ SỐ DOANH NGHIỆP THEO CƠ CẤU GIỚI TÍNH 35

Bảng 13: THỐNG KÊ DOANH NGHIỆP THEO ĐỘ TUỔI NGƯỜI LÃNH ĐẠO CAO NHẤT 36

Bảng 14: CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ TRIẾT LÝ QUẢN LÝ VÀ PHONG CÁCH ĐIỀU HÀNH CỦA NHÀ QUẢN LÝ 37

Bảng 15: MỨC ĐỘ THAM GIA HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 40

Bảng 16: CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ CÁCH THỨC PHÂN ĐỊNH QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM 41

Bảng 17: CÁC CHỈ TIÊU ĐO LƯỜNG CHÍNH SÁCH NHÂN SỰ 42

Bảng 18: CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ RỦI RO 45

Bảng 19: PHÂN CHIA TRÁCH NHIỆM GIỮA CÁC CHỨC NĂNG 47

Bảng 20: HỆ THỐNG CHỨNG TỪ 48

Trang 5

Luận văn tốt nghiệp Năm 2008

GVHD: Cô Vũ Thị Hồng Nhung SVTH: Nguyễn Ngọc Quyên -ix-

Bảng 21: HỆ THỐNG SỔ SÁCH 49

Bảng 22: THỜI GIAN ĐỐI CHIẾU TÀI SẢN ĐỊNH KỲ 51

Bảng 23: HÌNH THỨC KIỂM TRA 52

Bảng 24: CẤP THỰC HIỆN VIỆC SO SÁNH 53

Bảng 25: MỤC ĐÍCH SO SÁNH 54

Bảng 26: CHỈ TIÊU HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN 55

Bảng 27: HỆ THỐNG THỐNG TIN 56

Bảng 28: TRÌNH ĐỘ, CHUYÊN NGÀNH CỦA BAN KIỂM SOÁT (HOẶC BỘ PHẬN KIỂM TOÁN NỘI BỘ) 58

Bảng 29: THỐNG KÊ DOANH NGHIỆP THEO ĐIỂM TRUNG BÌNH CỦA MÔI TRƯỜNG KIỂM SOÁT 60

Bảng 30: THỐNG KÊ DOANH NGHIỆP THEO ĐIỂM TRUNG BÌNH CỦA ĐÁNH GIÁ RỦI RO 60

Bảng 31: THỐNG KÊ DOANH NGHIỆP THEO ĐIỂM TRUNG BÌNH CỦA HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT 61

Bảng 32: THỐNG KÊ DOANH NGHIỆP THEO ĐIỂM TRUNG BÌNH CỦA THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG 61

Bảng 33: THỐNG KÊ DOANH NGHIỆP THEO ĐIỂM TRUNG BÌNH CỦA GIÁM SÁT 62

Bảng 34: THỐNG KÊ DOANH NGHIỆP THEO ĐIỂM TRUNG BÌNH CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 62

Bảng 35: BẢNG THỐNG KÊ DỮ LIỆU 64

Bảng 36: BẢNG PHÂN TÍCH MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC BIẾN 65

Bảng 37: KẾT QUẢ XỬ LÝ MÔ HÌNH HỒI QUY (1) 66

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 1: CÁC THÀNH PHẦN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 5 Hình 2: BẢN ĐỒ RANH GIỚI HÀNH CHÍNH TỈNH VĨNH LONG 23 Hình 3: THAM GIA HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 40 Hình 4: THỜI GIAN ĐỐI CHIẾU SỔ TỔNG HỢP VÀ SỔ CHI TIẾT 52 Hình 5: CẤP KIỂM TRA 53 Hình 6: THỜI GIAN THỰC HIỆN VIỆC SO SÁNH 54 Hình 7: CẤP LẬP SỔ TAY HƯỚNG DẪN CÁC CHÍNH SÁCH VÀ THỦ TỤC

KẾ TOÁN 55 Hình 8: HÌNH THỨC TIẾP NHẬN Ý KIẾN KHÁCH HÀNG, NHÀ CUNG CẤP 57

Trang 7

Luận văn tốt nghiệp Năm 2008

GVHD: Cô Vũ Thị Hồng Nhung SVTH: Nguyễn Ngọc Quyên -xi-

Trang 8

TÓM TẮT NỘI DUNG ĐỀ TÀI

Theo nguồn của IFC (Công ty Tài chính quốc tế) thì hiện nay có đến 58% các công ty tại Việt Nam đang phải gánh chịu ảnh hưởng của những yếu kém trong quản trị Thêm vào đó, khi đầu tư vào các doanh nghiệp Việt Nam vấn đề lo ngại nhất về quản trị doanh nghiệp đối với hầu hết các nhà đầu tư là sự thiếu minh bạch Hầu hết các doanh nghiệp này thiếu hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ chưa được xây dựng tốt Công tác kiểm tra, kiểm soát thường chồng chéo, phiến diện, chỉ tập trung vào các chỉ số kinh tế tài chính và kết quả cuối cùng chứ

ít khi các doanh nghiệp biết được việc tổ chức kiểm tra, kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp nhằm mục tiêu ngăn ngừa mới là quan trọng nhất Điều này gây khó khăn cho các cổ đông khi tìm hiểu về khả năng tài chính thực tế của công ty

mà mình đầu tư

Chính vì vậy, trong thời kỳ cạnh tranh gay gắt hiện nay, việc tập trung quan tâm cao độ về hệ thống kiểm soát nội bộ không thể thiếu trong mỗi doanh nghiệp Nhưng cách thức và chất lượng quan tâm như thế nào để có một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu và hiệu quả thì cho đến nay vẫn chưa có một cuộc nghiên

cứu cụ thể nào về vấn đề này Do đó, tôi chọn đề tài: “Phân tích thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở tỉnh Vĩnh Long” để nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết trên Sở dĩ

Vĩnh Long được chọn là địa bàn nghiên cứu vì đây là một trong những tỉnh có tiềm năng phát triển kinh tế mạnh ở Đồng bằng sông Cửu Long, và từ khi có sự ra đời của cầu Mỹ Thuận, việc giao thông thuận lợi nên thu hút đầu tư càng mạnh hơn và môi trường cạnh tranh cũng trở nên khốc liệt hơn Nội dung đề tài gồm sáu chương với vấn đề nghiên cứu lần lượt như sau:

- Chương 1: Giới thiệu về vấn đề nghiên cứu

- Chương 2: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Chương 3: Phân tích thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở tỉnh Vĩnh Long

- Chương 4: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống kiểm soát nội bộ

- Chương 5: Qua kết quả phân tích thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng, tiến hành đề ra giải pháp góp phần cải thiện hệ thống kiểm soát nội bộ

- Chương 6: Kết luận và kiến nghị

Trang 9

Luận văn tốt nghiệp Năm 2008

GVHD: Cô Vũ Thị Hồng Nhung SVTH: Nguyễn Ngọc Quyên 1

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trong một tổ chức bất kỳ, sự thống nhất và xung đột quyền lợi chung, quyền lợi riêng của người sử dụng lao động với người lao động luôn tồn tại song hành Nếu không có hệ thống kiểm soát nội bộ, làm thế nào để người lao động không vì quyền lợi riêng của mình mà làm những điều thiệt hại đến lợi ích chung của toàn tổ chức; người sử dụng lao động làm sao quản lý được các rủi ro, làm thế nào có thể phân quyền, ủy nhiệm, giao việc cho cấp dưới một cách chính xác, khoa học chứ không phải chỉ dựa trên sự tin tưởng cảm tính Theo nguồn của IFC (Công ty Tài chính quốc tế) thì hiện nay có đến 58% các công ty tại Việt Nam đang phải gánh chịu ảnh hưởng của những yếu kém trong quản trị Trong khi đó, khi đầu tư vào các doanh nghiệp Việt Nam vấn đề lo ngại nhất về quản trị doanh nghiệp đối với hầu hết các nhà đầu tư là sự thiếu minh bạch Hầu hết các doanh nghiệp này thiếu hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ chưa được xây dựng tốt Điều này gây khó khăn cho các cổ đông khi tìm hiểu về khả năng tài chính thực tế của công ty mà mình đầu tư Tuy nhiên, hiện tại, các khái niệm về quản trị, quản lý rủi ro cũng như hệ thống kiểm soát nội bộ đối với các doanh nghiệp Việt Nam chưa được hiểu một cách thấu đáo Công tác kiểm tra, kiểm soát thường chồng chéo, phiến diện, chỉ tập trung vào các chỉ số kinh tế tài chính

và kết quả cuối cùng chứ ít khi các doanh nghiệp biết được việc tổ chức kiểm tra, kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp nhằm mục tiêu ngăn ngừa mới là quan trọng nhất Hơn nữa, bên cạnh những lợi ích mà việc hội nhập kinh tế thế giới mang lại, có thể điều này sẽ khiến các doanh nghiệp cũng gặp nhiều rủi ro do sự cạnh tranh cao Chính vì vậy, cùng với sự chuyển mình của nền kinh tế, sự phát triển ngày càng nhanh của thị trường chứng khoán cũng như các quy định của pháp luật có liên quan, hệ thống kiểm soát nội bộ của các doanh nghiệp phải ngày càng được hoàn thiện hơn mới có thể nâng cao sức cạnh tranh trong nền kinh tế hội nhập toàn cầu

Một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh sẽ đem lại cho tổ chức các lợi ích như: Giảm bớt nguy cơ rủi ro tiềm ẩn trong SXKD (sai sót vô tình gây thiệt hại, các rủi ro làm chậm kế hoạch, tăng giá thành, giảm chất lượng sản phẩm );

Trang 10

bảo vệ tài sản khỏi bị hư hỏng, mất mát bởi hao hụt, gian lận, lừa gạt, trộm cắp; đảm bảo tính chính xác của các số liệu kế toán và báo cáo tài chính; đảm bảo mọi thành viên tuân thủ nội quy, quy chế, quy trình hoạt động của tổ chức cũng như các quy định của luật pháp; đảm bảo tổ chức hoạt động hiệu quả, sử dụng tối ưu các nguồn lực và đạt được mục tiêu đặt ra; bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, cổ đông và gây dựng lòng tin đối với họ (trường hợp Công ty cổ phần)

Hiện nay, cũng có rất nhiều bài viết trên các tạp chí đề cập đến việc xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ như thế nào cho phù hợp và tốt nhất đối với các doanh nghiệp Thế nhưng, một điều tra về thực trạng xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ ở các doanh nghiệp chưa được thực hiện, cụ thể cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở tỉnh Vĩnh Long Chính vì lý do đó, việc thực hiện đề tài

nghiên cứu: “PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở TỈNH VĨNH LONG” sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn tổng

quát hơn về thực trạng hiện nay của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp, xác định các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ, từ đó có thể tìm ra những giải pháp hữu hiệu và hiệu quả nhất cho việc thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh ở các doanh nghiệp vừa

và nhỏ ở tỉnh Vĩnh Long nói riêng và Đồng bằng sông Cửu Long nói chung

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Phân tích thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng của hệ thống kiểm soát nội

bộ trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Vĩnh Long, từ đó đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Để đạt được mục tiêu chung trên, cần đạt được các mục tiêu cụ thể sau:

a Phân tích thực trạng hiện nay về việc xây dựng hệ thống kiểm soát nội

bộ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Vĩnh Long

b Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Vĩnh Long

c Đề xuất các giải pháp cải thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp

Trang 11

Luận văn tốt nghiệp Năm 2008

GVHD: Cô Vũ Thị Hồng Nhung SVTH: Nguyễn Ngọc Quyên 3

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Không gian: Tỉnh Vĩnh Long

1.3.2 Thời gian: đề tài nghiên cứu được thực hiện trong năm 2008

- Số liệu thứ cấp: được thu thập từ năm 2006 đến nay

- Số liệu sơ cấp: số liệu được thu thập trong tháng 04 năm 2008

1.3.3 Đối tượng nghiên cứu: hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh

nghiệp vừa và nhỏ ở tỉnh Vĩnh Long

1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Hiện nay cũng chỉ có những bài viết trên các tạp chí đề cập đến việc xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ như thế nào cho phù hợp và tốt nhất đối với các doanh nghiệp Thế nhưng, một điều tra về thực trạng xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ ở các doanh nghiệp chưa được thực hiện Vì vậy, các tài liệu có liên quan bao gồm các bài viết đánh giá chung về hệ thống kiểm soát nội bộ doanh nghiệp trên sách, báo, tạp chí, internet

Trang 12

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN 2.1.1 Những vấn đề chung về hệ thống kiểm soát nội bộ

a Định nghĩa kiểm soát nội bộ theo COSO

Kiểm soát nội bộ là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện 3 mục tiêu:

- Báo cáo tài chính đáng tin cậy

- Các luật lệ và quy định được tuân thủ

- Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả

Kiểm soát nội bộ là một quá trình: Kiểm soát nội bộ bao gồm một chuỗi các hoạt động kiểm soát hiện diện ở mọi nơi trong đơn vị và được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất Nó là phương tiện để giúp cho đơn vị đạt được các mục tiêu trên

Kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành bởi con người: Cần hiểu rằng kiểm soát nội bộ không chỉ đơn thuần là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu,…mà phải bao gồm cả những con người trong tổ chức như Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, các nhân viên khác,…Chính con người đặt ra mục tiêu, thiết lập cơ chế kiểm soát ở mọi nơi và vận hành chúng

Kiểm soát nội bộ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý, chứ không phải đảm bảo tuyệt đối, là các mục tiêu sẽ được thực hiện Vì khi vận hành hệ thống kiểm soát, những yếu kém có thể xảy ra do những sai lầm của con người dẫn đến không thực hiện được các mục tiêu Kiểm soát nội bộ có thể ngăn chặn và phát hiện những sai lầm nhưng không thể đảm bảo là chúng không bao giờ xảy ra Hơn nữa, một nguyên tắc cơ bản trong việc đưa ra quyết định quản lý là chi phí cho quá trình kiểm soát sẽ không thể vượt quá lợi ích được mong đợi từ quá trình kiểm soát đó Do đó, tuy người quản lý có thể nhận thức đầy đủ về các rủi ro nhưng nếu chi phí cho quá trình kiểm soát quá lớn thì họ vẫn không áp dụng các thủ tục kiểm soát có liên quan đến rủi ro

Trang 13

Luận văn tốt nghiệp Năm 2008

GVHD: Cô Vũ Thị Hồng Nhung SVTH: Nguyễn Ngọc Quyên 5

ĐÁNH GIÁ RỦI RO

HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT

MÔI TRƯỜNG KIỂM SOÁT

THÔNG TIN

VÀ TRUYỀN THÔNG

GIÁM SÁT

b Các mục tiêu của kiểm soát nội bộ

Đối với báo cáo tài chính, kiểm soát nội bộ phải đảm bảo về tính trung thực và đáng tin cậy, bởi vì người quản lý đơn vị phải có trách nhiệm lập báo cáo tài chính phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành

Đối với tính tuân thủ, kiểm soát nội bộ trước hết phải đảm bảo hợp lý việc chấp hành luật pháp và các quy định Điều này xuất phát từ trách nhiệm của người quản lý đối với những hành vi không tuân thủ trong đơn vị Bên cạnh đó, kiểm soát nội bộ còn phải hướng mọi thành viên trong đơn vị vào việc tuân thủ các chính sách, quy định nội bộ của đơn vị, qua đó bảo đảm đạt được những mục tiêu của đơn vị

Đối với mục tiêu về sự hữu hiệu và hiệu quả của các hoạt động, kiểm soát nội bộ cần thực hiện việc bảo vệ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, bảo mật thông tin, nâng cao uy tín, thị phần và thực hiện các chiến lược kinh doanh của đơn vị

=> Các mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ rất rộng, bao trùm lên mọi mặt hoạt động và có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của đơn

vị

c Các bộ phận hợp thành hệ thống kiểm soát nội bộ

Hình 1: CÁC THÀNH PHẦN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ

Nguồn: Tài liệu học tập Kiểm Toán, bộ môn Kế Toán-Kiểm Toán, Đại Học Cần Thơ

Trang 14

- Môi trường kiểm soát: Môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung

của một đơn vị, chi phối ý thức kiểm soát của mọi thành viên trong đơn vị Nó được xem là nền tảng đối với các bộ phận khác của kiểm soát nội bộ Các nhân tố thuộc về môi trường kiểm soát bao gồm:

+ Tính chính trực và giá trị đạo đức:

Ø Sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trước tiên phụ thuộc trực tiếp vào tính chính trực và sự tôn trọng các giá trị đạo đức của những người liên quan đến các quá trình kiểm soát Đáp ứng yêu cầu này, những nhà quản lý cao cấp phải xây dựng những chuẩn mực về đạo đức trong đơn vị và cư xử đúng đắn để có thể ngăn cản mọi nhân viên trong đơn vị không tham gia vào các hoạt động được xem là thiếu đạo đức hoặc phạm pháp Muốn hiệu quả hơn, những nhà quản lý phải làm gương cho cấp dưới về việc tuân thủ các chuẩn mực và cần phải phổ biến đến mọi nhân viên bằng những cách thức thích hợp

Ø Một cách khác để nâng cao tính chính trực và sự tôn trọng các giá trị đạo đức là phải loại trừ hoặc giảm thiểu những động cơ dẫn nhân viên có những hành vi thiếu trung thực Ví dụ, việc gian lận khi lập báo cáo tài chính có thể xuất phát từ các mục tiêu hão huyền của các nhà quản lý Những hành động không đúng cũng có thể phát sinh khi quyền lợi của nhà quản lý gắn chặt với số liệu báo cáo về thu nhập của công ty (như các khoản thưởng dựa trên lợi nhuận), nghĩa là có phát sinh mâu thuẫn về quyền lợi

+ Đảm bảo về năng lực: Là đảm bảo cho các nhân viên có được những

kỹ năng và hiểu biết cần thiết để thực hiện được nhiệm vụ của họ Nếu nhân viên thiếu những kỹ năng và hiểu biết cần thiết, chắc chắn họ sẽ thực hiện nhiệm vụ của mình không hữu hiệu và hiệu quả Do đó, nhà quản lý chỉ nên tuyển dụng các nhân viên có trình độ đào tạo và kinh nghiệm phù hợp với nhiệm vụ được giao,

và phải giám sát và huấn luyện họ thật đầy đủ và thường xuyên

+ Triết lý quản lý và phong cách điều hành của nhà quản lý:

Ø Triết lý quản lý thể hiện qua quan điểm và nhận thức của người quản lý; phong cách điều hành lại thể hiện qua cá tính, tư cách và cả thái độ của

họ khi điều hành đơn vị Một số nhà quản lý rất quan tâm đến việc lập báo cáo tài chính và rất chú trọng đến việc hoàn thành hoặc vượt mức kế hoạch Họ hài lòng với những hoạt động kinh doanh có mức rủi ro cao, nhưng sẽ thu được nhiều lợi

Trang 15

Luận văn tốt nghiệp Năm 2008

GVHD: Cô Vũ Thị Hồng Nhung SVTH: Nguyễn Ngọc Quyên 7

nhuận Một số nhà quản lý khác lại rất bảo thủ và ác cảm với các rủi ro Rõ ràng

sự khác biệt về triết lý quản lý và phong cách điều hành có thể tạo ảnh hưởng rất lớn đến môi trường kiểm soát và tác động đến việc thực hiện các mục tiêu của đơn vị

Ø Triết lý quản lý và phong cách điều hành cũng được phản ánh trong đường lối quản lý đơn vị Có nhiều nhà quản lý cấp cao trong quá trình điều hành thích tiếp xúc và trao đổi trực tiếp với các nhân viên Ngược lại, có nhà quản lý chỉ thích điều hành công việc theo một trật tự đã được xác định trong cơ cấu tổ chức của đơn vị

+ Cơ cấu tổ chức: Cơ cấu tổ chức thực chất là sự phân chia trách

nhiệm và quyền hạn giữa các thành viên trong đơn vị, nó góp phần rất lớn trong việc đạt được các mục tiêu Điều này có nghĩa là một cơ cấu tổ chức phù hợp sẽ

là cơ sở cho việc lập kế hoạch, điều hành, kiểm soát và giám sát các hoạt động của đơn vị Vì thế, khi xây dựng một cơ cấu tổ chức phải xác định được các vị trí then chốt về quyền hạn, trách nhiệm và các lộ trình báo cáo cho phù hợp Tuy nhiên, điều này sẽ phụ thuộc một phần vào quy mô và tính chất hoạt động của đơn vị Cơ cấu tổ chức của một đơn vị thường được mô tả qua sơ đồ tổ chức, trong đó phản ảnh các mối quan hệ về quyền hạn, trách nhiệm và báo cáo

+ Cách thức phân định quyền hạn và trách nhiệm: Phân định quyền

hạn và trách nhiệm được xem là phần mở rộng của cơ cấu tổ chức Nó cụ thể hóa

về quyền hạn và trách nhiệm của từng thành viên trong các hoạt động của đơn vị

và mỗi người phải tự hiểu rằng mỗi hoạt động của họ sẽ ảnh hưởng đến người khác như thế nào trong việc góp phần hoàn thành mục tiêu của đơn vị, và họ sẽ phụ trách cụ thể công việc gì Do đó khi mô tả công việc cần phải diễn giải bằng những nhiệm vụ cụ thể của từng thành viên và quan hệ về mặt báo cáo giữa các thành viên này

+ Chính sách nhân sự: là các chính sách và thủ tục của nhà quản lý về

việc tuyển dụng, huấn luyện, bổ nhiệm, đánh giá, sa thải, đề bạt và khen thưởng cho các nhân viên Chính sách nhân sự có ảnh hưởng đáng kể đến sự hữu hiệu của môi trường kiểm soát Ví dụ, chính sách tuyển dụng giành ưu tiên cho những

cá nhân có trình độ, kinh nghiệm, chính trực và hạnh kiểm tốt sẽ là sự đảm bảo về việc năng lực và phẩm chất của đội ngũ nhân viên Có thể xem đây là nhân tố bổ

Trang 16

sung cho nhân tố đảm bảo về năng lực và một chính sách nhân sự đúng đắn sẽ bù đắp cho những yếu kém của môi trường kiểm soát

- Đánh giá rủi ro:

+ Đây là một bộ phận thứ hai của hệ thống kiểm soát nội bộ Như mọi người đều biết, tất cả hoạt động diễn ra trong đơn vị đều có thể phát sinh rủi ro và khó có thể kiểm soát tất cả Vì vậy, các nhà quản lý phải thận trọng khi xác định

và phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro làm cho những mục tiêu (kể cả mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động) của đơn vị có thể không thực hiện được, và phải cố gắng kiểm soát được những rủi ro này

+ Để giới hạn được rủi ro ở mức chấp nhận được, người quản lý phải xác định được mục tiêu của đơn vị, nhận dạng và phân tích rủi ro từ đó mới có thể kiểm soát được rủi ro

Ø Xác định mục tiêu của đơn vị: Mục tiêu tuy không phải là một bộ

phận của kiểm soát nội bộ nhưng việc xác định nó là điều kiện tiên quyết để đánh giá rủi ro Bởi lẽ một sự kiện có trở thành một rủi ro quan trọng đối với tổ chức hay không sẽ phụ thuộc vào mức độ tác động tiêu cực của nó đến mục tiêu của đơn vị Xác định mục tiêu bao gồm việc đưa ra sứ mệnh, hoạch định các mục tiêu chiến lược cũng như những chỉ tiêu phải đạt được trong ngắn hạn, trung hay dài hạn Việc xác định mục tiêu có thể được thực hiện qua việc ban hành các văn bản hoặc đơn giản hơn, qua nhận thức và phát biểu hàng ngày của người quản lý

Ø Nhận dạng rủi ro:

ü Rủi ro có thể tác động đến tổ chức ở mức độ toàn đơn vị hay chỉ ảnh hưởng đến từng hoạt động cụ thể Ở mức độ toàn đơn vị, các nhân tố có thể làm phát sinh rủi ro đó là sự đổi mới kỹ thuật, nhu cầu của khách hàng thay đổi, sự cải tiến sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh, sự thay đổi trong chính sách của nhà nước, trình độ nhân viên không đáp ứng yêu cầu hoặc thay đổi cán bộ quản lý Trong phạm vi từng hoạt động như bán hàng, mua hàng, kế toán…rủi ro

có thể phát sinh và tác động đến bản thân từng hoạt động trước khi gây ảnh hưởng dây chuyền đến toàn đơn vị

ü Để nhận dạng rủi ro, người quản lý có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, từ việc sử dụng các phương tiện dự báo, phân tích các

dữ liệu quá khứ, cho đến việc rà soát thường xuyên các hoạt động Trong các

Trang 17

Luận văn tốt nghiệp Năm 2008

GVHD: Cô Vũ Thị Hồng Nhung SVTH: Nguyễn Ngọc Quyên 9

doanh nghiệp nhỏ, công việc này có thể tiến hành dưới dạng những cuộc tiếp xúc với khách hàng, ngân hàng,…hoặc các buổi họp giao ban trong nội bộ

Ø Phân tích và đánh giá rủi ro:

ü Vì rủi ro rất khó định lượng nên đây là một công việc khá phức tạp và có nhiều phương pháp khác nhau Tuy nhiên , một quy trình phân tích và đánh giá rủi ro thường bao gồm những bước sau đây: Ước lượng tầm cỡ của rủi

ro qua ảnh hưởng có thể có của nó đến mục tiêu của đơn vị, xem xét khả năng xảy ra rủi ro và những biện pháp có thể sử dụng để đối phó với rủi ro

ü Trong lĩnh vực kế toán, có thể kể những rủi ro đe dọa sự trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính như ghi nhận các tài sản không có thực hoặc

là không thuộc quyền sở hữu của đơn vị; đánh giá tài sản và các khoản nợ phải trả không phù hợp với các chuẩn mực, chế độ kế toán; khai báo không đầy đủ thu nhập và chi phí; trình bày những thông tin tài chính không phù hợp với yêu cầu của chuẩn mực và chế độ kế toán…

ü Các rủi ro trên có thể phát sinh từ trong bản chất hoạt động của đơn vị hoặc từ yếu kém của hệ thống kiểm soát nội bộ Vì vậy, việc xem xét các rủi ro này thường được kiểm toán viên quan tâm rất nhiều trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán

- Hoạt động kiểm soát: Hoạt động kiểm soát là những chính sách và

những thủ tục để đảm bảo cho các chỉ thị của nhà quản lý được thực hiện Các chính sách và các thủ tục này nhằm thúc đẩy những hành động với mục đích chính là nhắm vào các rủi ro mà đơn vị đang đối phó Có nhiều loại hoạt động kiểm soát khác nhau được thực hiện trong một đơn vị, và sau đây là những hoạt động kiểm soát chủ yếu thích hợp cho việc kiểm soát kế toán của đơn vị:

+ Phân chia trách nhiệm đầy đủ:

Ø Được thực hiện theo hai nguyên tắc cơ bản là nguyên tắc phân công phân nhiệm và nguyên tắc bất kiêm nhiệm Yêu cầu của những nguyên tắc này là không để cho một bộ phận hoặc cá nhân nào giải quyết mọi mặt của nghiệp vụ từ khi hình thành cho đến khi kết thúc, mà cần phân chia cho nhiều người, nhiều bộ phận thực hiện Cũng tương tự như thế, không một cá nhân nào được thực hiện nhiều hơn một trong bốn chức năng: phê chuẩn, thực hiện, ghi chép nghiệp vụ và bảo quản tài sản

Trang 18

Ø Mục đích của phân chia trách nhiệm nhằm để các nhân viên kiểm soát lẫn nhau; nếu có các sai sót xảy ra sẽ được phát hiện nhanh chóng; đồng thời giảm cơ hội cho bất kỳ cá nhân nào trong quá trình thực hiện nhiệm vụ có thể gây

ra và giấu diếm những sai sót hoặc hành vi gian lận của mình

Ø Phân chia trách nhiệm đòi hỏi phải tách biệt giữa các chức năng sau:

ü Chức năng bảo quản tài sản với chức năng kế toán: Lý do không cho phép một nhân viên bảo quản tài sản được làm nhiệm vụ lưu giữ các

sổ sách kế toán về tài sản đó là để ngăn chặn hành vi tham ô tài sản Vì khi một nhân viên thực hiện cả hai chức năng trên có thể xảy ra rủi ro là nhân viên đó sẽ

tự tiện sử dụng tài sản để phục vụ cho lợi ích của cá nhân và điều chỉnh sổ sách

để che dấu trách nhiệm của mình

ü Chức năng phê chuẩn nghiệp vụ với chức năng bảo quản tài sản: Có nghĩa là người được giao nhiệm vụ phê chuẩn nghiệp vụ không được kiêm nhiệm việc bảo quản tài sản vì có khả năng thâm lạm tài sản Ví dụ, nếu cùng một người vừa phê chuẩn việc tuyển dụng nhân viên đồng thời là người phát lương cho nhân viên có thể dẫn đến việc tuyển dụng khống nhân viên để chiếm đoạt phần tiền lương của các nhân viên không có thật này

ü Chức năng thực hiện nghiệp vụ với chức năng kế toán: Nếu từng bộ phận vừa thực hiện nghiệp vụ vừa ghi chép và báo cáo thì họ có xu hướng thổi phồng kết quả để tăng thành tích của bộ phận hoặc của khu vực mình Nhằm không để cho thông tin bị thiên lệch như trên, quá trình ghi sổ nên giao cho một bộ phận riêng biệt thực hiện, thường là bộ phận kế toán

+ Kiểm soát quá trình xử lý thông tin:

Ø Để thông tin kế toán đáng tin cậy cần phải thực hiện nhiều hoạt động kiểm soát nhằm kiểm tra tính xác thực, đầy đủ và việc phê chuẩn các nghiệp

vụ Có hai loại hoạt động kiểm soát quá trình xử lý thông tin là kiểm soát chung

và kiểm soát ứng dụng

ü Kiểm soát chung: là hoạt động kiểm soát được áp dụng cho tất

cả các hoạt động có liên quan đến quá trình xử lý thông tin Ví dụ, đơn vị đề ra các chính sách và những thủ tục hạn chế việc tiếp cận toàn bộ hệ thống thông tin

Trang 19

Luận văn tốt nghiệp Năm 2008

GVHD: Cô Vũ Thị Hồng Nhung SVTH: Nguyễn Ngọc Quyên 11

của đơn vị Như vậy kiểm soát chung sẽ tạo được sự tin tưởng về toàn bộ các thông tin do hệ thống cung cấp

ü Kiểm soát ứng dụng: là hoạt động kiểm soát chỉ được áp dụng cho từng hoạt động cụ thể Ví dụ, kiểm soát quá trình thanh toán lương để giúp đảm bảo rằng kế toán chỉ xử lý những nghiệp vụ thanh toán nào đã được phê chuẩn, và nghiệp vụ thanh toán lương được phê chuẩn đã xử lý đầy đủ và xác thực Như thế những kiểm soát ứng dụng này chỉ ảnh hưởng đến độ tin cậy của riêng quá trình xử lý nghiệp vụ về thanh toán lương

Ø Để thực hiện kiểm soát ứng dụng, cần đảm bảo rằng: phải có một

hệ thống chứng từ, sổ sách tốt và việc phê chuẩn các loại nghiệp vụ phải đúng đắn Cụ thể:

ü Muốn có một hệ thống chứng từ, sổ sách tốt cần phải chú ý những vấn đề sau:

w Các chứng từ phải được đánh số liên tục trước khi sử dụng để

có thể kiểm soát, tránh thất lạc và dễ dàng truy cập khi cần thiết

w Chứng từ cần được lập ngay khi nghiệp vụ vừa xảy ra, hoặc càng sớm càng tốt

w Cần thiết kế đơn giản, rõ ràng dễ hiểu và có thể sử dụng cho nhiều công dụng khác nhau Ví dụ, như hóa đơn bán hàng là căn cứ để tính tiền khách hàng, ghi nhận doanh thu vào sổ sách, thống kê hàng bán, và tính hoa hồng bán hàng

w Tổ chức luân chuyển chứng từ phải khoa học và kịp thời, nghĩa là chứng từ chỉ đi qua các bộ phận có liên quan đến nghiệp vụ, và phải xử

lý nhanh chóng để chuyển cho bộ phận tiếp theo

w Sổ sách cần phải đóng chắc chắn, đánh số trang, quy định nguyên tắc ghi chép, có chữ ký xét duyệt của người kiểm soát,…

w Tổ chức lưu trữ, bảo quản tài liệu kế toán khoa học, an toàn và

dễ dàng truy cập khi cần thiết

ü Phê chuẩn đúng đắn cho các nghiệp vụ hoặc các hoạt động: Cần đảm bảo là tất cả các nghiệp vụ hoặc các hoạt động phải được phê chuẩn bởi một nhân viên quản lý trong phạm vi quyền hạn cho phép Bởi lẽ nếu bất kỳ ai trong đơn vị cũng đều có quyền trong việc mua sắm hoặc chi dùng tài sản thì sự

Trang 20

hỗn loạn tất yếu sẽ xảy ra Sự phê chuẩn có thể được chia làm hai loại là phê chuẩn chung và phê chuẩn cụ thể:

w Phê chuẩn chung: Là trường hợp người quản lý ban hành các chính sách để áp dụng cho toàn đơn vị Các nhân viên cấp dưới căn cứ trên chính sách này để xét duyệt các nghiệp vụ trong giới hạn mà chính sách đề ra Thí dụ Ban giám đốc ban hành bảng giá bán cố định cho sản phẩm, dịch vụ, hoặc hạn mức bán chịu cho khách hàng,…

w Phê chuẩn cụ thể: Là trường hợp người quản lý xét duyệt cho từng nghiệp vụ riêng biệt chứ không đưa ra một chính sách chung nào Phê chuẩn

cụ thể áp dụng cho những nghiệp vụ không thường xuyên phát sinh, ví dụ như mua sắm máy móc, thiết bị…Phê chuẩn nghiệp vụ cũng được áp dụng đối với những nghiệp vụ thường xuyên xảy ra nhưng có số tiền vượt khỏi giới hạn cho phép của chính sách chung, thí dụ các nghiệp vụ bán chịu có số tiền lớn đến một mức nhất định nào đó

w Các cá nhân hoặc bộ phận được ủy quyền để thực hiện phê chuẩn phải giữ chức vụ tương xứng với tính chất và tầm quan trọng của nghiệp

vụ Ví dụ như quyết định về mua sắm những tài sản cố định có giá trị lớn từ xxx đồng trở lên phải do Hội đồng quản trị phê chuẩn

+ Kiểm soát vật chất:

Ø Hoạt động này được thực hiện cho sổ sách và những tài sản khác,

kể cả những chứng từ đã được đánh số trước nhưng chưa phát hành, cũng như những sổ sách khác (sổ nhật ký, sổ cái,…), hạn chế việc tiếp cận với các chương trình tin học và những hồ sơ dữ liệu

Ø Chỉ những người được ủy quyền mới được phép tiếp cận với tài sản của đơn vị Tài sản có thể được kiểm soát bằng cách sử dụng tủ sắt, khóa, tường rào, lực lượng bảo vệ,…nhằm hạn chế việc tiếp cận đối với chúng

Ø Việc so sánh, đối chiếu giữa sổ sách kế toán và tài sản hiện có trên thực tế phải được thực hiện định kỳ Khi có bất kỳ sự chênh lệch nào cần phải điều tra xem xét nguyên nhân, qua đó sẽ phát hiện được những yếu kém về các thủ tục bảo vệ tài sản và sổ sách có liên quan Nếu không thực hiện công việc này thì tài sản có thể bị bỏ phế, mất mát hoặc có thể không phát hiện được những hành vi đánh cắp

Trang 21

Luận văn tốt nghiệp Năm 2008

GVHD: Cô Vũ Thị Hồng Nhung SVTH: Nguyễn Ngọc Quyên 13

+ Kiểm tra độc lập việc thực hiện:

Ø Là việc kiểm tra được tiến hành bởi các cá nhân (hoặc bộ phận) khác với cá nhân (hoặc bộ phận) thực hiện nghiệp vụ Nhu cầu cần phải kiểm tra độc lập xuất phát từ hệ thống kiểm soát nội bộ có khuynh hướng bị giảm sút tính hữu hiệu trừ khi có một cơ chế thường xuyên kiểm tra soát xét lại Ví dụ như nhân viên có thể quên, hoặc vô ý không tuân thủ các thủ tục, hoặc bất cẩn trong công việc trừ khi có ai đó quan sát và đánh giá việc thực hiện công việc của họ Hơn nữa, ngay cả khi chất lượng kiểm soát tốt vẫn có khả năng xảy ra những hành vi tham ô hay cố tình sai phạm

Ø Một yêu cầu cần thiết đối với những cá nhân hay bộ phận thực hiện công việc kiểm tra là họ phải độc lập với đối tượng được kiểm tra Sự hữu hiệu của hoạt động kiểm soát này sẽ mất đi nếu người thực hiện thẩm tra lại là nhân viên cấp dưới của người đã thực hiện nghiệp vụ, hoặc thiếu đi tính độc lập

vì bất kỳ lý do nào

+ Soát xét lại việc thực hiện: Hoạt động này chính là xem xét lại những

việc đã được thực hiện bằng cách so sánh với số liệu kế hoạch,dự toán, số liệu ở

kỳ trước, và những dữ liệu khác có liên quan như những thông tin không có tính chất tài chính; đồng thời xem xét lại một cách tổng thể để đánh giá quá trình thực hiện Soát xét lại quá trình thực hiện giúp nhà quản lý biết được một cách tổng quát là mọi thành viên có theo đuổi mục tiêu của đơn vị một cách hiệu quả không Với việc điều tra nghiên cứu về những vấn đề bất ngờ xảy ra trong quá trình thực hiện, nhà quản lý có thể thay đổi kịp thời chiến lược hoặc kế hoạch, hoặc có những hành động điều chỉnh cho thích hợp

- Thông tin và truyền thông:

+ Thời đại hiện nay là thời đại thông tin, vì thế thông tin và truyền thông chính là điều kiện tiên quyết cho việc thiết lập, duy trì và nâng cao năng lực kiểm soát trong đơn vị, trong đó hệ thống thông tin kế toán có một vai trò quan trọng Sau đây là những mục tiêu chủ yếu mà một hệ thống kế toán phải đạt được:

Ø Xác định và ghi chép tất cả các nghiệp vụ có thật

Ø Diễn giải nghiệp vụ một cách chi tiết, đầy đủ để cho phép phân loại đúng đắn các nghiệp vụ

Trang 22

Ø Đo lường giá trị của các nghiệp vụ để ghi chép đúng giá trị của chúng

Ø Xác định đúng kỳ hạn của các nghiệp vụ kinh tế đã xảy ra để ghi chép đúng kỳ

Ø Trình bày đúng đắn các nghiệp vụ và những công bố có liên quan trên các báo cáo tài chính

+ Để đạt các điều trên, cần phải chú ý đến hai bộ phận quan trọng trong

hệ thống kế toán đó là chứng từ và sổ sách kế toán

+ Với đặc trưng là phản ánh từng nghiệp vụ kinh tế vừa xảy ra, chứng

từ cho phép kiểm tra, giám sát tỉ mỉ về từng hành vi kinh tế thông qua thủ tục lập chứng từ Ngoài ra chứng từ còn cho phép ngăn chặn kịp thời các hành vi sai phạm để bảo vệ tài sản của đơn vị Ví dụ như qua thủ tục lập và xét duyệt phiếu chi sẽ ngăn chặn những nghiệp vụ chi tiền mặt không phù hợp với các quy định Ngoài ra, chứng từ còn là căn cứ pháp lý để giải quyết các vụ tranh chấp giữa các đối tượng, kể cả bên trong và bên ngoài đơn vị Tóm lại, với chức năng tiền kiểm, chứng từ đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống thông tin kế toán nói riêng,

và trong hệ thống kiểm soát nội bộ nói chung của đơn vị

+ Sổ sách kế toán được xem là bước trung gian tiếp nhận những thông tin ban đầu trên chứng từ để xử lý nhằm chuẩn bị hình thành các thông tin tổng hợp trên các báo cáo tài chính và các báo cáo kế toán quản trị Một hệ thống sổ sách chi tiết khoa học cho các đối tượng như vật tư, hàng hóa, công nợ, chi phí, doanh thu…sẽ góp phần rất lớn để bảo vệ tài sản thông qua chức năng kiểm tra, giám sát ngay trong quá trình thực hiện nghiệp vụ

+ Việc ghi nhận thông tin từ những chứng từ ban đầu cho đến việc ghi chép, phân loại, tính toán, tổng hợp, lưu trữ,…và cuối cùng là chuyển những thông tin đó vào các báo cáo sẽ để lại “dấu vết kiểm toán” giúp cho các nhà quản

lý có thể kiểm tra và đánh giá các thủ tục kiểm soát trong quá trình xử lý nghiệp

vụ Ví dụ, nhà quản lý có thể sử dụng các chứng từ, sổ sách còn lưu lại để phúc đáp những yêu cầu từ phía khách hàng hoặc nhà cung cấp về những vấn đề có liên quan đến số dư tài khoản phải thu khách hàng, hoặc phải trả người bán

+ Ngoài chứng từ, sổ sách và phương pháp ghi chép vào sổ sách, để hệ thống thông tin kế toán vận hành tốt còn cần có sơ đồ hạch toán và sổ tay hướng

Trang 23

Luận văn tốt nghiệp Năm 2008

GVHD: Cô Vũ Thị Hồng Nhung SVTH: Nguyễn Ngọc Quyên 15

dẫn về các chính sách và thủ tục kế toán, và chúng còn được xem như là một phương tiện truyền thông về các chính sách Sơ đồ hạch toán là bảng liệt kê và phân loại các tài khoản sử dụng và diễn giải chi tiết về mục đích và nội dung của từng tài khoản Sổ tay hướng dẫn về các chính sách và thủ tục kế toán phải trình bày rõ ràng về phương pháp xử lý nghiệp vụ Sơ đồ hạch toán kết hợp với các sổ tay hướng dẫn sẽ giúp cho việc xử lý các nghiệp vụ được đúng đắn và thống nhất trong toàn đơn vị

+ Việc truyền thông đúng đắn cũng sẽ đem đến cho các nhân viên một

sự hiểu biết về vai trò và trách nhiệm của họ có liên quan đến quá trình lập báo cáo tài chính Các nhân viên xử lý thông tin sẽ hiểu rằng công việc của họ có liên quan đến người khác như thế nào và yêu cầu báo cáo những tình huống bất thường lên cấp trên

- Giám sát:

+ Đây là bộ phận cuối cùng của kiểm soát nội bộ Giám sát là quá trình

mà người quản lý đánh giá chất lượng của hoạt động kiểm soát Điều quan trọng trong giám sát là phải xác định kiểm soát nội bộ có vận hành đúng như thiết kế không và có cần thiết phải sửa đổi chúng cho phù hợp với từng giai đoạn không

Để đạt được kết quả cần phải thực hiện những hoạt động giám sát thường xuyên hoặc định kỳ

+ Giám sát thường xuyên đạt được thông qua việc tiếp nhận các ý kiến góp ý của khách hàng, nhà cung cấp…hoặc xem xét các báo cáo hoạt động và phát hiện các biến động bất thường

+ Giám sát định kỳ được thực hiện thông qua các cuộc kiểm toán định

kỳ do các kiểm toán viên nội bộ, hoặc do kiểm toán viên độc lập thực hiện

Trang 24

d Hạn chế tiềm tàng của hệ thống kiểm soát nội bộ

- Ở bất kỳ đơn vị nào, dù đã được đầu tư rất nhiều trong thiết kế và vận hành hệ thống, thế nhưng một hệ thống kiểm soát nội bộ vẫn không thể hoàn toàn hữu hiệu Bởi lẽ ngay cả khi có thể xây dựng hệ thống hoàn hảo về cấu trúc, thì hiệu quả thật sự của nó vẫn tùy thuộc vào nhân tố chủ yếu là con người, tức là phụ thuộc vào năng lực làm việc và tính đáng tin cậy của lực lượng nhân sự Nói cách khác, hệ thống kiểm soát nội bộ chỉ có thể giúp hạn chế tối đa những sai phạm mà thôi, vì nó có các hạn chế tiềm tàng xuất phát từ những nguyên nhân sau đây:

+ Những hạn chế xuất phát từ bản thân con người như sự vô ý, bất cẩn, đãng trí, đánh giá hay ước lượng sai, hiểu sai chỉ dẫn của cấp trên hoặc các báo cáo của cấp dưới,…

+ Khả năng đánh lừa, lẫn tránh của nhân viên thông qua sự thông đồng với nhau hay với các bộ phận bên ngoài đơn vị

+ Hoạt động kiểm soát thường chỉ nhằm vào các nghiệp vụ thường xuyên phát sinh mà ít chú ý đến những nghiệp vụ không thường xuyên, do đó những sai phạm trong các nghiệp vụ này thường hay bị bỏ qua

+ Yêu cầu thường xuyên và trên hết của người quản lý là chi phí bỏ ra cho hoạt động kiểm soát phải nhỏ hơn giá trị thiệt hại ước tính so với sai sót hay gian lận gây ra

+ Luôn có khả năng là các cá nhân có trách nhiệm kiểm soát đã lạm dụng quyền hạn của mình nhằm phục vụ cho mưu đồ riêng

+ Điều kiện hoạt động của đơn vị thay đổi nên dẫn tới những thủ tục kiểm soát không còn phù hợp…

- Chính những hạn chế nói trên của kiểm soát nội bộ là nguyên nhân khiến cho kiểm soát nội bộ không thể bảo đảm tuyệt đối, mà chỉ cần bảo đảm hợp lý trong việc đạt được các mục tiêu của mình

Trang 25

Luận văn tốt nghiệp Năm 2008

GVHD: Cô Vũ Thị Hồng Nhung SVTH: Nguyễn Ngọc Quyên 17

2.1.2 Các biến tham gia vào mô hình OLS

a Loại hình doanh nghiệp: LDN

Doanh nghiệp được hình thành dưới nhiều loại hình khác nhau như: tư nhân, cổ phần, trách nhiệm hữu hạn, hợp danh,…Mỗi loại hình có mô hình riêng

về cơ cấu tổ chức và quản lý Trong thời kỳ hiện nay, loại hình cổ phần được đánh giá cao và được nhiều doanh nghiệp hướng tới vì lợi ích nó mang lại không chỉ về mặt lợi nhuận mà còn về mặt tổ chức và công tác quản lý tốt (GS.TS Võ Tòng Xuân, Thời báo kinh tế Sài Gòn số 11-2008 (899)) Từ đó, ít nhiều cũng cho thấy rằng hệ thống kiểm soát nội bộ trong công ty cổ phần có vẻ hữu hiệu và hiệu quả hơn trong các loại hình khác Tùy mỗi loại hình mà hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết lập khác nhau nhưng đều hướng tới mục tiêu hoạt động hiệu quả của doanh nghiệp

=>Giả thuyết 1: Loại hình doanh nghiệp ảnh hưởng đến tính hữu hiệu và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ

b Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: CSR

Để hoạt động kinh doanh hiệu quả thì cần thiết lập một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu, cụ thể là phải tạo môi trường làm việc như thế nào để mọi nhân viên có thể xem đó là động lực làm việc và sẵn sàng phục vụ hết sức mình, tránh

đi tình trạng người tài lần lượt ra đi chỉ còn lại nhân viên yếu kém, ảnh hưởng xấu đến doanh nghiệp

Kết quả của nhiều nghiên cứu thực tế tại Bắc Mỹ đã chứng minh sự liên hệ mật thiết giữa việc thực thi CSR và khả năng thu giữ người tài của doanh nghiệp

Lý do được nêu ra là những người giỏi, có uy tín thường muốn làm việc ở nơi mà

họ nghĩ là tốt trong xã hội và thấy tự hào Tiền lương, chức vụ và các chế độ khác

là những điều cụ thể để thúc đẩy người ta làm việc, nhưng CSR lại là những giá trị vô hình có thể góp phần giữ người ở lại với doanh nghiệp Sợi dây tình cảm vô hình đó nhiều khi lại giúp giữ người chặt hơn và khó bị cạnh tranh, bắt chước hơn Một khi nhân viên được chủ động thực hiện CSR, họ sẽ thấy mình thật sự là một phần quan trọng của doanh nghiệp, sẽ thấy việc của doanh nghiệp cũng là của mình Qua đó nhân viên cũng sẽ thấy tự hào, gắn kết hơn với doanh nghiệp

và muốn ở lại lâu hơn để cùng nhau thực hiện những điều cần làm

Trang 26

=> Giả thuyết 2: Doanh nghiệp có quan tâm đến trách nhiệm xã hội thì hệ thống kiểm soát nội bộ càng hữu hiệu

c Chính sách hỗ trợ gia đình nhân viên: HTGD

Trong doanh nghiệp, ít nhiều cũng có những nhân viên đã có gia đình Một mặt, họ lo công việc công ty nhưng mặt khác lo cho gia đình không kém phần quan trọng Không có người nhân viên nào toàn tâm toàn ý để làm việc có hiệu quả nếu cuộc sống gia đình của họ không được bảo đảm Do đó, gia đình có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của mọi người, từ giám đốc cho tới người công nhân lao động bình thường ở trong mỗi doanh nghiệp (TS Nguyễn Thanh Hội và TS Phan Thăng trong “Quản Trị Học”) Như chúng ta đã biết, để một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu và hiệu quả thì cần phải có sự ủng hộ, chấp hành của nhân viên, để hoạt động kinh doanh đạt kết quả tốt thì cần

có sự nhiệt tình đóng góp của nhân viên Như vậy, nếu như công ty có những chính sách hỗ trợ gia đình nhân viên thì có thể phần nào giúp nhân viên vững tin hơn để làm việc và đóng góp hết sức mình vào công ty Từ đó góp phần làm hệ thống kiểm soát nội bộ của công ty được hữu hiệu và hiệu quả hơn

=>Giả thuyết 3: Doanh nghiệp có quan tâm đến chính sách hỗ trợ gia đình nhân viên thì hệ thống kiểm soát nội bộ càng hữu hiệu

d Quy mô doanh nghiệp: QMDN

Quy mô doanh nghiệp có thể được đo lường bằng số nhân viên trong doanh nghiệp và tùy vào quy mô mà doanh nghiệp có Ban kiểm soát, kiểm toán nội bộ để theo dõi sự tuân thủ hệ thống kiểm soát nội bộ Tuy nhiên, đối với quy

mô doanh nghiệp nhỏ hoặc “gia đình trị” thì Ban kiểm soát hay kiểm toán nội bộ chỉ “ngồi chơi xơi nước”, việc lập ra chỉ mang tính hình thức cho đúng với quy định của luật doanh nghiệp (Vũ Xuân Tiền, Giám đốc công ty tư vấn VFAM (HN)) Từ đó ảnh hưởng đến tính hữu hiệu và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ

=>Giả thuyết 4: Quy mô doanh nghiệp càng lớn thì hệ thống kiểm soát nội bộ càng hữu hiệu

Trang 27

Luận văn tốt nghiệp Năm 2008

GVHD: Cô Vũ Thị Hồng Nhung SVTH: Nguyễn Ngọc Quyên 19

=>Giả thuyết 5: Trình độ của Ban giám đốc càng cao thì hệ thống kiểm soát nội bộ càng hữu hiệu

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu

- Số lượng mẫu thu thập: 31 doanh nghiệp

- Các doanh nghiệp này được lựa chọn một cách ngẫu nhiên trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

- Số liệu thứ cấp: được thu thập từ các công bố trên báo cáo, tạp chí, sách báo, cục thuế tỉnh Vĩnh Long, cục Thống Kê tỉnh Vĩnh Long

- Số liệu sơ cấp: phỏng vấn trực tiếp theo bảng câu hỏi

2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu

a Đối với mục tiêu 1: sử dụng phương pháp thống kê, mô tả

b Đối với mục tiêu 2: Xây dựng mô hình hồi quy OLS

- Trên cơ sở lập luận các biến đưa vào phần trên, ta xây dựng mô hình hồi quy OLS như sau:

Yj = α + β1jLDN1 + β2jLDN2 + β 3jLDN3 + β 4jCSR + β 5jHTGD +

β 6jLOG(QMDN) + β 7jTDGD1 + β 8jTDGD2 + ujTrong đó:

+ Y: Điểm đánh giá của hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp thứ j (Cách tính điểm đánh giá của hệ thống kiểm soát nội bộ: Hệ thống kiểm soát nội bộ gồm năm thành phần: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, và cuối cùng là giám sát Từ điểm trung bình của mỗi thành phần ta tính Y bằng trung bình điểm của năm thành phần)

Trang 28

+ LDN: Loại hình doanh nghiệp

§ LDN1: 1 nếu công ty cổ phần, 0 nếu khác

§ LDN2: 1 nếu công ty trách nhiệm hữu hạn, 0 nếu khác

§ LDN3: 1 nếu doanh nghiệp tư nhân, 0 nếu khác

(Doanh nghiệp nhà nước là phạm trù cơ sở) + CSR: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

§ 1 nếu doanh nghiệp có tham gia hoạt động xã hội

§ 0 nếu doanh nghiệp không có tham gia hoạt động xã hội

+ HTGD: Chính sách hỗ trợ gia đình nhân viên

§ 1 nếu có chính sách hỗ trợ gia đình nhân viên

§ 0 nếu không có chính sách hỗ trợ gia đình nhân viên

+ QMDN: Quy mô doanh nghiệp

§ Đo lường bằng số nhân viên trong doanh nghiệp

+ TDGD: Trình độ Ban giám đốc

§ TDGD1: 1 nếu trên đại học, 0 nếu khác

§ TDGD2: 1 nếu đại học, 0 nếu khác

(Trình độ dưới đại học là phạm trù cơ sở) ( Lưu ý: Trong cơ cấu trình độ Ban giám đốc nếu >= 50% thì lấy trình độ cao hơn làm chuẩn chung.)

- Một mô hình hồi quy tốt cần phải thỏa 8 giả thuyết sau: (chi tiết xem tại

Giáo trình Kinh Tế Lượng do TS Mai Văn Nam biên soạn, năm 2006)

+ Giả thuyết 1: Tuyến tính các tham số hồi quy

+ Giả thuyết 2: Các giá trị mẫu của X tj được ước lượng đúng, không có sai

số

+ Giả thuyết 3: Kỳ vọng hoặc trung bình số học của các sai số là bằng 0 + Giả thuyết 4: Các sai số độc lập với biến giải thích

+ Giả thuyết 5: Các sai số có phương sai bằng nhau

+ Giả thuyết 6: Các sai số từng cặp độc lập với nhau

+ Giả thuyết 7: Vector sai số theo phân phối chuẩn nhiều chiều

+ Giả thuyết 8: Không có biến độc lập nào là hằng số, và không tồn tại các mối liên hệ tuyến tính hoàn toàn chính xác giữa các biến độc lập

Trang 29

Luận văn tốt nghiệp Năm 2008

GVHD: Cô Vũ Thị Hồng Nhung SVTH: Nguyễn Ngọc Quyên 21

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VỀ VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VĨNH LONG

3.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VĨNH LONG

3.1.1 Sơ lược về địa bàn Vĩnh Long (1)

Vĩnh Long là tỉnh nằm ở trung tâm châu thổ Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) thuộc vùng giữa sông Tiền - sông Hậu, cách Thành phố Hồ Chí Minh

136 km với tọa độ địa lý từ 9o 52' 45" đến 10o 19' 50" vĩ độ Bắc và từ 104o 41' 25" đến 106o 17' 00" kinh độ Đông Vị trí giáp giới như sau :

- Phía Bắc và Đông Bắc giáp Tỉnh Tiền Giang và Bến Tre

- Phía Tây và Tây Nam giáp Tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng

- Phía Đông và Đông Nam giáp Tỉnh Trà Vinh

- Phía Tây Bắc giáp Tỉnh Đồng Tháp

Hiện nay, Vĩnh Long được phân chia thành 8 đơn vị hành chánh: thị xã Vĩnh Long và và 07 huyện (Long Hồ, Mang Thít, Tam Bình, Vũng Liêm, Bình Minh, Trà Ôn, Bình Tân); gồm có 107 đơn vị xã, phường, thị trấn và 846 khóm,

ấp Diện tích tự nhiên 148.737 ha (1.487,37km2)

Trên quan hệ đối ngoại, Vĩnh Long nằm trong vùng ảnh hưởng của địa bàn trọng điểm phía Nam; nằm giữa trung tâm kinh tế quan trọng là Thành phố Cần Thơ và Thành phố Hồ Chí Minh Chính nơi đây vừa là trung tâm kinh tế - khoa học kỹ thuật - văn hóa - quốc phòng, vừa là thị trường lớn sẽ có tác động mạnh

mẽ đến sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, trong đó có liên quan chặt chẽ đến việc quản lý, phân bố sử dụng đất đai Đặc biệt là khả năng chi phối của Trung tâm ứng dụng khoa học công nghệ của Thành phố Cần Thơ (Trường Đại học Cần Thơ, Viện lúa ĐBSCL, khu Công nghiệp Trà Nóc ) và Trung tâm cây ăn trái miền Nam (Tiền Giang) là một trong những lợi thế đặc biệt của Vĩnh Long trong

sự phát triển kinh tế ở hiện tại và tương lai

Với vị trí địa lý như trên trong tương lai Vĩnh Long là nơi hội tụ và giao lưu giữa giao thông thủy bộ (đường cao tốc, các quốc lộ 1A, 53, 54, 57, 80 được

Trang 30

nâng cấp mở rộng, có trục đường thủy nội địa sông Mang Thít nối liền sông Tiền

và sông Hậu trong trục đường thủy quan trọng từ Thành phố Hồ Chí Minh xuống các vùng tây nam sông Hậu), cửa ngõ trong việc tiếp nhận những thành tựu về phát triển kinh tế của TP Hồ Chí Minh và các khu công nghiệp miền đông và là trung tâm trung chuyển hàng nông sản từ các tỉnh phía Nam sông Tiền lên TP Hồ Chí Minh và hàng công nghiệp tiêu dùng từ TP Hồ Chí Minh về các tỉnh miền tây Mặt khác đây là vùng có tiềm năng về phát triển du lịch xanh với sinh cảnh sông nước, nhà vườn Đồng thời với hệ thống giao thông thủy bộ phát triển ngày càng hoàn thiện, Vĩnh Long với vị trí địa lý có nhiều mặt lợi thế như đã nêu trên

sẽ tạo động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội theo các hướng trục giao thông thủy bộ đã được quy hoạch của tỉnh

Vĩnh Long là vùng có truyền thống đất học với nhiều danh nhân trí thức cùng với sự hình thành đô thị sớm nhất trong vùng và ngày nay là nơi tập trung của các viện trường của Trung Ương và Tỉnh: Đại học dân lập Cửu Long, Trường cao đẳng cộng đồng, Trường xây dựng Miền Tây, Trường sư phạm kỹ thuật

Trang 31

Luận văn tốt nghiệp Năm 2008

GVHD: Cô Vũ Thị Hồng Nhung SVTH: Nguyễn Ngọc Quyên 23

Hình 2: BẢN ĐỒ RANH GIỚI HÀNH CHÍNH TỈNH VĨNH LONG

Nguồn: www.vinhlong.gov.vn

Trang 32

3.1.2 Sơ lược về các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Tỉnh Vĩnh Long

Theo thống kê của cục thuế tỉnh Vĩnh Long và cục thống kê tỉnh Vĩnh Long, số lượng các doanh nghiệp trên địa bàn qua các năm như sau:

Bảng 1: THỐNG KÊ DOANH NGHIỆP THEO LOẠI HÌNH QUA

CÁC NĂM TẠI TỈNH VĨNH LONG

NĂM 2006 NĂM 2007 LOẠI HÌNH

lượng

Tỷ trọng (%)

Số lượng

Tỷ trọng (%)

doanh với nước ngoài 2 0,21 2 0,12

(Nguồn: Cục thuế tỉnh Vĩnh Long và cục thống kê tỉnh Vĩnh Long năm 2008)

Nhìn chung, số lượng doanh nghiệp tăng, năm 2007 tăng 77,46% so với năm 2006 Nếu xét theo loại hình thì các loại hình có số doanh nghiệp gia tăng đáng kể Trong đó, loại hình doanh nghiệp ngày càng chiếm ưu thế theo trình tự

là doanh nghiệp tư nhân, trách nhiệm hữu hạn, cổ phần và doanh nghiệp nhà nước Qua số liệu bảng 1, số lượng doanh nghiệp tư nhân chiếm một tỷ trọng lớn, năm 2006 chiếm 73,33%, năm 2007 chiếm 58,91%, dù rằng tỷ trọng giảm qua các năm do sự gia tăng của loại hình cổ phần, trách nhiệm hữu hạn và nhà nước

Sở dĩ doanh nghiệp tư nhân chiếm ưu thế vì loại hình này có phương thức hoạt động và ràng buộc pháp lý tương đối dễ hơn các loại hình khác nên được nhiều

Trang 33

Luận văn tốt nghiệp Năm 2008

GVHD: Cô Vũ Thị Hồng Nhung SVTH: Nguyễn Ngọc Quyên 25

doanh nghiệp quan tâm chọn lựa Nhưng dần dần loại hình cổ phần và trách nhiệm hữu hạn càng tiến lên làm cho tỷ trọng của doanh nghiệp tư nhân giảm xuống, sự tiến lên này có thể là do sự chuyển đổi từ hình thức tư nhân, nhà nước, hoặc do doanh nghiệp mới hình thành lựa chọn Tại sao có sự dịch chuyển như vậy? Có phải do xuất phát từ nhu cầu đòi hỏi cần quản lý, điều hành tốt hơn trong điều kiện hiện nay? Do đó, vấn đề lựa chọn một loại hình doanh nghiệp như thế nào thì còn tùy thuộc vào mục đích của đối tượng muốn thành lập doanh nghiệp

Theo cục thống kê tỉnh Vĩnh Long, cho đến thời điểm hiện nay vẫn chưa thống kê được số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Tuy nhiên, để biết được phần nào về số doanh nghiệp vừa và nhỏ này, chúng ta có thể tham khảo sơ qua số liệu năm 2006 như sau:

Bảng 2: SỐ LƯỢNG CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ NẾU PHÂN THEO QUY MÔ NGUỒN VỐN (< 10 TỶ ĐỒNG)

LƯỢNG

TỶ TRỌNG (%)

Trang 34

Bảng 3: SỐ LƯỢNG CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ NẾU PHÂN THEO QUY MÔ LAO ĐỘNG (<300 NGƯỜI)

LƯỢNG

TỶ TRỌNG (%)

Doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài 1 0,11

(Nguồn: Cục Thống Kê tỉnh Vĩnh Long năm 2006)

Tổng số doanh nghiệp trên địa bàn Vĩnh Long năm 2006 là 945 doanh nghiệp, trong đó số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ nếu xét theo quy mô nguồn vốn thì có 849 doanh nghiệp, chiếm 89,84%; nếu xét theo quy mô lao động thì có tới 934 doanh nghiệp, chiếm 98,84% Từ đó có thể thấy rằng, đa phần các doanh nghiệp ở tỉnh Vĩnh Long có quy mô vừa và nhỏ Do đó, giới hạn của đề tài cũng chỉ khảo sát các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh để tránh sự biến động lớn nếu khảo sát luôn các doanh nghiệp có quy mô lớn

3.1.3 Thực trạng số mẫu điều tra về tình hình doanh nghiệp

Tổng mẫu thu được là 31 doanh nghiệp, chủ yếu ở Thị xã Vĩnh Long và các huyện Long Hồ, Bình Minh, Tam Bình Để có cái nhìn chung về tổng mẫu thu được, chúng ta lần lượt xem xét các yếu tố sau:

a Loại hình doanh nghiệp

Loại hình doanh nghiệp tư nhân và trách nhiệm hữu hạn chiếm tỷ trọng bằng nhau là 38,71%, loại hình cổ phần chiếm 19,36%, loại hình doanh nghiệp nhà nước chiếm 3,23% Sở dĩ số doanh nghiệp tư nhân và trách nhiệm hữu hạn trên địa bàn khá lớn nên số mẫu thu được về hai loại hình này chiếm tỷ trọng lớn

là hợp lý

Trang 35

Luận văn tốt nghiệp Năm 2008

GVHD: Cô Vũ Thị Hồng Nhung SVTH: Nguyễn Ngọc Quyên 27

Bảng 4: THỐNG KÊ SỐ MẪU DOANH NGHIỆP THEO LOẠI HÌNH

(%)

(Nguồn: số liệu điều tra năm 2008)

b Để chứng thực số mẫu thu về được giới hạn ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chúng ta lần lượt xét hai chỉ tiêu sau:

- Vốn điều lệ doanh nghiệp:

Bảng 5: THỐNG KÊ SỐ MẪU DOANH NGHIỆP THEO VỐN ĐIỀU LỆ

VỐN ĐIỀU LỆ DOANH

NGHIỆP

SỐ LƯỢNG DOANH NGHIỆP

TỶ TRỌNG (%)

TỶ TRỌNG (%)

Bảng 6: THỐNG KÊ SỐ MẪU DOANH NGHIỆP

THEO LƯỢNG LAO ĐỘNG

TỶ TRỌNG (%)

(Nguồn: số liệu điều tra năm 2008)

Trang 36

Trong tổng 31 doanh nghiệp, số doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 10 tỷ đồng chiếm 70,97%, nhưng lại có 100% doanh nghiệp có số lao động dưới 300 người Do đó, số mẫu thu về là đạt yêu cầu

c Số năm hoạt động

Bảng 7: THỐNG KÊ SỐ MẪU DOANH NGHIỆP

THEO NĂM THÀNH LẬP NĂM THÀNH LẬP

(NĂM CHUYỂN ĐỔI)

SỐ DOANH NGHIỆP

SỐ NĂM HOẠT ĐỘNG

(Nguồn: số liệu điều tra năm 2008)

Số năm hoạt động của các doanh nghiệp tương đối không đều, có những doanh nghiệp đã hoạt động từ lâu năm, nhưng cũng có những doanh nghiệp mới bắt đầu hoạt động và đã hoạt động được vài năm Trong đó, số doanh nghiệp hoạt động trên 10 năm chiếm 29,03%, số doanh nghiệp hoạt động dưới 5 năm chiếm 48,39%

Trang 37

Luận văn tốt nghiệp Năm 2008

GVHD: Cô Vũ Thị Hồng Nhung SVTH: Nguyễn Ngọc Quyên 29

d Lĩnh vực kinh doanh

Bảng 8: THỐNG KÊ SỐ MẪU DOANH NGHIỆP

THEO LĨNH VỰC KINH DOANH

LĨNH VỰC KINH DOANH

SỐ DOANH NGHIỆP

TỶ TRỌNG (%)

Thương mại và dịch vụ 3 9,68 Sản xuất và thương mại 7 22,58

(Nguồn: số liệu điều tra năm 2008)

Lĩnh vực kinh doanh tương đối đa dạng Trong đó, lĩnh vực thương mại chiếm tỷ trọng lớn, chiếm 38,71%, lĩnh vực sản xuất và thương mại chiếm 22,58% Từ kết quả trên cho thấy số mẫu thu về phần nhiều là các doanh nghiệp kinh doanh thuộc lĩnh vực thương mại, sản xuất và thương mại

3.2 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VĨNH LONG

Hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được đánh giá thông qua việc phỏng vấn người trong đơn vị theo bảng câu hỏi được thiết kế sẵn Đối tượng chọn để phỏng vấn có thể là người trong cấp quản lý hay cấp nhân viên miễn là có thể am hiểu một số thông tin, nắm được tình hình doanh nghiệp Bảng câu hỏi được thiết

kế gồm 88 câu (xem phụ lục 1) xoay quanh đánh giá các thành phần của hệ thống

kiểm soát nội bộ và chủ yếu theo dạng câu hỏi trả lời: “Có hoặc không” Các câu hỏi theo dạng trả lời “Có hoặc không” này là hỏi về các thủ tục kiểm soát hiện giờ đang được áp dụng tại đơn vị và càng nhiều câu trả lời: “Có” chứng tỏ hệ

thống kiểm soát nội bộ càng tốt Như vậy, khi tính điểm trung bình cho hệ thống kiểm soát nội bộ, cứ một câu trả lời: “Có” chứng tỏ một thủ tục kiểm soát được thực hiện tại đơn vị và nhận số điểm tương đương là một Từ đó, ta tính được điểm trung bình của mỗi thành phần và từ điểm trung bình của mỗi thành phần ta tính điểm đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ là trung bình điểm của năm thành

Trang 38

phần Điểm trung bình này càng gần một chứng tỏ hệ thống kiểm soát nội bộ càng hữu hiệu

Để đánh giá sơ bộ về tình hình các thành phần trong hệ thống kiểm soát nội bộ, ta có thể tham khảo sơ qua về điểm trung bình của mỗi thành phần trong tổng mẫu như sau:

Bảng 9: ĐIỂM TRUNG BÌNH CỦA CÁC THÀNH PHẦN

(Nguồn: số liệu điều tra năm 2008)

Từ kết quả trên cho thấy các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm về môi trường kiểm soát Ngoài ra, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, và thông tin, truyền thông cũng được sự quan tâm không kém Điều đáng lưu tâm là thành phần giám sát chưa được sự quan tâm cao ở các doanh nghiệp Để hiểu rõ hơn mức độ quan tâm của các doanh nghiệp trong mỗi thành phần như thế nào, chúng

ta cùng xem xét phần phân tích thực trạng cụ thể của từng thành phần được trình bày sau:

3.2.1 Môi trường kiểm soát

Như chúng ta đã biết, để có được một môi trường kiểm soát tốt thì các thành phần con của nó phải được đảm bảo Trong điều kiện hoàn hảo nhất thì điểm trung bình của thành phần này sẽ là một Nhưng theo tình hình sơ bộ cho thấy điểm trung bình của môi trường kiểm soát chỉ 0,86 chứng tỏ mức độ quan tâm của các doanh nghiệp đến các thành phần con trong môi trường kiểm soát chưa được cao Một câu hỏi đặt ra trong trường hợp này, mức độ quan tâm của các doanh nghiệp đến các thành phần con của môi trường kiểm soát là như nhau không? Để làm rõ vấn đề này chỉ có cách là phân tích thực trạng của từng thành phần con như sau:

Trang 39

Luận văn tốt nghiệp Năm 2008

GVHD: Cô Vũ Thị Hồng Nhung SVTH: Nguyễn Ngọc Quyên 31

3.2.1.1 Tính chính trực và giá trị đạo đức

Bảng 10: THỐNG KÊ SỐ MẪU DOANH NGHIỆP THEO CÁC CHỈ TIÊU

THỂ HIỆN TÍNH CHÍNH TRỰC VÀ GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC

CHỈ TIÊU

SỐ DOANH NGHIỆP

TỶ TRỌNG (%)

- Kết quả hoạt động kinh doanh 20 64,52

(Nguồn: số liệu điều tra năm 2008)

Các doanh nghiệp có quan tâm đến việc xây dựng các chuẩn mực đạo đức tại đơn vị mình Cụ thể, trong tổng số doanh nghiệp khảo sát, có đến 80,65% doanh nghiệp đã thực hiện Tuy nhiên, mức độ chất lượng chưa cao, vì hình thức thể hiện các chính sách này bằng sổ tay đạo đức và văn bản chiếm 56% trong tổng số doanh nghiệp có thực hiện, số còn lại chỉ thể hiện thông qua lời nói, thỏa thuận ngầm, hay phát động chương trình tuyên truyền Điều đó không phải là không tốt, nhưng nếu xét về mức độ thường xuyên tác động ở đây thì sổ tay đạo đức và văn bản tác động thường xuyên hơn đến mỗi người nhân viên, mỗi người quản lý và đương nhiên là phản ảnh tương đối đầy đủ các chuẩn mực đạo đức, tránh tình trạng làm sai vì chuẩn mực đạo đức này không được nhắc đến trong đơn vị Về hình thức lời nói, thỏa thuận ngầm hay phát động chương trình tuyên truyền cũng có cái hay là tạo dấu ấn về các quy định được nhắc đến và có vẻ tiết kiệm hơn, nhưng liệu nó có đầy đủ, có tác động thường xuyên không hay là vừa

Trang 40

nói xong thì nhớ nhưng tháng sau thì sự việc lại mới tinh, vi phạm vẫn cứ vi phạm

Một cách khác để nâng cao tính chính trực và sự tôn trọng các giá trị đạo đức là phải loại trừ hay giảm thiểu những sức ép hay điều kiện có thể dẫn đến nhân viên có hành vi thiếu trung thực Đây là vấn đề mà doanh nghiệp cần quan tâm để có giải pháp tốt, vì qua khảo sát có đến 64,52% doanh nghiệp có hình thức trả lương nhà quản lý theo kết quả hoạt động kinh doanh; 12,9% theo thâm niên công tác; và 22,58% là lương khoán Hình thức trả lương nhà quản lý theo kết quả hoạt động kinh doanh ngoài thuận lợi là nhà quản lý sẽ dốc toàn tâm sức để làm việc, nhưng khó khăn là khi ấy quyền lợi của nhà quản lý gắn chặt trên lợi nhuận nên họ có thể có những hành động không đúng để mưu lợi cho bản thân như ép buộc nhân viên làm sai lệch trên báo cáo tài chính, Từ đó làm giảm đi tính chính trực và sự tôn trọng các giá trị đạo đức trong đơn vị

=> Tóm lại, các doanh nghiệp có sự quan tâm cao về tính chính trực và giá trị đạo đức, nhưng chất lượng quan tâm chưa cao và vẫn còn tồn tại rủi ro nhỏ có thể làm giảm tính chính trực và sự tôn trọng các giá trị đạo đức trong doanh nghiệp

3.2.1.2 Đảm bảo về năng lực

Đây là yếu tố thứ hai trong môi trường kiểm soát Yếu tố này được đo lường bằng việc đánh giá trình độ của các cấp, xem xét sự phù hợp giữa trình độ

và chức vụ đảm nhiệm hay công việc được giao Qua khảo sát 31 doanh nghiệp,

ta có bảng thống kê trình độ như sau:

Ngày đăng: 11/01/2021, 13:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tập thể bộ môn Kiểm Toán (2001). Giáo trình Kiểm Toán, NXB Thống Kê, Bộ môn Kiểm Toán, khoa Kế Toán-Kiểm Toán, trường Đại học Kinh Tế TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kiểm Toán
Tác giả: Tập thể bộ môn Kiểm Toán
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2001
2. Tập thể bộ môn Kiểm Toán (2004). Giáo trình Kiểm Toán, NXB Thống Kê, Bộ môn Kiểm Toán, khoa Kế Toán-Kiểm Toán, trường Đại học Kinh Tế TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kiểm Toán
Tác giả: Tập thể bộ môn Kiểm Toán
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2004
4. Tập thể bộ môn Hệ Thống Thông Tin Kế Toán (2004). Hệ Thống Thông Tin Kế Toán, NXB Thống Kê, bộ môn Hệ Thống Thông Tin Kế Toán, khoa Kế Toán-Kiểm Toán, trường Đại học Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ Thống Thông Tin Kế Toán
Tác giả: Tập thể bộ môn Hệ Thống Thông Tin Kế Toán
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2004
5. TS. Nguyễn Thanh Hội, TS. Phan Thăng (1999). Quản Trị Học, NXB Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản Trị Học
Tác giả: TS. Nguyễn Thanh Hội, TS. Phan Thăng
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 1999
6. PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Diệp, ThS. Phạm Văn Nam (1997). Chiến Lược &amp; Chính Sách Kinh Doanh, NXB Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến Lược & Chính Sách Kinh Doanh
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Diệp, ThS. Phạm Văn Nam
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 1997
7. GS.TS. Võ Tòng Xuân (2008). “Để mặc nông dân xoay xở”, Thời báo Kinh Tế Sài Gòn, số 11-2008 (899) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để mặc nông dân xoay xở”, "Thời báo Kinh Tế Sài Gòn
Tác giả: GS.TS. Võ Tòng Xuân
Năm: 2008
8. ThS. Ngô Minh Quân (2008). “Dùng CSR để giữ người tài”, Thời báo Kinh Tế Sài Gòn, số 11-2008 (899) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dùng CSR để giữ người tài”, "Thời báo Kinh Tế Sài Gòn
Tác giả: ThS. Ngô Minh Quân
Năm: 2008
9. Tài liệu Thống Kê Đối Tượng Nộp Thuế Theo Loại Hình Doanh Nghiệp từ 31/12/2007 đến 31/03/2008, (2008). Cục thuế tỉnh Vĩnh Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Thống Kê Đối Tượng Nộp Thuế Theo Loại Hình Doanh Nghiệp từ 31/12/2007 đến 31/03/2008
Tác giả: Tài liệu Thống Kê Đối Tượng Nộp Thuế Theo Loại Hình Doanh Nghiệp từ 31/12/2007 đến 31/03/2008
Năm: 2008
10. Tài liệu Thống Kê Doanh Nghiệp năm 2006, (2008). Cục Thống Kê tỉnh Vĩnh Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Thống Kê Doanh Nghiệp năm 2006, (2008)
Tác giả: Tài liệu Thống Kê Doanh Nghiệp năm 2006
Năm: 2008
3. TS. Mai Văn Nam, ThS. Phạm Lê Thông, ThS. Lê Tấn Nghiêm, ThS Khác
11. Các trang websites chủ yếu: www.vinhlong.gov.vn www.mof.gov.vn Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w