[2,23 ] Cũng theo COSO, hệ thống kiểm soát nội bộ trong một đơn vị được cấu thành bởi năm bộ phận: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền
Trang 1PHÂN BIỆT HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG DOANH NGHIỆP
Phan Thị Thái Hà*
Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh – ĐH Thái Nguyên
TÓM TẮT
Trong quá hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với nhiều rủi ro, bao gồm cả rủi ro bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Hệ thống kiểm soát nội bộ (HTKSNB) và Kiểm toán nội bộ (KTNB) được thiết lập trong doanh nghiệp (DN) nhằm mục đích cuối cùng chính là giảm thiểu những rủi ro đó Tuy nhiên, không phải lúc nào khái niệm về HTKSNB và KTNB cũng được hiểu đúng Ngoài việc đưa ra hai khái niệm trên, bài viết còn phân tích nguyên nhân và ảnh hưởng của sự nhầm lẫn các khái niệm đó đối với hoạt động của doanh nghiệp Đồng thời chỉ ra mối liên hệ giữa chúng nhằm giúp cho những người quan tâm có thể nắm bắt được vấn đề và có cái nhìn toàn diện về HTKSNB và KTNB trong DN
Từ khoá: hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ, hữu hiệu, rủi ro.
Nền kinh tế nói chung và doanh nghiệp (DN)
nói riêng càng phát triển thì vai trò của hệ
thống kiểm soát nội bộ (KSNB) và kiểm toán
nội bộ (KTNB) trong DN càng trở nên quan
trọng Tuy nhiên, hiện giờ vẫn có nhiều sự
nhầm lẫn giữa những khái niệm đó Trong
DN, nếu các khái niệm này không được hiểu
đúng, sẽ dẫn tới tình trạng nhà quản trị thiết
lập nên một hệ thống KSNB và KTNB hoạt
động không thực sự hiệu quả Sự nhầm lẫn
khái niệm có thể xảy ra bởi các lý do sau:
Thứ nhất: Bản chất của KSBN và KTNB đều là
hướng tới quản trị rủi ro trong doanh nghiệp
Thứ hai: Tính chủ quan cao của ban lãnh đạo
(nhất là đối với các DN có hình thức sở hữu
mang tính chất tư nhân, gia đình) dễ làm cho
hoạt động của KSNB và KTNB không phân tách rõ ràng
Thứ ba: Bản thân KTNB cũng là một hình
thức kiểm soát, do vậy mặc dù phạm vi và tính chất kiểm soát của KTNB và KSNB không giống nhau thì hai khái niệm này vẫn
dễ bị nhầm lẫn nếu không được phân biệt rõ
KSNB, Hệ thống KSNB là gì?
Theo COSO (Committee of Sponsoring
Oganizations), kiểm soát nội bộ là một quy
trình chịu ảnh hưởng bởi Hội đồng quản trị, các nhà quản lý và các nhân viên khác của một tổ chức, được thiết kế để cung cấp một sự
Email:thaiha.tueba@gmail.com
Trang 2bảo đảm hợp lý trong việc thực hiện các mục
tiêu sau: hiệu lực và hiệu quả của các hoạt
động, tính chất đáng tin cậy của báo cáo tài
chính, sự tuân thủ các luật lệ và quy định
hiện hành [2,23 ]
Cũng theo COSO, hệ thống kiểm soát nội bộ
trong một đơn vị được cấu thành bởi năm bộ
phận: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro,
các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền
thông, giám sát và thẩm định [2,26 ]
Môi trường kiểm soát: Là những yếu tố bên
trong DN ảnh hưởng đến hoạt động của hệ
thống KSNB và là các yếu tố tạo ra môi
trường mà trong đó toàn bộ các thành viên
của đơn vị nhận thức được tầm quan trọng
của hệ thống KSNB
Xác định và đánh giá rủi ro: Mọi DN dù hoạt
động trong lĩnh vực gì, có quy mô, cấu trúc, loại hình hay có vị trí địa lý khác nhau đều có thể phải chịu sự tác động bởi các rủi ro xuất hiện từ các yếu tố bên trong hoặc bên ngoài
DN Việc xác định và đánh giá rủi ro của hệ thống KSNB chính là phân tích các yếu tố bên trong, các yếu tố bên ngoài DN và các rủi
ro mà DN có thể gặp phải
Các hoạt động kiểm soát (thủ tục kiểm soát):
Chính là những chính sách, thủ tục giúp cho
việc thực hiện các chỉ đạo của nhà quản lý
Nó đảm bảo các hành động cần thiết
để quản lý các rủi ro có thể phát sinh trong quá trình thực hiện các mục tiêu của DN Các thủ tục kiểm soát gồm có:
143
Trang 3Thủ tục phê duyệt: Là sự cho phép một nghiệp
vụ được xảy ra hoặc cho phép tiếp cận hay sử
dụng tài sản, thông tin, tài liệu của DN Bằng
chứng của sự phê duyệt là chữ ký của người
phê duyệt đúng thẩm quyền
Thủ tục định dạng trước: Là việc DN áp dụng
rộng rãi chương trình máy tính vào công tác
quản lý Đây là một thủ tục hữu hiệu vì máy
tính sẽ không cho phép nghiệp vụ được xử lý
nếu các yêu cầu không được tuân thủ Ví dụ
như sử dụng chữ ký điện tử, định dạng bằng
dấu vân tay…
Thủ tục báo cáo bất thường: Tất cả các cá
nhân, các bộ phận trong DN phải có trách
nhiệm báo cáo về các trường hợp bất thường
về các vấn đề bát hợp lý mà họ phát hiện ra ở
mọi nơi, mọi lúc, ở cả trong và ngoài bộ phận
của mình, trong và ngoài DN
Thủ tục bảo vệ tài sản: Là tất cả các hoạt
động của DN nhằm giảm thiểu việc tài sản bị
mất mát, lãng phí, lạm dụng, hư hỏng hay bị
phá hoại
Thủ tục sử dụng chỉ tiêu: Sử dụng các chỉ tiêu
tính toán được nhằm đánh giá thực trạng hoạt
động của DN Ví dụ như: chỉ tiêu tỷ suất lợp
nhuận, chỉ tiêu hàng tồn kho…
Thủ tục bất kiêm nhiệm: Đây là việc tách biệt
giữa 4 chức năng phê duyệt, thực hiện, giữ tài
sản và ghi nhận nhằm đảm bảo không ai có thể
thực hiện và che giấu hành vi gian lận
Thủ tục đối chiếu: Là việc đối chiếu cùng một
số liệu từ các nguồn phát sinh khác nhau
Đây là thủ tục hữu hiệu để ngăn ngừa và phát hiện các gian lận hay sai sót trong thực hiện
và ghi nhận các nghiệp vụ
Thủ tục kiểm tra và theo dõi: Đây có thể được
xem là cơ chế “kiểm soát sự kiểm soát” Có nghĩa là đánh giá hiệu quả của hệ thống kiểm soát
- Thông tin và truyền thông: Thông tin được
thu thập và truyền đạt đến các bộ phận, cá nhân trong đơn vị để có thể hoàn thành trách nhiệm của mình Truyền thông là sự cung cấp thông tin trong đơn vị (từ cấp trên xuống cấp dưới, từ cấp dưới lên cấp trên và giữa các bộ phận quan hệ ngang hàng) và với bên ngoài
Sự kiểm soát chỉ có thể thực hiện được nếu các thông tin trung thực và đáng tin cậy, đồng
144
thời quá trình truyền thông được thực hiện chính xác và kịp thời
- Giám sát và thẩm định: Đây là quá trình
theo dõi và đánh giá chất lượng thực hiện việc kiểm soát nội bộ để đảm bảo nó được triển khai, điều chỉnh khi môi trường thay đổi cũng
như được cải thiện khi có khiếm khuyết [4 ]
Trang 4KTNB - Khái niệm và bản chất
Theo “Chuẩn mực nghề nghiệp kiểm toán nội
bộ” của Hoa Kỳ được Viện kiểm toán nội bộ
Hoa Kỳ thông qua tháng 6 năm 1978: “Kiểm
toán nội bộ là một chức năng xác minh độc lập
được thiết lập trong một tổ chức để xem xét và
đánh giá các hoạt động của tổ chức, được coi
là một dịch vụ đối với tổ chức đó”.
Theo Liên đoàn Kế toán quốc tế IFAC: “Kiểm
toán nội bộ là một hoạt động đánh giá được lập
ra trong một đơn vị kinh tế như là một loại dịch
vụ cho đơn vị đó, có chức năng kiểm tra, đánh
giá và giám sát tính thích hợp và hiệu quả của
hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ”.
Theo định nghĩa của Hiệp hội Kiểm toán viên
nội bộ (IIA): “Kiểm toán nội bộ là một hoạt
động đảm bảo và tư vấn mang tính độc lập
được thiết lập nhằm tăng thêm giá trị và cải
thiện cho các hoạt động của tổ chức Kiểm toán nội bộ giúp cho tổ chức hoàn thành mục tiêu trong việc đưa ra một cách tiếp cận có hệ thống và kỷ cương nhằm đánh giá và cải thiện tính hữu hiệu trong quản trị rủi ro kiểm soát và giám sát” [3].
Như vậy, tồn tại khá nhiều quan điểm khác nhau về KTNB, song chúng không hề mâu thuẫn với nhau Chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản hơn:
KTNB là một bộ phận có chức năng đánh giá độc lập được doanh nghiệp thiết lập để đánh giá và kiểm tra các chức năng, hoạt động khác của doanh nghiệp nhằm mục đích giảm thiểu rủi ro.
Khái niệm này có thể được phân tích như sau:
- Kiểm toán: có thể được xem xét ở khía cạnh
hẹp như kiểm tra tính hiện hữu của hàng tồn kho hay sự phê duyệt của chứng từ, báo cáo, nghiệp vụ… Kiểm toán cũng có thể được xem xét rộng hơn, đó là việc đánh giá và phân tích trên khía cạnh tổng thể DN như đánh giá hệ thống quản trị rủi ro và đánh giá hệ thống
Trang 5quản trị nội bộ Đó cũng là điều mà các DN
muốn hướng tới
Nội bộ: Có nghĩa là hoạt động kiểm toán
trong nội bộ DN (internal audit), phân biệt với
kiểm toán độc lập - kiểm toán từ bên ngoài
DN (external audit) Từ “nội bộ” dễ tạo cảm
giác rằng, bộ phận KTNB phải do chính DN
tạo ra và thuộc sự quản lý hành chính của
DN, có nghĩa là nhân viên KTNB phải là
nhân viên trong DN Trên thực tế, hoạt động
KTNB thường được chính nhân viên của DN
thực hiện trong phạm vi nội bộ DN, song
cũng có những DN thuê tổ chức kiểm toán
bên ngoài thực hiện công việc kiểm toán nội
bộ cho mình
Độc lập: Kiểm toán viên nội bộ và bộ phận
KTNB phải độc lập với các bộ phận khác
trong DN để thực hiện công việc của mình và
có thể mang lại kết quả khách quan nhất
Thiết lập: Bộ phận KTNB là một bộ phận
chính thức của DN, có chức năng và phạm vi
hoạt động xác định
Đánh giá, kiểm tra: Kiểm toán viên nội bộ sẽ
xác nhận nhu cầu cần được xem xét và
đánh giá các hoạt động, chức năng của DN,
sau đó thực hiện công việc kiểm tra, đánh giá
các hoạt động, chức năng đó Đây là vai trò
chính của bộ phận KTNB cũng như của kiểm
toán viên nội bộ
Các chức năng hoạt động khác của DN: Có
nghĩa là phạm vi hoạt động của KTNB rất rộng, bao gồm toàn bộ chức năng và hoạt
động của của DN.[4]
Thực hiện hai chức năng cơ bản của kiểm toán nói chung, KTNB có các chức năng
chính sau: chức năng kiểm tra, chức năng xác
nhận và chức năng đánh giá.
Phạm vi kiểm tra, xác nhận và đánh giá của KTNB bao gồm:
Tính phù hợp, độ tin cậy và chính xác của thông tin kế toán, các thông tin tài chính có thể định lượng được thuộc tất cả các hệ thống
và hoạt động của doanh nghiệp
Sự vận hành hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ
Tính tuân thủ luật pháp, các nguyên tắc, chính sách, chế độ, nghị quyết, quyết định của nhà nước và doanh nghiệp
145
Tính hiệu quả, hiệu lực của các hoạt động kinh doanh và việc sử dụng các nguồn lực Phạm vi chức năng của kiểm toán nội bộ phù hợp với các chuẩn mực kiểm toán nội bộ
Trang 6được vận dụng linh hoạt tuỳ thuộc vào đặc
điểm, quy mô hoạt động và đặc thù quản lý
của các doanh nghiệp
Hoạt động trên cơ sở chức năng của mình,
KTNB có các nhiệm vụ sau:
Kiểm tra, đánh giá tính phù hợp, hiệu lực và
hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ
Kiểm tra, xác nhận chất lượng và độ tin cậy
của các thông tin kinh tế, tài chính của báo
cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị trước
khi trình ký duyệt
Kiểm tra sự tuân thủ các nguyên tắc hoạt
động, quản lý kinh doanh, đặc biệt sự tuân thủ
luật pháp, chính sách chế độ tài chính, kế
toán, chính sách, nghị quyết, quyết định của
Hội đồng quản trị, của Ban Giám đốc doanh
nghiệp
Phát hiện những sơ hở, yếu kém, gian lận trong
quản lý, trong bảo vệ tài sản của DN, đề xuất
các giải pháp nhằm cải tiến, hoàn thiện hệ thống
quản lý, điều hành kinh doanh của DN
Đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ và hiệu quả hoạt động của các nguồn lực
Tựu chung lại, chúng ta có thể thấy rằng, bản chất của KTNB chính là một trong những biện pháp kiểm soát để giảm thiểu rủi ro
KTNB cũng được ghi nhận với chức năng kiểm soát của DN, có mục tiêu thực hiện đánh giá tính hiệu quả và hiệu suất của hệ thống kiểm soát Kiểm toán viên nội bộ là người thực hiện các công việc kiểm toán nội bộ một cách hiệu quả để đảm bảo cho hệ thống kiểm soát trong DN được thiết kế phù hợp và được
áp dụng đúng như thiết kế (có nghĩa là hoạt động hiệu quả, giúp DN tránh được rủi ro)
Hệ thống KSNB và KTNB: Ảnh hưởng của việc nhầm lẫn khái niệm
Việc nhầm lẫn giữa hai khái niệm này dẫn tới một số ảnh hưởng đối với hoạt động của DN như:
- Thiết lập hệ thống KSNB và KTNB không khoa học và hiệu quả Điều này dễ xảy ra do việc nhầm lẫn khái niệm sẽ dẫn đến việc không hiểu rõ chức năng, nhiệm vụ của từng
Trang 7hệ thống làm cho hình dung về các hệ thống
này không chính xác Việc thiết lập một hệ
thống trên một cơ sở không chính xác sẽ
không mang lại một hệ thống chuẩn mực
Các biện pháp kiểm soát, các hoạt động kiểm
soát dễ bị chồng chéo do nhiệm vụ không phân
định rõ ràng gây cản trở công việc của các bộ
phận khác và gây tâm lý ức chế trong công việc
của các nhân viên trong công ty, ảnh hưởng đến
sự phát triển chung của DN do mọi hoạt động
đều không hiệu quả
Khối lượng công việc và trách nhiệm của
những nhân viên đảm nhiệm nhiệm vụ kiểm
soát quá nhiều, gây quá tải, sức ép lớn dễ dẫn
đến sai sót trong chính việc kiểm tra, kiểm
soát
Nếu ban lãnh đạo DN chỉ đạo trực tiếp để
đảm bảo các yêu cầu quản lý của mình được
đáp ứng sẽ dẫn đến tình trạng bộ phận kiểm
soát thụ động, không linh hoạt, không phát
huy được năng lực của mình trong khi các
nhà quản trị lại phải mất quá nhiều thời gian
trong việc đánh giá, xem xét, chỉ đạo bộ phận
giúp việc cho mình Rõ ràng, đây là một sự
lãng phí nhân lực và tài chính mà không đạt
được hiệu quả
Hệ thống KSNB và KTNB có mối liên hệ gì?
Để tránh nhầm lẫn, cần có sự phân biệt giữa
hệ thống KSNB và KTNB, đồng thời hiểu rõ
mối quan hệ giữa chúng Từ đó, DN có thể
thiết lập cho mình một hệ thống kiểm soát
hữu hiệu Theo những phân tích ở trên, có thể thấy rằng cả hệ thống KSNB và KTNB đều nhằm tới mục đích là kiểm soát rủi ro Tuy nhiên, trong DN, chúng có vị trí và vai trò khác nhau
“Kiểm soát” là chỉ hoạt động “Hệ thống kiểm soát nội bộ” là một hệ thống có tổ chức, bao gồm nhiều yếu tố Những yếu tố này đảm bảo cho DN hoạt động theo ý chí của lãnh đạo
DN Biểu hiện của chúng chính là những chính sách, quy chế, quy định của Pháp luật, của DN mà bắt buộc mọi thành viên trong DN phải tuân theo Việc sử dụng các biện pháp để đảm bảo cho các chính sách, quy chế, quy
định đó được thực hiện được gọi là “hoạt SUMMARY
146
động kiểm soát” KTNB thực hiện nhiệm vụ đánh giá và kiểm tra các chức năng hoạt động khác của DN nên được coi là “kiểm soát sự kiểm soát”, hay nói cách khác, nó cũng là một biện pháp để kiểm soát Như vậy, KTNB là một bộ máy nằm trong hệ thống KSNB của
DN Hệ thống KSNB là một quy trình còn KTNB là một thực thể tồn tại trong DN Do vậy, có thể thấy rằng, hệ thống KSNB tồn tại
dù cho DN ở bất kỳ quy mô hay lĩnh vực kinh doanh nào, đó là điều kiện tiên quyết để DN tồn tại và phát triển KTNB là một bộ phận đặc thù trong DN song không bắt buộc phải
có DN có thể thiết lập một bộ máy KTNB nếu nhận thấy cần phải có thêm một biện pháp kiểm soát hữu hiệu
Trang 8Chúng ta có thể hình dung mối liên hệ giữa
chúng như sau: Hệ thống KSNB giống như
một “hành lang” các quy định, chính sách,
quy chế được thiết lập để đảm bảo cho DN
hoạt động đúng mục tiêu và có hiệu quả; hoạt
động kiểm soát là các cách thức, các thủ tục
được áp dụng để đảm bảo rằng DN đang đi
đúng trong “hành lang” đó; bộ phận KTNB có
nhiệm vụ kiểm tra hoạt động kiểm soát có
thực sự diễn ra hay không, đánh giá mức độ
kiểm soát của hệ thống một cách trung thực,
khách quan, chỉ ra những hạn chế và đề xuất
hoàn thiện Dựa trên kết quả của kiểm tra,
giám sát và đánh giá, DN có thể sẽ quay trở
lại hoàn chỉnh hệ thống KSNB của mình để
nhằm đạt được một hệ thống kiểm soát tối ưu
nhất nghĩa là một hệ thống kiểm soát phù hợp
và có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của DN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ Tài chính (2005), Các văn bản pháp luật
về kiểm toán, Nxb Tài chính
[2] Vũ Hữu Đức (1999), Kiểm toán nội bộ - Khái niệm và quy trình, Nxb Thống kê
GS.TS Nguyễn Quang Quynh (2005), Giáo trình
lý thuyết kiểm toán, Nxb Tài chính, Hà Nội
Tài liệu khoá học Kiểm toán nội bộ, Vietsourcing
- Hà Nội
Trang 9DICSRIMINATE FROM INTERNAL CONTROL SYSTEM AND INTERNAL AUDIT OF ENTERPRISES
Phan Thi Thai Ha
Thai nguyen University of Economics and Business administration
Enterprises always have to confront with risks, including inside and outside risk in business activities Internal control system (ICS) and Internal Audit (IA) are set up in the enterprises with a final purpose is to minimize risks However, the conceptions of ICS and IA are not always correctly understood This paper is not only giving the conceptions above, but also analyzing the reasons and the effects of the confusion of conceptions on enterprises’ activities It also pointed out the relationship between ICS and IA to help interested users to catch up the subject and have a global look about the ICS and IA in enterprises
Key words: internal control system, internal audit, effectiveness, risk.