1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn nhà văn nguyễn ngọc tư

101 97 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 217,74 KB
File đính kèm LUẬN VĂN- nhà văn nguyễn ngọc tư.rar (215 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đề tài “Sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn Phê bình sinh thái” như một giải pháp chữa lành vết thương môi sinh bằng khoa học văn chương. Người viết chia Luận văn thành ba phần bao gồm: Mở đầu, Nội dung chính và Kết luận. Trong đó, người viết đặt trọng tâm vào Nội dung chính với ba chương cụ thể như sau:Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết.Chương 2. Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư.Chương 3. Nghệ thuật thể hiện những vấn đề sinh thái trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Thực tế luôn cho thấy, kết quả của sự thành công không chỉ gắn với nỗ lực của bảnthân mà còn là sự hỗ trợ, giúp đỡ tận tình của mọi người xung quanh Trong quá trìnhnhận đề tài và trong suốt thời gian thực hiện Luận văn đến nay, tôi luôn nhận được sựquan tâm, chỉ bảo, giúp đỡ của quý thầy cô, gia đình và bạn bè Với lòng biết ơn sâusắc, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành và lời tri ân sâu sắc đến quý Thầy Côthuộc Khoa Sư phạm nói chung và Bộ môn Sư phạm Ngữ văn nói riêng đã tạo điềukiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu Tôi cũng gửi lời cảm ơn đến quýThầy Cô ở Trung tâm Học liệu của trường Đại học Cần Thơ và Thư viện Khoa Sưphạm đã giúp đỡ tôi trong quá trình tìm kiếm tài liệu

Đặc biệt, tôi xin dành lời cảm ơn chân thành đến TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh,người đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ dạy, sửa chữa và động viên tôi trong suốt quá trìnhthực hiện đề tài, nhờ vậy mà tôi có thể hoàn thành được Luận văn của mình một cáchtốt nhất

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh an ủi, độngviên, là chỗ dựa vững chắc và tiếp thêm sức mạnh tinh thần to lớn cho tôi trong suốtquá trình nghiên cứu

Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!

Cần Thơ, ngày 18 tháng 06 năm 2020

Người viết

Nguyễn Thị Phương Nghi

Trang 2

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Trong thời đại khủng hoảng môi sinh trầm trọng, con người đang kêu cứu chonhững hành động tiêu cực của mình đối với tự nhiên Văn học càng không thể vô cantrong bài toán mang tính toàn cầu, chính vì thế luôn có thiện chí dấn thân vào sựnghiệp chung của nhân loại Phê bình sinh thái xuất hiện được ví như “cập thời vũ”(tức cơn mưa xuất hiện đúng lúc) giúp cho giới nghiên cứu bước một bước thật dàitrong việc kết nối văn học với hiện thực cuộc sống Văn học Việt Nam nói chung và

giới nghiên cứu nói riêng không phải “thấy người ta ăn khoai, mình vác mai đi đào”,

hay hô hào chung chung về lý thuyết mới mà khởi nguyên đã xác định đây là côngviệc cần phải làm của kẻ trong cuộc nhằm thể hiện hồi đáp của văn chương đối với lờikêu cứu từ môi trường

Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn không còn xa lạ đối với độc giả yêu văn chươngViệt Nam đương đại, không chỉ lối văn mộc mạc đưa chị đến gần với bạn đọc mà còn

là sự phản ánh sắc nét hiện thực cuộc sống vào trong trang viết Các vấn đề như đô thịhóa, ô nhiễm môi trường sinh thái, bất bình đẳng xã hội, bạo lực, giới tính… được

phơi bày khéo léo Do đó, người viết quyết định nghiên cứu đề tài “Sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn Phê bình sinh thái” như một giải pháp chữa lành vết

thương môi sinh bằng khoa học văn chương Người viết chia Luận văn thành ba phần

bao gồm: Mở đầu, Nội dung chính và Kết luận Trong đó, người viết đặt trọng tâm vào Nội dung chính với ba chương cụ thể như sau:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết: người viết trình

bày tổng quan tình hình nghiên cứu Phê bình sinh thái trên thế giới, ở Việt Nam và cụthể là trong nghiên cứu sáng tác của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư; giới thuyết về Phê bìnhsinh thái với khái niệm, đặc trưng và lịch sử hình thành – phát triển của lý thuyết; kháiquát về tiểu sử, phong cách và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư

Chương 2 Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư: người viết chú trọng phân tích ba yếu tố cơ bản bao gồm: ca ngợi sự hòa

hợp của con người với tự nhiên; đề cao vai trò tự nhiên trong đời sống tinh thần conngười và cảm hứng phê phán từ điểm nhìn sinh thái trong sáng tác của Nguyễn Ngọc

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

TÓM TẮT LUẬN VĂN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

NỘI DUNG CHÍNH 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5

1.2 Khái lược về Phê bình sinh thái 12

1.2.1 Khái niệm Phê bình sinh thái 12

1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Phê bình sinh thái 15

1.2.3 Những đặc trưng cơ bản của Phê bình sinh thái 19

1.2.4 Phê bình sinh thái – khuynh hướng nhiều tiềm năng trong Nghiên cứu văn học Việt Nam 19

1.3 Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư 23

1.3.1 Tiểu sử và phong cách 23

1.3.2 Sự nghiệp sáng tác 25

CHƯƠNG 2 MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ TỰ NHIÊN TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ 28

2.1 Ca ngợi sự hòa hợp của con người với tự nhiên 28

2.1.1 Tự nhiên tồn tại như một sinh mệnh gắn bó mật thiết với đời sống con người 28

2.1.2 Tự nhiên và con người – trong quan hệ hợp nhất 33

2.2 Đề cao vai trò của tự nhiên trong đời sống tinh thần của con người 36

2.2.1 Tự nhiên giúp cho con người sống phong phú và phóng khoáng 37

Trang 4

2.2.2 Tự nhiên là nơi cứu rỗi và di dưỡng tinh thần 41

2.3 Cảm hứng phê phán từ điểm nhìn sinh thái trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư 45

2.3.1 Phê phán tư tưởng thống trị, chiếm đoạt tự nhiên 45

2.3.2 Nỗi bất an sinh thái 49

CHƯƠNG 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN NHỮNG VẤN ĐỀ SINH THÁI TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ 56

3.1 Hình tượng nghệ thuật 56

3.1.1 Hình tượng dòng sông 56

3.1.2 Hình tượng cánh đồng 59

3.1.3 Hình tượng đô thị 61

3.1.4 Hình tượng loài vật 63

3.1.5 Hình tượng con người 65

3.2 Giọng điệu 68

3.2.1 Giọng hồn nhiên, sảng khoái khi ngợi ca vẻ đẹp tự nhiên 68

3.2.2 Giọng xót thương, bất an khi miêu tả sự hủy hoại tự nhiên 71

3.3 Không gian nghệ thuật 73

3.3.1 Không gian đô thị 74

3.3.2 Không gian tự nhiên 77

3.3.3 Không gian tâm trạng 80

3.4 Thời gian nghệ thuật 82

3.4.1 Thời gian trần thuật 83

3.4.2 Thời gian tâm trạng 87

KẾT LUẬN 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong xã hội hiện đại, song hành với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật

và sự nhảy vọt về kinh tế - xã hội là quá trình ô nhiễm môi trường và nguy cơ sinhthái Trước bối cảnh căng thẳng của hiện trạng môi sinh, sự sống còn của con người

cũng đang bị uy hiếp bởi lối sống “Ăn xổi ở thì” và nhếch nhác trong cách ứng xử với

tự nhiên Tất cả các ngành khoa học như sử học, nhân loại học, tâm lý học, triết học,thần học… đều hướng sự quan tâm vào vấn đề môi trường Người ta nhận thấy rằng đểgiải quyết sự căng thẳng trong mối quan hệ giữa con người và tự nhiên không thể chỉbằng sức mạnh vật chất mà còn dựa vào khoa học nhân văn Trong lĩnh vực văn học,Phê bình sinh thái xuất hiện vào những năm 60, 70 của thế kỷ XX được đánh giá làphát súng mở đầu cho khuynh hướng nghiên cứu văn học mới, nhanh chóng lan rộngsang nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Tiếp cận khuynh hướng nghiên cứu vănhọc mới ở thế kỷ XXI, Phê bình sinh thái ở Việt Nam đã có những tín hiệu tích cực,cho thấy sự cố gắng và tinh thần trách nhiệm của các nhà nghiên cứu trước vấn nạnmôi trường bằng cách thúc đẩy sự thay đổi quan niệm của con người đối với tự nhiên

bằng sức mạnh văn chương nhằm hướng đến “cuộc sống an yên, bền vững, hạnh phúc của dân tộc và nhân loại” [32; 25].

Trong nền văn chương đương đại, Nguyễn Ngọc Tư là một trong những nhà văngây ấn tượng mạnh mẽ đối với độc giả từ Bắc chí Nam Ở những sáng tác của chị,người đọc thấy vừa quen, vừa lạ Quen ở đây là những vấn đề được đề cập mang hơithở “đời tư, thế sự” - về cuộc sống, về số phận con người, đặc biệt là các tác phẩmmang hơi thở và tinh thần sinh thái Lạ là những vấn đề được lột tả theo cách riêng của

Nguyễn Ngọc Tư, Giáo sư Nguyễn Văn Hạnh trong Lý luận văn học vấn đề và suy nghĩ nhận định rằng: “Phong cách luôn gắn với tài năng, với sức mạnh, chiều sâu suy nghĩ, cảm nhận của người nghệ sĩ về cuộc sống, sự tìm tòi không ngừng của người nghệ sĩ để thể hiện được vào tác phẩm cái gì là đặc sắc, sâu xa nhất của mình” [09;

51] Thực tế cho thấy, nhà văn luôn tiếp cận và thể nghiệm ở nhiều hình thức nghệ

thuật mới cùng với nội dung vô cùng sâu sắc và độc đáo

Mặt khác, người viết nhận thấy rằng, với sự nhạy cảm, tinh tế của một nhà văn nữ,Nguyễn Ngọc Tư dù vô tình hay hữu ý đã mang vấn đề môi sinh vào trong sáng tác

của mình như “động mạch chủ”, tuy chưa rõ các đặc điểm của văn học sinh thái thuần

túy nhưng nhìn chung đã mang hơi thở của cảm thức sinh thái, đó chính là sự nỗ lực

khám phá “mối quan hệ của con người đối với thế giới ngoài con người, thế giới phi nhân loại (nonhuman world), tập trung vào vị trí của con người và tự nhiên trong một chỉnh thể sinh thái cân đối” [32; 134] Những vấn đề được đặt ra trong sáng tác có ý

nghĩa vô cùng to lớn trong việc định hướng đạo đức sinh thái, thay đổi phương thức tư

Trang 6

duy và khả năng hành động của con người Nếu các ngành khoa học khác đưa ranhững số liệu cụ thể, khô cứng về môi trường thì văn chương lại mang đến một cáchtiếp cận sâu sắc hơn, tác động vào tâm tư tình cảm nhằm thức tỉnh tâm tính và buộccon người nhìn nhận nghiêm túc về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên.

Từ những lý do khách quan và chủ quan trên, người viết quyết định chọn đề tài của

mình là: Sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn Phê bình sinh thái.

2 Mục đích nghiên cứu

Phê bình sinh thái là một lý thuyết nghiên cứu văn học mới, xuất hiện khá muộn dùtrước đó đã có sự manh nha nhưng còn mang tính rời rạc, chưa hợp thành một khuynhhướng nghiên cứu văn học thống nhất Ở Việt Nam, ngoài việc tiếp nhận học thuyếtmới thì trên nền tảng, các sáng tác chứa đựng cảm thức sinh thái là tương đối đa dạng.Trong đó, ta có thể kể đến các sáng tác của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư - một làn giómới của văn học đương đại Việt Nam, không cố gắng, không gượng ép nhưng hiệuquả trong việc gợi dẫn, kết nối mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, bóc tách hiệnthực một cách sâu sắc, tinh tế bằng ngòi bút có tâm và có tầm

Qua luận văn này, người viết nhằm:

Thứ nhất, phác thảo cơ sở lí luận có liên quan đến Phê bình sinh thái và thực tếnghiên cứu văn học từ góc độ Phê bình sinh thái ở Việt Nam

Thứ hai, khảo sát thông tin về nhà văn Nguyễn Ngọc Tư và những đóng góp của tácgia đối với diện mạo văn học Việt Nam

Thứ ba, nghiên cứu một cách có hệ thống mối quan hệ giữa con người và tự nhiêntrong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, đồng thời, thông qua “tính văn học” nhằm thểhiện tinh thần của văn hóa sinh thái trong các sáng tác

3 Đối tượng nghiên cứu

Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn có bút lực dồi dào, luôn thử sức với nhiều thể loạinhư: truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, tạp văn và có cả thơ Đặc biệt, các tác phẩmluôn có sức khái quát về mặt đề tài

Tuy nhiên, trong luận văn này, người viết chỉ tập trung tìm hiểu, phân tích và làmsáng tỏ những sáng tác có liên quan đến vấn đề sinh thái

4 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các sáng tác của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư,không giới hạn về mặt thể loại, cụ thể là các tác phẩm có liên quan đến nguồn gốc vănhóa tư tưởng của nguy cơ sinh thái, hoặc đề cập đến sự tác động qua lại trong mốiquan hệ giữa con người và tự nhiên, sự ra đời của các chính sách phá vỡ sinh thái dẫnđến nguy cơ sinh thái, lối sống chủ nghĩa tiêu dùng, thực dụng hay các sự kiện ô nhiễmmôi sinh trầm trọng

Trang 7

Trong phạm vi luận văn này, người viết tiến hành khảo sát các sáng tác tiêu biểusau:

1 Ngọn đèn không tắt (Tập truyện ngắn - Nhà xuất bản Trẻ, 2000)

2 Giao thừa (Tập truyện ngắn - Nhà xuất bản trẻ, 2003)

3 Cánh đồng bất tận (Tập truyện ngắn - Nhà xuất bản Trẻ, 2005)

4 Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (Tập truyện ngắn - Nhà xuất bản Trẻ, 2008)

5 Khói trời lộng lẫy (Tập truyện ngắn – Nhà xuất bản Trẻ, 2010)

6 Không ai qua sông (Tập truyện ngắn – Nhà xuất bản Trẻ, 2016)

7 Cố định một đám mây (Tập truyện ngắn – Nhà xuất bản Trẻ, 2018)

8 Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư (Tạp văn - Nhà xuất bản trẻ, 2006)

9 Yêu người ngóng núi (Tản văn – Nhà xuất bản Trẻ, 2009)

10 Gáy người thì lạnh (Tản văn – Nhà xuất bản Trẻ, 2012)

11 Đong tấm lòng (Tản văn – Nhà xuất bản Trẻ, 2015)

12 Sông (Tiểu thuyết - Nhà xuất bản Trẻ, 2012)

Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, người viết có thể đối chiếu, so sánh với cáctác phẩm khác nếu cần thiết

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn Sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn Phê bình sinh thái, người viết đã sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp xã hội học sáng tác: nghiên cứu những tác động của bối cảnh xã hội

đương thời đối với quá trình hình thành tư tưởng và cho ra đời những sáng tác của nhàvăn Nguyễn Ngọc Tư

Phương pháp nghiên cứu liên ngành: sử dụng kiến thức của các ngành khoa học

khác như: tâm lí, sinh học, lịch sử, địa lý, chính trị, văn hóa để làm nền tảng cho việc

đi sâu và tìm hiểu mối quan hệ giữa tự nhiên và con người

Phương pháp thi pháp học: tiếp cận sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư dựa trên nghệ

thuật biểu hiện và các dấu hiệu hình thức độc đáo của Phê bình sinh thái như kháiniệm, đặc trưng, tư tưởng trung tâm,… từ đó khám phá tầng nghĩa bên trong, tư tưởngsinh thái ẩn sau các sáng tác

Phương pháp phân tích – tổng hợp: khảo sát các sáng tác của nhà văn Nguyễn

Ngọc Tư, tập trung phân tích các yếu tố có liên quan đến vấn đề môi sinh, đồng thời,

Trang 8

phân tích nguồn tài liệu tham khảo để thu thập những thông tin cần thiết cho đề tài, từ

đó, người viết liên kết, sắp xếp, tổng hợp những thông tin đa dạng cùng với những suyluận cá nhân nhằm rút ra nhận xét chung, khái quát, tiêu biểu nhất để nêu bật tính ứngdụng của Phê bình sinh thái trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư

NỘI DUNG CHÍNHCHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ

Trang 9

CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trong thập niên 60, 70 của thế kỷ XX thuật ngữ “chủ nghĩa hậu hiện đại” được sử dụng phổ biến trong giới lí luận Âu Mĩ “Chủ nghĩa hậu hiện đại xem trọng con người

cá nhân, con người bản thể, do kế thừa tư tưởng của các nhà triết học Martin Heidegger Họ lấy cái tôi làm tâm điểm cho mọi luận giải triết học, nhưng khác ở chỗ,

đó là cái tôi không nguyên vẹn và đổ vỡ, phân mảnh và chúng, nhất là những cái tôi giá trị và những cái tôi giải giá trị của những cái tôi đó” [13; 130] Sự đấu tranh của bản thân con người bên trong con người được hiểu là “không có nhận thức thuần túy

mà là tổng hòa của cả lí tính lẫn cảm tính” [13; 130] Cảm quan hậu hiện đại, sự đổ

vỡ bên trong con người được Phê bình sinh thái, văn học sinh thái tiếp nhận nhằm

chống lại quan niệm “nhân loại trung tâm” để đi đến “trái đất trung tâm” trong bối

cảnh toàn cầu hóa đứng trước nguy cơ sinh thái trầm trọng Phê bình sinh thái ra đờiđánh dấu một bước ngoặt lịch sử, là một môn khoa học nghiên cứu liên ngành, kết hợpgiữa văn học và khoa học, từ phân tích văn học để đưa ra những cảnh báo về môitrường Những đóng góp to lớn đó giúp con người nhìn nhận lại các vấn đề môi sinh,thay đổi thái độ, hành vi và nâng cao trách nhiệm của mình đối với tự nhiên

Trước khi văn học sinh thái, lí luận Phê bình sinh thái xuất hiện, từ lâu, vấn đề vềcon người và tự nhiên đã được các tác gia quan tâm như thiên nhiên trong thơ thời Lý,Trần, thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Bỉnh Khiêm,Nguyễn Du, Đặng Trần Côn, đồng thời, mối quan hệ giữa con người và tự nhiên cũngđược bóc tách nghiên cứu ở nhiều góc độ nhưng đó chỉ là nền móng cơ bản, chưa định

hình cụ thể về một lĩnh vực Phê bình sinh thái độc lập, một “lối viết tự nhiên” (Scott

Slovic), hay văn học sinh thái bài bản Sự xuất hiện của tự nhiên cũng chỉ đơn thuần là

phương tiện để cái tôi trữ tình bộc lộ tâm trạng: “Vầng trăng vằng vặc giữa trời/ Đinh ninh hai mặt một lời song song” hay “Gương nha chênh chếch dòm song/ Vàng gieo ngấn nước, cây lồng bóng sân/ Hải đường lả ngọn đông lân/ Giọt sương gieo nặng cành xuân la đà” (Truyện Kiều – Nguyễn Du) Phê bình sinh thái ra đời vào những

năm cuối của thế kỷ XX, xét về mặt thời gian, cơ sở lý thuyết và những nghiên cứu cótính ứng dụng thực tiễn thì đây là một lĩnh vực phê bình văn học tương đối mới mẻ vànon trẻ Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận sự phát triển tích cực của chúng,minh chứng là hàng loạt các công trình nghiên cứu về lý thuyết, dịch thuật, ứng dụngcủa Phê bình sinh thái, các hội thảo liên quan đến chủ đề môi trường và sự phát triểnbền vững Từ những yếu tố trên, người viết chia tổng quan tình hình nghiên cứu thànhhai nội dung chính bao gồm những nghiên cứu ở nước ngoài và ở Việt Nam, trong đó,người viết khảo sát cụ thể những công trình nghiên cứu về cơ sở lý thuyết và ứng dụngcủa Phê bình sinh thái trong nghiên cứu văn học

Trang 10

Ở nước ngoài, đặc biệt là ở Anh và Mỹ, Phê bình sinh thái đã manh nha vào những

năm 70 của thế kỷ XX, nhưng chỉ đơn thuần là “nghiên cứu trước tác về tự nhiên” (the

study of nature writing) [23; 19] Song hành với những nghiên cứu ban đầu là nhữngthuật ngữ sơ khai về lí thuyết và phê bình trên phương diện sinh thái, cùng với đó là sựphức tạp trong hệ thống các định nghĩa Phê bình sinh thái của các học giả trên thế giới

Ở Mỹ, khởi nguyên của thuật ngữ ecocritism bắt nguồn từ quyển Hài kịch của sự sinh tồn: nghiên cứu trong sinh thái học văn học (The comedy of Survival: Studies in Literary Ecology, 1972), thuật ngữ “sinh thái học văn học” (literary ecology) do Joseph Meeker khởi xướng ám chỉ “sự nghiên cứu chủ đề sinh thái và những mối liên

hệ xuất hiện trong tác phẩm văn học Đồng thời, nó cũng là một sự thử nghiệm để khám phá ra vai trò của nó là gì với văn học trong sinh thái học của loài người” [23; 20] Công trình này cũng đưa ra vấn đề tranh luận gay gắt rằng: “Chính văn hóa phương Tây với nền tảng tư tưởng của thuyết con người là trung tâm đã khiến cho môi trường trở nên khủng hoảng” [23; 21].

Năm 1978, William Rueckert viết bài Văn học và sinh thái học: một thực nghiệm phê bình sinh thái (Literature and Ecology: An Experiment in Ecocriticism) trên tạp chí Bình luận Iowa số mùa đông Thuật ngữ “Phê bình sinh thái” (ecocritism) lần đầu tiên được sử dụng, đồng thời, tác giả đề xướng một cách rõ ràng phải “kết hợp văn học

và sinh thái học” Bài viết còn nhấn mạnh “nhà phê bình “phải có cái nhìn sinh thái học”, cho rằng nhà lí luận văn nghệ nên “xây dựng được một hệ thống thi học sinh thái”” [18; 02].

Năm 1985, Frederick Owaage biên tập quyển sách mang tên Giảng dạy văn học môi trường: tài liệu, phương pháp và Tiềm năng phát triển (Teaching Environmental Literature: Materials, methods, Resources) bao gồm nhiều chiều hướng của mười chín nhà nghiên cứu khác nhau Theo Đỗ Văn Hiểu trong Phê bình sinh thái – cội nguồn và

sự phát triển, “cuốn sách này phát huy tác dụng lớn trong việc kích thích các giáo sư

ở Mĩ mở các môn học liên quan đến văn học sinh thái và tiến hành nghiên cứu lĩnh vực này” [18; 02].

Năm 1987, trong khảo luận Văn học và sinh thái học: Một thử nghiệm mới trong phê bình sinh thái (Literature and Ecology: An Experiment in Ecocriticism), William Rueckert đề ra thuật ngữ ecocriticism ám chỉ “việc ứng dụng sinh thái học và các thuật ngữ sinh thái học vào nghiên cứu văn học” [23; 21] Chúng ta dễ dàng nhận thấy thuật ngữ này chú trọng và đề cao vai trò của sinh thái học, do đó, “đã giới hạn lại thành một thuật ngữ để chỉ tất cả mối quan hệ giữa văn học và thế giới tự nhiên” [23;

21], nhưng nhìn chung, chúng đã cố gắng trong việc đưa tự nhiên và con người đếngần nhau hơn dù chưa được thừa nhận như một thuật ngữ khoa học rõ rệt

Năm 1989, Alicia Nitecki viết Bản tin văn học Mĩ về đề tài tự nhiên (The American Nature Writing Newsletter), “công bố các bài luận vắn tắt, điểm sách và những thông tin liên quan đến nghiên cứu cách viết về tự nhiên và môi trường” [23; 21] Bài viết

Trang 11

này đã góp phần thúc đẩy các trường đại học ở Mỹ đưa việc giảng dạy nghiên cứu môitrường vào các khóa văn học, tạo ra môi trường học thuật bổ ích và hàn lâm.

Những nghiên cứu ban đầu dường như trở thành bệ phóng giúp cho Phê bình sinhthái có những bước phóng vượt bật Năm 1993, Patrick Murphy xuất bản tạp chí mới,

Nghiên cứu Liên ngành Văn học và Môi trường – ISLE (Interdisciplinary Studies in Literature and Evironment) Tạp chí cung cấp một diễn đàn để các nhà nghiên cứu,

phê bình văn học quan tâm sâu sắc đến vấn đề môi trường được phát triển

Năm 1994, Kroeben xuất bản chuyên luận Phê bình văn học sinh thái: tưởng tượng lãng mạn và sinh thái học tinh thần (Ecological literary criticism; romantic imagining

and the Biology of mind, Columbia University Press), chuyên luận đề cập đến thuật

ngữ “Phê bình văn học sinh thái” (ecological literary criticism) và “Phê bình mang khuynh hướng sinh thái” (ecological oriented criticism), đồng thời, tiến hành bàn luận

những vấn đề lí luận liên quan đến Phê bình sinh thái như: nguyên nhân ra đời, đặctrưng, tiêu chuẩn phê bình, mục đích và sứ mệnh của Phê bình sinh thái

Năm 1995, Lawrence Buell – giáo sư khoa Anh văn trường đại học Harvard cho

xuất bản chuyên luận Tưởng tượng môi trường: Thoreau, văn viết về tự nhiên và sự cấu thành của văn hóa Mĩ (The Enviromental Imagination: Thoreau, Nature Writing, and the Formation of American Culture, Harvard University, 1995) Các sáng tác của Thoreau được khai thác, mổ xẻ dưới góc nhìn sinh thái đã “cung cấp cho “văn học xanh” một số chỉ đạo có tính tổng thể về phương pháp luận và lí luận” [23; 22].

Chuyên luận được đánh giá như một bước ngoặt mang tính quyết định của Phê bìnhsinh thái trong thập niên 90 của thế kỷ XX

Năm 1996, Cheryll Glotfelty cùng Harold Fromm biên tập Tuyển tập Phê bình sinh thái: Các mốc quan trọng trong Sinh thái học Văn học (The Ecocriticism Reader: Landmarks in Literary Ecology, University of Georgia Press, 1996) Cuốn sách được

giới nghiên cứu và độc giả công nhận là tài liệu nhập môn của Phê bình sinh thái

Ở Anh, người tiên phong cho lĩnh vực Phê bình sinh thái là giáo sư Jonathan Bate,

ông cho xuất bản chuyên luận Sinh thái học của chủ nghĩa sinh thái lãng mạn: Wordsworth và truyền thống môi trường Chuyên luận tập trung đi sâu phân tích văn

học lãng mạn từ góc nhìn sinh thái Ngoài ra, tuyển tập các công trình nghiên cứu về

Phê bình sinh thái đáng chú ý nhất ở Anh phải kể đến Tuyển tập nghiên cứu xanh: Từ chủ nghĩa lãng mạn tới phê bình sinh thái (The Green Studies Reader: From Romanticism to Ecocriticism, Routledge, 2000), do Laurence Coupe biên tập.

Hưng khởi của Phê bình sinh thái có thể nói đã đi những bước thật dài, đánh dấu sựphát triển mạnh mẽ của mình với tư cách là một khuynh hướng phê bình văn hóa và

văn học Năm 2000, sự xuất hiện của chương “Phê bình sinh thái” trong Giáo trình Nhập môn lí thuyết: dẫn luận lí luận văn học và lí luận văn hóa (Beginning Theory:

An Introduction to Literary and Cultural Theory, Manchester University press) của

Peter Barry được xem như một dấu ấn trong việc đưa Phê bình sinh thái vào “trường

Trang 12

phái lí thuyết văn học” [23;23] Cũng trong năm này, Giới thiệu Phê bình đầu thế kỉ XXI (Introducing Criticism at the Twenty – First Century, 2000) do Julian Wolfreys

biên tập, trong đó có chương “Phê bình sinh thái” do Kate Rigby chắp bút đã giới

thuyết về Phê bình sinh thái như sau: “từ việc phê phán những tư tưởng khiến cho tình trạng sinh thái lâm vào tình trạng khủng hoảng hiện nay, tìm về các văn bản về tự nhiên để tái cấu trúc lại văn bản, nhìn lại về văn học lãng mạn; tái cấu trúc tính xã hội và tính sinh thái, khẳng định có một mối liên hệ giữa các vấn đề tự nhiên và xã hội, gắn với các vấn đề giai cấp, chủng tộc, giới tính; Phê bình sinh thái cần phải đặt lại nền tảng ngôn ngữ” [23; 24].

Năm 2003 giáo sư Lough đại học Oregon cho xuất bản chuyên luận Phê bình sinh thái thực dụng: văn học, sinh thái học và môi trường Trong chuyên luận này, Lough

“bàn luận một cách sâu sắc về tính tất yếu của phê bình sinh thái, quan hệ giữa phê bình sinh thái và khoa học, đồng thời, từ góc độ văn hóa sinh thái đương đại tiến hành bình luận hàng loạt các văn bản văn học” [18; 06] với hi vọng thúc đẩy sự phát triển

mạnh mẽ, mở rộng phạm vi ảnh hưởng và khả năng ứng dụng của Phê bình sinh thái

Năm 2004, Grey Garrard xuất bản chuyên luận Phê bình sinh thái (thuật ngữ phê bình mới) Ecocriticism (The New Critical Idiom), chuyện luận này chủ yếu bàn về diễn ngôn của Phê bình sinh thái “từ tám phương diện như ô nhiễm, nơi chốn, điền viên, hoang dã, tận thế (thảo luận về Kito giáo), cư trú, động vật, trái đất” [23; 25] Grey

Garrard đã tinh tế đưa độc giả đi sâu vào lí thuyết Phê bình sinh thái, dưới góc nhìnnày, những vấn đề lí thuyết nói chung, diễn ngôn của Phê bình sinh thái nói riêng đượcbóc tách với những tranh luận và mâu thuẫn nội tại của chúng

Năm 2005, chuyên luận Tương lai của phê bình môi trường: khủng hoảng môi trường và tưởng tượng văn học (The Future of Environmental Criticism; Environmental Crisis and Literary Imagination, 2005) của Lawencen Buell đã đặt Phê

bình sinh thái vào lĩnh vực nghiên cứu văn hóa song song với văn học để khảo sát.Chuyên luận đánh dấu bước mở rộng phạm vi Phê bình sinh thái cả bề rộng lẫn bề sâu

Năm 2012, Karen Thronber cho xuất bản quyển sách Sự mơ hồ sinh thái: Khủng hoảng môi trường và văn học các nước Đông Á (Ecoambiguity: Environmental Crises and East Asia Literatures, 2012) Nếu Phê bình sinh thái phát triển mạnh ở các nước

châu Âu thì quyển sách này đã mở rộng phạm vi của chúng sang châu Á, đồng thời, đề

cập đến khái niệm “mơ hồ sinh thái” với “văn học châu Á vốn nổi tiếng bởi sự tôn vinh vẻ đẹp của thiên nhiên và miêu tả con người trong sự gắn bó sâu sắc với thế giới

tự nhiên Nhưng phân tích văn xuôi hư cấu và thơ ca Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan hằng trăm năm qua lại cho thấy những nền văn học này lại dồi dào diễn ngôn về sự suy thoái của môi trường (ecodegradation) (…), việc lãng mạn hóa những mối quan hệ giữa con người và môi trường của họ thường là sự thách thức hơn

là sự phản ánh cái hiện thực mang tính kinh nghiệm” [29; 06] Bên cạnh đó, quyển

sách còn đặt ra vấn đề thông qua những phân tích xuyên văn hóa về các tác phẩm văn

Trang 13

chương viết trực tiếp về sự tàn phá môi trường để có cái nhìn sâu sắc vào những thách

thức mang tính “xuyên quốc gia” (từ dùng theo Đỗ Văn Hiểu) mà con người đang phải

đối mặt

Ở Việt Nam, văn học vẫn được xem là “phản ứng chậm” trước sự nguy kịch củanhân loại, thế nhưng bước đầu đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu lí thuyết,dịch thuật, ứng dụng về lí thuyết mới Do đó, người viết chia lịch sử nghiên cứu Phêbình sinh thái ở Việt Nam thành hai mảng: nghiên cứu lí luận Phê bình sinh thái ở ViệtNam và ứng dụng Phê bình sinh thái vào tác phẩm cụ thể, trong đó, người viết tậptrung vào các nghiên cứu có liên quan đến những sáng tác của nhà văn Nguyễn NgọcTư

Năm 2011, Viện văn học tổ chức buổi thuyết trình về vấn đề Phê bình sinh thái

mang tên: “Tiếp cận văn học châu Á từ lý thuyết phương Tây hiện đại: vận dụng, tương thích, thách thức và cơ hội” Điểm nhấn của hội thảo này chính là sự có mặt của Karen Thronber, nhà nghiên cứu đã có buổi giảng về Ecocriticism “giới thiệu một cách tổng quan về bản chất, ý nghĩa và tiến trình của nghiên cứu văn chương môi trường và sau đó phân tích 6 điểm cơ bản mà phê bình sinh thái quan tâm” [32; 92] Bài Phê bình sinh thái – khuynh hướng nghiên cứu văn học mang tính cách tân (2012) của Đỗ Văn Hiểu đã chỉ ra những điểm mới trong tư tưởng nồng cốt của Phê bình sinh thái, đó chính là sự chuyển hướng từ tư tưởng “nhân loại trung tâm luận” sang tư tưởng “sinh thái trung tâm luận”, đồng thời đề cao tư tưởng hạt nhân của Phê bình sinh thái là “Chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái” Ngoài những vấn đề cách tân về tư

tưởng nồng cốt, nhà nghiên cứu còn đề cập một số vấn đề khác như: sứ mệnh, nguyêntắc mỹ học, đối tượng, phạm vi nghiên cứu riêng của Phê bình sinh thái, đồng thời, trảlời cho câu hỏi: Phê bình sinh thái liệu có phải là vạn năng hay không? Bên cạnh đó,bài viết cũng lưu tâm đến những hạn chế và khó khăn trong việc mở rộng và phát triển

khuynh hướng nghiên cứu này bởi tư tưởng “nhân loại trung tâm luận” từ lâu đã ăn

sâu vào tiềm thức của con người

Nguyễn Thị Tịnh Thy trong bài Phê bình sinh thái – nhìn từ lý thuyết giải cấu trúc (2013) đã nhận thấy Phê bình sinh thái mang cảm quan hậu hiện đại “Nội hàm căn bản của phê bình sinh thái là tính giải cấu trúc mạnh mẽ, biểu hiện ở các đặc điểm lệch tâm, tản quyền, cái chết của chủ thể, lật đổ và tái thiết, tính đối thoại” [30; 74] Bài viết này cho thấy rõ những ngộ nhận trầm trọng về tư tưởng “nhân loại trung tâm”

đã dẫn đến những hệ lụy khó lường, đồng thời, kêu gọi “mỗi hành vi, phẩm chất, thành quả của con người đều phải được xem xét trong mối quan hệ với tự nhiên, trong thái độ đối với tự nhiên” [30; 76], phá bỏ quan niệm phân chia giữa khách thể và chủ thể, nhìn nhận tự nhiên trong mối quan hệ bình đẳng, “lật đổ” hay nói cách khác là

“phủ định nguyên tắc lý tính của chủ nghĩa hiện đại” [30; 78], từ đó, yêu cầu “tái thiết” của Phê bình sinh thái được đặt ra nhằm “khắc phục vấn nạn môi trường, xây

Trang 14

dựng một xã hội hài hòa, phát triển bền vững” Nhà văn, nhà phê bình mang trên mình

sứ mệnh cao cả là “góp phần ngăn chặn văn học phản sinh thái, thông qua thay đổi văn học, thay đổi quan niệm để chuộc lỗi với tự nhiên” [30; 80], từ đặc trưng đối thoại

“chúng ta không chỉ nghe được tiếng nói của con người mà còn nghe được tiếng nói của tự nhiên, hiểu được tự nhiên phải chống lại, hoài nghi, khiếp sợ và chạy trốn con người như thế nào” [30; 81].

Trần Đình Sử trong bài viết Phê bình sinh thái tinh thần trong nghiên cứu văn học hiện nay đã vận dụng tư tưởng sinh thái để xem xét mối quan hệ giữa văn học và môi

trường văn hóa, tinh thần xã hội như một vấn đề sinh thái, chủ trương không tập trung

vào mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, “mà xem xét môi trường tinh thần xã hội như là môi trường sống của văn nghệ, sự tương tác giữa môi trường văn hóa tinh thần với sáng tạo văn nghệ” [27; 01].

Trần Thị Ánh Nguyệt – Lê Lưu Oanh viết Con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam sau năm 1975 từ góc nhìn phê bình sinh thái” (2016), thoát thai từ Luận án

Tiến sĩ, chuyên luận đã trình bày bao quát về dòng văn học sinh thái và văn xuôi ViệtNam sau năm 1975 từ góc nhìn Phê bình sinh thái Giáo sư đầu ngành Trần Đình Sử

cũng đã có những đánh giá về “Quyển sách thoát thai từ Luận án Tiến sĩ này lần đầu tiên đã giới thiệu một cách cụ thể lí thuyết phê bình sinh thái trên thế giới và Việt Nam, cung cấp một bức tranh toàn cảnh về hướng phê bình này, từ giai đoạn mục ca, đồng quê đến giai đoạn hình thành chính thức, nói rõ khái niệm và tiêu chí về văn học sinh thái và phê bình văn học sinh thái”.

Phê bình sinh thái – khuynh hướng nghiên cứu văn học mới du nhập vào Việt Namvới sự “đón tiếp nồng hậu” của giới nghiên cứu, hơn thế nữa, ta càng không thể phủnhận sự cố gắng của các dịch giả trong lĩnh vực dịch thuật để học giả và các nhànghiên cứu dễ dàng tiếp cận lí thuyết phê bình văn học mới Chúng ta có thể điểm qua

một vài công trình dịch thuật có ảnh hưởng lớn ở Việt Nam như: Phê bình sinh thái – cội nguồn và sự phát triển (2012) do Đỗ Văn Hiểu dịch từ bản tiếng Trung Phê bình sinh thái Âu Mĩ, Nxb Học Lâm, 2008, và Phê bình sinh thái: Phát triển và nguồn gốc, trong “Tuyển tập văn luận văn học sinh thái Trung quốc và thế giới”, Nxb Đại học công Thương Triết Giang, 2010; Hải Ngọc dịch Những tương lai của phê bình sinh thái và văn học của Karen Thornber trong tập Phê bình sinh thái Đông Á: Tuyển tập phê bình (Các nền văn học, văn hóa và môi trường (East Asian Ecocriticisms A Critical Reader (Literatures, Cultures, and the Environment), 2013); bản dịch của Đặng Thị Thái Hà (2014) trong tuyển tập Giới thiệu phê bình thế kỷ XXI (Introducing Criticism at the Twenty- First Century); bản dịch của Trần Thị Ánh Nguyệt (2014) Nghiên cứu văn học trong thời đại khủng hoảng môi trường trong tuyển tập Phê bình sinh thái: Các mốc quan trọng trong Sinh thái học Văn học (The Ecocriticism Reader: Landmarks in Literary Ecology, University of Georgia Press).

Trang 15

Ứng dụng Phê bình sinh thái trong nghiên cứu văn học đã bước đi những bước đầutiên thật vững chắc, gặt hái được nhiều thành tựu có ý nghĩa đóng góp sâu sắc và gợi

mở nhiều tiềm năng như:

Năm 2013, Huỳnh Như Phương viết Mùa xuân, sinh thái và văn chương gợi dẫn từ truyện ngắn Muối của rừng (Nguyễn Huy Thiệp), bài viết đề cập đến mối quan hệ giữa

môi trường và nhân loại, vai trò của mỗi công dân, đặc biệt là nhà văn trong việc thức

tỉnh ý thức, thái độ, cách ứng xử của con người đối với môi trường sinh thái “Nếu văn chương là tiếng nói của số phận con người thì những hiện tượng như vậy đều không

xa lạ với văn chương Đó vừa là vấn đề đạo đức, vừa là vấn đề thẩm mỹ” (Huỳnh Như

Phương), người viết ngầm rung lên hồi chuông cảnh báo cấp thiết về hậu quả từ nhữnghành vi đạo đức tiêu cực mà con người đem đến cho tự nhiên

Trần Thị Ánh Nguyệt viết Thiên nhiên trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn phê bình sinh thái (Bài đã đăng trong Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ,

Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh, tập 17, số 3-2014) Bài viết mang đến cái nhìn sơlược về Phê bình sinh thái, từ gợi dẫn này Trần Thị Ánh Nguyệt nhận thấy trong các

truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư là “một tâm hồn mê đắm tự nhiên, đặt lòng mình vào từng dòng sông, ngọn gió, cánh chim để hiểu linh hồn của tạo vật từ đó rung lên hồi chuông cảnh tỉnh về khủng hoảng sinh thái” (Trần Thị Ánh Nguyệt), từ đó, nhà

nghiên cứu vạch ra những cảnh báo về sự hủy hoại môi trường sinh thái, cấp thiết kêu

gọi con người lắng nghe tiếng nói từ tự nhiên bởi vì “Động vật cũng có cảm thụ mĩ cảm của nó, biết lắng nghe và đánh thức tâm hồn con người” [23; 260] Trần Thị Ánh Nguyệt khẳng định nghệ thuật là phải “thông qua miêu tả mối quan hệ giữa con người

và tự nhiên để tạo nên sức hút, sức sống” [23; 268] và nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã

làm tốt điều đó, làm “xanh” cho một khoảng không gian văn học dưới nền văn minh

đô thị đang bóp nghẹt chúng ta

Nguyễn Thùy Trang viết Văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn sinh thái, bài viết

trình bày một số tiền đề lí thuyết về Phê bình sinh thái và văn học sinh thái, khai tháckhông gian sông nước – một nét nổi bật trong văn xuôi của Nguyễn Ngọc Tư, bêncạnh đó, người viết còn bàn luận về cái chết của chủ thể và cái chết của tự nhiên từ gócnhìn sinh thái Bài nghiên cứu đã khai thác một cách khái quát vấn đề môi sinh, nhấnmạnh mối quan hệ giữa chúng với con người và đưa ra lời cảnh báo cấp thiết cho vấn

đề môi trường Tuy nhiên, bài nghiên cứu này vẫn chưa được công bố, trên đây chỉ là

sự ghi lại phần tóm tắt của luận án

Năm 2012, Mai Anh Tuấn viết Đọc tiểu thuyết “Sông” của Nguyễn Ngọc Tư, khảo

về sự biến mất Bài viết đánh dấu “cột mốc danh tiếng”, mới lạ, biến đổi, “không còn vẫy gọi giọng điệu vang dội như hợp âm bốn chữ rải đều Cánh đồng bất tận, Biển người mênh mông, Thương quá rau răm, Khói trời lộng lẫy…” (Mai Anh Tuấn) Tác gia nhấn mạnh sự mất mát, chia lìa là sự “bình thường đến dị thường, là quen thuộc đến thảng thốt” mà con người ở vùng đất trong Sông phải đối diện dưới cách viết

Trang 16

không thi vị hóa, lí tưởng hóa của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư Trong cuộc hành trình,

các nhân vật “biến mất để tồn tại, để được tìm kiếm, nhớ nhung và nhắc tới, trong chừng mực nào đó”.

Năm 2013, Đoàn Ánh Dương viết Môi trường và nhân tính: tự sự của Nguyễn Ngọc

Tư trong Cánh đồng bất tận, bài viết khảo sát tác phẩm Cánh đồng bất tận – một câu

truyện mở, tác phẩm được dệt nên bởi sự đan cài giữa xúc cảm và suy tưởng của cácnhân vật Bài viết chú trọng khai thác ngôn ngữ trần thuật, những ẩn ức, sự dằn xé nộitâm dữ dội và dòng chảy sự kiện theo mạch xúc cảm của nhân vật Nhìn chung, bàiviết đi theo hướng tiếp cận truyện ngắn từ góc nhìn cấu trúc – ký hiệu học, cụ thể khai

thác biểu tượng cách đồng, đó “là hành trình thử đi ngược từ “cánh đồng lưu lạc” trở

về chỗ đứng nhìn vọng ra, đặng tìm hiểu phần nào tâm ý của tác giả” (Đoàn Ánh

Dương)

Tóm lại, thông qua lịch sử nghiên cứu trong và ngoài nước về Phê bình sinh thái,người viết nhận thấy, lí thuyết này đã và đang phát triển mạnh mẽ, xứng đáng trởthành một tân binh của trào lưu, khuynh hướng nghiên cứu tiềm năng trên phạm vitoàn thế giới, đơn cử với hàng loạt các công trình nghiên cứu lí luận Phê bình sinh tháicủa các nhà nghiên cứu tên tuổi như Patrick Murphy, Karen Thronber, CheryllGlotfelty,…dần đi đến khẳng định cơ sở lí luận vững chắc, nâng cao tính học thuật,hàn lâm của khuynh hướng này Ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu văn học từgóc nhìn sinh thái, cùng với sự tiếp cận, nghiên cứu và dịch thuật lý thuyết mới chothấy những nỗ lực của các nhà nghiên cứu đối với thực trạng sinh thái nhức nhối Tuynhiên, các tác phẩm thuần văn học sinh thái hay những công trình dịch thuật ở ViệtNam vẫn còn rất hạn chế Từ những khảo sát trên, người viết đảm bảo hướng nghiêncứu của đề tài này không trùng lặp với bất kì công trình nghiên cứu nào khác đã côngbố

1.2 Khái lược về Phê bình sinh thái

1.2.1 Khái niệm Phê bình sinh thái

Phê bình sinh thái là một khuynh hướng nghiên cứu văn học mới, đang trên đà hoànthiện, xây dựng vững chắc cơ sở lí luận, chính vì thế, việc tranh luận xoay quanh vấn

đề về tên gọi, hay nói cách khác là khái niệm là điều không thể tránh khỏi Có nhiều

thuật ngữ khác được sử dụng cùng với thuật ngữ Phê bình sinh thái như: Sinh thái học văn học (Literary ecology), Nghiên cứu văn học và môi trường (Studies of literature and environment), Phê bình xanh (Green studies), Phê bình văn học môi trường (Environmental literary critcism), Phê bình văn hóa xanh (Green cultural studies) Theo nhà Phê bình sinh thái Vương Nặc (Trung Quốc) trong bài Phê bình sinh thái: Định nghĩa và nhiệm vụ (Sinh thái phê bình: Giới định dữ nhiệm vụ), có năm khái

niệm về phê bình sinh thái gây được sự chú ý nhất trong giới phê bình Bao gồm định

Trang 17

nghĩa của James S Hans, Scott Slovic, Cheryll Glotfelty, William Howarth, LawrenceBuell.

Năm 1990, trong công trình (Những) giá trị của văn học (The Value(s) of Literature, James S Hans đưa ra định nghĩa Phê bình sinh thái thể hiện sự mở rộng

biên độ, Phê bình sinh thái không giới hạn ở lĩnh vực xã hội và mối quan hệ của conngười và tự nhiên mà còn mở rộng ra mối quan hệ giữa sinh thái trên Trái đất này vớicon người, đồng thời, đề cao vai trò của văn hóa trong mối quan hệ giữa con người và

tự nhiên Tuy nhiên, khái niệm của James S Hans gặp phải một số hạn chế như chưaxác định rõ nghiên cứu văn học trong Phê bình sinh thái sẽ dựa vào những tư tưởnghay tiêu chí nào Khái niệm cũng chưa chỉ ra được quan niệm giá trị cần biểu đạt củaPhê bình sinh thái là gì, dẫn đến việc nhập nhằng hay không muốn vạch một ranh giớisắc nét cho chủ nghĩa sinh thái Ngoài ra, quan niệm mỹ học và tiêu chí mỹ học được

xem là yếu tố quan trọng của học thuyết cũng không được nhắc đến “Nhìn từ góc độ sách lược học thuật, đây là một lý giải có thể chấp nhận được, nhưng nhìn từ tính khoa học và tính logic của một định nghĩa thì vẫn có khiếm khuyết” [32; 51].

Năm 1994, tại hội thảo khoa học về Phê bình sinh thái ở thành phố Salt Lake (Mĩ),định nghĩa Phê bình sinh thái của Scott Slovic được đánh giá cao và có ảnh hưởng lớn.Định nghĩa có diện bao phủ rộng, khẳng định tất cả các phương pháp đều có thểnghiên cứu lối viết tự nhiên, đồng thời, chú trọng và đề cao lối viết tự nhiên và miêu tảthế giới phi nhân loại Phê bình sinh thái đã gặt hái được nhiều thành tựu khi địnhnghĩa của Scott Slovic được đưa ra Mặt khác, định nghĩa của Scott Slovic đã đánhđồng văn học sinh thái với lối viết tự nhiên gây sự lẫn lộn giữa văn học phi sinh thái,văn bản phi văn học và văn học sinh thái Định nghĩa Phê bình sinh thái của ScottSlovic cũng vướng phải sự nhập nhằng về ranh giới này như James S Hans Ngoài ra,định nghĩa còn giới hạn đối tượng phê bình là các văn bản miêu tả thế giới tự nhiên,không có ý thức phơi bày nguồn gốc xã hội, văn hóa, tư tưởng của nguy cơ sinh thái,nếu chỉ miêu tả tự nhiên, tuyên truyền ý thức sinh thái mà không chỉ rõ nguyên nhâncủa nguy cơ sinh thái sẽ dễ dàng dẫn đến cực đoan Cuối cùng, định nghĩa của ScottSlovic không chỉ ra được những đặc trưng thẩm mỹ của Phê bình sinh thái dẫn đếntình trạng người nghiên cứu có thể đứng ở bất kì góc độ nào, dùng bất kì phương phápnào để nghiên cứu văn học

Năm 1996, giáo sư Cheryll Glotfelty – nhà Phê bình sinh thái đầu tiên của Mỹ, đưa

ra định nghĩa Phê bình sinh thái: “Phê bình sinh thái là khoa học nghiên cứu mối quan

hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên” (Dẫn theo Nguyễn Thị Tịnh Thy, trong Tuyển tập phê bình sinh thái: Các mốc quan trọng trong sinh thái học văn học (The

Ecocriticism Reader: Landmarks in Literary Ecology, tr XVIII) Định nghĩa củaCheryll Glotfelty thể hiện rõ sứ mệnh của Phê bình sinh thái là thông qua văn học, thẩm

định, nhìn nhận lại văn hóa nhân loại, “tiến hành phê phán văn hóa, truy tìm nguồn gốc văn hóa tư tưởng dẫn đến nguy cơ sinh thái” (Nguyễn Thị Tịnh Thy) Định nghĩa này có

Trang 18

sự tiến bộ và bứt phá hơn định nghĩa Phê bình sinh thái của Scott Slovic ở điểm “phê bình sinh thái đứng một chân ở văn học, một chân ở Trái đất” (Dẫn theo Nguyễn Thị Tịnh

Thy), có nghĩa là khuynh hướng phê bình mới vẫn có sự dung hòa giữa tính nghệ thuật,

tính thẫm mỹ của văn học và “đứng ở góc độ của toàn bộ hệ thống sinh thái để suy nghĩ vấn đề” (Nguyễn Thị Tịnh Thy) Cheryll Glotfelty mạnh dạn khẳng định khuynh hướng

chủ yếu của học thuyết là chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái, đồng thời xóa bỏ ranh giới nhậpnhằng mà các khái niệm trước mắc phải, nghĩa là khẳng định sự hài hòa giữa chủ nghĩamôi trường và chủ nghĩa sinh thái Tuy nhiên, cũng chính tại điểm này đã khiến cho địnhnghĩa của Cheryll Glotfelty chứa đựng mâu thuẫn khi cố chứa đựng cả phê bình môi

trường, đồng thời, “không xác định rõ hàm nghĩa cụ thể của đứng một chân ở văn học”,

“không giới thuyết rõ đặc trưng của phê bình sinh thái là gì” [32; 55] Một số nhà nghiên

cứu đi theo định nghĩa của Cheryll Glotfelty lướt qua phần nghệ thuật của tác phẩm, khiến

Phê bình sinh thái trở nên đơn điệu, nghèo nàn, bởi “văn học có thể có sự trùng lắp về đề tài, chủ đề, nhưng có muôn vàn cách thức thể hiện đề tài, chủ đề ấy mà không bị trùng lắp” [32; 63] Mặc dù có sự khẳng định rõ ràng và sáng tỏ hơn các định nghĩa trước nhưng khái niệm của Cheryll Glotfelty vẫn “mơ hồ về phương pháp phê bình và quá rộng

về tầm nhìn văn hóa” [32; 55].

Trong tiểu luận Một số nguyên tắc của phê bình sinh thái (Some Principles of Ecocriticism), William Howarth định nghĩa về Phê bình sinh thái là “phán quyết việc nhà/trong nhà” Định nghĩa Phê bình sinh thái của William Howarth nhấn mạnh tính

chỉnh thể, khẳng định khuynh hướng tư tưởng cơ bản là chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái.Tuy nhiên, định nghĩa này lại một lần nữa lướt qua đặc trưng thẩm mỹ của lí thuyết

Nguyễn Thị Tịnh Thy cho rằng “thuật ngữ ra đời từ ngôn ngữ hình tượng này có tính học thuật không cao, không rõ ràng, chặt chẽ Bản thân định nghĩa đó cũng cần được định nghĩa và giải thích lại” [30; 57].

Trong tiểu luận Tưởng tượng về môi trường: Thoreau, lối viết tự nhiên và sự hình thành văn hóa Mỹ (The Environmental Imagination: Thoreau, Nature Writing, and the

Formation of American Culture), giáo sư Lawrence Buell đã định nghĩa Phê bình sinh

thái như sau: “Từ tinh thần thực tiễn của chủ nghĩa bảo vệ môi trường, tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường” (dẫn theo Nguyễn Thị Tịnh Thy, trong Lawrence Buell, The Environmental Imagination: Thoreau, Nature Writing, and the Formation of American Culture, 1996, tr430) Định nghĩa là sự “Tích hợp nhiều ngành khoa học, liên hệ với nhiều sự vật, đề xướng thay đổi tư tưởng, chú ý đến hiện thực mối quan hệ giữa con người với môi trường” [30; 58], đồng thời, nhấn mạnh Phê

bình sinh thái không phải giáo điều, chỉ mang tính khoa học mà tập trung chú ý đếnhiện thực của nguy cơ sinh thái, các hoạt động bảo vệ môi trường Tuy nhiên,Lawrence Buell đã đưa ra định nghĩa cho phê bình môi trường chứ không phải cho Phêbình sinh thái, tức đã hạ thấp chủ nghĩa nhân loại trung tâm Ngoài ra, Lawrence Buell

chỉ chú trọng “tư tưởng, nội dung của tác phẩm văn học, bỏ qua yếu tố quan trọng của

Trang 19

loại hình nghệ thuật ngôn từ, đó là giá trị nghệ thuật của các tác phẩm văn chương”

[30; 63]

Căn cứ vào những định nghĩ được đưa ra, có sự tiếp thu, xem xét, rút kinh nghiệm

từ những ưu điểm và nhược điểm của các học giả đi trước, Vương Nặc đưa ra định

nghĩa về Phê bình sinh thái như sau: “Phê bình sinh thái là phê bình văn học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên từ định hướng tư tưởng của chủ nghĩa sinh thái, đặc biệt là chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái Nó phải phơi bày nguồn gốc văn hóa tư tưởng của nguy cơ sinh thái được phản ánh trong tác phẩm văn học, đồng thời khám phá thẩm mỹ sinh thái và biểu hiện nghệ thuật của nó trong tác phẩm” (Dẫn theo Nguyễn Thị Tịnh Thy trong “Sinh thái phê bình: Giới dữ nhiệm vụ”, trong Kinh Á

Bình, Trung ngoại sinh thái văn học văn luận tuyển, Chiết Giang Công thương Đại họcxuất bản xã, 2010, tr.69) Nhược điểm lớn của định nghĩa này là việc đòi hỏi Phê bình

sinh thái “phải phơi bày nguồn gốc văn hóa tư tưởng của nguy cơ sinh thái được phản ánh trong tác phẩm văn học”, tức gián tiếp thu hẹp đối tượng nghiên cứu của Phê

bình sinh thái

Từ những ưu và nhược điểm của những khái niệm trên, Nguyễn Thị Tịnh Thy tiếp

nhận có phê phán và đề xuất định nghĩa về Phê bình sinh thái như sau: “Phê bình sinh thái là phê bình văn học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên từ định hướng tư tưởng của chủ nghĩa sinh thái, đặc biệt là chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái thông qua việc khám phá thẩm mỹ sinh thái và biểu hiện nghệ thuật của nó trong tác phẩm” Trong quá trình nghiên cứu đề tài, người viết xin đi theo hướng định nghĩa về

Phê bình sinh thái của Nguyễn Thị Tịnh Thy

1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Phê bình sinh thái

1.2.2.1 Cội nguồn tư tưởng – triết học của Phê bình sinh thái

Khởi nguồn Phê bình sinh thái là một phong trào hướng đến hoạt động xã hội vàmôi trường diễn ra vào những năm 70 của thế kỉ XX nhằm chống lại sự tàn phá Tráiđất, song chúng không phải là một trào lưu mang tính bộc phát Khuynh hướng nghiêncứu văn học mới chứa dụng nguồn gốc tư tưởng sâu xa, có sự bắt rễ từ các hệ tư tưởnglớn và được dung hòa giữa văn hóa phương Đông và phương Tây

Luân lý sinh thái trong văn hóa phương Đông xuất hiện từ khi mâu thuẫn giữa conngười và tự nhiên chưa được đặt lên bàn cân mà ngày nay các nhà Phê bình sinh thái

thường gọi chúng là “sự mơ hồ sinh thái” Do đó, chúng ta không thể phủ nhận vai trò

của tam giáo phương Đông đã góp phần hình thành nên diện mạo của học thuyết này.Trong hành trình tìm về tam giáo, các nhà sinh thái học đều thừa nhận những giá trị

tư tưởng luân lý sinh thái của Phật giáo trong việc nghiên cứu và xây dựng luân lý sinhthái hiện đại Thực tế cho thấy rằng, từ bi là pháp tắc quan trọng nhất của Phật pháp,

đó là thái độ bao dung, rộng lượng, không toan tính, không phân biệt, đặc biệt là biết

Trang 20

cuối xuống thương xót đối với vạn vật chúng sinh Từ bi trong hành động của Phậtgiáo chủ yếu bao gồm bố thí và bất sát sinh (không giết động vật, không chém thảomộc tùy tiện), tức là phải đem đến niềm vui, yêu thương cho cả người yêu ta và kẻghét ta Ngoài ra, Phật giáo còn cho rằng tất cả hiện tượng trong vũ trụ này đều có mốiquan hệ tương tác lẫn nhau trong vòng tròn của nhân – duyên – quả (Duyên khởi luận).Vòng tròn quan hệ tương hỗ này có thể coi như là một dạng tuần hoàn sinh thái, khẳngđịnh thế giới là một chỉnh thể thống nhất Tư tưởng luân lý sinh thái này đã cung cấp

cơ sở tinh thần cho việc giải quyết vấn đề môi trường sinh thái hiện nay

Trong triết học Nho gia, tư tưởng luân lý sinh thái chủ yếu thể hiện ở các quan niệm

như: “thiên nhân hợp nhất” (trời và người là một), “thiên địa nhân” (trời, đất và con người là bộ ba), “nhân dân nhi ái vật” (yêu dân là yêu vạn vật), “thủ chi hữu độ” (sử dụng có hạn độ), “ân cập cầm thú” (ân huệ tới cầm thú), “nhân cập thảo mộc” (yêu

đến cỏ cây), Tư tưởng Nho gia hướng con người đến tấm lòng yêu mến, trân quý,bảo bọc vạn vật, đồng thời, khẳng định giá trị nội tại của vạn vật Học thuyết Phê bìnhsinh thái dường như tiếp thu một cách tuyệt đối tư tưởng Nho gia nhằm hình thành tưtưởng sinh thái cho con người hiện đại, nhất là trong mối quan hệ hòa hợp, tương hỗgiữa con người và tự nhiên để đi đến xóa bỏ mối quan hệ chủ/khách

Trong hệ thống triết học cổ đại Trung Quốc, Đạo gia được các nhà nghiên cứu

phương Tây đánh giá là có trí tuệ sinh thái sâu sắc và hoàn thiện nhất “Tự nhiên vô vi”

là hạt nhân của học thuyết này Tư tưởng hướng con người đến cách hành xử tử tế,

không làm gì tiêu cực và trái quy luật tự nhiên “Vô vi” tức thuận theo quy luật tự

nhiên, tôn trọng tự nhiên, theo đuổi sự hòa hợp trong mối quan hệ tự nhiên và conngười trong cuộc sống Đồng thời, phải biết dung hòa giữa vị trí và vai trò của conngười nhưng vẫn đảm bảo thuận theo bản tính vạn vật bởi trời đất với ta cùng sinh ra

Có thể khẳng định rằng, tư tưởng sinh thái của Đạo gia có ý nghĩa thực tiễn to lớntrong công cuộc bảo vệ môi trường tự nhiên trong thời đại khủng hoảng môi sinhnghiêm trọng

Như vậy, trí tuệ sinh thái của Phật giáo, Nho gia và Đạo gia giao cắt nhau ở việcđều trao cho tự nhiên một sinh mệnh và một vị thế đặc biệt quan trọng trong đời sống

Vị thế con người không còn đứng cao hơn tự nhiên mà trạng thái lý tưởng nhất chomối quan hệ này là sự hài hòa, tương hỗ Phê bình sinh thái đứng vững vàng và khẳngđịnh được sự bền chắc về mặt tư tưởng khi bổ sung trí tuệ sinh thái của Nho, Phật, Đạovào cơ sở lý luận, xứng đáng là một khuynh hướng nghiên cứu văn học đầy tiềm năng

mà vẫn đề cao những giá trị văn hóa cốt lõi Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, tư tưởng sinhthái của tam giáo là để bồi đắp, hoàn thiện lý luận và mở rộng thực tiễn nghiên cứu.Những tư tưởng luân lý sinh thái phương Tây mới là nguồn gốc trực tiếp của Phê bìnhsinh thái

Trang 21

Đầu tiên có thể kể đến là Thuyết tiến hóa của Darwin – một trong những công trìnhlịch sử vĩ đại của loài người Chứng minh một cách thuyết phục bằng khoa học choviệc phát hiện ra mối quan hệ mật thiết giữa con người và các sinh vật khác, Darwin

đã giáng một đòn mạnh mẽ vào tư tưởng “con người là kiểu mẫu muôn loài” [23; 13].Thuyết tiến hóa nhấn mạnh rằng tất cả các sinh vật đều có quan hệ huyết thống, rằngnhân loại và toàn thể sinh vật trên trái đất này đều có cùng nguồn gốc xét về mặt ýnghĩa sinh học Từ đó, kêu gọi con người phải đối xử tử tế với sinh mệnh tự nhiênngoài con người bởi chúng là họ hàng của ta

Biện chứng của tự nhiên – một tác phẩm triết học lớn của Engels đã nhấn mạnh mối

quan hệ thống nhất của con người và giới tự nhiên Engels nhắc nhở con người khôngđược ngỗ ngược với tự nhiên như là những kẻ chinh phục và thống trị các dân tộckhác, đồng thời đưa ra lời cảnh tỉnh rằng sự đắc thắng của con người trong việc cải tạothế giới một cách mù quáng cùng thái độ ngạo mạn trước tự nhiên sẽ phải trả giá bằngnhững hậu quả khôn lường

Ngoài ra, chúng ta cần phải kể đến những tư tưởng và thông điệp về môi trường củacác triết gia như J J Rousseau, Aldo Leopold, Arne Naess, … J J Rousseau – nhàtriết học Ánh sáng Pháp nhận định rằng bản chất nguyên thủy con người vốn lươngthiện, qua thời gian, sự lương thiện ấy ngày một mất đi bởi sự chuyển dời và tác độngcủa xã hội Triết gia đưa ra quan niệm cần giáo dục và khuyến khích con người quaytrở về với tự nhiên Khẳng định hậu quả của việc con người đang xây dựng tường ràongăn cách giữa mình với tự nhiên Aldo Leopold – nhà đạo đức học môi trường Mỹ,

tác giả của tiểu luận Luân lí học trái đất (The Land Ethic) cho rằng mỗi sinh vật, mỗi

loài vật đều là thành phần tất yếu trong tổng thể của môi trường tự nhiên rộng lớn

Aldo Leopold còn đề xuất để thay đổi thế giới quan “nhân loại trung tâm” để nhận thức “vạn vật bình đẳng”, từ đó, mối quan tâm giữa con người với con người đã được

mở rộng thành mối quan tâm giữa con người với vạn vật Người đề xuất khái niệm

Sinh thái học chiều sâu (Deep ecology), Arne Naess đưa ra quan điểm của mình rằng:

“con người và các vật chủng khác “bình đẳng chung sống”, ngăn chặn tình trạng vì

sự tham lam của cá nhân mà đưa trái đất đến hủy diệt, từ đó cứu vớt sinh thái toàn cầu và tương lai nhân loại” [23; 13] Phát ngôn của triết gia người Na Uy - Arne

Naess đã giúp con người nhìn nhận lại cách tư duy và hành xử của mình với môitrường tự nhiên, đồng thời, cảnh báo con người về tư tưởng trọng lợi ích nhãn tiền,mang sự ích kỷ, nghèo nàn về tâm hồn của mình mà bức tử thiên nhiên

Tóm lại, lí thuyết Phê bình sinh thái chỉ mới xuất hiện trong những thập niên cuốicủa thế kỷ XX nhưng nó đã có nguồn gốc tư tưởng sâu xa từ tư tưởng văn hóa phươngĐông và phương Tây Văn học sinh thái phương Tây đã tìm lại giúp người phươngĐông tình yêu và sự hòa hợp với tự nhiên mà trong quá trình phát triển họ đã lãngquên Còn phương Tây – những kẻ giương cao ngọn cờ chinh phục, dần thức nhận

Trang 22

hành động tiêu cực của mình đối với tự nhiên trong quá trình phát triển xã hội Thậttuyệt vời khi trào lưu nghiên cứu văn học mới, đầy tiềm năng có sự giao hòa giữa vănhóa Đông Tây, song đó, khắc phục nhược điểm, khai thác ưu điểm của đôi bên tạo nên

sự hợp nhất cho tư tưởng sinh thái nhân loại Sự hòa hợp này ắt giúp cho Phê bình sinhthái có cội nguồn tư tưởng, cơ sở lý luận vững chắc và thuyết phục hơn

1.2.2.2 Sự manh nha, hình thành và phát triển của Phê bình sinh thái

Trong lời giới thiệu cho Tuyển tập phê bình sinh thái: các mốc quan trọng trong sinh thái học văn học (Ecocriticism Reader:Landmarks in Literary Ecology), Cheryll Glotfelty đã dựa trên “mô hình ba giai đoạn phát triển phê bình nữ quyền của học giả Elaine Showalter, đồng thời căn cứ vào nội dung và trọng tâm nghiên cứu” [32; 82],

bà cho rằng từ thập niên 70 của thế kỷ XX đến nay, Phê bình sinh thái phát triển qua

ba giai đoạn Giai đoạn thứ nhất “chủ yếu nghiên cứu văn học tái hiện tự nhiên và môi trường như thế nào” [32; 83] Phê bình sinh thái dựa vào thuyết sinh thái học bề sâu với nguyên tắc cốt lõi là “niềm tin rằng, môi trường sống là một chỉnh thể cần được tôn trọng” [23; 14] để xem xét tự nhiên Ngoài ra, Phê bình sinh thái giai đoạn này còn

đi theo cách tiếp cận sinh học trung tâm luận “để xem xét tự nhiên được mô tả như thế nào trong văn học và cả sự thiếu vắng hình ảnh tự nhiên trong một số văn bản văn học nhất định” [32; 83] Giai đoạn thứ hai, là giai đoạn đi sâu phân tích các tác phẩm văn học viết về tự nhiên bị lướt qua nhằm “tìm hiểu và nghiên cứu lịch sử, sự phát triển, thành tựu và phong cách, thể tài của các tác phẩm miêu tả tự nhiên trong văn học Mỹ”

[30; 176] Giai đoạn thứ ba, là giai đoạn mà Phê bình sinh bắt đầu hình thành lý luận,xây dựng cơ sở vững chắc và từng bước hoàn thiện

Lawrence Buell trong Tương lai của phê bình môi trường: Khủng hoảng môi trường và tưởng tượng văn học (The Future of Environmental Criticism: Environmental Crisis and Literary Imagination, 2005) chia Phê bình sinh thái thành

hai “làn sóng” Làn sóng thứ nhất xuất hiện khoảng giữa thập niên 90 của thế kỷ XX,lấy sinh thái học bề sâu làm cơ sở để phân tích, khai thác vấn đề sinh thái bị lướt quatrong những tác phẩm kinh điển Làn sóng thứ hai bắt đầu khoảng cuối thập niên 90cho đến đầu thế kỷ XXI, ở giai đoạn này, phạm vi nghiên cứu được mở rộng, Phê bìnhsinh thái không chỉ đơn giản miêu tả mối quan hệ giữa con người với tự nhiên mà cònđược đặt trong mối quan hệ với văn hóa, xã hội Việc xây dựng quan hệ xã hội tốt đẹp,

là tiền đề vững chắc cho việc thay đổi lối mòn tư duy, xây dựng và cải biến mối quan

hệ giữa con người với tự nhiên nhằm giảm bớt nguy cơ sinh thái Tiếp thu cách phânchia giai đoạn này, Scott Slovic đề xuất làn sóng thứ ba vào khoảng cuối thập niên thứ

nhất của thế kỷ XXI: “Bước sang thế kỷ XXI, phê bình sinh thái bắt đầu hướng theo một quan điểm thiên về tính chất nhân chủng học và đặt bình diện xã hội làm trung tâm; giờ đây giới nghiên cứu lại tập trung vào mảng văn học về thành phố và quá trình công nghiệp hóa cũng như vấn đề công bằng/bất công môi trường cùng những

Trang 23

vấn đề xã hội liên đới, đặc biệt trong bối cảnh mà những vấn đề về sắc tộc, về các nhóm thiểu số, cộng đồng bản địa, chủ nghĩa hậu thực dân, cộng đồng lưu vong và chủ nghĩa thế giới trở thành mối quan tâm hàng đầu Theo đó, nó dịch chuyển mối quan tâm về nơi chốn từ phạm vi địa phương sang phạm vi xuyên quốc gia hay toàn cầu” [29; 03] Giai đoạn thứ ba nhấn mạnh “góc nhìn liên văn hóa, liên văn minh và

sự kết hợp tôn chỉ chủ nghĩa hành động của phê bình văn học nữ quyền và phê bình công bằng môi trường” [30; 178], mà không cần quan tâm đến bất kì sự chuyên biệt hóa nào “Đâu là cách tốt nhất để tổng hợp và phân tách những động lực (dyamics) của cái cục bộ, cái toàn cầu và mọi thứ ở giữa; đâu là cách tốt nhất để tổng hợp và phân tách những khoảng khắc trong thời gian của con người từ thời gian của hành tinh và mọi thứ ở giữa?” [29; 16] chính ở “hiện tượng xuyên quốc gia và xuyên văn hóa” [29; 15] trong phạm vi nghiên cứu của Phê bình sinh thái Nói theo Nguyễn Thị

Tịnh Thy, ba làn sóng hay giai đoạn này giao thoa, trùng điệp, song hành giới nhau, cólúc nhòe lẫn vào nhau khó phân biệt

Tiếp nhận những cách phân chia lịch sử Phê bình sinh thái của các học giả đi trướctrên thế giới Nguyễn Thị Tịnh Thy không phân kì lịch sử theo những làn sóng, bởitính giao thoa, chứa đựng lẫn nhau, nhập nhòe rất khó phân biệt, mà đi theo hướngphân chia theo giai đoạn phát triển: Từ năm 1972 đến 1990 được xem là giai đoạn hìnhthành, từ năm 1991 đến 2007 là giai đoạn phát triển, từ năm 2008 đến nay là giai đoạnchuyển hướng Ở mỗi giai đoạn, các nhà nghiên cứu trên khắp thế giới luôn cố gắngtìm kiếm, khai thác, bồi đắp lí luận phê bình mới qua những công trình nổi bật, đồngthời, đưa trào lưu Phê bình sinh thái làn rộng ra toàn thế giới Phê bình sinh thái ngàynay đã có những bước tiến mới mẻ, mở rộng về đối tượng, phương pháp và trọng tâmnội dung nghiên cứu, đồng thời, có sức khái quát và phức tạp vô cùng Nhưng nhìnchung, Phê bình sinh thái ở mỗi giai đoạn vẫn cố gắng hướng đến nhiệm vụ chính làthay đổi lối mòn tư duy, thái độ của nhân loại đối với tự nhiên

1.2.3 Những đặc trưng cơ bản của Phê bình sinh thái

Phê bình sinh thái có mầm mống từ rất lâu nhưng “phải đến những năm 1990, nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường vật chất mới trở thành một trào lưu tri thức được xác định rõ ràng Chắc chắn, bất chập việc khởi điểm của nó thực sự mới chỉ được tính từ gần đây, phê bình sinh thái (nghiên cứu văn học được định hướng về chủ đề môi trường) đã nhanh chóng phát triển thành một lĩnh vực đa dạng, liên ngành, một hướng nghiên cứu mới hình thành không bị ràng buộc vào bất kỳ một phương pháp đơn lẻ nào hay một giáo điều, một cam kết theo quan điểm môi trường luận nào” [29; 03] Phê bình sinh thái là một nhánh mới của lý luận phê bình văn học,

chính vì thế, nó không phủ định sạch trơn mà Phê bình sinh thái vừa tiếp thu các thành

tựu, “tiền đề lý luận của nhiều ngành khoa học khác nhau” [32; 65] cùng với đó là sự

Trang 24

“kết hợp với phương thức nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu riêng biệt để tạo nên những đặc trưng của mình” [32; 65].

Thứ nhất, Phê bình sinh thái chú ý đến đạo đức sinh thái, “xuất phát điểm và đích đến của phê bình sinh thái là ý thức sinh thái” [32; 66], việc đề ra chính sách, lối đi

cho môi trường trong văn học sinh thái tuy chưa mang tính thực thi cao, vướng phảinhiều khó khăn nhất định nhưng đã tác động rất lớn đến ý thức sinh thái, tức là trong

“hình dung, hiểu biết và kỳ vọng” - đó chính là động lực, “địa hạt màu mỡ” (Nói theo

Nguyễn Thị Tịnh Thy) cho nghiên cứu Phê bình sinh thái ở thế kỷ XXI Khi đề cậpđến đạo đức sinh thái, mối quan hệ giữa nhà nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu phảixóa bỏ ranh giới chủ thể hay khách thể mà tiến đến xây dựng nguyên tắc mỹ học riêng,

“thẩm mỹ sinh thái là thẩm mỹ mang tính tự nhiên, thẩm mỹ sinh thái đề cao chỉnh thể, thẩm mỹ sinh thái đề cao nguyên tắc dung nhập” [16; 02] Chính những yếu tố đó, Phê bình sinh thái góp phần “xây dựng, khôi phục ý thức sinh thái, tinh thần sinh thái của người đọc” [30; 67] bởi “văn học là sản phẩm của môi trường văn hóa xã hội, mà trực tiếp là môi trường sinh thái tinh thần của con người Mối quan hệ giữa văn học

và môi trường sinh thái tinh thần ngày càng được quan tâm sâu sắc hơn trên thế giới”

[27; 01]

Thứ hai, Phê bình sinh thái kích thích việc đọc lại văn học kinh điển truyền thống từgóc nhìn sinh thái Các tác phẩm văn học kinh điển được khai quật và nhìn nhận lại từ

góc nhìn Phê bình sinh thái với mục đích “tìm ra ý nghĩa văn hóa sinh thái và ý nghĩa

mỹ học sinh thái từng bị chìm khuất” [32; 68], từ đó, “thúc đẩy toàn nhân loại nuôi dưỡng và bồi đắp tố chất sinh thái nhân văn” [32; 68].

Thứ ba, Phê bình sinh thái giữ vững lập trường chủ nghĩa sinh thái trung tâm Cáckhái niệm ban đầu về Phê bình sinh thái của James S Hans, Scott Slovic, vẫn còn nhậpnhằng trong việc theo đuổi các lập trường, nhưng về sau Phê bình sinh thái đã đi đúng

hướng khi giữ vững lập trường sinh thái trung tâm, “giải cấu trúc” về sự đối lập nhị nguyên, đề cao tính đa nguyên, trong đó, con người và tự nhiên “có mối quan hệ thống nhất về sinh mệnh, đồng sinh đồng tử” [32; 68].

Thứ tư, Phê bình sinh thái có tính liên ngành Phê bình sinh thái là một loại phêbình văn hóa, tầm nhìn lý luận rộng lớn của Phê bình sinh thái không đơn thuần phântích tự nhiên được thể hiện như thế nào bên trong tác phẩm văn học hay sự tác động

qua lại giữa con người và tự nhiên, mà “chú trọng thâm nhập vào các tầng vỉa của tác phẩm văn học từ góc độ sự phát triển của xã hội loài người và sự thay đổi của môi trường sinh thái” [32; 69] Ngoài ra, khủng hoảng môi trường, nguy cơ sinh thái cùng

với sự xuống cấp về đạo đức, khủng hoảng tinh thần là chất xúc tác để Phê bình sinhthái ra đời Nhằm đem đến góc nhìn toàn diện, đa dạng, phong phú, sâu sắc hơn chothực tiễn phê bình, đòi hỏi Phê bình sinh thái phải mang tính liên ngành, đó chính là

“sự hấp thụ kiến thức của sinh thái học, sinh vật học, địa lý học, tâm lý học, nhân loại học, văn hóa học, mỹ học, đạo đức học, sử học, tôn giáo học,…” [32; 70] Hơn thế

Trang 25

nữa, đặc trưng này còn giúp cho đối tượng nghiên cứu của Phê bình sinh thái vượt rakhỏi phạm vi văn học.

Thứ năm, Phê bình sinh thái thể hiện tinh thần văn hóa sinh thái thông qua “tính văn học” Phê bình sinnh thái sẽ không vì nhiệm vụ chính trị của mình mà “xao nhãng nhiệm vụ phát hiện, phân tích, kiến giải những tín hiệu thẩm mỹ của tác phẩm văn học Hay nói một cách khác, tất cả mọi thông điệp của văn học đều được thể hiện thông qua thế giới hình tượng” [32; 71] Nhờ vào “tính văn học” mà tinh thần của văn

hóa sinh thái được thể hiện rõ, giá trị sinh thái và giá trị của tác phẩm nghệ thuật giữ ởcán cân công bằng Phê bình sinh thái giúp văn học không sa lầy vào chủ nghĩa hình

thức mà “yêu cầu khảo sát trạng thái tồn tại trong quá khứ và tương lai của nhân loại

từ điểm nhìn song trùng của bản chất sinh mệnh và Trái đất” [32; 72] Ngoài ra, không phiến diện khi chỉ đi phân tích tác phẩm văn học có “lối viết tự nhiên”, nghĩa là

cực đoan kêu gọi người đọc quay trở về với tự nhiên mà bỏ qua những giá trị nghệthuật đặc sắc, làm nên linh hồn cho tác phẩm

Thứ sáu, Phê bình sinh thái có hàm nghĩa thuật ngữ rất phức tạp Theo Nguyễn ThịTịnh Thy, những người phản đối Phê bình sinh thái yêu cầu phải tách bạch rõ rànggiữa văn học có tính học thuật với vấn đề nguy cơ môi trường có tính hiện thực Mặtkhác, họ cũng không thể phủ nhận văn chương là sự phản ánh hiện thực một cách rõnét và giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, điều này đặt ra một bài toán khó,

thách thức về sự cân bằng giữa “tinh thần của chủ nghĩa môi trường” với “thực tiễn lí luận phê bình văn học” [32; 73] Trong nỗ lực để trở thành một loại phê bình văn hóa,

Phê bình sinh thái cũng vướng phải mẫu thuẫn nội hàm với văn hóa trong việc khẳngđịnh vị trí độc lập phi nhân loại, phi văn hóa tự nhiên, không chấp nhận tất cả đềuthuộc về cấu trúc xã hội và đưa tự nhiên về với văn hóa

Nói tóm lại, với cơ sở lí thuyết còn non trẻ, mới được hình thành, cùng với nhữngkhó khăn nhất định, Phê bình sinh thái vẫn còn đang trong quá trình chuyển mình, bổsung và hoàn thiện

1.2.4 Phê bình sinh thái – khuynh hướng nhiều tiềm năng trong Nghiên cứu văn học Việt Nam

Trước khi Phê bình sinh thái xuất hiện, trở thành khuynh hướng nghiên cứu văn học

nổi bật ở thế kỷ XX, vấn đề con người và tự nhiên đã được nhắc đến nhưng “chưa thực sự là vấn đề của sinh thái hiện đại” (Nói theo Trần Thị Ánh Nguyệt) Cảm thức

của con người trong mối quan hệ với tự nhiên có sự thay đổi trong mỗi giai đoạn vănhọc: con người sợ hãi, sùng kính tự nhiên trong văn học cổ đại, con người hòa hợp với

tự nhiên, tự nhiên từ đó nói hộ tâm trạng của con người trong văn học trung đại vàngày nay con người dần đi đến quá trình chuộc lỗi với tự nhiên Văn học Việt Namcũng sẵn sàng trong tư thế đón đầu những khuynh hướng nghiên cứu văn học mới,cùng với nền tảng vốn có, là cơ sở thuận lợi để Phê bình sinh thái sinh sôi nảy nở trong

Trang 26

bối cảnh xã hội mà vấn đề môi trường đang trở nên nhạy cảm Trong bài viết Tính

“khả dụng” của Phê bình sinh thái, Đỗ Văn Hiểu đã khẳng định Phê bình sinh thái

không xa rời phân tích văn bản văn học mà luôn có khát vọng vươn đến phạm trù cáihài hòa Phê bình sinh thái thực sự trở thành khuynh hướng nhiều tiềm năng trongnghiên cứu văn học Việt Nam, với các sáng tác mang cảm thức sinh thái, công trìnhdịch thuật, hội thảo khoa học hàn lâm và ứng dụng học thuyết trong các tác phẩm vănhọc cụ thể

Một số công trình dịch thuật được giới nghiên cứu đánh giá cao như: Bản dịch Phê bình sinh thái – cội nguồn và sự phát triển (2012) của Đỗ Văn Hiểu; bản dịch Những tương lai của phê bình sinh thái và văn học của Karen Thornber trong tập Phê bình sinh thái Đông Á: Tuyển tập phê bình (Các nền văn học, văn hóa và môi trường (East Asian Ecocriticisms A Critical Reader (Literatures, Cultures, and the Environment, 2013) do Hải Ngọc dịch; bản dịch Phê bình sinh thái của Đặng Thị Thái Hà (2014) trong tuyển tập Giới thiệu phê bình thế kỉ XXI (Introducing Criticism at the Twenty – First Century); Nghiên cứu văn học trong thời đại khủng hoảng và môi trường của Trần Thị Ánh Nguyệt (2014) dịch từ phần giới thiệu của Tuyển tập phê bình sinh thái: các mốc quan trọng trong văn học sinh thái (The Ecocriticism Reader: Landmarks in Literary Ecology) Tuy công trình dịch thuật còn hạn chế, thế nhưng đây được xem là

sự nỗ lực, cố gắng đáng ghi nhận của giới nghiên cứu trong việc đưa học thuyết Phêbình sinh thái đến gần hơn với các nhà nghiên cứu văn học sinh thái ở Việt Nam.Ứng dụng Phê bình sinh thái tuy xuất hiện khá muộn, nhưng sự đóng góp của các

bài nghiên cứu là điều không thể bỏ qua: bài viết Mùa xuân, sinh thái và văn chương (2013) của Huỳnh Như Phương, từ gợi dẫn truyện ngắn Muối của rừng (Nguyễn Huy

Thiệp); Nguyễn Đăng Điệp vận dụng lí thuyết sinh thái phân tích biểu tượng vườn

trong thơ mới trong bài viết “Thơ mới từ góc nhìn sinh thái văn học văn hóa” (2014); Nguyễn Thị Tịnh Thy trong bài viết “Trăm năm còn lại của Trần Duy Phiên- Nhìn từ

lí thuyết phê bình sinh thái” (2015); Thiên nhiên trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

từ góc nhìn Phê bình sinh thái của Trần Thị Ánh Nguyệt; Văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư

từ góc nhìn phê bình sinh thái của Nguyễn Thùy Trang.

Ở các hội thảo khoa học, các tham luận bàn về lí thuyết sinh thái trong phạm vinghiên cứu văn học, nghiên cứu văn hóa được nhắc đến và tranh luận sôi nổi: năm

2014 Hội thảo khoa học “Phát triển văn học Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế” do Viện văn học tổ chức với bốn tham luận liên quan đến Phê bình sinh thái; năm 2016 Hội thảo khoa học “Văn học Việt Nam – Bản sắc và hội nhập”; Hội thảo khoa học quốc tế “Việt Nam học: Lí luận và thực tiễn”; năm 2016, Đại học khoa học, Đại học Huế với Hội thảo khoa học “Thành tựu văn học Việt Nam ba mươi năm đổi mới” (1986 – 2016) gồm ba tham luận trao đổi về việc vận dụng lí thuyết Phê bình

sinh thái vào thực tiễn nghiên cứu văn học ở Việt Nam Đây được xem là những bước

Trang 27

ngoặt, mốc son đánh dấu sự kiện khi khuynh hướng phê bình mới được “đặt lên bàn nghị sự” ở Việt Nam, theo Trần Thị Ánh Nguyệt.

Ngoài ra, ứng dụng Phê bình sinh thái vào nghiên cứu tác phẩm văn học cụ thểđược nhiều nhà nghiên cứu chú ý, tâm đắc và chọn lựa để thực hiện đề tài luận văn,luận án, bài viết nghiên cứu khoa học và sau đây là một số đề tài được đánh giá cao, có

sự đóng góp vào lí thuyết chung cho học thuyết, xứng đáng để các “hậu duệ” tiếp thu

và học hỏi: Luận văn Cái tự nhiên từ điểm nhìn phê bình sinh thái (Qua tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Ngọc Tư) của Đặng Thị Thái Hà (2014), Luận án Tiến sĩ Con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam từ góc nhìn phê bình sinh thái năm 2016 của Trần Thị Ánh Nguyệt, bài viết Bản sắc truyện ngắn Trang Thế Hy nhìn từ phê bình sinh thái của Nguyễn Hồng Anh, bài viết Lên núi thả mây để thấu cảm môi trường cùng Lê Văn Thảo của Bùi Thanh Truyền – Trần Kim Thanh, Tìm về với mẹ thiên nhiên: Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn nữ quyền luận sinh thái của Phạm Ngọc Lan, Bùi Thanh Truyền với bài Mơ hồ sinh thái: sự chất vấn những ảo tưởng du lịch sinh thái trong văn xuôi đương đại (trường hợp văn chương của Nguyễn Ngọc Tư).

Phê bình sinh thái ở Việt Nam đã và đang đi những bước đầu tiên thật chắc, đúngvới tinh thần của Phê bình sinh thái trên thế giới Với sự phong phú của các tác phẩmmang tư tưởng, cảm thức sinh thái, tuy chưa có những nét khu biệt rõ ràng của văn họcsinh thái, nhưng ở một góc độ nào đó chúng đã trở thành tiền đề cho nghiên cứu vănhọc Phê bình sinh thái được ví như một món ăn mới, khêu gợi sự tìm tòi, khám phácủa các nhà nghiên cứu về niềm tin đối với công năng và giá trị xã hội của khoa họcvăn chương Ngoài ra, từ góc nhìn sinh thái trung tâm, những góc khuất về văn hóađược phơi bày, đòi hỏi việc xem xét và đưa ra những đề xuất khả dĩ cho vấn đề môisinh

1.3 Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư

Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn có ý thức và trách nhiệm cao đối với ngòi bút củamình Quá trình viết văn là quá trình không ngừng tìm kiếm, góp nhặt, sàn lọc và chọn

lựa để tạo tác ra đứa con tinh thần có giá trị, với chị: “Giải thưởng nào cũng là của

Trang 28

ngày hôm qua Ngày mai tôi là một kẻ tay trắng, nếu không viết thứ gì mới” [31; 01].

Bên cạnh đó, người đọc dễ dàng bắt gặp trong các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, dùđậm hay nhạt, sáng hay tối vẫn phảng phất bản ngã của chính mình Những số phậncon người được nhà văn bày lên trang viết là những tìm tòi “rất khổ” trong vô vàn

những con người đang chật vật ngoài kia và trong đó có ta “Nguyễn Ngọc Tư không

“vén màn” cho người đọc thấy cái chưa thấy, cô không dẫn dắt ta khám phá những ngõ ngách của nội tâm mà ta chưa từng biết (một điều cũng rất cần, nhưng để những nhà văn khác) Cô chỉ đưa ra một tấm gương rất trong, thật sáng, để chúng ta nhìn thấy những sinh hoạt, tình tự rất thường Và qua đó, lạ thay, như một tiếng đàn cộng hưởng, ta khám phá cái phong phú của chính đời ta” [03; 01]

Nhà văn Nguyên Ngọc ví Nguyễn Ngọc Tư “như một cái cây tự nhiên mọc lên giữa

rừng tràm hay rừng nước Nam Bộ vậy, tươi tắn lạ thường, đem đến cho văn học một luồng gió mát rượi, tinh tế mà chân chất, chân chất mà tinh tế, đặc biệt “Nam Bộ”, một cách như không, chẳng cần chút cố gắng nào cả như các tác giả Nam Bộ đi trước” [22; 01] Nguyễn Ngọc Tư luôn tự đặt ra cho mình những câu hỏi, như tự vấn, như làm nóng lại mục đích văn chương của mình: “Nhưng những năm gần đây, mỗi khi bắt đầu, tôi tự hỏi cái thứ mình sắp viết đây, rốt cuộc có gì mới không, có làm bạn đọc mất thời gian vào cái thứ văn chương lặp lại?” Nhà văn không ngừng bôn ba,

kiếm tìm cho ngòi bút của mình làn gió mới, mang hơi thở thời đại, chất nhựa cuộcsống và đặc biệt là những thể nghiệm mới trong nghệ thuật biểu hiện Bên cạnh nhữngthể loại mới như tạp văn, tản văn, còn là những đề tài mang tính thời sự cao như đồng

tính, trào lưu phượt của giới trẻ, đô thị hóa, lối sống thực dụng, ích kỷ… Không ít lần

người đọc cảm thấy xa lạ với giọng điệu sắc lạnh, câu văn với lối diễn đạt mới mẻphản ánh nhanh chóng và nóng hổi thực trạng xã hội đương thời, từ đó, độc giả đặt radấu chấm hỏi lớn về bóng dáng cũ trong lối văn của Nguyễn Ngọc Tư, trả lời cho

những thắc mắc này nhà văn cho rằng “người đọc có quyền đặt ra những mặc định, nhưng nhà văn, mặc định là một cái bẫy của nhàm chán, tẻ nhạt Sẽ có người đọc cảm thấy bị tôi phản bội, nhưng tôi nghĩ một ngày nào đó họ sẽ nhận ra, một nhà văn giẫm chân tại chỗ cũng là kiểu phản bội khác” [31; 01].

Sau khi nhận giải Liberaturpreis 2018, Nguyễn Ngọc Tư dùng một phần tiền của dự

án này cho hai thư viện và tài trợ cho một giải thưởng truyện ngắn viết về phụ nữ ViệtNam đương đại Với trái tim thấu hiểu, chân thành của một người phụ nữ cùng tìnhyêu thương, sự cho đi không bao giờ là đủ của một nhà văn Nguyễn Ngọc Tư không

ngừng đau đáu và thổn thức: “tôi ước gì mình có thể cho đi mà chẳng để lại tin tức gì, giống như những nhà thiện nguyện thật sự, họ cho và chẳng nhớ đã cho gì” [31; 01].

Sự trải nghiệm trong cuộc sống, lặng ngắm cuộc đời, rồi rút kết ra những điều đơn

giản nhưng quá trình phát hiện chúng thì không hề giản đơn và “ở Nguyễn Ngọc Tư là phong cách ngoan hiền nhưng kiên quyết, cuộc sống giản đơn nhưng thấp thoáng một nội tâm phức tạp và bí ẩn (những lúc cô chợt im lặng giữa câu chuyện, con mắt trở

Trang 29

nên đăm chiêu, làm tôi giật mình)” [04; 01] Từ sâu trong đôi mắt đăm chiêu ấy hiện

lên những số phận chen chút, xô đẩy nhau, cũng có lúc yêu thương, âu yếm, nâng niukhẽ khàng Bên cạnh đó, “Đặc sản Nam bộ” luôn nhìn cuộc sống bằng nhãn quan đa

sầu, đa cảm: “Tôi là kiểu người bi quan, mỗi sáng thấy đàn chim bay qua, lại nghĩ chiều nay có con trong bầy trúng đạn, không trở về Tâm lý này cũng ảnh hưởng đến những tác phẩm của tôi” [31; 01] Con Vịt, cánh chim, cánh đồng, dòng sông, chiếc

thuyền, rừng bần, rừng đước, gió… là những hình ảnh dễ dàng bắt gặp trong nhữngsáng tác của tác gia Chúng ta không chỉ cảm nhận ở những hình ảnh là sự gần gũi màcòn là sự lắng nghe, trân trọng, thấu hiểu, đồng điệu, xem sự tồn tại của sinh vật nhưmột linh hồn và thực thể sống thực sự Một con người hời hợt sẽ không có sự đấutranh bên trong mình, sẽ không trăn trở, không suy nghĩ và càng không lo lắng về thế

sự đang diễn ra như thế nào Chỉ khi đến với văn chương của “đặc sản miền Nam”

(Nói theo Trần Hữu Dũng), chúng ta mới thực sự chạm đến ngưỡng của một tâm hồnluôn bỏng rát, rướm máu trước những biến động của cuộc đời Đọc tác phẩm của

Nguyễn Ngọc Tư, nói như nhà văn Võ Thu Hương: “Viết chi mà thấm từ từ, thấm tầng tầng Kiểu như đọc xong rồi, để đó dăm tháng sau hay dăm năm sau kéo ra đọc lại vẫn thấy đang thấm, vẫn thấy hay” [31; 01].

Xung quanh cuộc đời, sự nghiệp văn chương của tác gia, không thể không nhắc đến

Truyện ngắn Cánh đồng bất tận, truyện ra đời như một con dao cứa vào dây diều,

chúng gây ra sự vùng vằng, chao đảo, kéo căng, nhưng cũng từ đó giá trị của tác phẩmđược bênh vực, được sinh ra một lần nữa, chúng bay cao, bay xa và khẳng định nhữnggiá trị cốt lõi của mình Nguyễn Ngọc Tư thực sự đã bắt nhịp với thời đại, thâu tómnhanh, bóc tách, mổ xẻ một cách hiệu quả những vấn đề nóng hổi mà các cây bútđương đại khác còn e ngại Việc bóc tách những vấn đề xã hội phản ánh vào trong tácphẩm, như một cách nhận thức lại những giá trị nhân bản đang bị bào mòn, buộc conngười phải xem xét và trả lời cho những câu hỏi mang tính cấp thiết đó

1.3.2 Sự nghiệp sáng tác

Những thành tựu mà nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đạt được chưa bao giờ trở thành trở

ngại trong sự nghiệp văn chương, đối với chị: “Tôi coi giải thưởng mới nhận được là một món quà Mình nghĩ nó quan trọng, thì nó là núi, còn nhẹ nhàng thì cũng như bạn gửi tặng tôi gói trà Giá trị của nhà văn không phải do anh chị ta nhận giải thưởng nào, cả thảy bao nhiêu Đó chỉ là một cách nhìn nhận sự nghiệp của người viết” [11;

01] Nguyễn Ngọc Tư không bao giờ lấy kết quả hay thành tựu trước mắt để tự phụ,bởi nhà văn hiểu rõ quá trình viết là sự thăng hoa, kết tinh của trí tuệ và tâm hồn, giảithưởng chỉ là phương tiện, là công cụ để tác giả đến gần hơn với bạn đọc, chính vì lẽ

đó “giải thưởng là thứ nhà văn nên quên đi, ngay lập tức Bởi ngay từ đầu, người ta viết không phải vì giải thưởng Viết chỉ vì muốn viết, vì bị thôi thúc bởi những lời thì thầm bên trong anh (chị) ta” [31; 01] Sự tự ý thức về quan niệm sáng tác, viết để làm

Trang 30

gì? Viết cho ai? Và viết như thế nào? Đã giúp Nguyễn Ngọc Tư gặt hái được nhữngthành công nhất định, tạo cho mình phong cách riêng độc đáo, như nhận xét của Trần

Đình Sử trong quyển Lý luận văn học, tập 2, Tác phẩm và thể loại văn học (2011, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội): “Đối với nhà văn, cũng như đối với nhà họa sĩ, phong cách không phải là vấn đề kỹ thuật mà là vấn đề cái nhìn Đó là một sự khám phá mà người ta không thể làm một cách cố ý và trực tiếp, bởi đó là một khám phá về chất, chỉ có được trong cách cảm nhận về thế giới, một cách cảm nhận nếu không do nghệ thuật mang lại thì mãi mãi sẽ không ai biết đến” [25; 151].

Năm 2000, Nguyễn Ngọc Tư đạt giải Nhất cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20 lần thứ II với tác phẩm Ngọn đèn không tắt và giải mai vàng ở hạng mục Nhà văn xuất sắc Năm 2001, đạt giải B Hội nhà văn Việt Nam với tác phẩm Ngọn đèn không tắt Năm 2003, nhà văn được vinh danh là một trong Mười nhân vật trẻ xuất sắc tiêu biểu của năm 2002 Năm 2006, đạt giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 2006 với tác phẩm Cánh đồng bất tận Năm 2008, đạt giải thưởng Văn học ASEAN với tác phẩm Ngọn đèn không tắt và Cánh đồng bất tận Năm 2018, giải thưởng Liberaturpreis năm

2018 do Hiệp hội Quảng bá văn học châu Á, châu Phi, Mỹ Latin tại Đức (Litprom)

bình chọn với tác phẩm Cánh đồng bất tận Năm 2019, chị được vinh danh trong Top

50 người phụ nữ có ảnh hưởng nhất tại Việt Nam 2018 do tạp chí Forbes bình chọn.

Sau đây là những sáng tác của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, được người viết sắp xếptheo trình tự thời gian và phân chia theo thể loại:

Về truyện ngắn, có các tập truyện:

Ngọn đèn không tắt (Nhà xuất bản Trẻ, 2000)

Ông ngoại (Tập truyện cho thiếu nhi, Nhà xuất bản Trẻ, 2001)

Giao thừa (Nhà xuất bản trẻ, 2003)

Biển người mênh mông (Truyện ngắn và kí, Nhà xuất bản Trẻ, 2003)

Nước chảy mây trôi (Truyện ngắn và kí, Nhà xuất bản Trẻ, 2004)

Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn, 2005)

Cánh đồng bất tận (Nhà xuất bản Trẻ, 2005)

Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (Tập truyện ngắn - Nhà xuất bản Trẻ, 2008)

Khói trời lộng lẫy (Tập truyện ngắn – Nhà xuất bản Trẻ, 2010)

Đảo (Tập truyện ngắn – Nhà xuất bản Trẻ, 2014)

Trầm tích (Tập truyện ngắn, in chung với Huệ Minh, Lê Thúy Bảo Nhi, Thi

Nguyễn, Nhà xuất bản Trẻ, 2014)

Không ai qua sông (Tập truyện ngắn – Nhà xuất bản Trẻ, 2016)

Cố định một đám mây (Tập truyện ngắn – Nhà xuất bản Trẻ, 2018)

Về tản văn, tạp văn:

Sống chậm thời @ (Tản văn in chung với Lê Thiếu Nhơn, nhà xuất bản Thanh niên,

2006)

Trang 31

Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư (Nhà xuất bản trẻ, 2006)

Ngày mai của những ngày mai (Tạp văn - Nhà xuất bản Phụ nữ, 2007)

Biển của mỗi người (Tạp bút – Nhà xuất bản, 2008)

Yêu người ngóng núi (Tản văn – Nhà xuất bản Trẻ, 2009)

Gáy người thì lạnh (Tản văn – Nhà xuất bản Trẻ, 2012)

Đong tấm lòng (Tản văn – Nhà xuất bản Trẻ, 2015)

Hành lí hư vô (Tản văn – Nhà xuất bản Trẻ, 2019)

Tiểu thuyết:

Sông (Nhà xuất bản Trẻ, 2012)

* Tiểu kết chương 1: Có thể khẳng định rằng, lý thuyết Phê bình sinh thái đang

được bồi đắp và khắc phục những hạn chế để xứng đáng trở thành khuynh hướng phêbình văn học năng động và mang tính toàn cầu Việc hệ thống hóa lý thuyết Phê bìnhsinh thái như khái niệm, lịch sử hình thành - phát triển, đặc trưng và khảo sát khuynhhướng nhiều tiềm năng trong nghiên cứu văn học Việt Nam sẽ không tránh khỏi nhữngthiếu sót Tuy nhiên, người viết cũng đã nỗ lực trong việc khái quát hóa và đưa ranhững minh chứng điển hình, độc đáo nhất cho học thuyết mới Bên cạnh đó, thông tin

về tiểu sử, phong cách và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cũng đượcgiới thuyết cụ thể nhằm mang đến cho người đọc góc nhìn toàn diện hơn khi đi vào soichiếu các sáng tác từ góc nhìn Phê bình sinh thái

CHƯƠNG 2 MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ TỰ NHIÊN

TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ 2.1 Ca ngợi sự hòa hợp của con người với tự nhiên

So với các nước, Việt Nam là một trong những quốc gia “phản ứng chậm” với họcthuyết Phê bình sinh thái do tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan Quátrình tiếp nhận học thuyết bị cản trở bởi khoảng cách địa lí, sự lạ lẫm của học thuyết

Trang 32

mới chưa có lí luận vững chắc du nhập vào nước ta Song đó, ở Việt Nam chưa cómột dòng văn học sinh thái với những nét đặc trưng rõ rệt Văn xuôi mang cảm thứcsinh thái không phải là không có nhưng chưa thể hiện rõ cảm quan sinh thái như

Tôtem Sói của Khương Nhung, Tôi yêu động vật nhỏ của Băng Tâm, tức là các tác

phẩm mang cảm quan sinh thái ở Việt Nam sau năm 1975 chưa có tuyên ngôn nghệthuật rõ ràng về vấn đề môi trường Văn học Việt Nam vẫn còn nằm trong sự ràngbuộc của mối quan hệ con người – con người, hiếm thấy mối quan hệ giữa con người

và tự nhiên được đưa ra tranh luận “Khi lương tâm lên tiếng, ấy là xã hội lên tiếng trong ta” (Durkheim), nghĩa là trước lời kêu cứu từ tự nhiên, văn học không thể vô can

đứng nhìn thế giới môi sinh bị hủy hoại, bức tử, dẫn đến môi trường sống bị đe dọa.Lịch sử văn học Việt Nam cũng như văn học thế giới đều ghi nhận rằng trong đội

ngũ những người viết văn, làm thơ, phụ nữ bao giờ cũng chiếm một tỉ lệ rất thấp “Có

một loại thống kê (nghĩa là không chính xác tuyệt đối, chỉ nên hiểu theo tinh thần xác xuất mà thôi) cho rằng trên thế giới có độ chừng 439 nhà văn nổi tiếng, thì trong đó chỉ có 26 nữ văn sĩ Từ điển nhà văn Trung Quốc cũng cho biết trong 404 nhà văn, nhà thơ nổi tiếng, thì chỉ có 22 nữ văn thi sĩ” [15; 339] Trong số ít ỏi những người đàn bà dám “cả gan” bước vào con đường đầy chông gai và cam go đó, những cây bút

thực sự thành đạt lại càng hiếm hoi Bằng tài năng thiên bẩm của mình, nhà vănNguyễn Ngọc Tư đã sử dụng có hiệu quả chức năng của văn học mang tinh thần sinh

thái nhằm “hé mở cho chúng ta thấy một hiện thực bị bỏ quên, đồng thời, nhận thức lại những tư duy cũ mòn vế mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, từ bỏ cái nhìn ngạo nghễ với tự nhiên, để có một thức nhận khác về tự nhiên, về chính mình, không thừa nhận một giá trị vĩnh viễn “con người là trung tâm” [23; 93] Bên cạnh đó, chúng

ta càng không thể phủ nhận cảm hứng ngợi ca sự hòa hợp trong mối quan hệ giữa conngười và tự nhiên thông qua những biểu hiện của tự nhiên tồn tại như một sinh mệnhgắn bó mật thiết với đời sống con người và tự nhiên - con người trong mối quan hệhợp nhất, bất khả phân ly

2.1.1 Tự nhiên tồn tại như một sinh mệnh gắn bó mật thiết với đời sống con người

Tự nhiên từ lâu đã tồn tại trong đời sống vật chất và đời sống tinh thần của conngười, từ nếp sống, nếp sinh hoạt, lời ăn tiếng nói, lối ví von, câu hò, điệu hát Bóngdáng của tự nhiên cũng xuất hiện nhiều trong tác phẩm văn học hiện đại, tiêu biểu như

Nanh trắng (Jack London), Đất rừng phương Nam (Đoàn giỏi), Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân), Hương rừng Cà Mau (Sơn Nam), Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành),

Ai đã đặt tên cho dòng sông (Hoàng Phủ Ngọc Tường), Hoài niệm sói (Giả Bình Ao),

quan trọng hơn cả là các tác phẩm đặc sắc viết về tự nhiên của nhà văn Nguyễn Ngọc

Tư Trong văn học dân gian, tự nhiên còn là nơi gửi gắm tâm tư tình cảm của nhữngđôi trai gái, là phương tiện để chuyển tải cảm xúc đến đối phương một cách nhẹ nhàng

và tinh tế:

Trang 33

“Nước sông Tô vừa trong vừa mát

Em ghé thuyền đỗ sát thuyền anh Dừng chèo muốn tỏ tâm tình Sông bao nhiêu nước thương mình bấy nhiêu”

(Ca dao)Song hành với sự phát triển vô cùng mạnh mẽ của đời sống kỹ trị, tự nhiên tồn tạinhư một sinh mệnh độc lập gắn bó mật thiết với đời sống con người Tự nhiên được

sống là chính mình: “Con ong làm mật yêu hoa/ Con cá bơi yêu nước/ Con chim ca yêu trời” (Tiếng ru - Tố Hữu), đồng thời, chúng trở thành yếu điểm nếu không muốn

nói là yếu tố sống còn trong đời sống của con người Trong sáng tác của nhà vănNguyễn Ngọc Tư, sự hòa hợp và gắn bó mật thiết ở mối quan hệ này được xem là mộttrong những nét đặc trưng, phản ánh chân thực tính cách của người dân Nam bộ

Tự nhiên trong văn học được nhìn nhận như một sinh mệnh, có thế giới vật chất vàtinh thần tồn tại bình đẳng giống như con người Thế giới loài vật đã từng xuất hiệntrong các tác phẩm văn chương và trở thành người bạn tâm tình với con người điển

hình như trong truyện ngắn Con chó và vụ ly hôn của Dạ Ngân, Phiên chợ Giát của

Nguyễn Minh Châu nhưng ở các tác phẩm này dường như có phần còn khiên cưỡngtrong việc trao cho loài vật tiếng nói riêng Xuyên suốt tác phẩm, cách hành xử khácbiệt giữa hai vợ chồng Nhiêu và Đoan đối với con chó Mực chỉ là cái cớ nhằm thúcđẩy những mâu thuẫn trong bi kịch gia đình lên đỉnh điểm, như giọt nước làm tràn ly

để kết thúc một cuộc hôn nhân đầy ngậm ngùi và tủi nhục Người đọc dễ dàng nhận ra

ở Con chó và vụ ly hôn thế giới loài vật vẫn còn giữ vị trí là phông nền cho tác phẩm.

Ngược lại, trong những sáng tác của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, tác giả đã để cho thếgiới loài vật lên tiếng nói, thấu hiểu và sẻ chia cùng với nỗi chơi vơi về tình cảnh éo le

của nhân vật, điển hình như tác phẩm Cái nhìn khắc khoải: “con Cộc điềm đạm lại cái

mẻ lúa, nó ăn chậm rãi Ý nói sao mà tôi tội nghiệp hai người quá, làm người mà khổ vậy, làm vịt còn sướng hơn Đêm đó, ngoài nhà xuồng, nó nghe ông thở nhẹ mà rất dài Ai biểu” [37; 26] Khi người đàn ông chăn vịt chơi vơi trước sự ra đi của người đàn bà lạ, con Cộc trở thành nguồn động viên duy nhất: “nó vẫn chạy lại, gác đầu lên đùi ông, cọ cọ an ủi” [37; 26] Nếu như nói con vịt tên Cộc chỉ trở thành người bạn

tâm tình khi nhân vật đang buồn bã về câu chuyện “nhân tình thế thái” của mình thìthật là khiên cưỡng mà có thể khẳng định rằng giữa nó và người đàn ông có sợi dâyliên kết rất chặt Loài vật còn nhìn thấy cả thế giới nội tâm ẩn sâu bên trong con ngườitrong khi con người đang còn mơ hồ, lưỡng lự trước dòng suy nghĩ của chính mình:

“Mai mốt mình đi nữa hen Cộc? Con vịt cạp mắt cá chân ông, đi thì đi chớ gì - Mày đi hoài, mầy mệt không? Nó há mỏm đốm đen cạp ngón cái chân ông, thì mệt chớ - Tao đốn tràm, làm nhà lại, ở luôn nghen Con Cộc mổ vô ống quyển ông, rồi nhóng cần cổ dòm ông lom lom, có phải ông chờ bà đó quay lại không?” [37; 27].

Trang 34

Tự nhiên tồn tại như sinh mệnh có thật với những biểu hiện buộc con người tin chắc

vào sự hiện hữu đó: “Mà, anh nhà văn nè, theo anh thì con vịt nó có sinh mạng không? Bà nội tôi nói cỏ cây cũng có sinh mạng vậy là đúng? Anh biết không, có lần

vì nóng giận mà tôi hủy đi cả thảy một ngàn hai trăm mười bảy sinh mạng Anh nhà văn sửng sốt hả, ghê quá phải hôn Tôi lúc đó cũng vậy, cũng cảm giác như mình đang gây tội ác” [37; 121] Hủy hoại một sinh mệnh tự nhiên cũng giống như việc giết hại

con người, đó là cảm giác của sự “đổ vỡ”, hụt hẫng, dằn vặt và lo sợ đi theo suốt cuộc

đời Nhân vật Tôi trong tác phẩm Một dòng xuôi mải miết thực sự phải trả giá cho hành động của mình bằng những ám ảnh tột cùng: “tôi nhớ hoài cái cảnh mình đứng trong một buổi sáng đầy sương Xung quanh tôi vịt nằm chết sắp lớp, không khí nồng nặc mùi thuốc trừ sâu Tôi giở một con vịt lên, dưới đôi cánh nó là một quả trứng vỡ

be bét, chắc nó đã từng giãy giụa, đau đớn lắm mới đập nát cả trứng của mình Sáng đứng tần ngần trong quây lưới, hơi ngơ ngác, như trong lòng bị đổ vỡ cái gì đó quý lắm” [37; 121] Trong tác phẩm Nhớ nguồn, đứa con gái trầm trồ, ngưỡng mộ về thiên

tính và bản năng nữ giới của người mẹ trong việc nhận ra sự đổi thay từng chút một

của tự nhiên: “Má tôi đi thăm ruộng sớm chiều, bạn có thể đi theo nhưng bạn sẽ chán.

Má tôi thì không Má có con mắt thần kỳ thấy cây lúa bữa nay cao hơn ngày hôm qua, cây lúa hôm nay tốt hơn bữa trước Lúa có linh hồn Không biết má trao cho đám lúa còn non nớt xanh nhớt kia bao nhiêu tình thương yêu, bao nhiêu hy vọng” [39; 180].

Nhìn tác phẩm dưới góc độ Phê bình nữ quyền, chúng ta dễ dàng nhận ra rằng, cây lúa

và người phụ nữ có nhiều nét tương đồng, từ đó, sự trân trọng và tình yêu thương đốivới sinh mệnh mỏng manh của người phụ nữ cũng trở nên mạnh mẽ hơn Quá trìnhcảm nhận, đồng cảm đối với tự nhiên cũng nhạy cảm và tinh tế hơn Tự nhiên cũngnhư con người, cũng có sự sống riêng, đòi hỏi con người phải đặt chúng trong mối

quan hệ bình đẳng và quan trọng hơn cả là “đưa trách nhiệm của con người đối với tự nhiên thành định hướng đạo đức chủ yếu” [23; 65].

Ở tác phẩm Người năm cũ, tự nhiên còn là người bạn hiền hòa trong quá khứ, chúng

trở thành kỷ niệm đẹp, trong trẻo trong tâm trí của người đàn ông yêu má Hiên Tuyhạnh phúc không thành hình nhưng những hình ảnh về tự nhiên được tái hiện trong

hoài niệm lẫn nhiều tiếc nuối “- Cháu có biết xóm Trầu? Một cái xóm đẹp Căn cứ cũ của chúng tôi Tôi nhớ hoài, trước mặt xóm là một cái đầm nước gió ơi là gió…Và một hàng dừa nước bên sông nghiêng mình soi đáy Những ngày gió chướng về, nước trong vằng vặc như thấy rành rạnh từng sớ lá Trên bờ kinh, dây choại mọc đầy, đọt choại xanh non nhuốt líu ra líu ríu níu bước chân người Hàng bông bụp trước sân nhà nở đỏ Con heo cỏ bụng bự đầy đất sục mũi vào đám rau diệu, rau chay Sau vườn, dây trầu già leo cây cau ốm Bầy kiến vàng liêu xiêu bò ra bò vào trê nhánh chanh giấy de ra mé ao” [37; 165] Tất cả đều nằm lại ở quá khứ song chúng vẫn sống,

sống cho hiện tại và cả tương lai Dù tình yêu có trọn vẹn hay tan vỡ, người trong cuộcvẫn mang một phần linh hồn của tự nhiên vào tâm thức mình, chứ không đơn thuần là

Trang 35

những cuộc yêu đương tủn mủn, vì ở đó, tự nhiên dường như chứng minh cho tình yêumãnh liệt của một thời tuổi trẻ.

Tồn tại trong vũ trụ bao la, nhân loại thường lầm tưởng về sức mạnh “anh hùng chinh phục” [23; 85] của mình nhưng thực tế cho thấy rằng tự nhiên cũng có những dự cảm và khả năng phản kháng trước những tác động của con người Ở tác phẩm Cánh đồng bất tận bầy vịt của nhân vật Nương và Điền có thể nghe thậm chí cảm nhận được nhịp tim và sự bất thường trong tiếng hát của Nương: “Bầy vịt nhạy cảm khủng khiếp, sau nầy, tôi cố sửa lại những chỗ hụt hơi ấy, chúng nhận ra ngay, và nhìn tôi với vẻ ngờ vực, “Ủa, phải con-người hôm trước không ta?” Một con vịt đui khịt mũi, cười,

“Nó chớ ai, giọng có khác, nhưng rõ ràng là tiếng trái tim nó Quen lắm Chập chờn, thút thít, đòng đưa như sắp rụng…” “Có nổ hôn đó, cha nội?” “Sao không, mấy người thử đuôi đi rồi biết”” Sự cảm nhận của loài vật về con người đã trở thành cầu nối thôi thúc nhân vật chiêm nghiệm và “bất giác, tôi nhắm mắt để nghe lại tiếng tim mình” [36; 202] Điển hình là cả hai nhân vật Nương và Điền lần lượt tìm lại bản ngã,

ở Nương là tình yêu chân thật và sự thứ tha cho những lỗi lầm, còn ở nhân vật Điền là

quá trình tìm lại chính con người thật của mình Bên cạnh đó, trong tác phẩm Mùa mặn là kiểu truyện đi theo quy luật nhân quả bởi vì trong những vấn đề về tự nhiên

nếu con người không là một phần của nguyên nhân thì con người là một phần của kếtquả Các nhân vật tự nhận ra sự chênh vênh và đổ vỡ của những mơ mộng trong quá

khứ: “mường tượng cái cảnh con cháu mình sống đời nổi nênh trên ghe, thèm bóng mát một cái cây, thèm nhìn thấy một vạt sân đầy hoa mồng gà và hoa nhái ngày tết, thèm trồng tưới luống rau, thèm mảnh đất để trẻ nít chạy cho đỡ tù chân Lúc ấy thân xác mình xóc tréo dưới đáy sâu (nơi từng là sân nhà cũ) đã chảy thành nước, nhưng hồn mãi không tan được bởi ý nghĩ mình nợ con cháu một bến bờ Hồi xưa, phải chi tụi mình đừng có phẩy tay tặc lưỡi cho qua Hình dung ấy không thấy vui gì hết ” [43;

141] Truyện cảnh tỉnh con người về sự tồn tại có thật của sinh mệnh tự nhiên và hậuquả của sự tàn phá do thế hệ trước gây ra, thế hệ sau phải gánh chịu Con ngườithường ảo tưởng và tự hào về những thắng lợi của sức mạnh nhân loại trước tự nhiênnhưng chúng ta không hề biết rằng tự nhiên có những logic huyền bí của nó, nếu conngười cư xử ngỗ ngược thì sẽ bị trừng phạt thê thảm Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cũngkhông dễ dàng lướt qua biểu hiện của sinh mệnh tự nhiên này, một tay giám đốc của

nhà máy thủy điện Di Giang trong tiểu thuyết Sông đã bị tai nạn khi về thăm nhà, “gỗ lăn từ trên đồi xuống hất văng chiếc ô tô xuống sông Di” [42; 75] như một cách trừng

phạt cho kẻ dám chắn dòng của nó

Katharina Borchardt, tại lễ trao giải thưởng văn chương LiBeraturpreis 2018 phát

biểu rằng: “Dường như những quy luật tự nhiên đã chế ngự đời sống các nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư: sự khô hạn của mùa hè, sức bật của mái chèo bị trượt, khả năng định hướng của đàn vịt, mà dựa vào đó những đứa trẻ bị lạc lối trên các cánh đồng đã tìm đường về tới nhà Chúng ta cũng đừng quên những quan hệ gắn bó suốt đời trong

Trang 36

phạm vi gia đình, cho dù những mối gắn bó đó có mang lại hạnh phúc hay không Cả các nhu cầu kinh tế cũng đóng một vai trò lớn, cũng có thể coi đó là những tất yếu, hay là các quy luật tự nhiên vậy Rất hiếm khi các nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư tự tách mình ra khỏi các mối ràng buộc quen thuộc này Và cũng không có gì đảm bảo liệu họ có hạnh phúc hơn không khi tách rời những ràng buộc đó” [02; 01] Minh chứng sáng rõ là ở truyện ngắn Cánh đồng bất tận, cả hai nhân vật Nương và Điền đều

có cảm giác không chắc chắn: “nhà chúng tôi là cái nầy, là cánh đồng nào đó, con sông nào đó…” [36; 193], có nghĩa là nhân vật luôn nhạy cảm, tách biệt và xây rào chắn xung quanh những thứ không quen thuộc, đặc biệt là không nói “tiếng người” Cả

hai chỉ cảm thấy sự yên bình trong tâm hồn và niềm an ủi duy nhất chính là ở đàn vịt,

ở những “sinh linh nhỏ bé đã thấu được tim mình” [36; 204] Biểu hiện của tự nhiên ở

những sáng tác trong thời đại khủng hoảng môi trường nói chung và những sáng táccủa nhà văn Nguyễn Ngọc Tư nói riêng thực sự đã thoát khỏi sự tồn tại làm phông

nền, trở thành “sinh mệnh với những quy luật riêng nằm ngoài ý chí, tình cảm của con người” [23; 129], đôi khi còn chi phối ngược lại con người

Tính đối thoại của Phê bình sinh thái cũng chính là biểu hiện của tự nhiên tồn tạinhư một sinh mệnh gắn bó mật thiết với đời sống con người Dưới cảm quan của conngười hiện đại, tự nhiên trở nên phong phú, sinh động, loại vật thì dạn dĩ, biết suy nghĩ

và đánh giá thế giới quan: “Cá thòi lòi dạn dĩ theo con nước chạy rột rẹt dưới sàn nhà,

có lúc ngóc đầu lên, nhìn thom lom, ý hỏi ai đây ta, ai mà lặn lội tới xứ bùn sình rừng

rú nầy, ai mà ngó tui thiếu điều lòi con mắt ra, lạ lắm sao” [37; 13] Ngay cả con Bìm bịp mà ông Sáu để lại trong tác phẩm Biển người mênh mông cũng đối thoại với nhân vật Phi như người bạn: “Ông đi rồi, chỉ còn lại Phi và con bìm bịp, thấy nó cứ thắc thỏm mổ cái mỏ vào mấy nan tre, tưởng nó đói, Phi đi bắt rắn mối cho nó ăn Nhưng

nó không ăn, cả đêm kêu thê thiết, những tiếng bìm bịp nhỏ xuống cái Xóm Rạch chùa từng giọt như giọt máu Phi giở cửa lồng, con bìm bịp đập cánh xao xác, đứng niễng đầu nhìn anh buồn lắm, sao anh ngồi đây mà tía tôi đâu? Phi cười buồn bã, ước gì tao biết được tía đang ở đâu Tía thấy tao buồn nên để mầy ở lại, nhưng rồi lúc ông già bé nhỏ ấy buồn, ai kêu nước lớn cho ông nghe” [36; 116] Có thể xem đây là bước

chuyển mình ngoạn mục của văn chương mang cảm thức sinh thái nói chung và Phêbình sinh thái nói riêng trong việc khẳng định vai trò thiết yếu của tự nhiên trong đờisống con người

Nói tóm lại, những sáng tác của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư tuy không thuộc nhómvăn chương sinh thái thuần túy với những đặc trưng cơ bản Nhưng biểu hiện của tinhthần sinh thái trong sáng tác là tương đối rõ trong việc khẳng định vị trí, vai trò của tựnhiên trong đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con người Thông qua các tác

phẩm như Cái nhìn khắc khoải, Một dòng xuôi mải miết, Nhớ nguồn, Người năm cũ, Cánh đồng bất tận, Đất Mũi mù xa, Biển người mênh mông, nhà văn dù vô tình hay

hữu ý đã mang tự nhiên vào trong sáng tác và đặt để chúng ở một vị trí bình đẳng,

Trang 37

ngang hàng với con người, xóa bỏ mối quan hệ khách/chủ hay người chiếm lĩnh và kẻ

bị chiếm lĩnh Đồng thời, khẳng định sự tồn tại của tự nhiên là một sinh mệnh gắn bó

mật thiết với đời sống con người bởi vì tất yếu trong đại vũ trụ bao la “mọi sự vật đều

có liên kết với nhau” [23; 244].

2.1.2 Tự nhiên và con người – trong quan hệ hợp nhất

Trong triết học Nho gia, tư tưởng luân lý sinh thái thể hiện ở các quan niệm “thiên nhân hợp nhất” (trời và người là một), “thiên địa nhân” (trời, đất và con người là bộ ba), “nhân dân nhi ái vật” (yêu dân là yêu vạn vật), “ân cập cầm thú” (ân huệ với cầm thú), “nhân cập thảo mộc” (yêu đến cỏ cây) Trong Đạo gia, “tự nhiên vô vi” (thuận

theo quy luật của tự nhiên) chính là hạt nhân của học thuyết này Ta thấy, mối quan hệgiữa con người và tự nhiên là mối quan hệ khắng khít, tồn tại như giá trị văn hóa trongđời sống Nếu các tác phẩm thuần về văn học sinh thái cho thấy rõ những biểu hiệntrong mối quan hệ này thì các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư dù ít hay nhiều cũngdung chứa và biểu hiện mối quan hệ hợp nhất giữa tự nhiên và con người Tự nhiêntồn tại như một sinh mệnh độc lập, song song với con người trong một chỉnh thể thốngnhất Sẽ không quá cường điệu khi nói rằng mối quan hệ này là mối quan hệ hợp nhất

ràng buộc lẫn nhau David trong Câu chuyện khu vườn Findhorn viết: “Chúng ta không chỉ phải hợp tác với các vương quốc thiên nhiên, mà chúng ta còn phải cho phép họ trở thành một với chúng ta Qua sự kết đôi này, chúng ta trở thành con người thực sự hơn” [09; 193] Văn hóa Trung Quốc cũng rất tôn trọng lý niệm “thiên nhân hợp nhất”, tức mọi việc trên đời đều phải thuận theo ý trời, thuận theo tự nhiên Tự

nhiên không chỉ là sinh mệnh tồn tại độc lập nằm ngoài ý thức con người mà chúngcòn có khả năng phản biện lại thế giới người Chính vì lẽ đó, tự nhiên đòi hỏi một vị tríđộc lập, bình đẳng trong vũ trụ bởi con người thực ra chỉ là một tiểu vũ trụ trong đại

vũ trụ bao la Dưới cảm quan sinh thái, tự nhiên ngày càng không còn khả năng phụchồi trước những tác động tiêu cực của con người trong xã hội hiện đại, nhưng dù nhưthế nào, chúng ta cũng không thể phủ nhận mối quan hệ hợp nhất bất khả phân ly đó

Mối quan hệ hợp nhất được biểu hiện ở việc từ bỏ quan niệm “con người là thước

đo của vạn vật” hay “kiểu mẫu của muôn loài”, tự nhiên trở thành chuẩn mực cho sự

đánh giá cái đẹp của cuộc sống con người Nguyễn Ngọc Tư đã nêu cao vai trò của tựnhiên thông qua việc dùng chúng như phương tiện, thước đo chuẩn mực sống của nhân

loại: “Và còn những trái đước quê tôi, anh đã biết? Từ khi còn là trái xanh lủng lẳng trên thân cây mẹ, trái đước đã thẳng người trong tư thế một ngày cắm thẳng xuống bãi bùn mà không mảy may nghi ngờ, chọn lựa (Đôi lúc trên con đường văn chương

cô độc, tôi chùn bước, em tôi lại bảo tôi phải chặt lòng chặt dạ, phải giống như những trái đước ấy, lao xuống đất văn chương bằng niềm say mê mãnh liệt nhất)” [37; 14].

Cây đước đi vào đời sống với những biểu hiện rất tự nhiên nhưng lại trở thành kiểumẫu cho con người, đó cũng chính là nguồn cảm hứng, nguồn động lực mạnh mẽ trên

Trang 38

hành trình tìm kiếm cái đẹp trong đời sống văn chương của tác giả Ngoài ra, ở tác

phẩm Lý con sáo sang sông, cuộc sống thôn quê hòa nhập với sông nước chính là thứ tài sản vô giá đối với nhân vật Phi, chúng ăn vào máu, thấm vào não với “ trăm ngã sông, ngàn lối xóm, Phi rành rẽ đất này như một ông thổ địa” [34; 57] Đặc biệt là giọng hát ngọt ngào, “rất mùi” [34; 58] nhưng vô cùng xa xót của Phi và nếu “thiếu sông, thiếu nước, coi như hết hay rồi” [34; 58] Chính sự gắn kết này làm cho Phi

không thể rời xa quê hương mình và luôn luôn gìn giữ ở bản thân sự chân quê và mộc

mạc giống như vẻ đẹp của tự nhiên Vì lẽ đó mà “Các nhà mĩ học đều thừa nhận cái đẹp phát xuất từ tự nhiên Các điệu múa của bầy công, tiếng hát gọi bạn tình của chim chóc, màu sắc, hình dáng của hoa lá, cỏ cây, loài vật … đều được tạo theo nguyên tắc của cái đẹp” [23; 79].

Bên cạnh đó, đời sống sinh hoạt gắn bó mật thiết với tự nhiên còn là liều thuốc hữuhiệu giúp con người quên đi thời gian đang chảy trôi và sức bậc của đồng tiền trong

thời đại đô thị hóa Thể hiện trong tác phẩm Ngơ ngác mùa dưa, là thực trạng xâm lấn

đô thị và người dân dần quên “cái cảm giác đau nhói, rã rời nhìn dưa nứt như pháo nổ khi cận ngày cắt dây lại gặp trận mưa rào…Họ quên rồi Họ bắt đầu những ngày tháng mới, có tiền rủng rỉnh nên thong dong chơi, nghe đâu, nhiều người đâm ra cờ bạc, rượu chè be bét” [37; 149] nhưng vẫn còn sót lại một người đàn ông mà mười bảy

năm nay, ông quen đếm tuổi mình bằng một mùa dưa, đếm ngày qua bằng hai cử tưới,

đếm tháng hết từ những trái dưa chắc nụi nằm cùi cụi, phổng phao trên giồng “Ông không thể nhắc lại cái cảm giác mà họ vô tình (hay cố tình?) quên, nỗi vui nhìn hạt nứt mầm, dây soãi bò đan nhau trên mặt đất, hoa rơi từng cánh cho trái thò đầu ra đón nắng, rồi bằng trái chanh, trái cam, rồi bằng trái bóng nhựa, rồi dưa căng mẫy, mọng nước trĩu trên ta” [37; 149] Không có sự tồn tại của tự nhiên, con người như

đánh mất phần thiên tính tốt đẹp của mình, ngay lập tức ngã vào vũng lầy của đời sốngthực dụng và lối ăn chơi sa đọa Bên cạnh đó, khi thế giới phi nhân chưa bị che đậy bởinhững tạp nham của đời sống hiện đại thì cũng là lúc con người cảm nhận vẻ đẹp của

sự sinh sôi nảy nở trong tự nhiên theo cách riêng, tinh tế nhất và mối quan hệ hợp nhấtcũng từ đó mà hài hòa hơn

Dù đang đứng trước thảm trạng tự nhiên do con người gây ra trong quá trình đô thịhóa, song tiếp cận vấn đề ở góc độ khác, chúng ta nhận ra rằng con người đóng vai trò

vô cùng quan trọng trong việc rút ngắn khoảng cách với tự nhiên Khoảng cách đóchính là tư tưởng tự nhiên rộng lớn cần chinh phục và con người chiếm lĩnh tự nhiênvẫn còn ăn sâu trong tiềm thức Tuy nhiên, những hoạch định và bước tiến cụ thể củacon người trong quá trình đô thị hóa không phải lúc nào cũng tạo ra những hạn chế

“Bởi dù gì thì hơi ấm con người đang làm cho đất thức dậy sau gần trăm năm vì sông nước chằng chịt, vì rừng rậm hoang sơ cản đường người ta đi tới Cuồn cuộn theo dấu chân của những gia đình di cư, là xóm chợ xôn xao, những hàng quán mọc lên Đất cuối trời bừng tỉnh, sôi động Những chiếc vỏ lãi cao tốc lướt băng băng trên sóng

Trang 39

làm con đường vốn xa ròng rã gần lại” [37; 18] Nhân loại vẫn rất tự hào, nỗ lực duy

trì và gìn giữ những giá trị vô giá mà mẹ tự nhiên ban tặng trong đời sống vật chấtcũng như đời sống tinh thần Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã thể hiện niềm hạnh phúc đó

thông qua tác phẩm Đất mũi mù xa với những hình ảnh vô cùng ấn tượng: “Tháng tám hội ba khía Tháng chín mùa cua lên bãi Tháng mười hội cá đường Rừng dày rậm rạp, rừng chồm sát mé kinh để níu kéo chút hơi ấm con người Cái hồi mà thiên nhiên

ở đây hào phóng tới mức cha ông chúng tôi chắc lòng chắc dạ tuyên bố với quân thù, chừng nào “Khai Long hết xác cá đường, thì Mũi Cà Mau đó tao nhường cho bây””

[37; 16]

Một trong những điểm làm nên sự nổi bật của Phê bình sinh thái là sự xuất hiện củamẫu hình nhân cách mới Mẫu hình nhân cách mới trong văn xuôi sinh thái được nhậndiện với những nhân vật luôn biết lắng nghe, trân trọng tự nhiên bị thương tổn vàchúng được xem là biểu hiện của mối quan hệ hợp nhất giữa tự nhiên và con người.Tiêu biểu cho sự xuất hiện của mẫu hình nhân cách mới trong sáng tác của nhà văn

Nguyễn Ngọc Tư là điều không hiếm Điển hình như tác phẩm Nước như nước mắt,

mặc dù con nước tới nhanh hơn mọi năm và phải loay hoay, chật vật với đời sống mưusinh nhưng không làm cho chồng Sáu quên đi những thứ thân quen Trên hành trìnhbắt đầu cuộc sống trôi nổi trên sông, anh còn muốn bứng cả cây cỏ quanh nhà theo,nếu có thể nên trên ghe lủ khủ những bụi hành hẹ, sả, vài cây ớt, ít hẹ, ngò om…,

“mấy thứ cỏn con này hay làm chồng Sáo bận lòng” [40; 10] Ở tác phẩm Biển người mênh mông, ông Sáu Đèo luôn khuyên Phi “kiếm thứ dân dã mà nuôi, để nhớ quê, nhớ gốc rễ mình, để đi đâu cũng muốn về nhà Như qua, nhiều lúc phò con bìm bịp nầy như phò bà già vợ vậy mà vui Đi bán ở đâu, lâu lâu ông cũng tạt về nhà, quăng mấy con cá ươn cho “con quỷ sứ”, xong rồi từ giã, “Tía đi nghen” Trời mưa dầm, ông già đội áo đi kiếm cóc, rắn mối cho nó ăn Vui buồn gì cũng tía tía con con” [43; 113].

Đối với ông Sáu Đèo, tình yêu loài vật chưa bao giờ vơi bớt kể cả khi ông gửi con Bìmbịp lại cho Phi để tiếp tục cuộc hành trình của mình

Sự xuất hiện mẫu hình nhân cách mới không chỉ ở nam giới mà có cả nữ giới, ngườigià, trẻ em, nhân vật cô độc, gàn dở, những thân phận bé nhỏ, bên lề, dễ bị tổn thương,những người mất trí khôn, khiếm khuyết hay thờ dại… Minh chứng xác đáng cho luận

điểm này là nhân vật Nương (Cánh đồng bất tận) cảm nhận thế giới phi nhân bằng sức mạnh của tình yêu thương đặc biệt: “xuyên qua những lớp đất bầy nhầy, tôi nghe vịt- của-tôi vẫn còn thoi thóp, chúng hỏi sao tụi-người-ta lại ác Rồi thinh lặng Trong cái

im ắng đến rợn người, tôi nhận ra tiếng của con vịt mù, có lẽ vì không sợ tối nên sự sống kéo dài Rồi ánh nắng nhập nhoạng cuối ngày loang lổ đổ xuống, tôi và Điền khóc hức, cảm nhận được cái thở hướt ngắn dần, ngắn dần của con vịt sau cùng Và nín bặt Và tan hết Chỉ còn gió cười từng tràng dài…Tôi tiếc thôi là tiếc sinh linh nhỏ

bé đã thấu được tim mình” [36; 204] Dù ở tác phẩm Nước như nước mắt, Biển người mênh mông hay Cánh đồng bất tận chúng ta đều nhận thấy rõ mối quan hệ khắng khít,

Trang 40

tương hỗ giữa tự nhiên và con người, dường như nếu đánh mất một trong hai yếu tốđồng nghĩa với việc đánh mất đi sự cân bằng trong mối quan hệ này Nếu con ngườimãi ra sức chinh phục tự nhiên thì chắc chắn sẽ là kẻ thua cuộc trong cuộc chơi vớiđời Việc xây dựng mẫu hình nhân cách mới trong sáng tác còn thể hiện sức ảnhhưởng của học thuyết Phê bình sinh thái đối với người viết trong thời đại khủng hoảngmôi trường

Trong bài Tư duy đồng thoại trong thơ hiện nay Lê Lưu Oanh viết: “Chỉ có trong đối sánh, hòa nhập với thiên nhiên, con người mới trở lại bản chất hồn nhiên trong nhân cách chính mình” [23; 275] Đồng ý với quan điểm này, những “con nghiện rừng” như nhân vật Anh trong tác phẩm Khói trời lộng lẫy khi đứng trước cánh rừng

bị bức tử luôn cảm thấy bứt rứt, dằn vặt, đau đớn và bộc lộ phần còn lại của bản ngã.Tuy rằng trước đó nhân vật đặt để mình ở rất nhiều vị trí cần sự cứng cỏi và nghiêm

khắc nhưng sau cùng: “Anh mướn vai tôi để vùi yếu mềm vào đó” [40; 113] Hơn thế

nữa, dưới cảm quan của nhân vật Di, mẫu của Anh nhiều lần làm cô suýt rớt nước mắt

vì tuyệt vọng bởi vẻ đẹp của những tán rừng lúc nào cũng chực bứt ra khỏi máy móc,

đòi sự sống, đòi hơi thở, đòi không khí trong lành và “nghĩ, nếu ai đó đã yêu đến vậy thì không thể yêu con người nữa” [40; 114].

Tóm lại, hưởng ứng khuynh hướng phê bình mới, các sáng tác của nhà văn NguyễnNgọc Tư có chiều hướng biểu hiện thái độ từ bỏ tinh thần “tước đoạt” đối với tự nhiên,

đó được xem là một bước dài xác lập từ mối quan hệ trống trị sang bình đẳng, hài hòa

và hợp nhất Phê bình sinh thái thông qua văn học nhằm khơi gợi bản tính tốt đẹp từsâu bên trong tâm hồn con người, đồng thời, xây dựng và giáo dục ý thức môi sinh.Khi tình yêu trong mối quan hệ khắng khít giữa tự nhiên và con người được hồi sinh,nảy nở và vượt qua khỏi giới hạn, ắt sẽ giúp ích rất nhiều trong việc giải quyết các vấn

đề môi trường sinh thái

2.2 Đề cao vai trò của tự nhiên trong đời sống tinh thần của con người

Từ xa xưa, cha ông ta đã biết dựa vào tự nhiên để sinh sống, biểu hiện ở việc conngười dựa vào hiện tượng tự nhiên để đúc kết những bài học kinh nghiệm trong laođộng sản xuất:

“Tháng bảy kiến bò, chỉ lo lại lụt”

“Kiến đen tha trứng lên cao Thế nào cũng có mưa rào rất to”

“Mặt trăng có quầng thì hạn Mặt trời có tán thì mưa”

Ngày đăng: 14/12/2020, 14:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2004
3. Trần Hữu Dũng (2004), Nguyễn Ngọc Tư, đặc sản miền nam, http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:http://www.viet-studies.net/NNTu/NNTu_THD.htm, ngày truy cập 09/10/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Tư, đặc sản miền nam
Tác giả: Trần Hữu Dũng
Năm: 2004
4. Trần Hữu Dũng (2005), Về Cà Mau thăm Nguyễn Ngọc Tư, http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:http://www.viet-studies.net/NNTu/ThamNNTu_THDung.htm, ngày truy cập 09/10/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về Cà Mau thăm Nguyễn Ngọc Tư
Tác giả: Trần Hữu Dũng
Năm: 2005
5. Trần Hữu Dũng (2012), Nguyễn Ngọc Tư và Sông, http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:http://www.viet-studies.net/NNTu/THDung_DocSong.html, ngày truy cập 10/06/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Tư và Sông, "http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:http://www.viet-studies.net/NNTu/THDung_DocSong.htm
Tác giả: Trần Hữu Dũng
Năm: 2012
6. Đoàn Ánh Dương (2013), Không gian văn học đương đại (phê bình vấn đề và hiện tượng văn học), Tạp chí sông Hương, số 310 (T12-14) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian văn học đương đại (phê bình vấn đề và hiện tượng văn học)
Tác giả: Đoàn Ánh Dương
Năm: 2013
7. Đặng Anh Đào (2009), Thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Tạp chí khoa học, Đại học Huế, số 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Tác giả: Đặng Anh Đào
Năm: 2009
8. Eldon D.Enger, Bradley F.Smith (2008), Tìm hiểu môi trường, (Chương Ngọc dịch Việt), NXB Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu môi trường
Tác giả: Eldon D.Enger, Bradley F.Smith
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 2008
9. Findhorn, Câu chuyện khu vườn Findhorn, (nhóm Huongclass dịch Việt), NXB Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu chuyện khu vườn Findhorn", (nhóm Huongclass "dịch Việt
Nhà XB: NXB Tri thức
10. Michel Foucault (2012), Thế nào là tác giả?, (Nguyễn Phương Ngọc dịch tiếng Việt), https://phebinhvanhoc.com.vn/the-nao-la-tac-gia/, ngày truy cập 10/06/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế nào là tác giả
Tác giả: Michel Foucault
Năm: 2012
11. Thoại Hà (2018), Giá trị của nhà văn không phải ở giải thưởng, https://vnexpress.net/giai-tri/nguyen-ngoc-tu-gia-tri-cua-nha-van-khong-phai-o-giai-thuong-3779930.html, ngày truy cập 10/06/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị của nhà văn không phải ở giải thưởng
Tác giả: Thoại Hà
Năm: 2018
12. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1997), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
13. Nguyễn Thị Hồng Hạnh (Chủ biên), Bùi Thanh Thảo (2016), Giáo trình Tiến trình văn học, NXB Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tiến trình văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Hạnh (Chủ biên), Bùi Thanh Thảo
Nhà XB: NXB Đại học Cần Thơ
Năm: 2016
14. Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương (1999), Lý luận văn học vấn đề và suy nghĩ, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học vấn đề và suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
15. Phạm Ngọc Hiền (2018), Thi pháp học, NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp học
Tác giả: Phạm Ngọc Hiền
Nhà XB: NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2018
16. Đỗ Văn Hiểu (2012), Phê bình sinh thái – khuynh hướng nghiên cứu văn học mang tính cách tân, Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, ISN: 1859-0128, T.15, S. 2X, 2012, tr 18-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình sinh thái – khuynh hướng nghiên cứu văn học mang tính cách tân
Tác giả: Đỗ Văn Hiểu
Năm: 2012
17. Đỗ Văn Hiểu (2016), Tính “khả dụng” của Phê bình sinh thái, Tạp chí Lí luận Phê bình Văn học Nghệ Thuật, ISN 0866-7349, số 49, 9-2016, tr50-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính “khả dụng” của Phê bình sinh thái
Tác giả: Đỗ Văn Hiểu
Năm: 2016
18. Đỗ Văn Hiểu, Phê bình sinh thái – cội nguồn và sự phát triển, https://phebinhvanhoc.com.vn/phe-binh-sinh-thai-coi-nguon-va-su-phat-trien-phan-1-2/, ngày truy cập 10/7/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình sinh thái – cội nguồn và sự phát triển
19. Hoài Hương (2008), Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư: “Viết những gì ám ảnh, thú vị, tự tin”, http://thvl.vn/trang-van-nghe/nha-van-nguyen-ngoc-tu-viet-nhung-gi-am-anh-thu-vi-tu-tin/, ngày truy cập 12/06/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư: “Viết những gì ám ảnh, thú vị, tự tin”
Tác giả: Hoài Hương
Năm: 2008
21. Sơn Nam (1997), Cá tính miền Nam, NXB Trẻ, T.P Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá tính miền Nam
Tác giả: Sơn Nam
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 1997
22. Nguyên Ngọc (2005), Nguyên Ngọc: Còn nhiều người cầm bút rất có tư cách, https://vietnamnet.vn/nhandinh/2005/11/506921/, ngày truy cập 12/06/2019 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w