Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Những nghiên cứu về văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư
Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn trẻ có khối lượng tác phẩm xuất bản ấn tượng trong thời gian ngắn, góp mặt trong nhiều thể loại như truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, tạp văn và thơ Mỗi khi ra mắt tác phẩm mới, cô đều thu hút những ý kiến trái chiều từ báo chí, phản ánh sự đa dạng trong đánh giá về phong cách và nội dung sáng tạo của nàng Sự giới thiệu sớm nhất về Nguyễn Ngọc Tư nổi bật qua bài viết của GS Nguyễn Hữu Dũng năm 2006, gọi cô là “đặc sản miền Nam,” thể hiện sự đánh giá cao về dấu ấn riêng của cô trong văn học Việt Nam Ngoài ra, tác giả Trần Phỏng Diều cũng nhận xét về thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư qua bài viết đăng trên báo Văn nghệ quân đội số 6/2006, góp phần minh chứng cho sức ảnh hưởng và vị trí đáng chú ý của cô trong làng văn hiện đại.
Công Tín chia sẻ những nhận xét và đánh giá về bài viết của Nguyễn Ngọc Tư, nhà văn trẻ đến từ miền Nam Bộ, thể hiện sự quan tâm tới phong cách sáng tác của cô Nhiều nhà nghiên cứu đã phân tích các khía cạnh trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, đặc biệt là mô tả không gian sông nước, như trong bài viết của Thụy Khê trên www.Viet-studias Ngoài ra, hình tượng con người cô đơn trong các truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư cũng được Phạm Thái Lê phân tích sâu sắc, giúp làm rõ hơn những tầng ý nghĩa trong tác phẩm của cô.
(Văn nghệ quân đội); Nguyễn Ngọc Tư, một nhà văn viết về thân phận con người của tác giả Huỳnh Kim (www.thannien.com, 29/10/2014); Nguyễn Ngọc
Tư phiêu dạt với Đảo của Tiểu Quyên (www.nld.com.vn, 29/10/2014), v.v
Nhiều khóa luận, luận văn tại các trường đại học đã bắt đầu lựa chọn truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư làm đề tài nghiên cứu chính Ví dụ tiêu biểu là luận văn của Nguyễn Thành Ngọc Bảo về đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, thể hiện sự đánh giá cao về ảnh hưởng và đặc trưng phong cách của tác giả trong văn học Việt Nam Việc này cho thấy sự quan tâm ngày càng tăng đối với tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư trong cộng đồng học thuật và nghiên cứu văn học.
Trường ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh đã nghiên cứu về đặc điểm sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, nhấn mạnh phong cách độc đáo và nét riêng trong các tác phẩm của tác giả (2008) Nguyễn Thị Phương tại Đại học Đà Nẵng đã phân tích sâu về các đặc điểm sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, giúp làm rõ những yếu tố tạo nên sự thành công của cô trong lĩnh vực văn học (2012) Bên cạnh đó, Trường đại học KHXH đã khảo sát nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, đặc biệt nhấn mạnh cách tác giả xây dựng nhân vật và câu chuyện để tạo nên sức hút đặc biệt cho tác phẩm (Chương trình nghiên cứu).
Nguyễn Ngọc Tư là tác giả có nhiều đóng góp đáng chú ý trong lĩnh vực văn học Việt Nam, với các tác phẩm như tiểu thuyết Sông và tập thơ Chấm đã được giới thiệu rộng rãi trên các báo in và báo mạng Các công trình nghiên cứu về đặc điểm sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, như của Nguyễn Thị Phương tại Đại học KHXH&NV, đã phân tích sâu về phong cách và thế giới biểu tượng trong văn xuôi của cô Ngoài ra, các bài viết khoa học tại đại học như Đại học Đà Nẵng cũng đã góp phần làm rõ hơn về những đặc trưng nghệ thuật và nội dung sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, giúp độc giả hiểu rõ hơn về giá trị và ý nghĩa của các tác phẩm của cô trong văn học hiện đại Việt Nam.
2.2 Những nghiên cứu về tạp văn Nguyễn Ngọc Tư
Nguyễn Ngọc Tư nổi bật với các tác phẩm tạp văn và tản văn, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn học Việt Nam Đến nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu hệ thống về tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, để lại nhiều cơ hội cho các nhà nghiên cứu khai thác từ các góc nhìn khác nhau Các bài viết ngắn như "Nhân đọc một tản văn của Nguyễn Ngọc Tư" của Đỗ Xuân Tê hay "Tạp bút Nguyễn Ngọc Tư: những mảnh nhớ cũ" đã góp phần giới thiệu phần nào về phong cách và nội dung sáng tác của tác giả Tạp văn của Nguyễn Ngọc Tư vẫn còn là miền đất trống cho các nghiên cứu sâu hơn, nhằm khám phá giá trị văn học đặc sắc và cảm xúc chân thật trong các tác phẩm của cô.
Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các đặc điểm về từ ngữ và câu văn trong tạp văn của Nguyễn Ngọc Tư
Chúng tôi đặt ra cho luận văn phải giải quyết những vấn đề dưới đây:
- Tìm hiểu những đặc điểm nổi bật về từ ngữ trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư
- Tìm hiểu những đặc điểm nổi bật về câu văn trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư
Luận văn phân tích và giải thích các đặc điểm về cách dùng từ ngữ và câu văn trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, qua đó làm nổi bật những nét riêng biệt trong phong cách ngôn ngữ của nhà văn Các câu văn của Nguyễn Ngọc Tư thể hiện sự tinh tế trong lựa chọn từ ngữ, mang đến cảm xúc chân thật và gần gũi Phong cách ngôn ngữ của cô thể hiện rõ nét qua cách sử dụng câu văn giản dị, mộc mạc nhưng vẫn đầy chất trữ tình, tạo nên dấu ấn riêng trong văn chương Việt Nam Luận văn giúp làm rõ những đặc điểm nổi bật trong phong cách ngôn ngữ của Nguyễn Ngọc Tư, góp phần nâng cao hiểu biết về nghệ thuật viết tạp văn của nhà văn này.
Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Tư liệu khảo sát là các bài tạp văn trong Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2012
4.2 Phương pháp nghiên cứu Để triển khai các nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi sử dụng những phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau đây:
- Dùng phương pháp thống kê, phân loại: thống kê, phân loại từ ngữ và câu văn trong tác phẩm trên các phương diện cấu tạo, ngữ nghĩa
Trong quá trình phân tích tổng hợp, chúng tôi dựa trên các cứ liệu thu thập được để phân tích và miêu tả những nét đặc trưng trong cách sử dụng từ ngữ và câu văn của Nguyễn Ngọc Tư Phương pháp này giúp làm sáng rõ các đặc điểm nổi bật trong tạp văn của tác giả, từ đó rút ra những nhận định mới về phong cách sáng tạo của cô Việc áp dụng thủ pháp phân tích tổng hợp không những giúp hiểu rõ hơn về kỹ thuật viết của Nguyễn Ngọc Tư mà còn nâng cao khả năng nhận diện các yếu tố ngôn ngữ góp phần tạo nên sự đặc sắc trong tác phẩm.
Để hiểu rõ hơn về phong cách ngôn ngữ của Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta thực hiện phương pháp đối chiếu văn bản, so sánh ngôn ngữ tạp văn của bà với các tác giả cùng thời Phương pháp này giúp nhận diện rõ nét cá tính riêng biệt trong ngôn ngữ của Nguyễn Ngọc Tư và làm nổi bật những điểm đặc trưng trong sáng tạo văn học của bà Việc đối chiếu không chỉ giúp khám phá đặc điểm phong cách mà còn góp phần khẳng định vị trí của Nguyễn Ngọc Tư trong nền văn học Việt Nam hiện đại.
Đóng góp của đề tài
Đề tài nghiên cứu đặc điểm từ ngữ và câu trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn ngôn ngữ học giúp làm sáng tỏ nét độc đáo và sáng tạo trong cách sử dụng từ ngữ và câu văn của tác giả Các kết quả của nghiên cứu góp phần nâng cao hiểu biết về đặc điểm ngôn ngữ của thể loại tạp văn nói riêng và phong cách ngôn ngữ văn xuôi của Nguyễn Ngọc Tư nói chung Phân tích hệ thống từ ngữ và cấu trúc câu của Nguyễn Ngọc Tư cho thấy sự tinh tế và độc đáo trong ngôn ngữ sáng tác của cô, qua đó giúp người đọc nhận diện rõ nét phong cách riêng biệt của nhà văn.
Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung luận văn triển khai thành ba chương:
Chương 1 giới thiệu một số giả thuyết quan trọng liên quan đến đề tài nghiên cứu, góp phần làm rõ nội dung chính và phạm vi phân tích Trong Chương 2, bài viết tập trung phân tích cách sử dụng từ ngữ trong các tác phẩm tạp văn của Nguyễn Ngọc Tư, giúp làm nổi bật phong cách và đặc trưng ngôn ngữ của tác giả Chương 3 đề cập đến đặc điểm câu văn trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, giúp nhận diện các cấu trúc câu và phương thức thể hiện ý tưởng độc đáo của nhà văn này Những nội dung này đều hướng đến việc làm rõ đặc trưng phong cách viết của Nguyễn Ngọc Tư trong thể loại tạp văn, đồng thời nâng cao hiệu quả SEO cho bài viết.
MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Thể loại ký trong văn học
1.1.1 Sự hình thành và phát triển của thể ký
Ký là một thể loại văn học trung gian giữa báo chí và văn học, có vai trò quan trọng trong lịch sử văn học nhân loại và Việt Nam Ra đời từ rất sớm, nhưng phát triển mạnh mẽ sau thế kỷ XIX nhờ sự xuất hiện của công nghệ in ấn và báo chí; thể loại này đã trở thành biểu tượng trong văn học Việt Nam, với nhiều tác phẩm bằng chữ quốc ngữ như du ký của Nguyễn Văn Vĩnh, Tản Đà, Phan Kế Bính… Trong những giai đoạn khác nhau của thế kỷ XX, ký xuất hiện dưới nhiều dạng như du ký, phóng sự và tùy bút, thể hiện rõ vai trò trong phản ánh đời sống xã hội Sau Cách mạng tháng Tám, ký vẫn giữ vững vị thế trong văn học hiện đại Việt Nam, phản ánh những biến đổi lớn của cuộc sống qua các giai đoạn chiến tranh và thời kỳ đổi mới Thể loại này giúp nhà văn tái hiện hiện tượng mới, khắc họa chân thực đời sống, đồng thời trở thành vũ khí xung kích trong các trận đánh chống thực dân và đế quốc Mỹ Sau năm 1975, ký tiếp tục thể hiện vai trò trong việc phản ánh hiện thực hậu chiến, qua các tác phẩm tự truyện và các vấn đề xã hội, kinh tế, văn hóa của đất nước Nhờ đó, ký trở thành một phần không thể thiếu trong sự phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại.
Tô Hoài, Anh Thơ, Sơn Nam,…)
Ký là thể loại văn học tự sự, giàu biểu cảm, nhạy bén và cập thời Nó thể hiện cuộc sống trong trạng thái trôi chảy, vận động, phản ánh những bước ngoặt lịch sử và khúc quanh của thời đại Nhờ đặc điểm này, ký đã phát huy sức mạnh của mình để ghi lại và thể hiện những biến chuyển quan trọng của cuộc sống và lịch sử.
Trong các thể loại văn học, ký là thể loại vẫn gây nhiều tranh cãi về đặc điểm, định nghĩa và vai trò của nó trong văn học Nhiều ý kiến cho rằng ký là thể loại ghi chép mang tính chân thực cao, phản ánh đời sống và nhân vật một cách sinh động, đồng thời đặt câu hỏi về mối liên hệ giữa ký và các thể loại văn học khác như tùy bút, báo chí và truyện ngắn Các dạng biểu hiện của ký rất đa dạng, từ ký sự, nhật ký, bút tích, đến ký báo chí, giúp thể hiện chân thực các sự kiện và cảm xúc Do đó, việc phân biệt ký văn học và ký báo chí cũng là vấn đề được tranh luận nhiều trong giới nghiên cứu văn học.
Ký bao gồm nhiều thể chủ yếu dưới dạng văn xuôi tự sự như bút ký, hồi ký, du ký, nhật ký, phóng sự, tuỳ bút và hồi ký tự truyện, là dạng văn học phản ánh các hiện tượng xã hội bằng nghệ thuật cô đọng và kịp thời Trong văn học hiện đại, tản văn bao gồm các thể ký, tuỳ bút, văn tiểu phẩm, văn chính luận, tạp văn, ngụ ngôn, chân dung văn học, trong đó tạp văn là dạng văn xuôi thuộc thể ký, thường có nội dung chính trị, mang tính phản ánh và chiến đấu mạnh mẽ Các tác giả cũng xác định rằng ký, du ký, phóng sự, tuỳ bút và tạp văn nằm trong thể loại tản văn, nhằm thể hiện các ý tưởng, cảm xúc, phản ánh xã hội một cách linh hoạt và nghệ thuật Theo các nhà văn học Việt Nam thế kỷ XX, ký là hình thức văn học gồm nhiều thể, chủ yếu viết bằng văn xuôi, phản ánh thực tiễn cuộc sống qua các loại hình như bút ký, hồi ký, du ký, nhật ký, phóng sự, ký sự, tự truyện, tạp văn và bút ký chính luận.
Tạp văn và ngôn ngữ tạp văn
Tạp văn là một khái niệm vẫn chưa được định nghĩa rõ ràng, có điểm tương đồng với các thuật ngữ như tản văn, tạp bút, bút ký hay tạp cảm Hiện nay, nhiều nhà văn, nhà lý luận văn học và nhà ngôn ngữ học đã đưa ra các giải thích khác nhau về khái niệm này, nhưng chưa đi đến sự thống nhất Các tác giả có chỗ đứng trên văn đàn như Đỗ Trung Quân, Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Ngọc Tư, Phan Thị Vàng Anh (Thảo Hảo), Nguyễn Việt đều tiếp cận với tạp văn theo nhiều góc độ khác nhau, góp phần làm phong phú thêm khái niệm này.
Mỗi tác giả như Hà, Trần Nhã Thụy, Hồ Anh Thái, Dạ Ngân đều để lại dấu ấn riêng trong thể loại này, thể hiện phong cách sáng tạo độc đáo và diện mạo riêng biệt, góp phần làm phong phú và đa dạng thêm cho nền văn học.
Tạp văn là thể loại tản văn trong văn học Trung Quốc, chủ yếu thiên về nghị luận nhưng cũng giàu ý nghĩa văn học, phản ánh các vấn đề xã hội, lịch sử, văn hóa và chính trị một cách ngắn gọn, linh hoạt và đa dạng Theo các soạn giả trong Từ điển văn học, tạp văn thường là những bài luận ngắn, có tính luận chiến cao và thể hiện quan điểm rõ ràng, sắc sảo về các vấn đề bức xúc của xã hội Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý cũng xác định rằng tạp văn gồm nhiều thể tài linh hoạt như đoản thiên, tiểu phẩm, tùy bút, thể hiện khả năng phản ánh nhanh nhạy các vấn đề thời sự và xã hội.
Tạp văn là những tác phẩm văn học ngắn tập trung phản ánh các vấn đề chính trị và mang tính chiến đấu mạnh mẽ Chúng vừa có tính chính luận sắc bén, vừa thể hiện nét nghệ thuật cô đọng, phản ánh và bình luận nhanh chóng các hiện tượng xã hội Theo từ điển thuật ngữ văn học, tạp văn đóng vai trò quan trọng trong việc đấu tranh tư tưởng và phản ánh thực tiễn xã hội một cách súc tích, sinh động.
Trong bài "Kí trên hành trình đổi mới", nhà nghiên cứu Đỗ Hải Ninh chia sẻ quan điểm về tạp văn, xem nó như một dạng nhỏ của tản văn Theo ông, tản văn là thể loại ngắn gọn, hàm súc, có khả năng khám phá đời sống một cách bất ngờ và thể hiện trực tiếp tư duy, cảm xúc của tác giả Điều này bao gồm cả tạp văn, tùy bút và văn tiểu phẩm, góp phần làm phong phú thêm các dạng văn học phản ánh cuộc sống và tâm lý người viết.
Lỗ Tấn, nhà văn Trung Quốc xuất sắc, nhấn mạnh rằng tạp văn không phải là thể loại mới mà đã tồn tại từ xưa Ông giải thích rằng trong văn chương, các thể loại đều có thể được phân loại rõ ràng, nhưng tạp văn là dạng tổng hợp của nhiều yếu tố khác nhau, vì thế gọi là "tạp" Điều này cho thấy giá trị của tạp văn trong văn học Trung Quốc và tầm ảnh hưởng của Lỗ Tấn trong việc phát huy thể loại này.
Tạp văn vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất do có nhiều cách hiểu và lý giải khác nhau về thể loại này Điều này cho thấy khái niệm tạp văn vẫn còn chưa rõ ràng và dễ bị nhầm lẫn với các thể loại văn học khác Tuy nhiên, có thể xác định một số đặc điểm nổi bật của tạp văn như là thể loại có tính chất tự do, phản ánh suy nghĩ, cảm xúc của tác giả một cách linh hoạt.
Tạp văn là thể loại văn xuôi ngắn gọn, súc tích, khám phá những khoảnh khắc đời sống bất ngờ, độc đáo, đậm dấu ấn cá nhân Phần lớn, tạp văn kết hợp nhiều thể loại như cảm nhận, bút ký, nhật ký, hồi ức, tạo nên đặc trưng "tạp" của thể loại này Tuy nhiên, tạp văn không chỉ đơn thuần là sự pha trộn các thể loại mà còn sở hữu những nét riêng biệt, giàu chất văn, phản ánh sâu sắc cảm xúc và suy nghĩ của tác giả.
Thứ hai, tạp văn thiên về nghị luận sắc bén nhưng giàu tính nghệ thuật
Tạp văn thường có ít nhân vật và kết cấu các tình tiết, sự kiện không phức tạp như các thể loại văn học khác như truyện hay tiểu thuyết Nội dung của tạp văn rất phong phú và đa dạng, có thể là những việc nhỏ nhặt, những hồi ức vu vơ hoặc những tâm tư lan man Ngoài ra, tạp văn còn phản ánh các vấn đề trong đời sống hàng ngày, kể cả những vấn đề chính trị như cán bộ địa phương nhũng nhiễu, hách dịch với người dân.
Thứ ba, tạp văn được biết đến với sự linh hoạt trong cách thể hiện và phản ánh nhanh nhạy các vấn đề có tính thời sự Loại hình này đáp ứng nhu cầu thưởng thức đa dạng của độc giả hiện đại, mang lại những góc nhìn mới mẻ và cập nhật nhất về các sự kiện nóng hổi trong cuộc sống.
1.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ tạp văn 1.2.2.1 Ngôn ngữ nghệ thuật
Mỗi loại hình nghệ thuật sử dụng một loại chất liệu riêng biệt, ví dụ như hội họa với đường nét và màu sắc, âm nhạc với âm thanh và tiết tấu, còn văn học dựa trên ngôn ngữ như là chất liệu cốt lõi Văn học là một nghệ thuật đặc trưng bởi khả năng sử dụng ngôn ngữ để truyền tải cảm xúc và ý tưởng sâu sắc Không có ngôn ngữ, sẽ không thể hình thành hoặc phát triển văn học, như M Gorky đã khẳng định: “Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ”.
M Bakhtin lưu ý: “Bàn đến lời văn, tức là ngôn ngữ trong tính toàn vẹn cụ thể và sinh động của nó” Ngôn từ nghệ thuật cũng được bắt nguồn từ ngôn ngữ chung (ngôn ngữ toàn dân) nhưng trải qua quá trình chắt lọc, gọt dũa, tái tạo dưới bàn tay tài hoa của người nghệ sĩ nên không còn là ngôn ngữ “chết cứng trong từ điển” mà trở thành một thứ ngôn từ nghệ thuật Điều này thể hiện rất rõ ở cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà văn Ngôn ngữ nghệ thuật vừa là công cụ của tư duy, vừa là ngôn từ mang tính hình tượng từ trong bản chất Từ ngữ không chỉ là những khái niệm trừu tượng mà còn là hình ảnh của thế giới khách quan, là “hiện thực trực tiếp của tư duy” như Mác đã nói
Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ do nhà văn sử dụng trong sáng tạo nghệ thuật, nhằm xây dựng một hệ thống ngôn ngữ đặc biệt vượt lên trên ngôn ngữ tự nhiên theo quan điểm của I.M Lotman Theo ông, ngôn ngữ nghệ thuật được hình thành từ ngôn ngữ tự nhiên qua quá trình chọn lọc, chỉnh sửa để tạo ra dấu ấn cá nhân và mang đặc điểm riêng biệt Ngôn từ trong văn bản nghệ thuật không chỉ khác về mặt ranh giới ký hiệu mà còn về bản chất của khái niệm ký hiệu Trong khi đó, theo Đinh Trọng Lạc, “ngôn ngữ phi nghệ thuật” tương đồng với ngôn ngữ tự nhiên, là hệ thống tín hiệu dùng để biểu đạt suy nghĩ, cảm xúc của con người một cách cảm tính qua từ ngữ, phát ngôn Như vậy, ngôn ngữ nghệ thuật có phạm vi hẹp hơn ngôn ngữ phi nghệ thuật, và chính nó được sinh ra từ ngôn ngữ tự nhiên để tạo thành hệ thống mã ngôn ngữ thứ hai Sau khi ra đời, ngôn ngữ nghệ thuật có thể tham gia trở lại ngôn ngữ toàn dân, góp phần làm giàu và phong phú, đẹp hơn ngôn ngữ chung.
Trong cuốn "Lý luận văn học", Phương Lựu nhấn mạnh rằng "Văn học là nghệ thuật ngôn từ, song không phải là ngôn từ lôgic chỉ tác động chủ yếu vào lý tính như trong chính trị, triết học, Mà là ngôn từ giàu hình ảnh và tình cảm, tác động chủ yếu vào tâm hồn người đọc." Điều này cho thấy đặc trưng của văn học là khả năng kích thích cảm xúc và hình ảnh tâm trí người đọc thông qua ngôn từ nghệ thuật Phương Lựu còn khẳng định rằng "Đặc trưng của văn học với tư cách là một hình thái ý thức xã hội thẩm mỹ phải là cơ sở đặc trưng cho văn học với tư cách là một loại hình nghệ thuật." Nhấn mạnh này giúp hiểu rõ vai trò và đặc điểm của văn học trong đời sống xã hội và nghệ thuật.
Ngôn từ nghệ thuật là một hiện tượng nghệ thuật thể hiện qua tính hình tượng của ngôn từ Nó còn được thể hiện qua nhãn quan và các loại hình ngôn từ văn học như sử thi và tiểu thuyết, cũng như qua thi pháp ngôn từ trên các cấp độ ngôn ngữ từ và cụm từ, cú pháp Bên cạnh đó, thi pháp ngôn từ còn thể hiện ở cấp độ hình thức nghệ thuật, ví dụ như lời trực tiếp của nhân vật và lời gián tiếp, tạo nên vẻ đẹp và tính biểu cảm đặc trưng của ngôn từ nghệ thuật.
Nguyễn Ngọc Tư và Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư
1.3.1 Tác giả Nguyễn Ngọc Tư
Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976, là nhà văn nữ trẻ tuổi với những nét đặc trưng của một người phụ nữ dung dị, bình thường nhưng kiên cường và bản lĩnh Sinh ra tại Bạc Liêu, cô lớn lên tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau từ khi mới bốn tuổi Theo nhận xét trên trang web http://www.viet-studíes.ifo/NNTu/, Nguyễn Ngọc Tư sống gần gũi với gia đình, có truyền thống gia đình là bộ đội trong chiến tranh chống Mỹ, thể hiện rõ nét nghị lực và bản lĩnh vượt qua khó khăn.
Nguyễn Ngọc Tư vốn là học sinh giỏi văn của trường Phan Ngọc Hiển nhưng từ nhỏ chưa bao giờ nghĩ mình sẽ trở thành nhà văn Hiện tại, cô vẫn giữ thái độ kín tiếng và chưa xác định rõ hướng đi của sự nghiệp Thế nhưng, hành trình trưởng thành của Nguyễn Ngọc Tư đã trải qua nhiều thử thách và sự thay đổi để trở thành một tác giả nổi bật trong làng văn Việt Nam.
Tư vốn sinh ra trong gia đình nghèo khó, nhưng những trải nghiệm về thiếu thốn và cuộc sống gian khổ cùng ông ngoại đã trở thành nguồn cảm hứng đặc biệt Nhờ những khó khăn này, chị phát triển đam mê viết văn để thể hiện câu chuyện cuộc đời và chia sẻ những suy nghĩ chân thật Kinh nghiệm sống trong quá trình thiếu thốn chính là yếu tố quan trọng giúp chị gặt hái thành công trong lĩnh vực sáng tác.
Hiện nay, chị là nhà văn trẻ của Hội nhà văn Việt Nam Nguyễn Ngọc
Nguyễn Ngọc Tư là một hiện tượng văn học độc đáo, thu hút sự quan tâm của đông đảo bạn đọc nhờ vào những tác phẩm đặc sắc thuộc nhiều thể loại khác nhau Sự có mặt của chị đã mang đến luồng gió mới, làm sinh động văn xuôi đương đại Việt Nam và tạo nên sức sống mới cho nền văn học nước nhà Với các tác phẩm tạp văn, tản văn đăng trên các tạp chí, Nguyễn Ngọc Tư đã trở thành gương mặt quen thuộc và góp phần định hình phong cách viết đặc trưng của văn học hiện đại Việt Nam.
Nguyễn Ngọc Tư là tác giả có phong cách sáng tác đa dạng và phong phú, với các thể loại như tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký, tản văn, tạp bút và nhiều dạng viết khác Năm 1996, tác phẩm truyện ngắn đầu tay của chị, “Đổi thay”, chính thức được đăng tải trên Tạp chí Văn nghệ Cà Mau, mở đầu cho sự nghiệp sáng tác nổi bật của cô.
Nguyễn Ngọc Tư là tác giả nổi bật với tập truyện ngắn "Ngọn đèn không tắt," đạt giải Nhất sáng tác Văn học tuổi 20 lần 2 của Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh Tác phẩm của bà đã góp phần khẳng định tên tuổi trong làng văn học Việt Nam, thu hút sự chú ý của độc giả yêu thích thể loại truyện ngắn Bằng tài năng sáng tạo, Nguyễn Ngọc Tư đã để lại dấu ấn ấn tượng qua các tác phẩm mang đậm dấu ấn cá nhân và phản ánh cuộc sống đời thường.
Nguyễn Ngọc Tư là tác giả nổi bật của văn học Việt Nam với nhiều tác phẩm để đời Ngoài những truyện đăng chung cùng các tác giả khác trong tuyển tập, cô đã khẳng định tên tuổi qua các tác phẩm sáng tạo riêng biệt Tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư không chỉ ghi dấu trong lòng độc giả mà còn góp phần nâng cao vị thế của văn học miền Nam trên bản đồ văn hóa Việt Nam.
Nguyễn Ngọc Tư đã khẳng định tên tuổi và tài năng của mình qua các tác phẩm nổi bật như "Biển trời mênh mông" (nxb Kim Đồng, 2003), "Giao thừa" (nxb Trẻ, 2003), và truyện ngắn tập "Cánh đồng bất tận" (nxb Trẻ, 2005) Tập truyện này đã gây tiếng vang lớn và đánh dấu bước ngoặt trong sự nghiệp văn học của chị, khẳng định vị trí của Nguyễn Ngọc Tư trong làng văn Việt Nam.
Nguyễn Ngọc Tư nổi bật với khả năng viết tạp văn, thể hiện sự tinh tế và sâu sắc qua các tác phẩm của mình Trong sự nghiệp sáng tác, cô đã cho ra mắt cuốn tạp văn đáng chú ý mang tên Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, xuất bản bởi Nhà xuất bản Trẻ Đây là dấu mốc quan trọng thể hiện phong cách viết chân thực, cảm xúc chân thành và chiều sâu tư duy của tác giả trong lĩnh vực tản văn.
Từ năm 2005, tác giả đã tổng hợp các bài viết đã đăng trên các tạp chí, thể hiện sự đóng góp đáng kể trong lĩnh vực văn chương Năm 2007, chị ra mắt tập tạp văn "Ngày mai của những ngày mai", mở đầu cho chuỗi tác phẩm gắn liền với phong cách viết chân thực và sâu sắc Sau đó, chị tiếp tục cho ra đời các tập sách nổi bật như "Biển của mỗi người" (2008) và "Yêu người ngóng núi" (2010), thể hiện sự sáng tạo không ngừng và khả năng phản ánh rõ nét cuộc sống, cảm xúc qua lăng kính văn học.
Nguyễn Ngọc Tư nổi bật với phong cách văn xuôi nhẹ nhàng, chân thực và mộc mạc, thể hiện từ trái tim trong sáng Tài năng sử dụng ngôn ngữ Nam Bộ đặc trưng của cô giúp cô tạo nên phong cách riêng biệt, không nhầm lẫn với bất kỳ nhà văn nào khác GS Trần Hữu Dũng đánh giá cao đặc sản miền Nam qua những sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, xem đó là nét đặc trưng không thể lẫn lộn trên văn đàn Việt Nam.
Công Tín với bài viết Nguyễn Ngọc Tư - nhà văn trẻ Nam bộ trên trang Web
Văn nghệ Sông Cửu Long dành lời khen xứng đáng cho Nguyễn Ngọc Tư về tài năng sáng tác của chị Ông đánh giá cao khả năng xây dựng không gian văn hóa đặc trưng của miền Nam Bộ trong các tác phẩm, khi tạo nên hình ảnh vùng đất và con người Nam Bộ bằng chính ngôn từ và văn phong đậm chất Nam Bộ.
Nguyễn Ngọc Tư đang tiến bộ rõ rệt trong sự nghiệp sáng tác, cho thấy tài năng của cô ngày càng trưởng thành và phát triển Với khả năng bắt kịp các đàn anh, đàn chị trong giới văn học, cô chứng minh mình là một gương mặt tiềm năng đầy triển vọng Tài năng của Nguyễn Ngọc Tư không chỉ là kết quả của quá trình rèn luyện và tu dưỡng nghiêm túc, mà còn có yếu tố thiên phú tự nhiên giúp cô tạo nên những tác phẩm sâu sắc và độc đáo.
1.3.2 Nguyễn Ngọc Tư và tạp văn
Nguyễn Ngọc Tư khởi đầu sáng tác với thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn, thể hiện rõ nét qua các tác phẩm đầu tay Về sau, chị chuyển hướng sáng tác sang các thể loại mới như bút ký, tạp bút, tản văn, góp phần làm đa dạng phong cách và chủ đề nghệ thuật Các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư luôn được xuất bản đều đặn trên các báo uy tín, chứng tỏ sức sáng tạo và nội lực vững chắc của nữ tác giả Nổi bật trong số đó là các cuốn sách như "Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư" (2006), "Ngày mai của những ngày mai" (2007), "Yêu người ngóng núi" (2009), đã gây tiếng vang lớn trong giới văn học và nhận được sự đón nhận tích cực từ độc giả.
Nguyễn Ngọc Tư trong tập tạp văn của mình thể hiện những cảm xúc chân thật qua các câu chuyện kể về một ký ức xa xưa, những quán ven sông hay những trăn trở về nghề làm báo, viết văn Đọc tác phẩm của chị, chúng ta dễ dàng cảm nhận được nỗi đau và thân phận của con người, đặc biệt là những người nông dân trong vùng quê nghèo khó luôn chịu đựng cảnh nghèo đeo bám suốt đời Những câu chuyện đó phản ánh sự gắn bó của chị với vùng đất Nam Bộ bình dị, thân thương, nơi đã nuôi dưỡng tâm hồn sáng tạo của tác giả Tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư, đặc biệt là tạp văn, vẫn giữ được vẻ tươi mới và sức sống mãnh liệt theo thời gian.
Tiểu kết chương 1
Tạp văn là thể loại văn chương ngắn gọn, hàm súc, tập trung khám phá những khoảnh khắc đời sống đặc biệt và thể hiện dấu ấn cá nhân rõ nét Ngôn ngữ trong tạp văn không chỉ gần gũi, chân thật mà còn mang đậm nét văn chương tinh tế, sáng tạo, góp phần làm nổi bật nét đẹp của cuộc sống và tâm hồn người viết.
Ngôn ngữ tạp văn là một dạng thức trong ngôn ngữ nghệ thuật, mang những nét đặc trưng riêng biệt Nguyễn Ngọc Tư, một cây bút xuất sắc của miền sông nước Nam Bộ, đã để lại một lượng tác phẩm phong phú dù còn trẻ tuổi Những tác phẩm của chị đã khẳng định vị trí vững chắc trong nền văn xuôi đương đại Việt Nam Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự đa dạng sáng tác và giúp nhà văn khẳng định tên tuổi trên con đường nghệ thuật.
TỪ NGỮ TRONG TẠP VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ
Từ trong ngôn ngữ và từ trong tác phẩm nghệ thuật
2.1.1 Từ trong ngôn ngữ 2.1.1.1 Khái niệm từ
Trong ngôn ngữ học, từ đóng vai trò là viên gạch xây dựng nên hệ thống ngôn ngữ, là cơ sở để hình thành các đơn vị lớn hơn như cụm từ, câu và văn bản Từ có nhiều chức năng quan trọng như định danh, phân biệt nghĩa và làm thành phần câu, nhờ đó trở thành đơn vị ngôn ngữ phổ biến và trung tâm trong cấu trúc ngôn ngữ Thuộc tính đa dạng của từ giúp nó giữ vị trí then chốt trong hệ thống ngôn ngữ học, mặc dù các nhà ngôn ngữ học vẫn còn nhiều tranh luận và đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về đơn vị từ.
J.Lions, trong cuốn Nhập môn ngôn ngữ học lý thuyết định nghĩa: “Từ là một sự kết hợp của một nghĩa nhất định với một phức thể âm thanh nhất định, có thể giữ một vai trò ngữ pháp nhất định” [42, 321]
E.Sapir đưa ra khái niêm: “Từ là một đoạn nhỏ nhất có ý nghĩa, hoàn toàn có khả năng độc lập và bản thân có khả năng làm thành phần câu tối giản”[Ngôn ngữ, bản dịch tiếng Nga, M, 1934]
Nguyễn Thiện Giáp định nghĩa rằng từ trong tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất mang ý nghĩa, dùng để cấu tạo câu nói, đồng thời có hình thức là một âm tiết hoặc một chữ viết rời rạc.
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, từ trong tiếng Việt là một hoặc nhiều âm tiết cố định, bất biến, mang ý nghĩa nhất định và được hình thành theo một phương thức hoặc kiểu cấu tạo nhất định Các từ này tuân theo các kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, từ lớn nhất trong từ vựng đến nhỏ nhất để tạo thành câu.
Từ là đơn vị nhỏ nhất mang ý nghĩa và hoạt động độc lập trong câu, đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt Theo tác giả Diệp Quang Ban, từ chi phối toàn bộ cú pháp và đảm nhận chức năng ngữ pháp của câu, giúp phân chia các thành phần câu rõ ràng và thống nhất Việc hiểu rõ vai trò của từ trong câu giúp cải thiện kỹ năng phân tích cú pháp và nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt chính xác, phù hợp với chuẩn ngữ pháp.
Theo Đỗ Thị Kim Liên, từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, gồm một hoặc nhiều âm tiết có nghĩa nhỏ, cấu tạo hoàn chỉnh và có thể được vận dụng linh hoạt để tạo thành câu.
Dù có những khác biệt trong cách giải thích, hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng từ là một đơn vị ngôn ngữ có âm thanh, mang ý nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh và có khả năng hoạt động tự do để tạo thành cụm từ và câu Từ có tính toàn vẹn bên trong, không thể tách rời bằng cách xen thêm các từ thực hoặc hư từ vào các bộ phận của nó Trong khi đó, giữa các từ có thể chèn thêm một chuỗi từ theo lý thuyết mà không hạn chế về số lượng đơn vị thực Từ các định nghĩa này, chúng tôi nhận thấy các đặc điểm chính của từ là tính toàn vẹn nội tại và khả năng tự hoạt động trong hệ thống ngôn ngữ.
1 Từ là đơn vị lớn nhất trong ngôn ngữ, nhỏ nhất trong lời nói, có sẵn
2 Từ có kết cấu chặt chẽ về hình thức và ý nghĩa
3 Từ là đơn vị để tổ chức câu
Trong tiếng Việt, từ có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, phản ánh vị trí và vai trò của chúng trong hoạt động giao tiếp Để thực hiện mục đích nghiên cứu của luận văn, chúng tôi tập trung phân loại từ dựa trên hai tiêu chí chính là cấu tạo và phong cách, nhằm hiểu rõ hơn về cách các lớp từ này đóng góp vào quá trình sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày.
Theo tiêu chí phong cách, từ tiếng Việt gồm các lớp: từ hội thoại, từ thông tục, từ Hán - Việt, từ thi ca, từ cổ, v.v
Theo tiêu chí cấu tạo, từ tiếng Việt gồm từ đơn và từ phức; trong đó, từ phức chia thành từ láy và từ ghép Các từ có cấu trúc hoặc đặc điểm cấu tạo giống nhau được nhóm lại thành các tiểu hệ thống, tạo thành một hệ thống rõ ràng Tiếng Việt có một hệ thống từ đơn, từ láy và từ ghép, mỗi hệ thống lại được phân chia thành các hệ thống nhỏ hơn nhằm mục đích tổ chức và phân loại rõ ràng hơn Hệ thống hóa từ vựng tiếng Việt giúp nhận diện và phân loại các loại từ một cách khoa học, dễ dàng hơn trong việc học và sử dụng.
Bảng 2.1 Hệ thống từ tiếng Việt xét về mặt cấu tạo
Kiểu từ Các tiểu loại Ví dụ
Từ đơn Từ đơn một tiếng nhà, xe, ăn, chạy, đi, vì,…
Từ đơn nhiều tiếng bồ hóng, mà cả, xi măng,…
Từ láy Từ láy hoàn toàn đỏ đỏ, xanh xanh,…
Từ láy bộ phận lập loè, lạch cạch,…
Từ ghép Từ ghép hợp nghĩa đất nước, nhà cửa, xinh đẹp,
Từ ghép phân nghĩa xe đạp, nhà máy, cá chép,…
2.1.2 Từ trong tác phẩm nghệ thuật
Văn học là nghệ thuật ngôn từ, do đó, để hiểu rõ đặc trưng của văn bản nghệ thuật, cần nhận thức về đặc điểm nghệ thuật của ngôn từ Mỗi thể loại văn học đòi hỏi một loại ngôn ngữ riêng, giúp thể hiện bản chất thẩm mĩ và khả năng nghệ thuật của tác phẩm Tác phẩm văn học, đặc biệt là thể loại tạp văn, phản ánh đa dạng các mặt của cuộc sống và con người Trong hoạt động ngôn ngữ, từ là đơn vị phản ánh chân thực các thuộc tính, đặc điểm của thực tại khách quan.
Từ là đơn vị ngôn ngữ cố định tồn tại trong hệ thống, nhưng khi tham gia vào hoạt động sáng tạo nghệ thuật, từ rất linh hoạt và gắn liền với ngữ cảnh để thể hiện nét nghĩa sâu sắc, tinh tế và tạo ra sắc thái mới Hiệu quả sử dụng từ trong sáng tạo nghệ thuật phụ thuộc vào yếu tố như chủ đề, đề tài, trình độ văn hóa, kinh nghiệm và phong cách viết của nhà văn Mỗi người tích lũy vốn từ theo thời gian, phản ánh khả năng ngôn ngữ tiềm năng và cá tính sáng tạo Việc đa dạng và phong phú vốn từ giúp nhà văn miêu tả đời sống sinh động và thể hiện thế giới nội tâm một cách linh hoạt Nhà văn luôn sáng tạo trong cách sử dụng ngôn ngữ để đạt hiệu quả thẩm mỹ cao, biểu đạt rõ nét cá tính riêng biệt và góp phần nâng cao giá trị nghệ thuật của tác phẩm.
Trong văn học cổ điển, từ ngữ mang tính quy phạm cao, hạn chế sử dụng các từ mang tính khẩu ngữ để giữ nguyên giá trị nghệ thuật và trang nghiêm của tác phẩm Ngược lại, trong văn học đương đại, các nhà văn có sự tự do hơn trong việc lựa chọn từ ngữ, tận dụng vốn từ của tiếng nói dân tộc, bao gồm cả từ biến thể và từ vùng miền, nhằm thể hiện chân thực cuộc sống và phong cách cá nhân.
Từ ngữ trong văn bản tự sự nói chung và tạp văn nói riêng có đặc trưng riêng, khác biệt so với từ trong thơ, do cấu trúc tạo nên những mã ngữ và mật ngữ, thách thức nhận thức của người đọc Nhiều ý kiến cho rằng, từ trong thơ không phải là sản phẩm xa lạ, mà là những từ ngữ của đời sống, lấy từ vốn từ toàn dân, đã có nghĩa rõ ràng và đóng vai trò làm “giấy thông hành” trong các ngữ cảnh khác nhau Nhà thơ không tạo ra từ mới mà chỉ sử dụng chúng một cách sáng tạo; thậm chí có những bài thơ dùng những từ quen thuộc nhưng vẫn khó hiểu, vì nội dung phụ thuộc vào cấu trúc ngôn ngữ, nghĩa của từ trong mối quan hệ chứ không chỉ dựa vào nghĩa tự vị Điều này làm nên nét đặc trưng của ngôn ngữ thơ, phản ánh sự phong phú và phức tạp của cách sử dụng ngôn từ để truyền đạt ý nghĩa rõ ràng qua các cấu trúc ngữ pháp và liên tưởng.
Trong thơ, từ ngữ thường được gọt giũa, chọn lọc kỹ lưỡng từ vốn ngôn ngữ toàn dân để thể hiện chủ đề và cảm xúc một cách chính xác, tinh tế Thơ chịu nhiều áp lực về đề tài, cảm hứng, thể thơ và âm luật, dẫn đến việc sử dụng từ ngữ càng trở nên đặc biệt, cần phải phù hợp với quy phạm và thể hiện sự trang trọng, “nặng nề, gây gò” Đặc biệt, thơ mang tính quy phạm yêu cầu nhà thơ phải sử dụng từ ngữ một cách cẩn trọng để giữ gìn sự chuẩn mực và vẻ đẹp của tác phẩm.
Các lớp từ nổi bật trong Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư
2.2.1 Các lớp từ tiêu biểu xét về mặt phong cách 2.2.1 1 Từ hội thoại a Khái niệm từ hội thoại
Từ hội thoại là những từ đặc biệt được dùng trong lời nói hàng ngày, đặc biệt trong đối thoại và giao tiếp thường xuyên Việc sử dụng từ hội thoại trong các cuộc trò chuyện, tâm sự hoặc lời chào hỏi rất tự nhiên, không cần quá trau chuốt Trong thể loại tạp văn, ngôn ngữ phong cách sinh hoạt giúp thể hiện chân thực, gần gũi và phù hợp với nội dung giao tiếp đời thường.
Trong văn học, các từ hội thoại giúp nhà văn thể hiện ý đồ nghệ thuật một cách sinh động Nhờ ngôn ngữ hội thoại, tác giả tái hiện chân thực bức tranh đời sống xã hội, đồng thời chỉ cần vài từ hội thoại là tính cách nhân vật đã rõ nét.
Nguyễn Ngọc Tư sử dụng ngôn ngữ hội thoại trong tạp văn phù hợp với cuộc sống của người dân Nam Bộ, giúp tác phẩm trở nên chân thực và gần gũi Ngôn ngữ hội thoại thường mang tính khẩu ngữ, giản dị, dễ hiểu, đồng thời dễ dàng truyền tải thái độ và cảm xúc của nhân vật Việc sử dụng các câu nói tự nhiên này góp phần làm tăng tính thuyết phục và sinh động cho bài viết, giúp người đọc dễ dàng đồng cảm với nội dung.
Trong các bài tạp văn, Nguyễn Ngọc Tư sử dụng các từ hội thoại như một công cụ mạnh mẽ để miêu tả và tái tạo cuộc sống của người dân miền Nam Việt Nam Chỉ cần vài từ hội thoại đơn giản, tác giả đã giúp nhân vật hiện lên rõ nét về tính cách và đời sống của họ, thể hiện khả năng lấy cảm xúc chân thực từ cuộc sống thường nhật.
Dù đất xóm Chẹt có thay đổi ra sao theo thời gian, tôi vẫn dễ dàng nhận ra ngôi nhà cũ, nơi bà nội hay bà ngoại tôi từng sinh sống Ngôi nhà ấy mang đậm hình bóng của một bà già hiền lành, tốt bụng, giống như những người bà thân thương trong ký ức tuổi thơ của tôi.
Một ngày, con Bèo gặp tôi khi đang gánh trái cây đi bán dạo, khiến tôi vô cùng vui mừng vì đã lâu không gặp Con Bèo rối rít mời tôi đến chơi tại nhà, giọng của nó tươi rói, vui vẻ, thể hiện sự hạnh phúc, giòn tan, và tự hào về cuộc sống của mình [Một mái nhà, tr 60].
Trong ví dụ (1), các từ ngữ hội thoại như "già cóc thùng thiếc" thể hiện sự xác tín của nhân vật về một ký ức khó phai mờ về ngôi nhà của bà nội, bà ngoại hiền lành Các từ hội thoại trong ví dụ (2) như "con Bèo", "lâu lắc", "tươi rói", "giòn tan" khẳng định niềm vui gặp lại bạn cũ và tình bạn bền chặt, đằm thắm Trong ví dụ (3), các từ "sướng rơn", "chút đỉnh" diễn tả sâu sắc các cung bậc cảm xúc và sắc thái tình cảm của nhân vật, tạo nên những hình ảnh sinh động trong tâm trí người đọc.
Nguyễn Ngọc Tư chú trọng sử dụng từ ngữ hội thoại để làm phong phú ngôn ngữ và thể hiện hơi thở đời sống chân thực trong tác phẩm Nhờ cách dùng từ hội thoại tự nhiên, người đọc cảm nhận rõ rệt cuộc sống đời thường như đang diễn ra ngay trong trang sách, tạo nên sự gần gũi và chân thực Ví dụ, tác giả dùng ngôn ngữ thân mật, sinh động để khắc họa các nhân vật, giúp câu chuyện trở nên sống động và đầy cảm xúc Điều này góp phần làm cho tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư trở thành những bức tranh sinh động về cuộc đời, hấp dẫn độc giả trong mọi hoàn cảnh.
Khi gió bắt đầu se se lạnh, đám trẻ con vui vẻ nhảy nhót, háo hức vỗ tay cười, thể hiện sự mong chờ được sắm quần áo, giày dép mới để chuẩn bị đón khí trời se lạnh mùa mới.
Cá thòi lòi dạn dĩ theo con nước chảy nhanh dưới sàn nhà, thể hiện sự quen thuộc với môi trường tự nhiên, khiến chúng ngóc đầu lên tò mò, như đang dò xét ai đang lặn lội tới xứ bùn sình rừng rú Sự chú ý của chúng thể hiện qua việc lặn lội sâu đến mức lòi mắt ra để quan sát, tạo nên hình ảnh sinh động về cuộc sống kỳ thú trong thiên nhiên hoang dã.
Sau những ngày làm việc vất vả đến tận khuya, đôi chân mệt nhoài, tôi ngồi xem chương trình hướng dẫn kỹ thuật nuôi tôm trên truyền hình để học hỏi, nhưng thực tế cho thấy, dù đã áp dụng các phương pháp này, tôm vẫn chết hàng loạt do điều kiện đất đai và môi trường không phù hợp, khiến mọi cố gắng đều trở nên vô vọng.
Các từ con nít, nhảy cà tưng trong ví dụ (1), cùng với các tổ hợp ngóc đầu, nhìn thom lom, ai đây ta, lòi mắt và từ rừng rú trong ví dụ (2), là những điểm nhấn tạo nên sự sinh động và giàu hình ảnh cho câu văn Các từ hội thoại như lời nói miệng nhưng mang tính tu từ ẩn dụ, đặc biệt là lòi mắt, đỏ đèn, chết thẳng cẳng trong ba ví dụ, thể hiện sự tinh tế trong ý nghĩa: lòi mắt biểu thị tình trạng nguy hiểm tính mạng, đỏ đèn tượng trưng cho thời điểm quá muộn hoặc gian nan, còn chết thẳng cẳng diễn tả cái chết nhanh chóng, tức thì.
Trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, các từ hội thoại thường được sử dụng để miêu tả hành động của nhân vật, giúp độc giả hình dung rõ nét các sự vật và hiện tượng Ngoài ra, chúng còn được dùng để diễn đạt các tính chất, màu sắc hoặc thể hiện cảm xúc chân thật của tác giả Những từ hội thoại này góp phần tạo nên sự sinh động và chân thực cho tác phẩm, giúp người đọc dễ dàng cảm nhận được tinh thần nội dung.
Ba tôi đọc báo chia sẻ với các ông bạn, ai cũng khen ngợi vì sự kiên trì và thái độ bình tĩnh trước thất bại trong chuyện làm ăn Mọi người đều thán phục vì sao những người đó không nản lòng, vẫn giữ vững tinh thần dù gặp khó khăn Điều này cho thấy rằng, trong tháng chạp ở rạch Bộ Tời, việc đối mặt với thất bại mà không bỏ cuộc là phẩm chất đáng trân trọng và là bài học quý giá về sự kiên trì.
(2) Tôi lóp ngóp xách rổ chận bắt mấy con cá rô ốm nhách dài nhằng, mình đầy nhớt xăng xái lóc lên sân [Sân nhà, tr 76]
Biển đã đục là biểu hiện của phù sa ngập tràn, mang lại nguồn dinh dưỡng phong phú cho đời sống biển Nước mặn đã trở nên đậm đặc, khiến đầu lưỡi cảm nhận rõ vị mằn mặn, như nhắc nhở về sự khắc nghiệt của tự nhiên Người đất Mũi vốn chân chất, tình cảm sâu đậm; khi đã thương, họ thương trọn vẹn, và khi đã nhớ thì nhớ rất sâu, còn mỗi khi sầu thì kéo dài dai dẳng không nguôi.
Tiểu kết chương 2
Qua khảo sát và tìm hiểu các lớp từ tiêu biểu trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, chúng tôi rút ra những nhận xét sau:
Nguyễn Ngọc Tư thường xuyên sử dụng lớp từ láy trong tạp văn để mô tả ngoại hình, hành động, tâm trạng và cảm xúc của nhân vật, qua đó tạo nên các hình ảnh sống động và chân thực Ngoài cách dùng thông thường, tác giả còn sử dụng từ láy kết hợp độc đáo theo các ngữ cảnh nhằm tạo sự hài hòa, cân đối và nét mới cho câu văn Bên cạnh đó, Nguyễn Ngọc Tư còn sử dụng thành ngữ, bao gồm thành ngữ nguyên dạng, thành ngữ biến thể và cách nói có tính thành ngữ, để thể hiện tính khái quát, hình tượng và biểu cảm trong tác phẩm Việc biến thể thành ngữ phù hợp với ngữ cảnh giúp tăng cao tính biểu cảm và khái quát của bài viết.
Nguyễn Ngọc Tư nổi bật với việc sử dụng từ ngữ địa phương Nam Bộ, tạo nên phong cách riêng và dấu ấn đặc trưng trong tác phẩm của mình Bên cạnh đó, cô tận dụng linh hoạt, đa dạng và tự nhiên các từ hội thoại, giúp câu văn gần gũi với ngôn ngữ hàng ngày nhưng vẫn giữ được tính thẩm mỹ cao Các lớp từ như từ láy, thành ngữ, từ địa phương và hội thoại là những yếu tố tiêu biểu, góp phần làm nổi bật phong cách viết tạp văn đặc trưng của Nguyễn Ngọc Tư.
Chương 3 CÂU VĂN TRONG TẠP VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ
3.1 Câu trong văn bản nghệ thuật và các hướng tiếp cận
3.1.1 Các hướng tiếp cận câu
Câu là gì vẫn là một vấn đề gây tranh cãi trong giới ngôn ngữ học, chưa đi đến sự thống nhất rõ ràng Chủ đề này thể hiện sự đa dạng trong các cách tiếp cận của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới và Việt Nam, phản ánh sự phong phú và phức tạp của khái niệm câu trong nghiên cứu ngôn ngữ.
Ngay từ thời cổ đại, các nhà ngữ pháp Ấn Độ đã xác định câu là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ vì chỉ có câu mới có khả năng diễn đạt tư tưởng một cách rõ ràng và trọn vẹn Đến Hy Lạp cổ đại thế kỷ V trước Công nguyên, Aristotle cũng nhấn mạnh rằng câu là một âm phức hợp có ý nghĩa độc lập, trong đó từng bộ phận riêng biệt cũng mang ý nghĩa riêng, góp phần tạo nên ý nghĩa tổng thể của câu.
V.V Vinogradov lại đưa ra định nghĩa: “Câu là đơn vị lời nói hoàn chỉnh được hình thành về mặt ngữ pháp theo quy tắc một ngôn ngữ nhất định làm phương tiện quan trọng nhất để cấu tạo, biểu thị và truyền đạt tư tưởng Câu không chi biểu thị sự truyền đạt về hiện thực mà còn cả mối quan hệ của người nói với hiện thực”
Trong nghiên cứu về tiếng Việt dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa cấu trúc, L.C Thompson giải thích rằng các câu trong tiếng Việt được phân chia dựa trên các ngữ điệu kết thúc, tạo thành các đoạn có một hoặc nhiều nhóm nghỉ Mỗi đoạn kết thúc bằng một ngữ điệu đặc trưng và theo sau là sự im lặng hoặc một đoạn tiếp theo, qua đó thể hiện sự độc lập của từng yếu tố câu Trong chữ viết, sự độc lập này được thể hiện bằng cách sử dụng chữ hoa đầu câu và các dấu kết thúc như dấu chấm, dấu hỏi hoặc dấu than, giúp phân biệt rõ ràng các câu trong văn bản.
Theo tác giả Hoàng Trọng Phiến, câu là đơn vị hoàn chỉnh của lời nói, được hình thành dựa trên các quy luật ngữ pháp và ngữ điệu của một ngôn ngữ nhất định Câu là phương tiện chính để diễn đạt, biểu hiện và giao tiếp tư tưởng, thể hiện thực tế cũng như thái độ của người nói đối với thực tại.
Diệp Quang Ban định nghĩa câu là đơn vị ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp, bao gồm các yếu tố tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang ý nghĩa tương đối trọn vẹn hoặc thể hiện thái độ Câu giúp hình thành, biểu hiện và truyền đạt tư tưởng cũng như tình cảm của người nói Đồng thời, câu còn được xem là đơn vị thông báo nhỏ nhất trong ngôn ngữ, thể hiện rõ chức năng giao tiếp của ngôn ngữ.
Theo Đỗ Thị Kim Liên, câu là đơn vị ngôn ngữ dùng từ để truyền đạt ý nghĩ, thực hiện chức năng thông báo Câu có cấu tạo ngữ pháp độc lập, kết thúc bằng một ngữ điệu rõ ràng, phù hợp với ngữ cảnh cụ thể và nhằm đạt được mục đích giao tiếp nhất định.
Từ những định nghĩa của các nhà các nhà ngôn ngữ học có khác nhau, nhưng từ đó chúng tôi rút ra được những điểm chung:
Thứ nhất, câu được cấu tạo bởi những từ nhằm diễn đạt được tư tưởng, cảm xúc hay thể hiện chức năng thông báo
Thứ hai, câu thông thường phải được cấu tạo theo quy tắc nhất định (có nòng cốt C - V hoặc có kết cấu đặc biệt)
Trong tiếng Việt, câu thường kết thúc bằng các dấu chấm, dấu hỏi hoặc dấu than để thể hiện ngữ điệu cuối câu Các câu trong đoạn văn cũng được phân chia rõ ràng nhờ các dấu câu này, giúp tạo ra sự rõ ràng và dễ hiểu cho người đọc Việc sử dụng đúng các dấu câu không chỉ giúp thể hiện chính xác ý nghĩa mà còn làm tăng tính mạch lạc của nội dung, phù hợp với các quy tắc viết và chuẩn SEO.
Câu có ý nghĩa phụ thuộc vào ngữ cảnh cụ thể, trong đó chính tả, đặc biệt là việc viết hoa chữ cái đầu câu, đóng vai trò quan trọng Để nghiên cứu và khảo sát câu văn tạp văn của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư một cách chính xác, chúng tôi dựa trên định nghĩa về câu của GS Đỗ Thị Kim Liên.
3.1.2 Câu trong văn bản nghệ thuật
Trong văn học nghệ thuật, câu đóng vai trò như những “hạt nhân” tạo thành hình tượng, yếu tố quyết định sự tồn tại của tác phẩm Cao Xuân Hạo nhấn mạnh rằng lời nói phản ánh hiện thực của ngôn từ, và mọi nhận định về ngôn ngữ đều được rút ra từ những câu nói cụ thể trong thực tế Để tổ chức phát ngôn hiệu quả phù hợp với mục đích và tình huống, người nói cần nắm vững kiến thức ngôn ngữ học, đặc biệt về câu, vì đó là trung tâm của hệ thống ngôn từ, giúp hiểu rõ vị trí và cấu trúc của các đơn vị ngôn ngữ, từ đó có thể hiểu và xây dựng các đơn vị lớn hơn hoặc nhỏ hơn trong cơ cấu của ngôn ngữ.
Câu trong văn học nghệ thuật chịu tác động của nhiều yếu tố như văn cảnh, thể loại và phong cách của tác giả Trong quá trình sáng tác, nhà văn tổ chức câu sao cho phù hợp với ngữ cảnh và giúp người nghe dễ dàng lĩnh hội ý tưởng, đảm bảo tính logic của ngôn từ Nhà văn luôn chú trọng tạo ra nét riêng, độc đáo về cú pháp, điều này đòi hỏi sự sáng tạo và nỗ lực không nhỏ Tuy nhiên, việc chọn kiểu câu như ngắn hay dài, cấu trúc phức tạp hay giản đơn đều nhằm thể hiện cảm xúc và ý đồ nghệ thuật một cách tinh tế Thực tế trong văn học Việt Nam cho thấy, các nhà văn có phong cách riêng biệt, sử dụng đa dạng các kiểu câu để tăng tính phong phú cho tác phẩm Thành công của việc sử dụng câu trong sáng tác phụ thuộc vào kỹ năng và trình độ của nhà văn, nhằm nâng cao giá trị thẩm mỹ và đảm bảo hiệu quả truyền đạt ý tưởng.
Đặc điểm câu văn trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư
3.2.1 Câu văn tạp văn Nguyễn Ngọc Tư xét về mặt cấu tạo 3.2.1.1 Số liệu thống kê
Trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, câu văn có cấu trúc đa dạng và phong phú, gồm các loại như câu đơn và câu ghép Cụ thể, trong 35 bài tạp văn, có tổng cộng 1.473 câu, trong đó gần 41% là câu đơn (602 câu) và hơn 59% là câu ghép (871 câu) Đặc biệt, câu trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư được phân loại theo cấu tạo ngữ pháp như câu đơn bình thường, câu đơn đặc biệt, câu ghép chính phụ, câu ghép đẳng lập, qua lại và chuỗi, thể hiện sự linh hoạt và tinh tế trong ngôn ngữ của tác giả Thống kê này cho thấy kỹ năng sử dụng câu đa dạng, góp phần nâng cao giá trị nghệ thuật và nội dung của các bài tạp văn.
Bảng 3.1 Số lượng câu văn trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư
TT Tác phẩm Câu đơn Câu ghép Tổng cộng
3.2.1.2 Các loại câu văn trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư a Câu đơn a1 Số liệu thống kê Để có cơ sở cho việc thống kê và khảo sát, chúng tôi chọn định nghĩa câu đơn của Đỗ Thị Kim Liên:“Câu đơn là loại câu có hai thành phần, phần chủ ngữ và phần vị ngữ, gắn bó chặt chẽ với nhau thông qua mội quan hệ ngữ pháp chủ - vị và tạo nên một chỉnh thể thống nhất” [47, 188]
Theo định nghĩa của Đỗ Thị Kim Liên, câu đơn gồm hai loại chính: câu đơn bình thường và câu đơn đặc biệt Câu đơn bình thường có thành phần chủ ngữ và vị ngữ thực sự hiện diện, gắn bó chặt chẽ trong câu Trong khi đó, câu đơn đặc biệt cũng gồm chủ ngữ và vị ngữ nhưng không đầy đủ, thiếu thành phần này hoặc thành phần kia trong câu.
Trong bài viết của Nguyễn Ngọc Tư, có tổng cộng 602 câu, trong đó gần 80,7% là câu đơn bình thường, thể hiện phong cách viết chân thực và giản dị của tác giả Khoảng 19,3% các câu là câu đặc biệt, góp phần tạo điểm nhấn cho tác phẩm Phần khảo sát các kiểu câu đơn trong tạp văn của Nguyễn Ngọc Tư cho thấy sự đa dạng trong cách sử dụng câu để thể hiện cảm xúc và ý nghĩa sâu sắc.
Câu đơn bình thường là loại câu có hai thành phần chính: chủ ngữ và vị ngữ, liên kết chặt chẽ qua mối quan hệ ngữ pháp C – V để tạo thành một thể thống nhất Nguyễn Ngọc Tư thường sử dụng câu đơn bình thường trong các bài tạp văn với tần suất lớn Loại câu này được phân thành hai loại nhỏ: câu đơn bình thường không mở rộng và câu đơn bình thường mở rộng, phù hợp với nhiều mục đích diễn đạt khác nhau trong văn phong.
- Các kiểu câu đơn bình thường
+ Câu đơn bình thường không mở rộng
Cấu trúc câu này gồm hai thành phần chính là chủ ngữ và vị ngữ, cùng các thành phần phụ khác để tạo nên câu hoàn chỉnh Các thành phần của câu thường bao gồm từ hoặc cụm từ như danh từ, đại từ, động từ, tính từ, hoặc các cụm từ như cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ Ví dụ minh họa nhằm giúp làm rõ cách xây dựng câu theo kiểu này, cải thiện kỹ năng viết và hiểu ngữ pháp tiếng Việt một cách chính xác và rõ ràng.
(1) Người không viết văn // sướng hơn mình nhiều [Nguyệt - người bạn không biết viết văn, tr 52]
(2) Tui // hỏng hiểu gì hết [Làm cho biết, tr 88]
(3) Tôi // hơi giật mình [Đi qua những cơn bão khô, tr 110]
(4) Ba con // kể chuyện vui [Chờ đợi những mùa tôm, tr 119]
(5) Bến đò // nằm cạnh nhà [Trăm năm bến cũ con đò, tr 163]
Các câu trong các ví dụ (1) đến (5) có độ dài rất ngắn, chủ yếu gồm hai thành phần chính là chủ ngữ và vị ngữ, giúp truyền đạt ý rõ ràng và súc tích Chủ ngữ trong các câu (2), (3), (5) chỉ gồm một từ, tạo nên sự ngắn gọn, dễ hiểu Khảo sát cho thấy, kiểu câu này trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư thường có dưới 10 âm tiết và thường đứng đầu đoạn văn, đóng vai trò định hướng nội dung, giúp đoạn văn dễ tiếp nhận và rõ ràng hơn.
Trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư, các câu đơn bình thường thường bao gồm hai thành phần chính cùng với các thành phần phụ như trạng ngữ và phần giải thích ngữ, nhằm diễn đạt hành động, cảm xúc hoặc miêu tả cụ thể các sự vật, hiện tượng Các thành phần phụ này giúp làm rõ ý nghĩa của câu, thông qua việc giải thích hoặc bình chú, thường được tách ra bằng dấu phẩy hoặc quãng ngắt và có thể nằm ở nhiều vị trí khác nhau trong câu, chủ yếu sau đối tượng được giải thích Nguyễn Ngọc Tư thường xuyên sử dụng câu có thành phần phụ để làm sáng rõ nội dung, giúp người đọc hiểu rõ hơn về đối tượng hoặc hiện tượng được đề cập trong tác phẩm.
(1) Nó giỏi giang, chu đáo, làm việc nào ra việc ấy ( chắc là vì không biết viết văn như tôi? ) [Nguyệt - người bạn không biết viết văn, tr 50]
(2) Hồi đó, đồn Chẹt đóng kế bên nhà, hễ chạng vạng là đám lính thấy bà đem cái đèn ( loại dùng để đặt đó ) ra treo ngoài hàng ba
[Hiên trước nhà một bà già tốt bụng, tr 58]
Một anh thanh niên trẻ chia sẻ rằng, nhiều đảng viên và cán bộ hiện nay sống sung túc, tiện nghi hơn cả "chủ nhân" của mình, thường xuyên nhậu ở những địa điểm sang trọng và sống trong nhà lầu Anh này nhấn mạnh rằng, dù Nhà nước gọi họ là "đầy tớ của nhân dân," nhưng thực tế, nhiều cán bộ đang sống cuộc đời sung túc hơn nhiều so với người dân, gây nên sự bất bình trong xã hội Những hình ảnh này phản ánh rõ nét về hiện tượng "đầy tớ" ngày càng sống thoải mái, xa rời với hình ảnh thanh bần truyền thống.
Một ông già có chòm râu hơi dài chia sẻ về sự khó khăn trong việc nắm bắt tình hình chính quyền địa phương: "Vợ tôi nói chẳng biết mặt chủ tịch xã nhiệm kỳ này ra sao Trong suốt bốn năm, ông ấy có xuống dân đâu mà hiểu rõ tình hình thực tế."
Việc sử dụng câu có thành phần phụ giải thích giúp nhà văn làm rõ thêm những thông tin quan trọng, từ đó hỗ trợ người đọc hiểu chính xác, rõ ràng và cụ thể về nội dung mà tác giả đề cập đến Thành phần phụ trong câu đóng vai trò bổ sung, làm rõ ý nghĩa của các phần chính, đảm bảo truyền đạt thông điệp một cách dễ hiểu và chính xác hơn Việc sử dụng thành phần phụ giải thích còn giúp câu văn trở nên sinh động, phong phú hơn trong cách diễn đạt, đồng thời nâng cao hiệu quả truyền tải thông tin trong tác phẩm.
Trong các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư, câu có thành phần phụ trạng ngữ được sử dụng phổ biến để thể hiện các yếu tố thời gian, không gian, địa điểm và sự kiện Vị trí của trạng ngữ trong câu khá linh hoạt, chủ yếu nhằm làm rõ bối cảnh trong câu chuyện Trong đó, trạng ngữ chỉ thời gian là thành phần được Nguyễn Ngọc Tư sử dụng nhiều nhất, thường xuất hiện ở vị trí đầu hoặc cuối câu để nhấn mạnh thời điểm diễn ra sự việc.
(1) Ngày nào má nó cũng kêu thằng Út ơi, thằng Út à, chạy lại đằng tiệm mua má chút đồ [Quán nhớ, tr 34]
(2) Lần đầu tiên tôi nếm trải nỗi áy náy khi thấy người dân chờ đợi [Làm cho biết, tr 87]
(3) Xung quanh chị, mọi thứ cứ trong veo [Vai diễn cuộc đời, tr 137]
Dù gặp nhiều khó khăn, em vẫn giữ vững phong cách riêng của mình trong sáng tác, thể hiện qua câu "Vài ba trăng khuyết" trên trang 158 Thường thì tác giả còn đặt thành phần phụ trạng ngữ ở cuối câu để nhấn mạnh ý nghĩa, như trong ví dụ minh họa, giúp câu trở nên ấn tượng và dễ ghi nhớ hơn.
(1) Cái gáo đen mịt cúi đầu chổng mông lên cây trúc cặm kế bên cũng thơm ngây ngây mùi gỗ đã ngấm nước từ lâu
[Hiên trước nhà một bà già tốt bụng, tr 58]
(2) Nấu món nào cũng thích, bạn bè chồng tới nhà hai năm sau còn nhắc bữa ăn cá lóc luộc mẻ nghe ngon tới bây giờ
[Nguyệt - người bạn không biết viết văn, tr.51]
Thành phần phụ trạng ngữ chỉ thời gian đứng ở cuối câu có chức năng bổ ngữ, nhằm nhấn mạnh mùi gỗ đã ngấm nước từ lâu và sự ngon miệng của cá lóc luộc mẻ đến hiện tại Nguyễn Ngọc Tư thường sử dụng thành phần phụ trạng ngữ đứng ở đầu câu trong các bài tạp văn, tạo nên nét đặc trưng riêng của phong cách viết của bà Cách dùng này rất hiệu quả trong việc duy trì tính mạch lạc và logic giữa các câu văn trong toàn bộ văn bản Ví dụ tiêu biểu: "Ngày xưa, cứ năm ba bữa, hắn phải chở cha đi nhậu" thể hiện rõ cách sử dụng linh hoạt thành phần trạng ngữ để nhấn mạnh thời gian và giữ nhịp điệu cho tác phẩm.
Trạng ngữ chỉ thời gian giúp nhà văn dẫn dắt câu chuyện linh hoạt từ hiện tại về quá khứ hoặc hướng đến tương lai, rồi quay trở lại hiện tại Nó còn đóng vai trò như sợi dây liên kết các câu, giữ cho mạch cảm xúc của văn bản không bị gián đoạn Nguyễn Ngọc Tư sử dụng thành thạo trạng ngữ chỉ thời gian để tạo nên đoạn văn chặt chẽ, logic và dễ dàng dẫn dắt người đọc.
Giọng điệu trong Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư
3.3.1 Giới thuyết về giọng điệu
Mỗi nhà văn khi sáng tác đều tạo ra một giọng điệu riêng để nâng cao hiệu quả thẩm mỹ của tác phẩm Giọng điệu đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện phong cách độc đáo của nhà văn thông qua lời văn Theo Từ điển thuật ngữ văn học, giọng điệu được định nghĩa là thái độ, cảm xúc, lập trường, tư tưởng và đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả, thể hiện qua cách xưng hô, lựa chọn từ ngữ, sắc thái, cảm xúc, và cách cảm nhận xa hay gần, thân thiết hay sơ lược, trang nghiêm hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm.
Giọng điệu trong văn học phản ánh lập trường xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu thẩm mỹ của tác giả, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên phong cách nhà văn và truyền cảm hứng cho người đọc Thiếu một giọng điệu rõ ràng, nhà văn chưa thể hoàn thiện tác phẩm dù đã có đầy đủ tài liệu và hệ thống nhân vật Trong đó, cần phân biệt giữa giọng điệu và ngữ điệu; ngữ điệu là phương tiện thể hiện lời nói qua cách lên, xuống giọng hay nhấn giọng Giọng điệu mang tính thẩm mỹ, tạo nên phong cách riêng của tác giả, giúp tác phẩm có giá trị nhận diện rõ nét, giống như trong đời sống, chỉ qua lời nói có thể nhận biết một người nào đó; còn trong văn học, giọng điệu giúp độc giả nhận ra phong cách riêng của tác giả Ví dụ, giọng điệu trữ tình sâu lắng trong tác phẩm "Chảy đi sông ơi" thể hiện rõ nét phong cách và cảm xúc của tác giả.
Nguyễn Huy Thiệp nổi bật với giọng điệu thủ thỉ, thấm đẫm chất thơ và tình cảm sâu lắng, mang đậm nét trữ tình trong các tác phẩm của mình Trong khi đó, trong tác phẩm "Hai đứa trẻ" của Thạch Lam, giọng điệu nhẹ nhàng, tâm tình, tạo nên không khí đậm chất thơ mộng, dễ cảm thông Ngược lại, phong cách của các tác giả khác có thể mang nét suồng sã, đay nghiến, thể hiện sự thẳng thắn và quyết đoán trong cách biểu đạt ý tưởng Các phong cách này đều góp phần làm phong phú thêm vẻ đa dạng của văn học Việt Nam, phù hợp với các mục tiêu SEO khi mô tả đặc trưng các phong cách sáng tác.
Chí Phèo của Nam Cao; giọng điệu mỉa mai, châm biếm trong Thuế máu của
Nguyễn Ái Quốc là biểu tượng của phong trào cách mạng Việt Nam và có ảnh hưởng sâu sắc đến tư duy và lý tưởng cách mạng Trong khi đó, cảm nhận về hiện thực trong "Nỗi buồn chiến tranh" của Bảo Ninh thể hiện giọng điệu suy ngẫm triết lý, mang lại cái nhìn sâu sắc và chân thực về chiến tranh và con người Ngược lại, các tác phẩm của Phạm Thị Hoài nổi bật với giọng điệu hài hước, tạo sự nhẹ nhàng, dí dỏm để phản ánh cuộc sống và các vấn đề xã hội Những yếu tố này góp phần làm phong phú thêm bức tranh văn học Việt Nam, thể hiện đa dạng các góc nhìn và cảm xúc của các tác giả.
Giọng điệu trong tác phẩm nghệ thuật thể hiện rõ thái độ, tình cảm và phong cách thẩm mỹ của nhà văn Thái độ và cảm xúc của tác giả được truyền tải qua nhiều yếu tố và phương diện của lời văn nghệ thuật Giọng điệu thể hiện qua cách nhân vật thể hiện tiếng nói, phản ánh đa dạng và đầy sắc thái Trong các tác phẩm tạp văn của Nguyễn Ngọc Tư, ta có thể nhận diện các sắc thái giọng điệu đặc trưng tạo nên phong cách sáng tạo riêng của tác giả Nghiên cứu về các giọng điệu trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư giúp làm rõ đặc điểm và giá trị nghệ thuật của tác phẩm.
3.3.2 Một số sắc thái giọng điệu trong tạp văn Nguyễn ngọc Tư 3.3.2.1 Giọng điệu mỉa mai, châm biếm nhẹ nhàng, kín đáo
Nguyễn Ngọc Tư sử dụng giọng điệu mỉa mai tinh quái, thâm sâu để phê phán những mặt trái của xã hội một cách khéo léo và uyển chuyển, không cay độc dữ dội Trong các bài tạp văn của mình, bà dùng ngôn ngữ không “lộ liễu” nhưng vẫn vô cùng hiệu quả để chế nhạo, giễu cợt những điều xấu xa, tầm thường đáng bị lên án Các tác phẩm như "Làm cho biết", "Tản mạn quanh cái cổng", "Kính thưa anh nhà báo" đã giúp Nguyễn Ngọc Tư đề cập đến thực trạng tiêu cực như tham nhũng, nhũng nhiễu của cán bộ và gây xúc động sâu sắc cho người đọc Qua đó, bà khơi gợi sự suy ngẫm về các vấn đề xã hội, như câu chuyện ông già nhắc về xây nhà tình nghĩa, phản ánh thực trạng xã hội một cách thâm thúy và sâu sắc.
Năm nay, hai bà má Việt Nam anh hùng tại ấp tôi đã qua đời, không còn chờ đợi sự quan tâm hay sự tưởng nhớ từ nhà nước Tuy nhiên, chính quyền lại làm chậm trễ các hoạt động tôn vinh, gây thất vọng và làm giảm ý nghĩa của công sức của các bà Sự chậm trễ này dường như nhằm mục đích tiết kiệm chi phí, khiến các bà không nhận được sự tri ân xứng đáng trong cuộc sống cuối cùng.
Một câu hỏi của một anh thanh niên khiến mọi người phải suy ngẫm về vai trò của đảng viên và cán bộ trong công cuộc xây dựng đất nước: “Nhà nước nói đảng viên, cán bộ là đầy tớ của nhân dân, vậy sao tôi thấy họ sống sung sướng hơn chủ đất quá trời, nhậu chỗ sang, ở nhà lầu.” Trong khi đó, một bà lão bùi ngùi chia sẻ: “Tôi thấy mấy ông sai phạm làm mất tiền tỉ mà không bị xử lý nghiêm trọng, có người còn được xử nhẹ hoặc sang nước ngoài làm giám đốc Kỷ luật nội bộ yếu kém khiến cán bộ cứ 'chơi' và 'ăn' mãi, không thấy có tội tình gì hết.” Những ý kiến này phản ánh rõ thực trạng tham nhũng, lãng phí và sự chưa nghiêm minh trong công tác kỷ luật của một số cán bộ, gây bức xúc trong dư luận xã hội.
Nhiều người dân than phiền về sự quan liêu và thiếu trách nhiệm của một bộ phận cán bộ tại các cổng cơ quan, nơi họ chỉ đến để gặp chủ tịch xin giải quyết những bức xúc như thu hồi đất hay kêu oan Họ cảm thấy bị ngụy biện, thiên vị và nghi ngờ có sự bao che, gây mất lòng tin vào chính quyền địa phương Nhiều vụ việc giải quyết chậm chạp, gây bức xúc và nghi ngờ về công lý, đặc biệt khi những người liên quan phạm tội nhưng vẫn nhởn nhơ ngoài đường mà không bị bắt Chính điều này khiến người dân mất niềm tin vào hệ thống pháp luật và chính quyền, kéo theo sự bất bình và hoài nghi về tính minh bạch của các cơ quan chức năng.
Trong tác phẩm "Kính thưa anh nhà báo" của Nguyễn Ngọc Tư, tác giả để lại cảm xúc ngậm ngùi và suy ngẫm về câu chuyện cuộc sống Nhân vật đã phải thừa nhận nguồn gốc của mình một cách e dè, thể hiện sự tự trọng và sự khắc khoải trong lòng khi bị hỏi về quê quán Câu chuyện phản ánh nét đẹp chân thực về cuộc sống miền Tây Nam Bộ, qua đó gửi gắm những suy tư về bản sắc và sự tự hào dân tộc Đây cũng là một bài học về sự tự tin trong chính mình và cách đối diện với những định kiến xã hội, qua sự chân thật và mộc mạc của người miền Tây.
Anh nhà báo thân mến, xin hãy giúp tôi hiểu làm sao để tự hào về quê hương Cà Mau khi trong lòng lại không có chút tự hào nào Là người Cà Mau, tôi mong muốn khơi dậy niềm tự hào dân tộc và tình yêu quê hương trong trái tim mình Sự tự hào về Cà Mau không chỉ là một cảm xúc, mà còn là trách nhiệm giữ gìn và phát huy giá trị của vùng đất thân thương này.
Nguyễn Ngọc Tư thể hiện giọng điệu riêng biệt để phê phán lối sống dửng dưng và thiếu trách nhiệm của một bộ phận cán bộ Giọng điệu mỉa mai, châm biếm của tác giả nhằm cảnh tỉnh và giáo dục về thực trạng xuống cấp đạo đức xã hội Trong bài viết, tác giả lên tiếng phản đối và lên án lối sống thiếu trách nhiệm, góp phần nhấn mạnh tầm quan trọng của đạo đức trong cộng đồng Lời bạt "Về Cà Mau thăm Nguyễn Ngọc Tư" của Trần đã thể hiện rõ nét thái độ và quan điểm của tác giả về vai trò của các nhà văn trong việc cảnh tỉnh xã hội.
Hữu Dũng nhận định rằng những người nặng tình với công lý không phải là những người ủng hộ công lý khô khan, quyết liệt của kẻ bị áp bức và bóc lột, mà là những người mang trong lòng công lý đầy nhân ái Họ giận dữ trước sự bất công nhưng không oán trách, trách móc nhưng không thù hận, thể hiện một tâm thái công bằng và nhân hậu trong hành trình đấu tranh vì công lý.
3.3.2.4 Giọng chân tình, đôn hậu, nặng trĩu suy tư
Nguyễn Ngọc Tư nổi bật với giọng điệu đôn hậu, ấm áp, chân thành, thể hiện tình cảm chân quê Nam Bộ qua những trang viết sâu sắc về số phận và đời sống gian khổ của người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long Trong đó, hình ảnh những người nông dân “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” vẫn còn đậm nét, phản ánh nỗi vất vả quanh năm, đối mặt với những khó khăn mà nghèo đói và biến động giá cả mang lại Đặc biệt, câu chuyện của Nghĩa, người bạn nhỏ nuôi trồng rau và đối mặt với giá phân bón tăng vọt, đã thể hiện rõ sự gian truân, chật vật của người nông dân trước những biến đổi của thị trường và cuộc sống Những chi tiết như rau lên giá, gạo, cá, tiêu, tỏi đều tăng khiến người nông dân đành chịu, gắn chặt hình ảnh của sự kiên nhẫn và hy vọng trong gian khó Thông qua đó, tác phẩm góp phần khắc họa chân thực cuộc sống miền quê, đồng thời gửi gắm những thông điệp về tình người, nghị lực và niềm tin vượt lên nghịch cảnh.
Nhà văn thấu hiểu nỗi buồn của Nghĩa, xuất phát từ tấm lòng yêu thương và đồng cảm chân thành Giọng điệu chân thật, ngậm ngùi thể hiện rõ tâm trạng xót xa, giúp độc giả cảm nhận được sự đồng cảm sâu sắc với nhân vật Qua các câu chuyện này, chúng ta nhận thấy sự thấu hiểu và chia sẻ tình cảm một cách chân thành, tạo nên sức hút đặc biệt cho nội dung.
Tiểu kết chương 3
Trong chương 3, chúng tôi đã khảo sát và phân tích đặc điểm câu văn trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, xác định rằng câu có cấu tạo gồm câu đơn và câu ghép Tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư sử dụng nhiều câu ghép hơn câu đơn, chiếm tỷ lệ lớn trong các tác phẩm của bà Các câu đơn được chia thành câu đơn bình thường và câu đơn đặc biệt, trong đó câu đơn bình thường chiếm đa số, còn câu đơn đặc biệt sử dụng ít hơn Mỗi kiểu câu thể hiện sự sáng tạo, cách tân độc đáo của tác giả, góp phần tạo nét đặc trưng riêng cho phong cách viết của Nguyễn Ngọc Tư.
Câu ghép gồm hai loại chính: câu ghép có từ liên kết và câu ghép không có từ liên kết, trong đó, câu ghép không có từ liên kết được sử dụng phổ biến hơn Việc vận dụng câu ghép giúp Nguyễn Ngọc Tư truyền đạt nhiều thông tin một cách rõ ràng và sâu sắc, đồng thời thể hiện được chiều sâu tâm lý và đời sống nội tâm phức tạp của nhân vật.
Nguyễn Ngọc Tư sử dụng các biện pháp tu từ như sóng đôi, lặp đầu, lặp cuối, câu hỏi tu từ và câu tách biệt để tạo giá trị tu từ cho câu văn của mình Ngoài ra, giọng điệu đặc trưng của bà, từ mỉa mai, châm biếm nhẹ nhàng, kín đáo đến chân tình, đôn hậu nặng trĩu suy tư, hay suồng sã, mộc mạc, trữ tình sâu lắng, góp phần làm nổi bật phong cách viết độc đáo và sâu sắc của bà Những giọng điệu này giúp Nguyễn Ngọc Tư truyền đạt thông điệp một cách tinh tế, chân thực và gần gũi, tạo ấn tượng mạnh mẽ với độc giả.
Nguyễn Ngọc Tư có khả năng đa dạng trong việc mô tả cảnh sắc thiên nhiên, cuộc sống vất vả, thiếu thốn của con người, đồng thời thể hiện cảm xúc và tâm tư cá nhân qua tác phẩm Những tác phẩm của cô đem lại thành quả nghệ thuật độc đáo, góp phần khẳng định tài năng và phong cách sáng tạo mới lạ trong nghệ thuật viết lách.