1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

tiểu luận xã hội học chuyên biệt dox

17 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 348,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xã hội càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được cải thiện, ngày càng tiện nghi, hiện đại, góp phần tác động không nhỏ tới tâm – sinh lý của con người. Kèm theo đó là sự ra đời của điện thoại, máy tính, mạng Internet, các trang mạng xã hội như facebook, zalo, Instagram,… ngày càng phổ biến đến từng người, từng nhà, mỗi quan hệ xã hội cũng được mở rộng hơn, tiếp cận được nhiều thông tin hơn, từ đó giúp người ta tôn trọng cuộc sống hơn để gia tăng sự hưởng thụ cuộc sống. Tuy nhiên bên cạnh những suy nghĩ, thái độ tích cực như trên thì không ít người lại không tự tìm ra, hoạc vì những lý do tiêu cực nào đó họ không tìm ra được suy nghĩ như vậy và từ đó khiến họ cảm thấy chán ghét cuộc sống, họ không muốn sống và từ đó nảy sinh ra quyết định “tự tử”.

Trang 1

Phần I MỞ ĐẦU.

1 Đặt vẫn đề.

Xã hội càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được cải thiện, ngày càng tiện nghi, hiện đại, góp phần tác động không nhỏ tới tâm – sinh lý của con người Kèm theo đó là sự ra đời của điện thoại, máy tính, mạng Internet, các trang mạng xã hội như facebook, zalo, Instagram,… ngày càng phổ biến đến từng người, từng nhà, mỗi quan hệ xã hội cũng được mở rộng hơn, tiếp cận được nhiều thông tin hơn, từ đó giúp người ta tôn trọng cuộc sống hơn để gia tăng sự hưởng thụ cuộc sống Tuy nhiên bên cạnh những suy nghĩ, thái độ tích cực như trên thì không ít người lại không tự tìm ra, hoạc vì những lý do tiêu cực nào đó họ không tìm ra được suy nghĩ như vậy và từ đó khiến họ cảm thấy chán ghét cuộc sống, họ không muốn sống và từ đó nảy sinh ra quyết định “tự tử” Trong số những người có suy nghĩ như vậy có một bộ phận không nhỏ là những người trẻ tuổi, nhất là ở độ tuổi học sinh, sinh viên là thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước, là những con người tràn đầy sinh khí, nghị lực và hoài bão, là lực lượng lao động to lớn của tương lai không thể thay thế với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, là niềm hi vọng của mỗi gia đình thầy cô và bạn bè “Trẻ người non dạ” đó là cách mà người ta hay nói về đối tượng này, trẻ về tuổi tác, non về kinh nghiệm sống, phong cách sống nhất là trong bối cảnh xã hội có nhiều cám dỗ đặt ra không ít thách thức đối với chính bản than họ Chính vì vậy mà những vụ việc tự tử nhất là ở giới trẻ trong thời gian gân đây đã gây ra những hậu quả vừa thương tâm vừa nhức nhối với gia đình, nhà trường và xã hội Trong phạm vi bài viết của mình, em không thể tìm hiểu tường tận về mọi vẫn đề liên quan đến hiện tượng tự tử mà chỉ đưa ra những quan điểm, phân tích, đánh giá của bản than, từ đó lý giải một phần nào đó về hiện tượng tự tử ở giới trẻ theo cách nhìn của riêng mình đồng thời kiến nghị một số biện pháp giải quyết

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.

- Phân tích nguyên nhân gây ra hiện tượng tự tử.

- Đánh giá thực trạng của hiện tượng tự tử.

- Đề xuất giải pháp và kiến nghị để khác phục, giảm thiểu hiện tượng tự tử.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Giới trẻ Việt Nam.

- Phạm vi nghiên cứu: Trên phạm vi đất nước Việt Nam.

4 Phương pháp nghiên cứu.

- Phương pháp phân tích tài liệu.

Phần II NỘI DUNG.

Trang 2

1 Khái niệm liên quan.

1.1 Tự tử là gì?

- Theo nhà tâm lý học người Mỹ, Edwin shneidman, tự tử là hành động tự làm

tổn thương, cố ý chấm dứt sinh mạng của bản thân

- Theo Charles Bagg, một chuyên gia tâm lý người Anh, cho rằng, tự tử là

hành động cướp đi sinh mạng của bản thân một cách có chủ tâm, và hành động này có thể là hậu quả của những chững bệnh tâm thần và cũng có thể là hậu quả của những động cơ khác nhau, những động cơ này không nhất thiết phải liên quan đến các chứng bệnh tâm thần, nhưng chúng mạnh hơn cả bản năng sinh tồn của con người

- Trong cuốn sách Definition of Suicide (định nghĩa về tự tử) xuất bản năm

1985, Edwin Shneidman đã định nghĩa tự tử như sau: Tự tử là một hành động tự kết liễu sự sống của bản thân một cách có ý thức Ở đấy, người ta phải đối mặt với một tình cảnh vô cùng khó khăn, phức tạp và họ nhận thấy rằng tự tử là giải pháp tốt nhất để giải quyết khó khăn đó

- Theo Durkhiem: Tự tử là cái chết do kết quả trực tiếp hoặc gián tiếp từ hành

động tích cực hay tiêu cực từ cá nhân, nhằm chống lại chính bản thân mình.

- Như vậy qua các quan điểm trên tựu chung lại chúng ta có thể hiểu: Tự tử là

hành vi tự kết liễu cuộc đời của chính bản thân mình Hành động này có thể được tiến hành bằng nhiều hình thức khác nhau và vì nhiều lí do khác nhau

1.2 Giới trẻ là gì?

- Giới trẻ là những người trong độ tuổi thanh thiếu niên (tức là giao động

khoảng từ 15 – 25 tuổi), hay còn gọi là tuổi Teen, là một giai đoạn chuyển tiếp thể chất và tinh thần trong sự phát triển của con người diễn ra giưa giai đoạn trẻ em và trưởng thành Giới trẻ là những người năng động, sáng tạo, sành điệu, chịu chơi, thường rất tò mò, thích khám phá và ham vui chơi

2 Thực trạng.

2.1 Thực trạng chung.

Theo Tổ chức Y tế thế giới, hằng năm trên thế giới có khoảng 1 triệu người chết vì tự tử, tức khoảng 3.000 người chết mỗi ngày Đáng lo ngại là

độ tuổi có hành vi tự tử đang trẻ hóa, tập trung chủ yếu ở lứa tuổi 15 - 25 Hiện số vụ tự tử đã tăng 60% so với 50 năm trước Dự báo đến năm 2020, con số này có thể sẽ tăng lên thành 1,5 triệu, và tự tử sẽ là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở các nước phát triển và hàng thứ 2 ở các nước đang phát triển Các nước Đông Âu có tỷ lệ tự tử cao nhất toàn cầu (45 - 75 người/ 100.000 người) Ở Mỹ, tự tử là nguyên nhân thứ 3 gây tử vong cho thanh

Trang 3

thiếu niên độ tuổi từ 15 - 24 Tỷ lệ tự sát ở nam cao hơn nhiều so với ở nữ giới Có khoảng 10-20 triệu vụ tự sát không thành xảy ra mỗi năm trên toàn thế giới Cũng theo các nghiên cứu thì tỉ lệ nữ giới có ý định tự tử nhiều hơn nam giới nhưng tỉ lệ chết thì nam giới cao hơn phụ nữ Tỉ lệ tự tử cũng có sự khác nhau giữa các nước và các khu vực LB Nga, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Cannada, Trung Quốc… là những quốc gia có tỉ lệ người tự tử cao nhất thế giới

2.2 Thực trạng tự tử ở giới trẻ

Tỉ lệ người chết vì tử tử ngày càng gia tăng đến mức đáng báo động Tình hình chung của tự tử ở học sinh Việt Nam hiện nay Tại Việt Nam, tỷ

lệ thanh thiếu niên từng nghĩ đến chuyện tự tử và từng tìm cách kết thúc cuộc sống của mình đã tăng cao hơn gấp đôi so với năm 2005 (Theo cuộc điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên lần 9 thứ 2, năm 2010) Số lượng người dân có ý nghĩ tự tử chiếm khoảng 8,9% dân số (Theo nghiên cứu của bác sĩ Trần Thị Thanh Hương và các đồng sự, năm 2006)

Kết quả điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam năm

2008 cũng cho thấy, trong hơn 10.000 thanh thiếu niên thì trên 73% người từng có cảm giác buồn chán, hơn 4% từng nghĩ đến chuyện tử tự So với số liệu cuộc điều tra trước đó vào năm 2003, các chuyên gia nhận thấy tỷ lệ thanh thiếu niên trải qua cảm giác buồn chán đã tăng lên Đáng chú ý, tỷ lệ nghĩ đến chuyện tự tử tăng lên khoảng 30%

Theo số liệu của Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương, TP HCM, trong vòng một năm (từ tháng 5/2007 - 5/2008), bệnh viện này tiếp nhận 310 ca tự tử dưới 16 tuổi, trong đó 4 ca tử vong Tại Bệnh viện Nhi đồng 2, TP HCM cũng có đến 47 trường hợp trẻ tìm đến cái chết trong năm 2008 Theo thống

kê của Trung tâm phòng chống khủng khoảng tâm lý (PCP), ở Việt Nam thanh niên từ 15 - 24 tuổi là nhóm lứa tuổi có ý định tự tử cao nhất, trong đó

tỷ lệ nữ cao gấp hai lần so với nam Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam (năm 2010) đối với hơn 10.000 người trong nhóm tuổi này cho thấy, 4,1% người nghĩ đến chuyện tự tử, 25% đã tìm cách kết thúc cuộc sống

Những khó khăn về ứng xử của học sinh trong nghiên cứu của Bệnh viện Mai Hương chiếm 9,23% Lứa tuổi từ 10 - 11 có tỷ lệ 42 - 46% gặp khó khăn về ứng xử Đặc biệt có sự chênh lệch rất lớn về khó khăn trong ứng xử

Trang 4

Nội bằng công cụ SDQ của Tổ chức Y tế Thế giới chuẩn hóa Việt Nam cho thấy trên mẫu nghiên cứu gồm 1.202 học sinh tiểu học và trung học cơ

sở trong độ tuổi 10 - 16 tuổi, tỷ lệ học sinh có vấn đề về sức khỏe tinh thần chung là 19,46 % Tỷ lệ này đối với nam, nữ, tiểu học, trung học cơ sở, nội thành, ngoại thành không có gì khác biệt

Theo bác sĩ Phạm Anh Tuấn, Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương, nguyên nhân dẫn đến hành vi tự tử thường là do bệnh nhân gặp phải những biến cố

về tình cảm (61,6%) Ngoài ra còn vì lý do tiền bạc (14,8%); bệnh tật (7,4%)

và áp lực học hành thi cử (chiếm 3,5%) Phương thức tự tử phổ biến của các bệnh nhân là uống thuốc độc hay uống các loại hoá chất (chiếm tới 97,7%), thông dụng nhất là các loại phục vụ cho nông nghiệp như thuốc diệt sâu rầy

có hay không có phốt pho hữu cơ, thuốc diệt cỏ

Những khủng hoảng, biến đổi tâm lý của học sinh theo hướng bất thường và hiện tượng tự tử ngày càng gia tăng rung lên hồi chuông báo động cho những bậc cha mẹ nói riêng, nhà trường và toàn xã hội nói chung

2.2.1 Phân loại

- Esmile Durkhiem – một nhà xã hội hội học người Pháp nổi tiếng đã phân tự

tử thành 4 loại: tự tử ích kỷ, tự tử vị tha, tự tử phi chuẩn mực, và tự tử cuồng tín

+, Tự tử ích kỷ: Hành vi tự tử này xảy ra khi cá nhân bị bỏ rơi, không được quan tâm đến và cá nhân sống chỉ vì bản thân mình Đây là kiểu chủ nghĩa tự do cá nhân quá lớn Trong hiện tượng tự tử này, Durkhiem cho rằng, đây là những người có ít ràng buộc xã hội, có nghĩa là các cá nhân trở nên tách rời khỏi các giá trị và các mong đợi được chia sẻ bởi những người xung quanh như: gia đình, họ hàng VD: người độc thân, góa bụa, li hôn dễ tự tử hơn những người có chồng và ngược lại những gia đình có con cái càng miễn dịch với hiện tượng tự tử và điều này được tăng cường khi con cái gia tăng

+, Tự tử vị tha: Hành vi này xảy ra khi cá nhân xả thân vì mục tiêu của nhóm Tự

tử vị tha có thể diễn ra dưới hình thức bắt buộc không thể làm khác trong tình huống nhất định Kiểu tự tử này chủ yếu do sự gắn kết quá mạnh của cá nhân với nhóm, với cộng đồng xã hội Những vụ tự tử này xảy ra khi các cá nhân hoàn toàn

bị ngập vào trong nhóm xã hội của họ, bị liên kết cao độ khiến cho cá nhân có ít hay không có giá trị

Trang 5

+, Tự tử phi chuẩn mực: Đó là sự tự sát trong tình huống nhiễu loạn, hỗn độn, khủng hoảng Trong tình huống xã hội như vậy, các chuẩn mực cũ không còn tác dụng kiểm soát, điều tiết hành vi cá nhân, nhưng chuẩn mực mới chưa xuất hiện

Cá nhân rơi vào trạng thái chơi vơi, mất phương hướng Khi trật tự xã hội bị xáo trộn thì xảy ra sự gia tăng về tự tử phi chuẩn mực VD: Sự đổ vỡ về kinh tế tai họa tài chính…

+, Tự tử cuồng tín: Đó là sự tự sát do niềm tin mù quáng chi phối, do bị kiếm soát, điều phối quá gắt gao, do sự trừng phạt quá nặng nề về mặt giá trị và chuẩn mực

- Các kiểu tự tử trên đều liên quan đến một nhân tố xã hội duy nhất đó là sự

cố kết và thống nhất nội tại của nhóm xã hội Tỉ lệ tự tử trong một xã hội tùy thuộc vào mức độ mà các thiết chế của nó sản sinh ra những trạng thái tự kỷ,

vị tha, phi chuẩn mực và cuồng tín

- Theo mục đích và cách thức tự tử thì có thể phân loại tự tử thành các như: tự

hại, an tử và hỗ trợ tự tử, tự sát giết người, tấn công tự sát, tự sát tập thể, hiệp ước tự sát và tự sát phản đối Tuy nhiên bài tiểu luận này chủ yếu đề cập tới hiện tượng tự tử xét trên khía cạnh tâm lí và hành vi con người nên

em sẽ không làm rõ cách phân loại này

2.3 Những biểu hiện của người sắp tự tử

+, Nói về tự tử, về cái chết: Người có ý định tự tử thường nói về tự tử,

về cái chết hoặc sự trừng phạt bản thân, ví dụ: “thà chết đi cho khuất mắt, chết khỏi khổ; chẳng còn gì quan trọng nữa,…”

+, Chuẩn bị các phương tiện để tự tử: Họ tìm kiếm, chuẩn bị dao, kiếm, thuốc ngủ, dây hoặc thường lui tới những nơi có thể tử tử như hành lang nhà cao tầng, cầu, sông, hồ,…

+, Quan tâm tơi cái chết: Thể hiện sự quan tâm bất thường về cái chết, như làm thơ, viết nhật ký, tự truyện có đề cập đến cái chết và sự ra đi của mình Tìm đọc các sách, báo, phim ảnh về cái chết

+, Không còn hi vọng về tương lai: Bày tỏ sự cô vọng, bế tắc, mất niềm tin vào cuộc sống, niềm tin vào tương lai Trong lời nói, thư từ, email, facebook của những người có ý định tự tử thường thể hiện sự vô vọng, không thiết sống

+, Căm ghét, đày đọa bản thân: Có cảm giác tội lỗi, xấu hỗ, vô giá trị hoặc chán ghét bản thân Họ thường nói về tội lỗi hoặc gánh nặng của

Trang 6

bản thân mình đối với những người xung quanh Ví dụ: “không có tôi thì anh sẽ sướng hơn,…”

+, Sắp xếp tư trang, và các việc riêng: Sắp xếp lại tư trang, cho đi các đồ vật có giá trị hoặc liên lạc với các thành viên gia đình và bạn bè, như nhờ ai đó giúp gửi lời nhắn tới gia đình

+, Nói những lời tạm biệt: Có thể bất ngờ tới thăm hoặc gọi điện cho người thân và bạn bè và nói những lời vĩnh biệt hoặc nhắn gửi, ám chỉ

sự chia tay, như “nếu không còn gặp lại thì, ”

+, Rút lui khỏi người thân, bạn bè: Trong thời thời gian trầm cảm, bế tắc, người có ý định tự tử thường sống khép mình, tự cô lập mình với người thân, bạn bè

+, Có hành vi khác thường: Từ ăn, ngủ thất thường, có các xích míc, xung đột với mọi người xung quanh; sử dụng rượu bia, thuốc lá và các chất kích thích nhiều hơn bình thường; có lối sống buông thả và coi thường rủi ro như: phóng xe trên đường, không sợ chết,…

+, Đột ngột thay đổi tâm tính: Có thể thay đổi tâm tính từ lo âu, trầm cảm sang điềm tĩnh, vui vẻ, thoải mái Đây có thể là dấu hiệu cho thấy người này đã có giải pháp vượt qua bế tắc, nhưng đa số là họ thay đổi tâm tình vì đã đưa ra quyết định tự tử rồi Họ bình thản chờ cơ hội để thực hiện Vì vậy, cần phải theo dõi, hỗ trợ để ngăn ngừa họ thực hiện tự tử

Trang 7

2.4 Những phương thức tự tử.

- Treo cổ, uống thuốc trừ sâu, dùng súng, nhảy lầu, cầu,ao, hồ, sông, suối,

đứng trên đường ray xe lửa, đụng xe, mất máu, cố ý chết đuối, tự thiêu, điện giật, cắt mạch máu, uống thuốc an thần, các chất kích thích từ ma túy, sử sụng các dụng cụ làm tắc đường thở, đập đầu, cắn lưỡi,… Tất cả các phương thức hủy hoại bản thân đều có thể được các đối tượng sử dụng

Trang 8

3 Nguyên nhân của hiện tượng tự tử.

3.1 Nguyên nhân chung

- Tự tử để giải thoát bản thân: điều này xuất phát từ nguyên nhân tâm lý bên

trong của mỗi con người Sự sống mang đến sự bất mãn chán ghét đến tột độ đem đến sự sụp đổ hoàn toàn về tinh thần, mất niềm tin nghị lực không tìm thấy lí do gì để có thể cho họ tồn tại Họ muốn tìm đến cái chết để giải thoát bản thân khỏi ốm đau, bệnh tật, tình trạng túng quẫn, nợ nần, trốn tránh trách nhiệm,…

- Nguyên nhân xuất phát từ môi trường xã hội: tự tử xảy ra do những tác

nhân, những sự kiện bên ngoài, những ảnh hưởng từ phía xã hội, chẳng hạn như bị người yêu chối bỏ, bị thầy cô giáo phạt, bị bạn bè chêu trọc, bị quấy rỗi, lạm dụng tình dục, bị cưỡng hiếp, bị cha mẹ trách mắng, bị mất cha hay

mẹ, cha mẹ ly hôn, bị mất việc, bị sạt nghiệp, bị vỡ nợ, bị phản bội,… Đôi khi nhiều thanh thiếu niên tử tử vì một nguyên nhân rất lạ đời, như thần tượng của họ (ngôi sao ca nhạc, ngôi sao điện ảnh, người mẫu thời trang,…)

bị chết hoặc tự tử, dẫn đến việc họ quyết định chết theo

- Tự tử cũng là sự thách thức và kháng nghị: Nhiều người sự dụng cách thức

tự tử để thể hiện sự phản đối 1 điều gì đó hay để đe dọa người khác VD: Hòa thượng Thích Quảng Đức đã tẩm xăng tự thiêu tại một ngã tư ở Sài Gòn vào ngày 11 tháng 6 năm 1963 nhằm phản đối sự đàn áp Phật giáo của chính

Trang 9

quyền Ngô Đình Diệm, hay một số người con nhịn đói đến chết để phản đối quyết định của bố mẹ mình,…

- Các chứng bệnh về tâm lý, những rối loạn tinh thần, chẳng hạn như bị bệnh

tâm thần phân liệt, bị trầm cảm nặng, bị chứng rối loạn lưỡng cực (lúc thì vui đến phát cuồng, lúc thì buồn đến mức suy sụp tinh thần), bị sang chấn tâm lý mạnh (có thể là do mất đi người thân yêu nhất, do bị chối bỏ, bị hắt hủi,…)

- Lạm dụng các chất kích thích: Việc lạm dụng các chất kích thích trong thời

gian ngắn cũng như trong thời gian dài đều làm nguy cơ tự tử tăng lên Hơn 50% số người tự tử có dính líu đến việc sử dụng bia rượu và ma túy Hơn 25% số người nghiện ma túy và nghiện rượu tự tử Trong lứa tuổi vị thành niên, việc lạm dụng bia rượu và ma túy chiếm tỷ lệ 70% số trẻ vị thành niên

tự tử

- Do các chứng bệnh về sinh lý: như bị mắc phải các chứng bệnh nan y, bị

khuyết tật hoặc bị mất khả năng vận động do tai nạn đột ngột gây ra,… Não

bộ bị thương tổn, hoạt động kém hiệu quả ở một vài chức năng nào đó cũng

dễ dẫn đến việc tự tử Những thương tổn sinh lý này gây ra thiểu năng trong quá trình nhận thức và ảnh hưởng đến các hoạt động sống, các quan hệ xã hội của người bệnh, chúng tác động ngược trở lại với xúc cảm, tình cảm, tâm trạng,… của người bệnh, khiến cho nguy cơ tự tử của người bệnh tăng cao

- Tự tử để thoát khỏi sử trừng phạt của pháp luật: đây cũng là nguyên nhân

của nhiều vụ tự tử khác nhau Nhiều người sau khi phạm tội cảm thấy ăn năn hối hận và sợ hãi khi nghĩ đến cảnh phải chịu tội nên trốn tránh trách nhiệm bằng cách tự tử

- Tự sát để phục vụ mục đích quân sự: sử dụng cái chết của một hay nhiều

người để phục vụ mục đích quân sự VD: những vụ tự tử của những người mật thám khi bị lộ để bảo toàn bí mật…

- Tự sát vì nghĩa vụ: Tự sát vì nghĩa vụ hay bổn phận là một hành động tự sát

có hoặc không gây tử vong, được thực hiện với niềm tin rằng việc này sẽ đạt được những điều tốt đẹp hơn, chứ không phải là để thoát khỏi những điều kiện quá đáng hoạc quá khắc nhiệt VD: Các quý tộc La Mã bị truất phế đôi khi được phép tự sát để gia đình họ thoát khỏi những hình phạt

3.2 Nguyên nhân tự tử đặc trưng của giới trẻ

- Ngoài những nguyên nhân chung trên, do một số tính chất đặc thù của lứa

tuổi nên tỉ lệ học sinh, sinh viên tự tử nhiều hơn hẳn các lứa tuổi khác đó là

so các nguyên nhân sau:

Trang 10

+, Những căng thẳng trong gia đình, như: bất hòa giữa cha - mẹ, cha mẹ ly hôn,

sự thiếu quan tâm của cha mẹ về tâm lý, sự độc tài, sự áp đặt, sự buông lỏng, thờ ơ của cha mẹ, kinh tế gia đình khó khăn, tình trạng trầm cảm - lo âu của cha

mẹ, bệnh lý của cha mẹ hoặc của trẻ,… là những yếu tố rất thường gặp trong những trường hợp tự tử tuổi vị thành niên

+, Bắt chước: Việc trẻ chọn lựa hành vi tự tử có liên quan đến nhiều vấn đề Ngoại trừ vấn đề bệnh lý tâm thần do bất thường của hoạt động não, đa số yếu

tố ảnh hưởng đến việc tự tử ở học sinh là những vấn đề xã hội, nhà trường và gia đình Các nhà nghiên cứu tâm lý - tâm thần - xã hội học đã ghi nhận tình trạng bắt chước, “lây bệnh” từ những chương trình truyền hình, phim ảnh, các thông tin xã hội về tình trạng tự tử Theo nhà nghiên cứu thì hiện tượng tự tử càng lúc càng tăng thêm theo từng đợt xuất hiện các bộ phim liên quan đến những hành vi tự tử nhất là các bộ phim có những ngôi sao thần tượng

+, Yếu tố bất an, căng thẳng trong trường học, trong giao tiếp với bạn bè Ở độ tuổi này, mối quan hệ với trường học và bạn bè là mối quan hệ ngoài gia đình duy nhất của trẻ, có tính nâng đỡ và xây dựng nhân cách của trẻ Khi có những khó khăn trong mối quan hệ này, cộng với những khó khăn xuất phát từ gia đình, trẻ sẽ mất nguồn lực, mất đi sự động viên và giúp đỡ trong khi tình trạng căng thẳng nội tại cũng vừa xuất hiện và mạnh mẽ dần Chính vì vậy, việc trẻ thu mình, tự kỷ, trầm cảm và nặng nhất là tự tử là điều rất dễ xẩy ra Một số vấn

đề nảy sinh tại trường học như là: Không đạt được kết quả mong muốn trong học tập như: thi rớt, bị điểm kém,… Bị mất danh dự, bị sỉ nhục trước trường, trước tập thể lớp; Bị người thân xúc phạm, vu oan, hiểu lầm; Bị áp lực do gia đình, nhà trường kỳ vọng ở các em quá cao trong học tập; Bị ngăn cấm trong tình yêu, tình bạn Thiếu trong 3 khía cạnh: sinh lí – tâm lí – quan hệ: Dưới góc

độ sinh lý, chúng ta đều biết ở độ tuổi thanh thiếu niên, hưng phấn trong thần kinh rất mạnh, do đó các em dễ mất kiểm soát và có hành động bất ngờ

Ngày đăng: 08/12/2020, 16:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w