1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN xã hội học GIỚI NAM TÍNH và nữ TÍNH TRONG QUAN NIỆM TRUYỀN THỐNG và ẢNH HƯỞNG của NAM TÍNH và nữ TÍNH TRONG QUAN hệ xã hội

15 778 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 290,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xa xưa trong lịch sử loài người đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, trong mỗi giai đoạn lịch sử đó có sự thay đổi về hoàn cảnh chính trị, kinh tế dẫn đến vai trò của giới nam và giới nữ trong gia đình và xã hội cũng thay đổi. Do đó, quan niệm về tính cách, quy tắc xử thế của mỗi giới cũng biến đổi không ngừng.Xã hội càng văn minh, người ta càng công nhận quyền bình đẳng của hai giới. Trong phân công lao động, vai trò của hai giới xích lại gần nhau, hệ thống giáo dục cũng không có sự phân biệt lớn về giới tính. Về nguyên tắc, ngày nay mỗi một con người, dù nam hay nữ, đều có điều kiện phát triển toàn diện hơn, không phải bó hẹp trong các khuôn mẫu cổ xưa về đàn ông và đàn bà nữa.

Trang 1

1 ĐẶT VẤN ĐỀ.

Xa xưa trong lịch sử loài người đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, trong mỗi giai đoạn lịch sử đó có sự thay đổi về hoàn cảnh chính trị, kinh tế dẫn đến vai trò của giới nam và giới nữ trong gia đình và xã hội cũng thay đổi Do đó, quan niệm về tính cách, quy tắc xử thế của mỗi giới cũng biến đổi không ngừng

Xã hội càng văn minh, người ta càng công nhận quyền bình đẳng của hai giới Trong phân công lao động, vai trò của hai giới xích lại gần nhau, hệ thống giáo dục cũng không có sự phân biệt lớn về giới tính Về nguyên tắc, ngày nay mỗi một con người, dù nam hay nữ, đều có điều kiện phát triển toàn diện hơn, không phải bó hẹp trong các khuôn mẫu cổ xưa về đàn ông và đàn bà nữa

Tuy nhiên, các quy định, quan niệm về tính cách, quy tắc cũ xã hội vẫn còn để lại những "dư âm" của nó, ảnh hưởng đến sự phát triển của mỗi con người Để hiểu được những ảnh hưởng của quan niệm xã hội về tính cách hay “hình mẫu xã hội” lên người đàn ông và phụ nữ như thế nào, chúng

ta sẽ cùng bàn bạc và phân tích “Nam tính và nữ tính trong quan niệm truyền thống và ảnh hưởng của nam tính nữ tính đến quan hệ xã hội”

2 TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU TỪ GÓC ĐỘ LÝ THUYẾT

- Lý thuyết xã hội hoá:

Nhiều nhà tư tưởng, triết học xã hội học từ cổ chí kim đều thừa nhận vai trò của Xã hội hoá trong đời sống con người bằng cách này hay cách khác Xã hội hoá là một quá trình mà ở đó tất cả các cá nhận đều học cách làm sao để đáp ứng được các trông đợi của xã hội thông qua cách ứng xử, giao tiếp với những người khác Xã hội hoá có thể hiểu là một mô hình, khuân mẫu của xã hội được hình thành thế nào để tạo sự thích nghi, sự liên kết giữa các cá nhận với nhóm

Trang 2

Trên kía cạnh giới Jeffrey Rubin và các cộng sự (1974) đã cho rằng hầu hết các bậc cha mẹ đều nhận thấy các biểu hiện về giới của con mình ngay từ những ngày đầu tiên, chẳng hạn con trai có vẻ cứng rắng hơn và con

gái mềm mại hơn, đó có thể là bản năng giới tính Khi đứa trẻ lớn lên một

chút, chính các quan niệm của cha mẹ về vai trò giới đã tác động đến cách giáo dục, cư sử của họ đối với trẻ Tính chủ động này đã tác động rất lớn đến tính cách và phẩm chất giới sau này của trẻ Việc giáo dục con trai học con gái theo các khuân mẫu giới như: Con trai phải mạnh mẽ, hướng ngoại, còn con gái phải dịu dàng, hướng nội chăm lo việc gia đình đã làm cho qua trình

xã hội hoá hình thành nhân cách của con người mang đậm màu sắc giới Xã hội hoá nhận thức về giới hình thành một cách khách quan từ môi trường gia đình và xã hội thông qua hệ thống các chuẩn mực và giá trị sống của xã hội

đó

Vận dụng lý thuyết xã hội hoá trong tiếp cận giới, ta có thể nhận thấy

xã hội hoá về giới là một quá trình khách quan trong sự phát triển của con người Trong khi con người tương tác với xã hội, hội nhập với các quy chuẩn của xã hội mà họ đang sống, con người cũng tiếp nhận các quy chuẩn

về giới trong xã hội đó Các khuân mẫu giới luôn được đề cập và nhấn mạnh

về các giá trị và cách sống của mỗi giới như là nam tính và nữ tính.

- Lý thuyết biến đổi xã hội:

Thuyết biến đổi xã hội trong xã hội học ra đời coi xã hội là một sự vận động và tương tác không ngừng Đại diện tiêu biểu là A Comte, Gerhard Lenski và Jean Lenski, William Orburn …

Có nhiều quan điểm khác nhau về sự biến đổi xã hội thông qua biến

đổi hành vi Các nhà xã hội học theo thuyết biến đổi xã hội định nghĩa “Biến đổi xã hội là một quá trình, qua đó những khuân mẫu của hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội thay đổi qua thời gian” Lý thuyết biến đổi xã hội coi quan niệm giữa Nam

tính và Nữ tính cùng là đối tượng của những sự biến đổi xã hội

Trang 3

3 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN.

Giới là gì?

Nói đến giới cần bắt đầu phân biệt giữa hai thuật ngữ "giới" và " giới tính" và xem xét những đặc trưng cơ bản của chúng

Giới tính: (sex) là một khái niệm xuất phát từ môn sinh học, chỉ sự khác biệt

giữa nam và nữ về mặt sinh học Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến quá trình tái sản xuất con người và di truyền nòi giống Con người sinh ra đã có những đặc điểm về giới tính (là đàn ông hay đàn bà) Những đặc điểm này là

ổn định và hầu như không biến đổi ở cả nam và nữ Ví dụ mọi người đàn bà đều có chung những đặc điểm về giới tính, đó là mang thai, sinh con và cho con bú bằng sữa mẹ Mọi đàn ông đều có chung một đặc điểm là có thể sản xuất ra tinh trùng cần thiết cho quá trình thu thai (Trần thị Quế, Gendcen,

1999 Trích theo Đỗ Thị Bình và Trần Thị Vân Anh, 2003, tr.18-19)

Những đặc trưng cơ bản của giớ ính: (i) Bẩm sinh; (ii) Đồng nhất và

(iii) Không biến đổi (Trần thị Quế, Gendcen, 1999 Trích theo Đỗ Thị Bình

và Trần Thị Vân Anh, 2003, tr.20)

Giới (gender): "Giới" là thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học,

nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ Giới đề cập đến việc phân công lao động, các kiểu phân chia nguồn lực và

và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội cụ thể Nói cách khác, nói đến giới là nói đến sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới về mặt xã hội (Trần thị Quế, Gendcen, 1999 Trích theo Đỗ Thị Bình và Trần Thị Vân Anh, 2003, tr.19)

Những đặc trưng cơ bản của giới: (i) Do dạy và học mà có; (ii) Đa

dạng (iii) luôn biến đổi; (iv) Có thể thay đổi được (Trần thị Quế, Gendcen,

1999 Trích theo Đỗ Thị Bình và Trần Thị Vân Anh, 2003, tr.20-21)

Vai trò giới: Vai trò giơí vừa là một khái niệm vừa là một trong các công cụ

được sử dụng để phân tích tương quan giới trong gia đình và xã hội

Trang 4

Vai trò giới là một trong nội dung của khung phân tích giới của Moser 91993) Cùng với việc xác định các nhu cầu giới, khung phân tích này giới thiệu một cách thức phân tích tình hình thực tế và lập kế hoạch với mục đích

vì công bằng và bình đẳng giới Vai trò giới vẽ lên một bức tranh về phân công lao động bằng cách đặt câu hỏi "Ai làm gì" Moser cho rằng trong một ngày, cũng như cả cuộc đời, phụ nữ và nam giới có xu hướng làm những công việc khác nhau, họ thực hiện những vai trò khác nhau, được gọi là vai trò giới.( Đỗ Thị Bình và Trần Thị Vân Anh, 2003, tr.2-23)

Sự phân công lao động theo giới

Là sự phân công các nhiệm vụ và trách nhiệm khác nhau giữa nam và

nữ Sự phân công này là do dạy dỗ mà thành, được mọi thành viên trong cộng đồng, xã hội nắm vững Vai trò 3 mặt (còn được gọi là gánh nặng 3 vai) của phụ nữ: công việc sản xuất, công việc tái sản xuất và công việc cộng đồng (UNDP, 2004, tr.28)

Định kiến giới

Là suy nghĩ mà mọi người có về những gì mà phụ nữ và nam giới có khả năng về loại công việc mà họ có thể làm Định kiến giới thường gắn liền với thái độ, niềm tin và thường là yếu tố quan trọng duy trì khuôn mẫu giới Định kiến giới được biểu hiện dưới nhiều “hình thức thể hiện khác nhau”: trong ngôn ngữ, lời nói hàng ngày, trong nhận định, đánh giá cán bộ, trong chính sách cán bộ, trong quan hệ giữa hai giới trong gia đình và xã hội, thậm chí định kiến giới được thể hiện “rất đa dạng và phong phú” trong nội dung của phim ảnh, vô tuyến truyền hình, sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy của thầy cô giáo, phân công lao động của bố mẹ cho con trai và con gái, phân công lao động xã hội từ đó hình thành “việc đàn ông”, việc “đàn bà”;

“nghề con trai”, “nghề con gái” Một trong những ví dụ về định kiến khá phổ biến trong xã hội là cho rằng phụ nữ không thích hợp với những công việc đói hỏi sự hiểu biết về khoa học kỹ thuật Đây chính là một trong những biểu hiện khá phổ biến hầu hết tại các vùng nông thôn nước ta dẫn đến việc hạn chế sự tham gia của phụ nữ vào các lớp tập huấn kỹ thuật khuyến nông

Trang 5

như trồng điều, trồng tiêu, nuôi gà thả vườn, kỹ thuật canh tác trên đất dốc trong các dự án thực hiện tại các địa phương (tỷ lệ phụ nữ tham gia các lớp tập huấn chỉ đạt từ 10-15%)

Những định kiến như vậy lâu dần có thể được người ta xem như một điều "hiển nhiên", và từ đó những gì khác với định kiến dù là thực tế, ví dụ nam giới có người làm việc nhà thành thạo, hay có nhiều phụ nữ có tầm nhìn

xa trông rộng cũng bị coi là khó chấp nhận Định kiến giới, đặc biệt nếu có

trong suy nghĩ của các nhà lãnh đạo thì là một trong những trở ngại đáng kể

đối với việc đánh giá khách quan năng lực của giới nữ và do đó cũng là trở ngại đối với việc thực hiện bình đẳng nam nữ nói chung

Giá trị /khuôn mẫu giới:

Là những ý tưởng mọi người nghĩ phụ nữ và nam giới nên như thế nào và nên làm những công việc gì Ví dụ, phụ nữ nên dịu dàng, nam giới nên mạnh mẽ, quyết đoán, hay thể hiện khá rõ trong định hướng nghề nghiệp cho con trai và con gái: con gái học sư phạm để làm cô giáo, nam giới nên học bách khoa để trở thành những kỹ sư kỹ thuật, từ những giá trị/khuôn mẫu giới này đã hình thành "nghề con trai", "nghề con gái", "việc đàn ông", việc "đàn bà" Quan niệm khác nhau dẫn đến những hành vi ứng xử khác nhau và dẫn đến những mâu thuẩn trong đánh giá khả năng, định hướng nghề nghiệp, phát triển năng lực của trẻ em gái và phụ nữ trong gia đình, tại nơi làm việc và trong xã hội

4 “NAM TÍNH VÀ NỮ TÍNH” TIẾP CẬN TỪ MỘT SỐ KHÍA CẠNH.

4.1 Quan niệm truyền thống về nam tính và nữ tính.

Quan niệm xã hội về nam tính và nữ tính là một khía cạnh về bản sắc giới, thể hiện nhận thức của ai đó về quá trình tiếp thu chuẩn mực, các giá trị

và những hành vi đi cùng với sự mong chờ, trông đợi của xã hội phù hợp với giới nam hay giới nữ; hay nói cách khác đó là mong đợi/hình mẫu cũng như nhìn nhận xã hội về Nam giới và Nữ giới các quan điểm đó vận động và biến

Trang 6

đổi theo thời gian, tuy nhiên nó phải hình thành trên các khuôn mẫu và duy trì từ thế hệ này sang thế hệ khác

Những đặc điểm nam tính hay nữ tính là sự cụ thể hoá bản sắc theo những kỳ vọng, mong chờ của xã hội Nghiên cứu cho thấy, nền văn hoá khác nhau, có một sự nhất trí chung về những đặc điểm nam tính và nữ tính

Nam tính: Chỉ những người có đặc điểm: hung hăng/hiếu chiến, duy

lý, mạnh mẽ, thống trị, năng nổ, vô tình, độc lập, cạnh tranh, sự quyết định

và ít bộc lộ tình cảm

Nữ tính: chỉ những người trực giác, tình cảm, yếu đuối, dễ xúc động, phụ thuộc, dễ bị tổn thương, dễ bảo/ngoan ngoãn, không cạnh tranh, mềm yếu/nhân hậu và dễ bộc lộ tình cảm (Edwards và Wiliams 1980, Wiliams và Best 1982) (A.G.Johson, 1996:321)

Các tác giả cuốn “Từ điển Xã hội học” (2002) có đề cập đến một vài đặc trưng của nam tính và nữ tính: “Trong xã hội của chúng ta người ta coi

ai đó là có nữ tính, nếu như người đó biết nén lại tính hung hăng, chú ý tới

vẻ ngoài của xã hội và tỏ ra hoà nhã, nặng về tình cảm; là nam tính nếu có biểu lộ tính hiếu chiến, có định hướng động tác như tính mạnh mẽ, biết nén tình cảm, đặc biệt là nỗi lo sợ lại…” (2002:544)

Xét theo quan niệm truyền thống, nam tính và nữ tính không phải do bẩm sinh mà có được Những yếu tố sinh học không đủ cơ sở để giải thích

sự khác nhau về vai trò của hai giới Trên thực tế, ở mỗi người có thể tìm thấy những điểm được coi là nam tính hay nữ tính theo nghĩa truyền thống, tuy rằng tỷ lệ đó khác nhau đối với mỗi người

Nam tính hay nữ tính được cá nhân tiếp nhận dần dần từ tuổi ấu thơ

do hoàn cảnh sống trực tiếp và giáo dục của gia đình và xã hội Điều đó có nghĩa là sự khác biệt vai trò giới của hai giới chỉ là tương đối, không thể biện minh cho sự thống trị của nam giới, sự tuân thủ, phụ thuộc của nữ giới với bất kỳ một lý do nào

Trang 7

Ví dụ: Với chuẩn mực của người phụ

nữ trong xã hội phong kiến là “tứ đức” (Công,

dung, ngôn, hạnh) thì hình ảnh một người phụ

nữ theo đúng nghĩa thường phải là một người:

Khéo léo, đảm đang trong việc nhà, đẹp theo

hướng nhẹ nhàng, đoan trang, lời nói nhỏ nhẹ,

từ tốn, và luôn giữ tiết hạnh, phục tùng người

đàn ông Theo đó, nếu một người phụ nữ

không khéo léo trong công việc nội trợ nhưng

năng động hoạt bát, làm kinh tế giỏi, có vẻ bề

ngoài cá tính và ăn nói sắc sảo, và có thể thảo

luận, “tranh cãi” cùng ngừơi khác giới thì không được đánh giá cao vì so sánh với mẫu hình người phụ nữ đã được định khuôn thì rõ ràng một cô gái như vậy là không “nữ tính”

Cách nhìn nhận đó cho thấy rõ sự định kiến với người phụ nữ Bởi không phải cứ là phụ nữ thì phải lo toan hết công việc nhà, phải thụ động và phục tùng nam giới, còn là đàn ông thì chủ động quyết đáp việc gia đình Thực tế có nhiều phụ nữ rất năng động hoạt bát, quyết đoán, đảm nhiệm được những vị trí vai trò quan trọng trong xã hội Tuy nhiên, do định kiến về giới nên không phải bao giờ họ cũng được gia đình và xã hội tạo điều kiện

để phát huy hết tài năng của mình

Nói đến đàn ông (nam giới) phải có thể lực

khoẻ mạnh, mạnh mẽ, ăn to nói phải lớn, những giá

trị đó như là những khuân mẫu giới luôn được đề

cập ở trên

Quan niệm truyền thống đòi hỏi những người

nam giới phải tích cực, năng động, bình tĩnh, chủ

động hơn so với phụ nữ, còn đối với phụ nữ thì đòi

hỏi cách cử xử giàu tình cảm hơn, trực giác hơn, tinh

tế hơn một chút so với nam giới

Trang 8

Quan niệm truyền thống về nam tính và nữ tính khá tương đồng giữa các quốc gia Với những tính cách mà cha mẹ mong đợi ở con cái của mình, trẻ em từ nhỏ cũng được học những cái mà người khác mong chờ ở chúng Nếu làm khác đi, ví dụ một trẻ gái ăn mặc giống con trai, nói to chỗ đông người thì trẻ em gái đó có thể bị cho là nuổi loạn hoặc ví dụ: một trẻ nam nào đó ăn nói nhẹ nhàng dáng vẻ gầy gò yếu ớt thì có thể bị coi là “thiếu sinh khí” Rõ ràng là định kiến giới đã bao trùm và có ảnh hưởng to lớn đến quá trình xã hội hoá giới và hiện tượng này vẫn còn đang rất phổ biến trong

xã hội đương đại

4.2 Ảnh hưởng của nam tính và nữ tính trong quan hệ xã hội.

Qua lăng kính của xã hội học về đặc điểm nam tính và nữ tính cho thấy đó là những đặc tính đối lập nhau của nữ tính-nam tính Trong xã hội hiện đại quan niệm truyền thống về nam tính và nữ tính vẫn còn tồn tại, tuy nhiên có sự pha trộn mạnh mẽ giữa cái cũ và cái mới

* Nam tính và nữ tính trong giáo dục gia đình:

Trong nhiều yếu tố khác nhau: giáo dục, văn hoá - xã hội, luật pháp, truyền thông, đối xử trong gia đình, cộng đồng.v.v thì yếu tố giáo dục gia đình có sự ảnh hưởng sớm nhất, trực tiếp, liên tục nhất và tác động một cách

có ý thức đến nam giới và nữ giới Bởi gia đình luôn đóng vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của một con người ở đó, những quan niệm, niềm tin, giá trị văn hoá, định kiến giới, khuôn mẫu hành vi được chuyển tải từ thế hệ này sang thế hệ khác

Giáo dục của ông bà, cha mẹ, anh chị xuất phát từ mong muốn con cháu mình biết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, từ tốn, lễ phép, vâng lời người lớn, thưa gửi, cảm ơn, xin lỗi, không nói tục, chửi bậy, không nói dối, biết trung thực, tự giác học tập Đây là những điều dạy bảo chung của ông bà, cha mẹ đối với tất cả con cháu, mong muốn con cháu trở thành người tốt, có ích cho xã hội Tuy nhiên trong việc giáo dục trẻ, giáo dục gia đình luôn

Trang 9

tuân theo những khuôn mẫu quy định đối với từng giới Chẳng hạn với trẻ trai, bố mẹ thường dạy trẻ sống phải có bản lĩnh, dám làm, dám chịu trách nhiệm, can đảm, độc lập và có chính kiến trong công việc, luôn chứng tỏ mình là người đàn ông trong mọi nơi, mọi lúc Đối với trẻ gái phải dịu dàng, kín đáo, nhẹ dàng, trong giao tiếp, ăn nói, xưng hô lễ phép, người lớn bảo phải biết nghe lời và làm đúng những gì người lớn bảo

Rõ ràng, ảnh hưởng của nếp nghĩ truyền thống về người đàn ông phải mạnh mẽ (liên quan đến việc chỉ huy, ra lệnh), người đàn bà phải dịu dàng, đảm đang (liên quan đến việc vâng lời) có sức sống dai dẳng, bền bỉ, bám chặt vào tư tưởng của các bậc cha mẹ Sự quy gán cho con trai và con gái những phẩm chất nhân cách mang đặc trưng của mỗi giới có ý nghĩa củng cố

sự ổn định, nhưng hạn chế sự phát triển toàn diện nhân cách của trẻ, hạn chế vai trò của nam giới trong việc chăm sóc gia đình, vai trò của nữ giới trong hoạt động xã hội

Thực tiễn cho thấy, trẻ phải chịu áp lực rất lớn từ những quan niệm trên Các em phải tự điều chỉnh hành vi sao cho phù hợp với những khuôn mẫu cụ thể của mỗi giới Quan sát trẻ chơi đồ chơi, chúng ta thấy nếu bé trai

ôm búp bê sẽ bị chế giễu là "con gái", là "uỷ mị", bé gái chơi súng ống sẽ bị cha mẹ cấm Nếu chúng đi "lộn sân" sẽ bị chê cười

Định kiến giới trong việc giáo dục con cái của cha mẹ thể hiện rất sớm Chẳng hạn trong việc việc mua đồ chơi cho trẻ Thông thường các bậc cha mẹ mua đồ chơi gì cho trẻ? Từ quan sát thực tế, chúng tôi nhận thấy cha

mẹ mua búp bê, đồ hàng cho con gái, mua đồ lắp ráp cơ khí như máy bay, tàu hoả, ô tô cho con trai Đồ chơi có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển tâm lý, nhân cách của trẻ Những hoạt động của trẻ với đồ chơi không chỉ góp phần kích thích tính sáng tạo, giúp trẻ phát triển trí tuệ, khả năng tư duy linh hoạt, nhậy bén, giúp trẻ tiếp cận và làm quen với thế giới xung quanh, trẻ dễ dàng hoà nhập vào cuộc sống ẩn chứa đằng sau những

đồ chơi mà cha mẹ mua cho trẻ là những mong muốn hình thành ở con mình những tính cách, những năng lực đặc trưng cho mỗi giới

Trang 10

Đối với trẻ gái những đồ chơi như búp bê, đồ hàng, sẽ giúp trẻ hình thành tính dịu dàng Các đồ chơi này cũng tạo điều kiện cho trẻ làm quen với công việc nội trợ, chăm sóc và nuôi dạy con cái sau này Bằng việc mua cho trẻ gái những đồ chơi này bố mẹ đã vô hình chung quy định ngầm cho trẻ gái những phẩm chất, năng lực mà một người phụ nữ phải có, những công việc mà phụ nữ phải làm trong tương lai Những đồ chơi mua cho trẻ trai như ô tô, tàu hoả, đồ lắp ráp cơ khí hình thành ở trẻ trai tính mạnh mẽ, can đảm Nhờ trải nghiệm trong khi chơi với đồ chơi, tạo cho cho trẻ sự say

mê, hứng thú, vun đắp cho trẻ những ước mơ trở thành phi công, kỹ sư cơ khí, xây dựng, những cầu thủ bóng đá Mang ý nghĩa hướng nghiệp rất lớn với trẻ trai, trong khí đó, đồ chơi của trẻ gái ít có những định hướng nghề nghiệp như vậy

Xem xét cơ hội tiếp cận với nguồn lực giáo dục, chúng ta thấy có sự đầu tư khác nhau giữa trẻ trai và trẻ gái của các bậc cha mẹ Các gia đình có

sự thiên vị nhiều hơn đối với trẻ trai trong việc đầu tư giáo dục con cái Điều này xuất phát từ định kiến giới là con trai có năng lực lao động và cơ hội thành đạt cao hơn so với con gái ở nông thôn còn có quan niệm cho rằng con gái phải sớm lập gia đình, tránh nhỡ thì, con gái là con người ta, từ đó

mà các bậc cha mẹ ít đầu tư cho con gái học lên cao Mặt khác, con gái có ít thời gian rỗi học bài ở nhà hơn so với trẻ trai Trẻ gái phải phụ giúp cha mẹ việc gia đình, các em phải hoàn tất công việc gia đình mới nghĩ đến việc học tập

Ngoài những phẩm chất tâm lý, nhân cách chung các cha mẹ mong muốn hình thành ở con cái mình, họ còn mong muốn con cái của mình trở thành những người có phâm chất tâm lý, nhân cách đặc trưng của giới nam hoặc giới nữ Những mong muốn này chịu ảnh hưởng nhiều từ những định kiến, những khuôn mẫu về mỗi giới Những mong muốn này còn tạo ra sự khác nhau trong hành vi đối xử của họ đối với trẻ trai hoặc trẻ gái

Tuy nhiên, trong nhiều gia đình hiện đại các bậc cha mẹ cũng không

có quan niệm phân biệt rạch ròi giữa nam tính và nữ tính

Ngày đăng: 25/06/2017, 15:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w