BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH --- LÊ THÀNH CÔNG CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH TỈNH TÂY NINH LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
-
LÊ THÀNH CÔNG
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH
TỈNH TÂY NINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS TRẦN VĂN THÔNG
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
-
LÊ THÀNH CÔNG
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH
TỈNH TÂY NINH
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60.31.05
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS TRẦN VĂN THÔNG
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Quý Thầy, Cô khoa Kinh tế phát triển và Phòng Quản lý – Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu, giúp tôi tiếp cận tư duy khoa học, phục vụ công tác và cuộc sống
Tôi chân thành cám ơn Tiến sĩ Trần Văn Thông đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này Trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn, dưới sự hướng dẫn khoa học của Thầy, tôi đã học hỏi được những kiến thức và phương pháp nghiên cứu khoa học bổ ích
Vô cùng cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành tốt nghiên cứu của mình
Người viết,
Lê Thành Công
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu trong luận văn này là trung thực Nội dung công trình nghiên cứu này chưa từng được ai công bố
Lê Thành Công
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tây Ninh là tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ với tiềm năng du lịch khá phong phú, có những nét đặc sắc riêng, tiêu biểu là các di tích và danh lam thắng cảnh nổi tiếng như núi Bà Đen, hồ Dầu Tiếng, Tòa Thánh Cao Đài, Căn Cứ Trung Ương Cục Miền Nam… Chính vì vậy, Tây Ninh
có thể tạo nên sức thu hút lớn đối với du khách trong nước và quốc tế
Tuy nhiên, hiện trạng của du lịch Tây Ninh hiện nay còn nhiều hạn chế, còn nhiều vấn đề bất cập cần phải giải quyết, bởi những hoạt động của du lịch chưa mang lại những giá trị thiết thực đối với lợi ích của cộng đồng và tăng doanh thu cho ngân sách địa phương Điều này đã chứng tỏ rằng “tiềm năng du lịch Tây Ninh vẫn còn là… tiềm năng”
Từ những nhận định nêu trên, tác giả chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản phẩm du lịch tỉnh Tây Ninh” Mặc dù đề tài chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp, nhưng tác giả hy vọng rằng sẽ góp phần vào
sự phát triển chung của ngành du lịch, cũng như từ đề xuất các giải pháp dựa trên những cơ sở đánh giá khoa học để có thể góp phần nhỏ bé vào phát triển du lịch Tây Ninh, vốn là tiềm năng sẵn có của địa phương
2 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn xác định các mục tiêu sau đây:
- Đánh giá hiện trạng tài nguyên và hiện trạng phát triển sản phẩm
du lịch của tỉnh Tây Ninh
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển sản phẩm du lịch Tây Ninh theo đánh giá của du khách
- Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển sản phẩm du lịch Tây
Trang 64 Lịch sử nghiên cứu đề tài
4.2 Ở Việt Nam
Ở nước ta, vấn đề nghiên cứu về tài nguyên du lịch cũng được đặt
ra từ lâu, trong một số sách giáo khoa, tài liệu đã đề cập đến Song chỉ có tính chất gợi ý, chưa có điều kiện đi sâu giải quyết Đặc biệt trong những năm gần đây, trước yêu cầu phát triển của ngành du lịch, một số đề tài, công trình nghiên cứu khoa học phục vụ việc chỉ đạo phát triển du lịch đã được khẩn trương tiến hành Các đề tài: Khai thác tài nguyên du lịch và bảo vệ môi trường Việt Nam (1986); Sơ đồ phát triển và phân bố ngành
Trang 7du lịch Việt Nam (1986); Kế hoạch chỉ đạo phát triển Việt Nam (1991); Qui hoạch tổng thể du lịch Việt Nam (1995-2000) do Viện nghiên cứu du lịch phát hành (1994); Đề tài KT-03-18 đánh giá tài nguyên biển Việt Nam phục vụ mục đích du lịch (1993)…Những công trình đó bắt đầu phân tích cơ sở lý luận của tổ chức du lịch, đánh giá các dạng tài nguyên với mục đích phục vụ du lịch Dự báo nhu cầu phát triển và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của sự phát triển du lịch
Ở Tây Ninh, vấn đề này trước đây có nhiều đề tài nghiên cứu cấp tỉnh cũng như sinh viên ngành du lịch của các trường đại học ở thành phố
Hồ Chí Minh đề cập đến Có thể liệt kê một số đề tài sau đây:
- Thực trạng và hướng khai thác sản phẩm du lịch Tây Ninh, năm
2005 Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Trung Thành
- Giải pháp nhằm nâng cao năng lực hấp dẫn của sản phẩm du lịch đối với khách du lịch đến với tỉnh Tây Ninh, năm 2005 Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Thị Hoàng Thơ…
Tuy nhiên, vấn đề phát triển du lịch Tây Ninh cho đến nay vẫn chưa
có công trình nghiên cứu nào đi sâu vào phân tích, đánh giá về các nhân
tố ảnh hưởng đến sản phẩm du lịch Tây Ninh, để đưa ra định hướng phát triển du lịch một cách toàn diện, đây cũng là điểm mới của đề tài
5 Hệ quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Quan điểm
5.1.1 Quan điểm hệ thống
Tính chất tổng hợp và tính chất liên ngành là đặc điểm nổi trội của kinh doanh du lịch, sự phát triển du lịch Tây Ninh được đặt trong bối cảnh chung về kinh tế xã hội, là sự nghiệp chung của các cơ quan hữu trách và các ngành kinh tế khác
Trang 85.1.2 Quan điểm tổng hợp
Đây là quan điểm truyền thống, nghiên cứu toàn bộ điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn), các yếu tố kinh tế - xã hội sự phân bố và biến động của chúng
Kết hợp có qui luật trên cơ sở phân tích và tổng hợp các hợp phần của hệ thống lãnh thổ du lịch, phát hiện và xác định các điểm đặc thù của tài nguyên du lịch Ngoài ra còn kết hợp một số quan điểm kinh tế, sinh thái, lịch sử, văn hóa…
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
5.2.1 Phương pháp thu nhập và phân tích dữ liệu
5.2.1.1 Phương pháp thu nhập dữ liệu
Thu nhập dữ liệu thứ cấp gồm: những tài liệu được xuất bản chính thức, những đề tài đã nghiên cứu có liên quan và các bản số liệu thống kê, báo cáo tổng kết của Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng các công ty du lịch tư nhân
Thu nhập dữ liệu sơ cấp: tiến hành thực địa, điều tra xã hội học các
du khách đến địa phương, tham khảo ý kiến và điều tra phỏng vấn sâu một số vị cán bộ lãnh đạo ngành, các nhà nghiên cứu, nhà doanh nghiệp
về những yếu tố cấu thành nên du lịch địa phương và định hướng phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh
5.2.1.2 Phương pháp khảo sát thực địa
Khảo sát thực tế địa bàn các điểm, tuyến, khu vực phát triển du lịch trong tỉnh và các vùng đệm xung quanh giúp cho việc quan sát phát hiện, nhận định về đánh giá vấn đề đang tìm hiểu được chính xác hơn, kiểm
Trang 9chứng các thông tin đã có, đồng thời thu nhập những thông tin mới cần thiết cho đề tài nghiên cứu
5.2.3 Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp này có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu nhu cầu của du khách, nắm bắt được sở thích, thị hiếu của du khách qua hình thức phỏng vấn hoặc phiếu điều tra Phương pháp này có tác dụng giúp các nhà chuyên môn nắm bắt được thị trường tiềm năng, thị trường mục tiêu; nắm được tâm tư, nguyện vọng của những người làm công tác phục
vụ và điều hành trong ngành du lịch
5.2.4 Phương pháp bản đồ
Do lãnh thổ nghiên cứu thường có qui mô lớn nên việc sử dụng bản
đồ sẽ giúp chúng ta có một tầm nhìn bao quát và những nghiên cứu đạt được cũng thường thông qua việc xây dựng bản đồ Phương pháp bản đồ
có chức năng phản ảnh ánh những đặc điểm không gian của sự phân bố các nguồn lực phục vụ du lịch và các dòng du khách Là cơ sở để phân tích và phát hiện qui luật hoạt động của hệ thống lãnh thổ du lịch, trên cơ
sở đó xây dựng định hướng phát triển du lịch trong tương lai
5.2.5 Phương pháp phân tích xu thế
Dựa vào qui luật vận động trong quá khứ, hiện tại để suy ra xu hướng phát triển trong tương lai Phương pháp này nhằm đưa ra các dự báo về các chỉ tiêu phát triển và có thể được mô hình hóa bằng các biểu
đồ toán học đơn giản
5.2.6 Phương pháp phân tích SWOT
(Strenghts, Weaknesses, Opportunities, Threats)
Phân tích SWOT là công cụ tìm kiếm tri thức về một đối tượng dựa trên nguyên lý hệ thống, trong đó phân tích những ưu khuyết điểm bên
Trang 10trong và những đe dọa và thuận lợi bên ngoài của hệ thống nghiên cứu
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Đánh giá hiện trạng tài nguyên và định hướng phát triển
du lịch ở tỉnh Tây Ninh
Chương 3: Phương pháp và kết quả nghiên cứu
Chương 4: Các giải pháp và kiến nghị phát triển du lịch Tây Ninh
Trang 11PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Một số khái niệm liên quan đến du lịch
Luận thuyết về du lịch của John Urry (2002): “Sự ngắm nhìn của du khách hướng trực tiếp đến nét nổi bật của phong cảnh mà cuộc sống thường ngày của họ không có được” Các vẻ đẹp này được “nhìn ngắm bởi vì chúng khác xa với trải nghiệm thường ngày”
Trong đại hội lần thứ 5 Hiệp hội quốc tế những nhà nghiên cứu khoa học về du lịch đã chấp nhận định nghĩa của Tiến sỹ Hunziker và Giáo sư, tiến sỹ Kraft như sau: “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời”
Với một cách tiếp cận mang tính phát triển du lịch bền vững thì
“Du lịch là quan hệ tương hỗ do sự tương tác của bốn nhóm: Du khách,
cơ quan cung ứng du lịch, chính quyền và dân cư tại nơi đến du lịch tạo
Trang 12nên”
Theo Luật du lịch Việt Nam: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoản thời gian nhất định”
Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp Hoạt động
du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế, vừa có đặc điểm của ngành văn hóa-xã hội
1.1.2 Khái niệm về khách du lịch
Các tổ chức Quốc tế như tổ chức Liên hiệp các quốc gia – League
of Nations, Tổ chức du lịch thế giới – WTO, Tiểu ban các vấn đề kinh tế-
xã hội trực thuộc Liên hiệp quốc và Hội đồng thống kê liên hiệp quốc…
có nhiều định nghĩa khác nhau về khách du lịch nói chung, khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa nói riêng Song xét một cách tổng quát thì đều có một số điểm chung nổi bật như sau:
- Khách du lịch phải là người khởi hành rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình
- Khách du lịch có thể khởi hành với mọi mục đích khác nhau, loại trừ mục đích lao động để kiếm tiền ở nơi đến
- Thời gian lưu lại nơi đến ít nhất là 24 giờ, nhưng không được quá một năm
Định nghĩa khách du lịch theo Luật du lịch của Việt Nam:
- Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến
Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc
Trang 13tế Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam Khách du lịch quốc
tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch
1.1.3 Sản phẩm du lịch và những đặc tính của sản phẩm du lịch 1.1.3.1 Khái niệm
Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó
- Các loại sản phẩm du lịch: sản phẩm du lịch chính, sản phẩm du lịch hình thức và sản phẩm du lịch mở rộng…
Như vậy sản phẩm du lịch là một tổng thể các dịch vụ tạo thành, các dịch vụ này đứng riêng không thể gọi là sản phẩm du lịch, khi chúng kết hợp lại với nhau tạo thành một thể thống nhất, hoàn chỉnh, làm thỏa mãn nhu cầu của du khách
1.1.3.2 Những nét đặc trưng của sản phẩm du lịch
- Sản phẩm du lịch về cơ bản là không cụ thể, không tồn tại dưới dạng vật thể Thành phần chính của sản phẩm du lịch là dịch vụ, hàng hóa chiếm tỷ trọng nhỏ Vì vậy, việc đánh giá chất lượng sản phẩm du lịch rất khó khăn vì thường mang tính chủ quan và phần lớn không phụ thuộc vào người kinh doanh mà phụ thuộc vào khách du lịch Chất lượng sản phẩm
du lịch thường được xác định dựa vào sự chênh lệch giữa mức độ kỳ vọng
và mức độ cảm nhận về chất lượng của khách du lịch
- Sản phẩm du lịch thường được tạo ra gắn với tài nguyên du lịch,
Trang 14do vậy sản phẩm du lịch không thể dịch chuyển được Trên thực tế, không thể đưa sản phẩm du lịch đến nơi có khách du lịch mà bắt buộc khách du lịch phải đến nơi có sản phẩm du lịch để thỏa mãn nhu cầu của mình thông qua việc tiêu dùng sản phẩm du lịch
Chính đặc điểm này là một trong những nguyên nhân gây ra khó khăn cho các nhà kinh doanh du lịch trong việc tiêu thụ sản phẩm
- Phần lớn quá trình tạo ra và tiêu dùng sản phẩm trùng nhau về không gian và thời gian Chúng không thể cất đi, tồn kho như những hàng hóa khác Vì vậy, để tạo sự ăn khớp giữa sản xuất và tiêu dùng sản phẩm
du lịch luôn là bài toán khó cho các doanh nghiệp kinh doanh du lịch
- Việc tiêu dùng sản phẩm diễn ra không đều đặn mà mang tính mùa vụ Khắc phục tính mùa vụ trong kinh doanh du lịch luôn là vấn đề bức xúc ngay cả trong thực tiễn và lý luận
1.1.4 Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là cơ sở để phát triển ngành du lịch Đó là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch (Luật Du lịch) Hiểu sâu về tài nguyên du lịch là một tất yếu trong quản lý nhà nước, nắm được tài nguyên du lịch của mình là gì, nhà cung cấp có thể đưa ra chiến lược dài hạn để tìm được khách hàng tiềm năng
1.2 Vai trò của ngành du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và môi trường
1.2.1 Vai trò của ngành du lịch đối với sự phát triển kinh tế 1.2.1.1 Phát triển du lịch quốc tế
Trang 15- Tác động tích cực vào việc làm tăng thu nhập quốc dân thông qua thu ngoại tệ, đóng góp vai trò to lớn trong việc cân bằng cán cân thanh toán quốc tế Du lịch là một ngành đã giúp nhiều quốc gia thu được hàng
tỷ USD mỗi năm, bởi vì đây là hoạt động xuất khẩu có hiệu quả nhất Thật vậy, thu nhập từ du lịch quốc tế mỗi năm đều tăng, năm 2003, thu nhập từ du lịch quốc tế đạt 523 tỉ USD, tăng 6,5% so với năm 2002 WTO vẫn tin rằng du lịch quốc tế sẽ tiếp tục tăng trưởng và đặt mục tiêu khách
du lịch sẽ đạt khoảng 1 tỉ người vào năm 2010 và 1,6 tỉ người vào năm
2020 Sở dĩ như vậy là vì: Thứ nhất, du lịch là ngành “xuất khẩu tại chỗ” những hàng hóa công nghiệp, hàng tiêu dùng, thủ công mỹ nghệ, … theo giá bán lẻ cao hơn Thứ hai, du lịch là ngành “xuất khẩu vô hình” sản phẩm du lịch, bao gồm như cảnh quan thiên nhiên, giá trị di tích lịch sử-văn hóa, tính độc đáo trong truyền thống phong tục tập quán…Sản phẩm này không bị mất đi mà giá trị ngày càng được tăng thêm khi chất lượng phục vụ du lịch cao, bởi lẽ cái mà chúng ta bán cho khách không phải là bản thân tài nguyên du lịch mà chỉ là giá trị các khả năng thỏa mãn các nhu cầu đặc trưng của khách du lịch được chứa đựng trong tài nguyên du lịch
- Du lịch khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài: Vì du lịch
là ngành bỏ vốn đầu tư thấp hơn so với các ngành công nghiệp nặng khác
mà khả năng thu hồi vốn nhanh, kỹ thuật không phức tạp Trong khi quy luật phổ biến trên thế giới hiện nay của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế là ngành dịch vụ ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong tổng sản phẩm xã hội
Do vậy, du lịch là một trong những ngành hấp dẫn các nhà kinh doanh trên con đường đi tìm hiệu quả nguồn vốn đầu tư của mình, đặc biệt là kinh doanh các dịch vụ bổ sung
Trang 16- Du lịch góp phần cũng cố mối quan hệ kinh tế quốc tế, phát triển đường lối giao thông quốc tế Nó như là một đầu mối “xuất – nhập khẩu” ngoại tệ, góp phần phát triển quan hệ ngoại hối quốc tế
1.2.1.2 Phát triển du lịch nội địa
- Du lịch góp phần làm tăng sản phẩm quốc nội thông qua việc tham gia vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân như sản xuất đồ lưu niệm, chế biến thực phẩm…
- Góp phần phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng, vì thường các vùng phát triển mạnh về du lịch thì kém sản xuất ra của cải vật chất
- Bên cạnh việc tăng sức khỏe cho người dân, thì du lịch nội địa giúp cho việc sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật hợp lý hơn, tận dụng được toàn bộ giá trị mà nó mang lại, nhất là và những mùa không phải là thời
- Phát triển du lịch sẽ mở mang, hoàn thiện cơ sở hạ tầng kinh tế như mạng lưới giao thông công cộng, mạng lưới điện nước, các phương tiện thông tin đại chúng…
1.2.2 Vai trò của ngành du lịch đối với xã hội
- Đóng góp của du lịch vào việc tạo ra việc làm cũng không thể bị xem nhẹ Lao động trong ngành du lịch ngày càng tăng, đầu tư vào du
Trang 17lịch có xu hướng tạo ra việc làm nhiều hơn và nhanh hơn so với đầu tư vào các hoạt động kinh tế khác (NETO 2003)
Để phát triển được tài nguyên du lịch ở những vùng, thường là xa xôi, hẻo lánh thì đòi hỏi phải đầu tư cơ sở hạ tầng và các dịch vụ đi kèm thiết yếu khác Khi đó, việc phát triển dẫn đến phân phối lại thu nhập và làm giảm bớt nghèo đói; đóng góp vào việc khôi phục các nghề thủ công,
lễ hội và truyền thống; và cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao phúc lợi chung của xã hội (UN 1999) Nói chung, du lịch được tin tưởng là sẽ làm giảm quá trình đô thị hóa ở các nước kinh tế phát triển
- Du lịch là phương tiện tuyên truyền, quảng cáo có hiệu quả cho các nước chủ nhà Xét về mặt kinh tế, các hàng hóa nội địa bao gồm các hàng công nghiệp hoặc tiểu thủ công nghiệp…được giới thiệu tại chỗ đến khách du lịch, họ sẽ tuyên truyền đến người thân, bạn bè và từ đó có cơ hội mở rộng con đường xuất khẩu cho các mặt hàng này Còn xét về mặt
xã hội, đây là kênh để quảng bá về các thành tựu kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, con người, phong tục tập quán… Đặc biệt, du lịch văn hóa ngày càng đông khách du lịch thiên về tham quan các khu di tích, lịch sử…vì vậy, góp phần làm tôn tạo các ngành nghề thủ công mỹ nghệ nhiều hơn, tô đậm nét văn hóa qua các sản phẩm này Một yếu tố không kém phần quan trọng là du lịch làm tăng thêm tình đoàn kết, hữu nghị, mối quan hệ hiểu biết cá nhân giữa các vùng với nhau và của nhân dân giữa các quốc gia với nhau
Ngoài những ý nghĩa tích cực như ta đã phân tích trên thì phát triển
du lịch cũng có mặt ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế, xã hội Thật vậy, nếu
du lịch quốc tế thụ động phát triển quá tải sẽ gây áp lực lên tỷ giá, làm mất cân bằng cán cân thanh toán quốc tế Hơn nữa, nếu việc phát triển du
Trang 18lịch quá tải sẽ gây ra sự phụ thuộc của nền kinh tế vào dịch vụ du lịch, dễ dẫn đến tính không bền vững của nền kinh tế đó Đồng thời, việc làm ô nhiễm môi trường và tệ nạn xã hội cũng là kết quả mặt trái của du lịch gây ảnh hưởng tài nguyên và tác hại sâu xa khác trong đời sống tinh thần của dân tộc…
1.2.3 Vai trò của ngành du lịch đối với bảo vệ môi trường
1.2.3.1 Những tác động tích cực của ngành du lịch đối với môi trường
Du lịch cũng hoạt động theo khuynh hướng phục hồi, bảo tồn và bảo vệ môi trường, cũng như việc khôi phục, tôn tạo các kho tàng lịch sử
- Phát triển về thu hút du khách: Để đáp ứng nhu cầu du lịch phải dành những khoảng đất đai có môi trường ít bị xâm phạm, xây dựng các công viên bao quanh thành phố, thi hành các biện pháp bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước, không khí nhằm tạo nên môi trường sống phù hợp với nhu cầu của du khách
- Sự phát triển cơ sở hạ tầng: Cải thiện đường sá, hệ thống quản lý cung cấp nước sạch và xử lý nước thải có thể do việc tăng thu nhập từ ngành du lịch Những cải tiến như thế có thể cắt giảm ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường thiên nhiên
1.2.3.2 Những mặt tác động tiêu cực của ngành du lịch đối với môi trường
- Hủy hoại môi trường: Hoạt động du lịch ồ ạt có nguy cơ làm suy thoái tài nguyên du lịch tự nhiên Sự tập trung quá nhiều người và thường xuyên tại địa điểm du lịch làm cho thiên nhiên không kịp hồi phục và đi đến chỗ bị hủy hoại Sự có mặt của những đoàn người đã uy hiếp đời sống của một số loài động vật hoang dã, đẩy chúng ra khỏi nơi cư trú yên
Trang 19ổn trước đây để tìm nơi ở mới
- Ô nhiễm: Là nhân tố tác động tiêu cực chủ yếu đến du lịch Giao thông là đầu mối cơ bản của cả ô nhiễm không khí và tiếng ồn Ô nhiễm nước từ nước thải và sử dụng các loại thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và phân bón ở các khu vực xây dựng phong cảnh giải trí cũng là những vấn đề cơ bản cần giải quyết cho nhiều địa điểm du lịch
- Các hoạt động du lịch: Nhiều hoạt động du lịch cũng ảnh hưởng đến hạ tầng như làm xói mòn đường sá, và hư hại các khu di tích lịch sử
Như vậy, dù đem lại một lượng doanh thu không nhỏ cho kinh tế, nhưng mặt trái của ngành du lịch làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường thiên nhiên nếu chúng ta không có một kế hoạch mang tính chiến lược cho bảo vệ môi trường
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch
1.3.1 Yếu tố bên ngoài
1.3.1.1 Tình hình kinh tế và chính trị trên thế giới và khu vực
- Kinh tế thế giới ổn định và phát triển là cơ hội cho những nước có tài nguyên du lịch thu hút khách du lịch đặc biệt là khách nước ngoài
- Ổn định chính trị là yếu tố đảm bảo cho việc mở rộng các mối quan hệ kinh tế - chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa các quốc gia trên thế giới Trong phạm vi các mối quan hệ kinh tế, sự giao lưu về du lịch giữa các nước trong khu vực, trên toàn cầu không ngừng phát triển Nếu một vùng có chiến tranh hoặc các cuộc xung đột thường xảy ra thì khách du lịch ở các vùng lân cận sẽ e ngại, không đến khu vực đó để du lịch
Nếu trên thế giới có tình hình chính trị căng thẳng thì hoạt động đi
du lịch khó có điều kiện phát triển
Trang 201.3.1.2 Tình hình và xu hướng phát triển kinh tế của đất nước
Một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến sự phát sinh
và phát triển du lịch là điều kiện kinh tế chung Nền kinh tế chung phát triển là tiền đề cho sự ra đời và phát triển của ngành kinh tế du lịch Điều này được giải thích bởi sự lệ thuộc của du lịch vào các thành quả kinh tế khác Theo ý kiến của một số chuyên gia kinh tế thuộc Hội đồng kinh tế
và xã hội Liên Hiệp Quốc: một đất nước có thể phát triển du lịch nếu nước đó tự sản xuất được phần lớn số của cải vật chất cho du lịch
- Sự phát triển của công nghiệp nhẹ, nông nghiệp và công nghiệp chế biến lương thực – thực phẩm Những ngành này phát triển có ý nghĩa quan trọng đến sự phát triển du lịch Ngành du lịch sử dụng lớn số lượng lương thực và nhất là thực phẩm Ở đây nhấn mạnh vai trò của ngành công nghiệp chế biến đường, thịt bò, sữa, đồ hộp… Một số ngành công nghiệp nhẹ đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng vật tư cho ngành
du lịch như ngành dệt, công nghiệp sành sứ, đồ gốm
- Xu hướng phát triển của nội, ngoại thương: Nội thương bao gồm mạng lưới bán buôn, mạng lưới bán lẻ và mạng lưới khách sạn, nhà hàng Ngoại thương là xuất nhập khẩu, và dấu hiệu tích cực cho nền kinh tế là
tỷ trọng xuất khẩu cao
- Tỷ trọng dân trong độ tuổi lao động, tỷ trọng này càng lớn, kinh tế phát triển càng cao
1.3.1.3 Tình hình chính trị hòa bình, ổn định của đất nước
Tình hình chính trị, hòa bình ổn định là tiền đề cho sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của một đất nước Một quốc gia mặc dù
có tài nguyên về du lịch, cũng không phát triển được du lịch nếu như ở đó luôn xảy ra các sự kiện làm xấu đi tình hình chính trị và hòa bình
Trang 21Trên thế giới, những nước có đường lối chính trị trung lập và nền hòa bình ổn định thường có sức hấp dẫn đối với đông đảo quần chúng nhân dân – khách du lịch tiềm năng Ngược lại ở những nước có nền chính trị, hòa bình bất ổn hay có những biến cố cách mạng, đảo chính quân sự….thì sự phát triển của du lịch là hạn chế, nhiều khi bị phá hủy
1.3.1.4 Các chính sách điều tiết của nhà nước
Các chính sách điều tiết của nhà nước góp phần tạo điều kiện để phát triển du lịch phù hợp với tình hình kinh tế hiện tại và các dự đoán trong tương lai Tuy nhiên, cũng có một số chính sách kìm hãm sự phát triển của ngành Ví dụ như một số chính sách về bảo tồn di tích giúp nhà nước đạt được mục tiêu về xã hội nhưng hạn chế du khách quay trở lại vì không có cái mới
1.3.1.5 Nhu cầu của du khách
Bất kỳ sản phẩm hay dịch vụ nào được tạo ra cũng nhằm để cung cấp cho nhu cầu của thị trường (du khách) Vì vậy sự biến động của nhu cầu của du khách làm ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển du lịch Các nhân tố tác động đến nhu cầu của du khách là: sự thay đổi về mức thu nhập, thay đổi trong lối sống, thay đổi về tư duy, chi phí và chất lượng của dịch vụ du lịch….Sự thay đổi này có thể tác động cùng chiều hoặc ngược chiều với sự phát triển của ngành du lịch
1.3.1.6 Yếu tố tự nhiên
Bao gồm vị trí, đất đai, khí hậu sông ngòi tài nguyên, đây là những yếu tố tác động trực tiếp đến tính hấp dẫn của sản phẩm du lịch
1.3.1.7 Yếu tố văn hóa
Đây được coi là tài nguyên đặc biệt hấp dẫn của ngành du lịch Nếu tài nguyên thiên nhiên thu hút du khách bởi sự hoang sơ, độc đáo và hiếm
Trang 22hoi của nó thì tài nguyên du lịch nhân văn thu hút bởi tính phong phú, đa dạng, độc đáo và tính truyền thống cũng như tính địa phương Các đối tượng văn hóa là cơ sở để tạo nên các loại hình du lịch văn hóa phong phú Mặt khác, nhận thức văn hóa còn là yếu tố thúc đẩy động cơ du lịch của khách Như vậy xét dưới góc độ thị trường thì văn hóa vừa là yếu tố cung, vừa góp phần hình thành yếu tố cầu của hệ thống du lịch
1.3.1.8 Công nghệ thông tin
Yếu tố này không tạo nên sản phẩm du lịch, nhưng là yếu tố góp phần quan trọng trong quảng bá xúc tiến, đưa sản phẩm du lịch gần với mọi người Tạo điều kiện cho người du lịch trong việc tìm kiếm theo nhu cầu du lịch của mình Đồng thời công nghệ thông tin góp phần làm cho ngành du lịch của các nước gần gũi lại với nhau
1.3.2 Yếu tố bên trong
1.3.2.1 Quy hoạch
Quy hoạch phát triển du lịch có thể được coi là một hoạt động đa chiều và hướng tới một thể thống nhất trong tương lai Nó liên quan đến yếu tố tự nhiên, xã hội, kinh tế, chính trị và công nghệ; liên quan đến sự phân tích quá khứ, hiện tại và tương lai của một điểm đến du lịch Quy hoạch cũng liên quan đến sự chọn lựa một chương trình hành động với nhiều phương án đặt ra Nó cũng liên quan đến việc thiết lập các mục tiêu
cơ bản cho điểm đến để làm căn cứ cho các kế hoạch hành động hỗ trợ khác tiếp theo
Trong chiến lược phát triển du lịch, công tác xây dựng quy hoạch tốt sẽ mang lại nhiều lợi ích từ du lịch và giảm thiểu những tiêu cực mà
du lịch có thể mang lại cho cộng đồng Lợi ích của việc phát triển có quy hoạch rất lớn, vì vậy nếu thiếu yếu tố này, có thể dẫn đến những thiệt hại
Trang 23về vật chất (cơ sở vật chất, giá trị văn hóa, giao thông vận tải, môi truờng), con người, những tác động về marketing, về tổ chức và các động khác (Giáo trình Kinh tế du lịch, trang 286)
1.3.2.2 Chính sách phát triển du lịch
Một chính sách nhất quán hay uyển chuyển không khẳng định được
là ảnh hưởng tốt hay không tốt đến sự phát triển du lịch Tuy nhiên, trong mỗi hoàn cảnh kinh tế, chính trị xã hội khác nhau mới khẳng định được điều đó và khi đó chính sách phát triển du lịch đưa ra và vận hành một cách linh hoạt theo thời thế thì sẽ đưa ngành du lịch đi vào quỹ đạo phát triển rất thuận lợi
1.3.2.3 Môi trường pháp lý và thủ tục hành chính
Nếu xét đến yếu tố thu hút đầu tư để phát triển du lịch thì môi trường pháp lý và các thủ tục hành chính là cửa ngõ đầu tiên để khuyến khích hay hạn chế tinh thần của nhà đầu tư Chính sách thông thoáng, cơ chế một cửa là một lợi thế lớn để kêu gọi các nhà đầu tư, ngược tại, tính nhiêu khê trong thủ tục sẽ làm nhà đầu tư lo ngại
1.3.2.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được hiểu là toàn bộ các phương tiện được huy động tham gia vào việc khai thác các tài nguyên du lịch nhằm tạo ra và thực hiện các dịch vụ và hàng hóa thỏa mãn nhu cầu của
du khách trong chuyến hành trình của họ Như vậy, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm cả cơ sở vật chất kỹ thuật của bản thân ngành du lịch và của ngành khác như: hệ thống đường sá, cầu cống, bưu chính viễn thông, điện nước
Cơ sở vật chất kỹ thuật là một trong những nhân tố quan trọng đối với quá trình phát triển kinh doanh Nó là yếu tố đảm bảo về điều kiện
Trang 24cho hoạt động sản xuất kinh doanh được thực hiện Mỗi ngành, mỗi lĩnh vực sản xuất kinh doanh để có thể hoạt động đòi hỏi phải có một hệ thống
cơ sở vật chất – kỹ thuật tương ứng Ngành du lịch cũng không nằm ngoài quy luật đó
Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch là yếu tố quan trọng tác động đến mức độ thỏa mãn nhu cầu của du khách bởi tính tiện ích của nó Chúng ta có thể sử dụng cơ sở vật chất tác động khai thác tài nguyên, tạo thêm tính đa dạng, hiện đại và phong phú của sản phẩm du lịch Một quốc gia muốn phát triển du lịch tốt phải có điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật tốt, nó cũng vừa thể hiện trình độ phát triển du lịch của địa phương đó
1.3.2.5 Nguồn nhân lực
Xét đến tận cùng của vấn đề thì con người là yếu tố then chốt và ngành du lịch cũng không ngoại lệ Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định đến phát triển du lịch Thành công của ngành du lịch được dựa trên từng con người với điều kiện chúng ta phải nhận thức được tác động của cách chúng ta làm việc
1.3.2.6 Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
Vốn đầu tư là yếu tố giúp duy trì, nâng cấp và mở rộng phát triển các sản phẩm du lịch và các dịch vụ có liên quan Vì vậy, một nguồn vốn nếu được sử dụng có hiệu quả sẽ khắc phục những thiếu sót của ngành và góp phần lớn trong phát triển du lịch Ngược lại, sử dụng không hiệu quả vốn đầu tư làm vừa gây tổn thất tiền của, vừa không cải thiện được vị thế của ngành du lịch
1.3.2.7 Hoạt động của các doanh nghiệp trong ngành và liên kết ngành
Chúng ta biết rằng du lịch là một ngành hoạt động liên quan đến
Trang 25nhiều lĩnh vực khác nhau, nên việc xây dựng một cơ chế quản lý ngành làm sao có thể hỗ trợ cho các hoạt động đa ngành là hết sức quan trọng
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển sản phẩm du lịch của địa phương
Sản phẩm du lịch của địa phương là một sản phẩm tổng hợp gồm nhiều yếu tố tạo thành như: tài nguyên thiên nhiên, di sản do con người tạo ra, các thể chế…như các khái niệm đã nói ở trên Thị trường khách du lịch là một trong những thị trường mục tiêu quan trọng nhất của địa phương Các địa phương cố gắng, nỗ lực thu hút khách du lịch đến với địa phương mình
Muốn xây dựng một thương hiệu du lịch địa phương mạnh, điều đầu tiên là phải xây dựng cho được một sản phẩm du lịch đặc thù từ những nguồn tài nguyên (bao gồm tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn, tài nguyên nhân tạo ) sẵn có của địa phương mình Điều thứ hai, là phải biết quảng bá nó ra thế giới bên ngoài thông qua những kênh truyền thông hiệu quả và với một qui trình khoa học
Xây dựng một sản phẩm du lịch đặc thù của địa phương thông qua việc kết hợp những nét đặc trưng của thiên nhiên, nhân văn và công trình nhân tạo với việc bảo tồn và phát triển nó
Theo cách sắp xếp của Tổ chức Du lịch thế giới (WTO), thành phần sản phẩm du lịch của một địa phương bao gồm:
Trang 26- Những điều tốt đẹp, mọi dịch vụ, phương tiện vận chuyển, hạ tầng
cơ sơ
- Những hoạt động kinh tế, tài chính
Theo cách xếp của Jeffries & Krippependorf (Trần Ngọc Nam & ctg, 2005), thì thành phần sản phẩm du lịch của một địa phương được sắp xếp như sau:
- Các di sản thiên nhiên, tài nguyên thiên nhiên
- Các di sản do con người tạo ra
- Các yếu tố thuộc về con người: tôn giáo, phong tục tập quán…
- Hệ thống các phương tiện giao thông, thông tin liên lạc
- Những cơ sở vật chất phục vụ ngành du lịch: khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi…
- Các chính sách kinh tế, tài chính, chính sách xã hội
Trang 27tổ chức, cá nhân đã nghiên cứu trước về những yếu tố cụ thể cấu thành sản phẩm du lịch địa phương Các nội dung trên làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng tài nguyên phát triển du lịch của tỉnh và cũng là nền tảng cho việc nghiên cứu định tính và định lượng khoa học cho các chương sau
Trang 28CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH TÂY NINH
2.1 Giới thiệu tổng quan về tỉnh Tây Ninh
2.1.1 Sơ lược về tỉnh Tây Ninh
Diện tích tự nhiên: 4.035,45 km2
Dân số trung bình: 1.066.402 người (thống kê tháng 4 năm 2009) Các dân tộc chính: Kinh (98%), còn lại là các dân tộc thiểu số (chủ yếu là Khơme, Hoa, Chăm) Đơn vị hành chính: 01 thị xã và 08 huyện (Xem Bản đồ 1: Bản đồ hành chính tỉnh Tây Ninh)
2.1.2 Đặc điểm địa lý tự nhiên của tỉnh Tây Ninh
Tây Ninh là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam bộ, giới hạn trong tọa
Phước Phía Đông – Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An Phía Tây và Tây Bắc giáp Campuchia với chiều dài đường biên giới khoảng 240 km, có 2 cửa khẩu quốc tế Mộc Bài và Xa Mát
Địa hình tương đối bằng phẳng Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ quanh năm cao nhưng điều hòa, ít biến động Tây Ninh có hai con sông chảy qua là sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông cùng với hệ thống kênh rạch đan xen tạo nguồn nước trên mặt và mạch nước ngầm dồi dào quanh năm
2.1.3 Lịch sử hình thành
Theo sử liệu hiện có, các làng trên đất Tây Ninh lần lượt hình thành
từ nửa đầu thế kỷ XIX Năm 1809 lập làng Bình Tịnh (An Tịnh ngày nay), năm 1818 lập làng Phước Lộc (nay là Gia Lộc) Năm 1844 lập làng Long Giang, Long Chữ, Long Khánh, Long Thuận, Long Đình (nay là
Trang 29Long Thành), Thái Đình (nay là Hiệp Ninh)….Quá trình hình thành tỉnh Tây Ninh thật sự rõ nét từ năm 1867 (khu tham biện Tây Ninh được hình thành là 1 trong 7 khu của tỉnh Gia Định lúc bấy giờ), đã phát triển qua các giai đoạn lịch sử dân tộc cho đến ngày nay Tây Ninh đã nhiều lần thay đổi tên và ranh giới hành chính qua các thời kỳ khác nhau Đến ngày 01-01-1900 Tây Ninh mới chính thức là một tỉnh của miền Đông Nam Bộ với 2 quận và 10 tổng, 52 làng Nhưng mãi đến năm 1943, Thống đốc Nam Kỳ mới ban hành nghị định ấn định ranh giới tỉnh lỵ Tây Ninh
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn, chính quyền kháng chiến đã nhiều lần thay đổi ranh giới và số lượng đơn vị hành chính Mãi cho đến năm 1989, do nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nên chính quyền đã chia huyện Tân Biên thành hai huyện Tân Biên và Tân Châu Hiện nay, Tây Ninh bao gồm: 1 thị xã (thị xã Tây Ninh) và 8 huyện (Hòa Thành, Dương Minh Châu, Bến Cầu, Gò Dầu, Trảng Bàng, Châu Thành, Tân Biên và Tân Châu)
2.1.4 Nguồn gốc và dân cư Tây Ninh
Quá trình khai phá đất đai ở Tây Ninh cũng chính là quá trình xuất hiện các cộng đồng dân cư ở đây Từ giữa thế kỷ XVI đã có những tộc người Việt từ miền Bắc, miền Trung vào Nam Bộ Đa số họ theo đường biển đến Cần Giờ, qua Đồng Nai, Long An, tiến lên Trảng Bàng, Gò Dầu
và tận chân núi Bà Đen để khẩn đất lập làng, hình thành nên những vùng dân cư mới của người Việt ở Tây Ninh
Lúc ấy, người Khơme cũng đến định cư tại phía bắc tỉnh, nhưng số lượng ít ỏi, dần dần hình thành các phum, sóc Cùng với người Việt, một
bộ phận người Chăm từ Trung Bộ vào Tây Ninh, quy tụ thành hai xóm:
Trang 30một xóm ở Thái Vĩnh Đông – Phường I, Thị xã Tây Ninh và xóm còn lại
ở Tân Hưng, Tân Châu ngày nay Hoa kiều đến định cư tại Tây Ninh lập nghiệp thường định cư ở thị xã, thị trấn với nghề buôn bán, dịch vụ nhưng số dân không đông Ngoài ra, còn có một số dân tộc ít người khác, theo thời gian cũng đến sinh sống ở Tây Ninh như Thái, Mường, Tày, Êđê… Thời kỳ đầu, dân cư Tây Ninh sống dựa vào thiên nhiên là chính, hình thành các làng riêng biệt Các dân tộc ở đây sớm hòa nhập tạo thành một cộng đồng cùng nhau chống giặc ngoại xâm và xây dựng xóm làng trù phú
2.1.5 Kinh tế - xã hội Tây Ninh
2.1.5.1 Đặc điểm chung của nền kinh tế xã hội
Nền kinh tế của Tây Ninh với xuất phát điểm thấp, nông nghiệp là chủ yếu; công nghiệp và dịch vụ còn nhỏ bé
Trong những năm gần đây, nền kinh tế của tỉnh có hướng phát triển toàn diện và liên tục, tuy chưa đồng bộ Nhìn chung, đã đạt được những thành tựu quan trọng và đáng khích lệ Cơ cấu trong nền kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng giá trị công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng tương đối trong nông lâm nghiệp Các thành phần kinh tế đã được khuyến khích phát triển Trong Tỉnh đã bắt đầu hình thành những vùng chuyên canh, gắn với chế biến, đã và đang hình thành và phát triển các khu công nghiệp Trong giai đoạn 2006 – 2010 nền kinh tế Tây Ninh có nhiều khởi sắc, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 14,2% năm Trong số các ngành kinh tế, Công nghiệp xây dựng và Thương mại – Dịch vụ có tốc độ tăng trưởng lớn nhất đạt hơn 18%/năm Cùng với nền kinh tế của cả nước, nền kinh tế tỉnh Tây Ninh đã có sự tăng trưởng đáng kể và tương đối ổn định, từng bước hòa nhập và phát triển theo cơ chế thị trường
Trang 31(Xem phụ lục Bảng II.1: Số liệu kinh tế tỉnh Tây Ninh)
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh, đúng hướng qua các năm: 2005
cơ cấu Nông lâm nghiệp – Công nghiệp Xây dựng – Thương mại dịch vụ
là 38,2% - 25,1% - 26,7% đến năm 2010 tỷ trọng này tương ứng 26,80% - 29,0% - 44,20%
Nhờ vậy GDP bình quân đầu người hằng năm (theo giá thực tế) tăng liên tục từ 442USD (2001) đến 1.580 USD (2010)
2.1.5.2 Dân số và lao động
Tây Ninh là tỉnh có dân số trung bình so với các tỉnh trong cả nước Mật độ dân số không cao, số dân 1.066.402 người (năm 2009), chiếm hơn 1,3% tổng dân số của cả nước Nguồn lao động trong tỉnh tương đối phong phú do cơ cấu dân số trẻ Hiện tổng số dân trong độ tuổi lao động chiếm 58,54%, nhóm người dưới độ tuổi lao động chiếm 33,92% và nhóm người trên độ tuổi lao động chiếm 7,54%, có thể nói đây là cơ cấu dân số
“vàng” Với tốc độ tăng dân số trung bình hàng năm là 1,08% thì cơ cấu dân số Tây Ninh vẫn rất tốt cho phát triển cho đến những năm 2030,
2040
2.1.5.3 Y tế
Đến năm 2010, Ngành Y tế có 110 cơ sở khám chữa bệnh với số cán bộ y tế 3.587 người và các trang thiết bị ngày càng hiện đại cùng với đội ngũ thầy thuốc có trình độ nên chất lượng khám, điều trị bệnh ngày càng cao, bảo đảm nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho người dân trong tỉnh Tỉnh đang thực hiện chủ trương xã hội hóa y tế, bước đầu đã có 2 bệnh viện tư nhân được hoạt động, đem lại nhiều hơn dịch vụ phục vụ nhân dân với chất lượng ngày càng cao hơn
2.1.5.4 Giáo dục
Trang 32Hoạt động giáo dục ở Tây Ninh đã phát triển theo hướng xã hội hoá nền giáo dục và đào tạo, kết hợp phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm”, đa dạng hoá các loại hình trường lớp Năm 2010, ở Tây Ninh
có 117 trường mẫu giáo và 538 trường phổ thông cùng 14.280 giáo viên, khoảng 207.000 học sinh các cấp
2.1.5.5 Dân tộc
Tây Ninh là một tỉnh có nhiều thành phần dân tộc (khoảng 17 dân tộc) Trong đó, dân tộc Kinh chiếm đa số 98,4% dân số toàn tỉnh, dân tộc Khơme chiếm 0,65%, dân tộc Hoa 0,62%, dân tộc Chăm chiếm khoảng 0,22% và một số dân tộc ít người khác (Tày, Thái, Mường, Dao, H’mông, Gia Rai, Êđê…) chiếm 0,11%
2.2 Đánh giá hiện trạng phát triển sản phẩm du lịch tỉnh Tây Ninh
2.2.1 Vị trí của ngành du lịch tỉnh Tây Ninh
2.2.1.1 Vị trí Tây Ninh trong hoạt động du lịch của cả nước
Tây Ninh là một điểm du lịch trong hệ thống các tuyến điểm du lịch quan trọng của vùng Đông Nam Bộ Với vị trí nằm liền kề thành phố Hồ Chí Minh và trong địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam tạo nên nhiều điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội nói chung và cho ngành du lịch nói riêng (Xem Bản đồ 2 phụ lục)
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đông dân nhất cả nước, nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí của dân cư rất lớn Ngoài ra, đây còn là điểm tập kết khách quốc tế ở phía Nam Với vị trí tiếp giáp thành phố Hồ Chí Minh, đây sẽ là nơi cung cấp nguồn khách quan trọng cho du lịch Tây Ninh nếu như Tây Ninh có những điểm du lịch thật sự hấp dẫn
2.2.1.2 Vị trí của ngành du lịch trong nền kinh tế Tây Ninh
Trang 33Trong bối cảnh nền kinh tế Tây Ninh chủ yếu vẫn là nông nghiệp, tốc độ tăng trưởng chưa nhanh thì vị trí của ngành du lịch trong nền kinh
tế của tỉnh lại quá nhỏ bé Theo số liệu thống kê của ngành Kế hoạch tỉnh, tỉ trọng đóng góp của ngành du lịch chiếm khoảng 0,4% trong cơ cấu GDP tỉnh Thực tế, ngành du lịch Tây Ninh được các cấp lãnh đạo bắt đầu chú ý phát triển vào những năm gần đây, nhưng ngành du lịch vẫn phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, chỉ góp phần quá nhỏ vào trong việc phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Tây Ninh, đây là vấn đề ray rứt của không chỉ của lãnh đạo Tây Ninh, ngành du lịch Tây Ninh mà còn của cả người dân Tây Ninh
2.2.2 Hiện trạng tài nguyên du lịch của tỉnh Tây Ninh
Tài nguyên du lịch của Tây Ninh rất đa dạng phong phú, Tây Ninh
có nhiều cảnh quan tự nhiên, di tích văn hóa, lịch sử gắn với thiên nhiên
có những đặc trưng độc đáo, hấp dẫn du khách Tiêu biểu là các địa danh: núi Bà Đen, hồ Dầu Tiếng, Tòa Thánh Cao Đài Căn cứ trung ương cục miền Nam, Tháp cổ Bình Thạnh… Tây Ninh nổi tiếng với lễ hội núi Bà Đen và nhiều Lễ hội, làng nghề khác Cùng với những thuận lợi về vị trí địa lý và giao thông, các địa danh này tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch Tây Ninh phát triển (Xem Bản đồ 3 phụ lục)
2.2.2.1 Nét đặc sắc, độc đáo về tài nguyên du lịch tự nhiên
Địa hình
Tây Ninh thuộc miền Đông Nam Bộ, là miền chuyển tiếp giữa vùng đồng bằng thấp tích tụ phía Tây Nam và vùng đồng bằng cao lên vùng đồi núi thấp ở Đông Bắc Địa hình Tây Ninh nghiêng theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, với hai đặc trưng khác biệt:
- Ở phía Nam địa hình mang đặc điểm đồng bằng với độ cao trung
Trang 34bình 3-5m
- Phía Bắc với địa hình đồi núi dốc, độ cao trung bình từ 10m-15m Đặc biệt, cách thị xã Tây Ninh gần 10km có núi Bà Đen cao 986m là ngọn núi duy nhất nằm trong địa bàn tỉnh Địa hình núi, nhất là núi Bà Đen là dạng địa hình có giá trị du lịch ở Tây Ninh (Hình II.1 phụ lục) núi
Bà Đen được cấu tạo bởi đá granit, granodiorit… nên đỉnh khá nhọn và sườn tương đối dốc Quần thể núi Bà Đen là sự kết hợp giữa thiên nhiên
và văn hóa lịch sử, cách Thị xã Tây Ninh chừng 10km Trên diện tích
cũng là ngọn núi cao nhất Nam Bộ, núi Heo cao 335m và núi Phụng (còn gọi là Ma Thiên Lãnh) cao 600m, tạo nên thung lũng với tên gọi Ma Thiên Lãnh, đây là khu vực có môi trường trong lành, khí hậu mát mẽ, cảnh quan đẹp là điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch nghỉ dưỡng, sinh thái, du lịch mạo hiểm… Núi Bà Đen với những di tích chùa chiềng, lễ hội đầu năm âm lịch, các hang động hiện có, cùng hệ thống cáp treo và máng trượt đã thu hút hàng năm trên 1,8 triệu du khách trong cũng như ngoài nước đến tham quan, chiếm tỷ lệ hơn 90% số lượng
du khách của tỉnh
Khí hậu
Tây Ninh thuộc đới gió mùa xích đạo Khí hậu Tây Ninh tương đối
ôn hòa, chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô Mùa khô từ tháng
12 năm trước đến tháng 4 năm sau và tương phản rất rõ với mùa mưa (từ tháng 5 – tháng 11) Chế độ bức xạ dồi dào, nhiệt độ cao và ổn định Mặt khác Tây Ninh nằm sâu trong lục địa, ít chịu ảnh hưởng của bão và những yếu tố bất lợi khác Nhiệt độ trung bình hàng năm của Tây Ninh là
Trang 35bình trong năm vào khoảng 70-80%, Tây Ninh có nhiều điều kiện để phát triển du lịch nói riêng và các ngành kinh tế khác nói chung Tuy nhiên, những khó khăn chủ yếu phân hóa mùa khô, mùa mưa và một số hiện tượng thời tiết thất thường khác
Thủy văn
- Nước trên mặt:
y Sông ngòi: Tây Ninh có lượng mưa khá lớn với lượng nước dồi dào Đây chính là nguồn nước cung cấp cho các sông suối trong tỉnh Tổng chiều dài kênh rạch trên địa bàn tỉnh 617 km, Tây Ninh có mật độ mạng lưới sông ngòi vào loại thấp so với nhiều nơi khác (trung bình là 0,11 km/km2)
Hai sông lớn: Sông Sài Gòn và Sông Vàm Cỏ Đông
- Sông Vàm Cỏ Đông: Bắt nguồn từ thôn Suông tỉnh Công pông Chàm (Campuchia) ở trên đồi cao 150m, chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Sông Vàm Cỏ có chiều dài 220 km trong đó có 154 km chảy qua lãnh thổ của Tây Ninh, đi qua các huyện Tân Biên, Châu Thành, Hòa Thành, Bến Cầu, Trảng Bàng Các phụ lưu chính của sông gồm: rạch Bến
Đá, rạch Tây Ninh, rạch Trảng Bàng Diện tích lưu vực của sông 8500
Sông Vàm Cỏ Đông là dòng sông lớn trong khu vực Đông Nam Bộ, với lòng sông rộng, lưu vực hai bên bờ sông khá bằng phẳng là điều kiện xây dựng mô hình các trang trại miệt vườn, phục vụ nhu cầu du lịch sinh thái cuối tuần như: ẩm thực sông nước, câu cá thư giản,… của khách du lịch cuối tuần từ thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh lân cận khu vực và nội tỉnh của Tây Ninh Đồng thời hình thành một tour du lịch sông nước hấp dẫn góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch của Tây Ninh
Trang 36y Hồ Dầu Tiếng:
Ở thượng lưu sông Sài Gòn hình thành một hồ nhân tạo do con người ngăn sông tích nước làm thủy lợi đó là Hồ Dầu Tiếng Đây là công trình thủy lợi lớn nhất nước ta, được xây dựng từ năm 1980, ở thượng lưu sông Sài Gòn thuộc địa bàn huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh
Với diện tích mặt nước 27.000 ha (3/4 diện tích hồ thuộc địa bàn
tưới cho trên 170.000 ha đất sản xuất nông nghiệp ở Tây Ninh và Củ Chi, đây cũng là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân (Hình II 2 phụ lục)
Đây là nơi thuận lợi phát triển thành khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí, thể thao, công viên, sân golf, công viên rừng, khu săn bắn, câu cá, bãi tắm, du thuyền, các môn thể thao trên nước…
y Nước ngầm:
Tây Ninh có nguồn nước ngầm khá phong phú, phân bố rộng khắp trên địa bàn tỉnh Tổng lưu lượng nước ngầm có thể khai thác được
chất lượng nước tốt, đảm bảo cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, nhìn chung, nguồn nước ngầm ở Tây Ninh tương đối phong phú
Tài nguyên sinh vật
y Rừng: Rừng ở Tây Ninh có vị trí vô cùng quan trọng và chức năng chủ yếu là phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ biên giới, rừng cảnh quan môi trường, di tích lịch sử, văn hóa, bảo tồn thiên nhiên Những loại rừng này chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp, tổng diện tích đất có rừng của Tây Ninh là 69.786 ha, chiếm 17,52% tổng
Trang 37diện tích tự nhiên (403.545 ha) Rừng Tây Ninh mang nhiều đặc tính của rừng nhiệt đới miền Đông Nam Bộ, với nhiều bộ thực vật đa dạng, nhiều chủng loại Trong đó, đặc biệt Vườn Quốc gia Lò Gò - Xa Mát thuộc huyện Tân Biên, được thành lập theo quyết định số 91/2002/QĐ-TTg ngày 12/7/2002 của Thủ tướng Chính phủ
Đặc trưng cảnh quan nổi bật của Vườn Quốc gia Lò Gò – Xa Mát mang tính đặc trưng của các sinh cảnh chuyển tiếp giữa Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long Ở nơi đây có quần thể cây Cọ dầu đặc trưng của miền Đông Nam Bộ, rừng khộp của Tây Nguyên, quần thể tràm và sinh cảnh ngập nước của đồng bằng sông Cửu Long; là nơi cư trú của hơn
130 loài chim nước, tiêu biểu là loài Cò Quắm cánh xanh, Cò Quắm lớn… Đặc biệt có 6 loài chim quí hiếm được ghi vào sách Đỏ của Việt Nam (Hình II.3 phụ lục) Ngoài ra còn có những loại thân gỗ quý hiếm như: trai, giáng hương, cẩm lai, căm xe, xoay… hiện nay Tây Ninh đang tiến hành qui hoạch để phát triển du lịch sinh thái Ngoài các điểm du lịch chủ yếu trên, tiềm năng du lịch Tây Ninh còn rất lớn chưa được khai thác như: Các tiềm năng du lịch sinh thái ở huyện Trảng Bàng, du lịch sinh thái tại khu vực Mộc Bài…
y Động vật:
Giới động vật hoang dã trước đây ở Tây Ninh vô cùng phong phú như: nai, mễn, chồn, cheo, thỏ, heo rừng, gấu, cọp, trâu rừng, bò rừng, khỉ… Nhưng trong những năm chiến tranh kéo dài và đã bị tàn phá do bom đạn, mìn, chất độc hóa học, cộng với sự khai thác một cách bừa bãi
vô ý thức của con người, nên nhiều loài thú lớn không còn, chỉ còn vài loại thông thường như chuột, dơi, rắn và các loài bò sát Tính đa dạng sinh học Tây Ninh đã và đang bị đe dọa trước sự khai thác vô ý thức của
Trang 38con người diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp một cách đáng kể, với nhiều nguồn gien động, thực vật đang đứng trước nguy cơ bị diệt vong
2.2.2.2 Nét đặc sắc, độc đáo về tài nguyên du lịch nhân văn
Di tích văn hóa - lịch sử
Nếu tính các di tích lịch sử - văn hóa được nhà nước xếp hạng so với nhiều tỉnh khác, Tây Ninh không có nhiều, tuy nhiên một số di tích quy mô nhỏ hơn khá phong phú Có thể phân chia làm các nhóm sau:
- Các di tích gắn với tôn giáo:
Ở Tây Ninh có nhiều tôn giáo khác nhau, nhưng nổi bật nhất là đạo Cao Đài Số người theo đạo Cao Đài là đông nhất Ngoài ra còn có đạo Thiên Chúa, đạo Phật, đạo Tin Lành, đạo Hồi và một vài tôn giáo khác
Về số lượng nơi thờ tự, nhiều nhất là đạo Phật (81 chùa) và Cao Đài (57 thánh thất), đạo Thiên Chúa (25 nhà thờ) Các tôn giáo khác nơi thờ tự ít hơn nhiều Mỗi tôn giáo có một kiến trúc riêng làm cho các nơi thờ tự rất
đa dạng, đây là một lợi thế của Tây Ninh trong việc thu hút khách du lịch
Tòa Thánh Tây Ninh:
Hàng năm, cứ vào ngày mùng tám tháng giêng và rằm tháng tám
âm lịch, Tòa Thánh Tây Ninh lại đón hàng vạn khách hành hương về dự
lễ vía Đức Chí Tôn và Hội Yến Diêu Trì Cung Đây là một nét văn hóa đặc sắc của bà con tín đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh, công trình được xây dựng vào năm 1931 và hoàn thành vào năm 1941 Công trình được sửa chữa và hoàn thiện dần và được khánh thành vào năm 1955 Tòa Thánh Tây Ninh tọa lạc địa phận xã Long Thành, Thị trấn Hòa Thành,
Từ xa nhìn lại, (Hình II.4 phụ lục) Tòa Thánh hiện ra thật lộng lẫy,
uy nghi với những màu sắc, hoa văn rực rỡ, in vào mắt du khách đầu tiên
Trang 39là những đỉnh đài cao được trang trí bằng các hình thể, họa tiết tinh xảo, khéo léo có một không hai: Bạch Ngọc Chung đài, Lôi Âm Cổ đài, Bát Quái đài, Nghinh Phong đài Càng đến gần du khách sẽ càng ngạc nhiên
vì lối kiến trúc độc đáo, có sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc Á Đông và Phương Tây Phía trước Đền Thánh là pho tượng Xa Nặc theo Đức Phật Thích Ca tầm đạo và cây Bồ Đề hơn trăm năm có nguồn gốc từ Ấn Độ tỏa bóng mát dịu Đây cũng là nơi du khách nghỉ chân, ngồi dưới gốc Bồ Đề cầu nguyện sự an bình Hai bên tả hữu là hai cánh rừng với những cây cổ thụ cành lá xanh um, hương rừng ngào ngạt, thu hút chim chóc mùa xuân,
và râm ran tiếng ve mùa hạ Bước vào bên trong Tòa Thánh, du khách sẽ được chiêm ngưỡng quả Càn khôn in hình Thiên nhãn – Biểu tượng của đạo Cao Đài: ngắm những bức tượng thờ Tam Giáo Ngũ Chi, đọc những điển tích khuyến đạo dọc hành làng rồi lắng hồn vào lời kinh tiếng kệ hòa trong tiếng nhạc bỗng trầm của các làng điệu hát Nam… mà nghe lòng lâng lâng thanh thản Cách Tòa Thánh chưa đầy 200 m là Điện thờ Phật Mẫu, trang trí khiêm nhường nhưng tạo vẻ mỹ quan đặc sắc Bá Huê Viên cây cảnh đa dạng, trăm hoa đua nở, hương hoa ngào ngạt Gần Bá Huê Viên là Trại Đường, nơi khách hành hương tìm được những bữa cơm chay đạm bạc nhưng đầm ấm tình người
Cùng với Tòa Thánh Tây Ninh, các ngôi chùa ở núi Bà Đen là những công trình kiến trúc được xây dựng kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên của thắng cảnh núi Bà Đen với sự khéo léo, tài tình của bàn tay con người, tất cả tạo thành một quần thể di tích có giá trị đối với du khách (Hình II.5 phụ lục)
Các di tích gắn với cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc
Trang 40• Căn cứ Trung ương Cục miền Nam
Di tích căn cứ Trung ương Cục miền Nam tại khu vực Chàng Riệc cạnh suối “Tiên Cô” thuộc xã Tân Lập, huyện Tân Biên, Tây Ninh, gần sát với biên giới Campuchia, cách thị xã 64 km về hướng Bắc theo quốc
lộ 22B
Tiền thân Trung ương cục là Xứ uỷ Nam bộ Xứ uỷ Nam bộ chuyển
từ Tây Nam bộ về Đông Nam bộ và chọn Đồng Rùm làm căn cứ Trung ương Cục miền Nam đầu tiên đóng ở Mã Đà - chiến khu D, đến tháng 2-
1961 chuyển về Bắc Tây Ninh với phiên hiệu là cục R Qua nhiều lần di chuyển và xây dựng trên đất Tây Ninh, tháng 8-1972 Văn phòng Trung ương Cục miền Nam chuyển về địa điểm hiện nay (Hình II.6 phụ lục)
Toàn bộ khu căn cứ rộng 72 ha, giữa khu rừng già, cách biên giới Việt Nam – Campuchia 3 km Khu vực ngoại vi khu căn cứ được xây dựng nhiều tuyến bảo vệ Bên trong có các cơ quan trực thuộc trung ương cục như: Ban an ninh, Ban tuyên huấn, Bộ chỉ huy quân sự Miền, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Ban hậu cần, Đài phát thanh, bệnh viện, Nhà in, Công binh xưởng Song song đó, còn hình thành một hệ thống đơn vị hành chính huyện, xã
Căn cứ ban an ninh Trung ương Cục miền Nam:
Di tích căn cứ Ban an ninh Trung ương Cục miền Nam đặt tại ấp Bảy Bàu, xã Tân Lập, huyện Tân Biên, tỉnh tây Ninh, theo quốc lộ 22B đến cửa khẩu quốc tế Xa Mát (42 km) Được thành lập 7-1960 tại Chàng Riệc, Tân Lập, Tân Biên Với tên gọi là Ban an ninh Xứ ủy, đến tháng 8-
1962 đổi tên thành Ban an ninh Trung ương Cục miền Nam cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (1975) Suốt 15 năm chiến đấu, Ban an ninh trung ương Cục miền Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phòng