Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Hiện nay, trong cơ cấu nền kinh tế thế giới, ngành du lịch là một trong những ngành có triển vọng và ngày càng đóng vai trò quan trọng. Du lịch được xác định là ngành kinh tế trọng yếu, ngành “công nghiệp không khói”, “con gà đẻ trứng vàng” hay “nền kinh tế xanh” của nhiều quốc gia trên thế giới. Việt Nam có điều kiện địa lý tự nhiên, tiềm năng du lịch phong phú, hấp dẫn về vẻ đẹp sinh thái độc đáo, nền văn hóa đa dạng và truyền thống lịch sử lâu đời. Được đánh giá là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, có khả năng cạnh tranh cao, du lịch đã khẳng định được vị thế, vai trò của mình trong đời sống kinh tế xã hội Việt Nam, thu hút được sự quan tâm, đầu tư của Đảng và Nhà nước. Năm 2011, Việt Nam đón 6 triệu lượt khách quốc tế, 30 triệu lượt khách nội địa, tổng thu du lịch đạt hơn 130 nghìn tỷ đồng, đóng góp trên 5% GDP và tạo ra trên 1,3 triệu việc làm. Theo dự báo của Tổ chức Du lịch thế giới, năm 2012 số khách du lịch quốc tế sẽ đạt 1 tỷ lượt cùng mức thu nhập du lịch là 1000 tỷ USD. Với khẩu hiệu của ngành du lịch giai đoạn 2010 - nay “Việt Nam - Sự khác biệt Á Đông”, Việt Nam ngày càng trở thành điểm du lịch hấp dẫn của nhiều du khách quốc tế. Quảng Ninh – vùng đất địa đầu phía Đông Bắc Tổ quốc nằm trong vùng du lịch Đồng Bằng Sông Hồng và Duyên hải Đông Bắc, từ lâu được rất nhiều du khách trong và ngoài nước biết đến với các địa danh nổi tiếng như Vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long, bãi tắm Trà Cổ, khu di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử, chùa Quỳnh Lâm, đền Cửa Ông…Nhiều du khách mong muốn trong đời một lần được đến với Quảng Ninh để thưởng thức thắng cảnh thiên nhiên và những di tích lịch sử văn hóa mà bao thế hệ con người nơi đây tạo dựng nên. Với những lợi thế về tài nguyên du lịch, trong những năm qua ngành du lịch Quảng Ninh đã có những bước phát triển nhanh chóng, cơ sở vật chất phục vụ du lịch không ngừng được hoàn thiện, các di tích lịch sử và các thắng cảnh tự nhiên cũng được trùng tu, tôn tạo để khai thác phục vụ du lịch. Trong giai đoạn 2006 – 2011, du lịch Quảng Ninh có nhiều bước phát triển nhảy vọt và thu hút lượng khách lớn đến thăm quan, nghỉ dưỡng…Có thể nói đây là giai đoạn phát triển rực rỡ của ngành du lịch Quảng Ninh về số lượng khách cũng như doanh thu du lịch, đặc biệtĐề tài: Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 7 sau khi Vịnh Hạ Long được công nhận là 1 trong 7 kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới. Tuy nhiên, sự phát triển du lịch Quảng Ninh vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và những lợi thế vốn có, còn mang tính riêng lẻ chưa tạo được sự gắn kết hữu cơ giữa các khu vực. Từ những lý do trên, là người công dân sinh ra và lớn lên tại Quảng Ninh tác giả lựa chọn đề tài “Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030” với mong muốn đóng góp hơn nữa cho sự phát triển du lịch tỉnh nhà, nhằm thúc đẩy ngành bắt kịp với xu thế của cả nước và trên thế giới. 2. Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn đề tài: 2.1. Mục đích Vận dụng có chọn lọc cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch trên thế giới và Việt Nam vào địa bàn tỉnh Quảng Ninh, mục đích chủ yếu của luận văn là đánh giá tiềm năng phát triển du lịch, phân tích thực trạng hoạt động du lịch để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả những tiềm năng du lịch, thúc đẩy hơn nữa sự phát triển du lịch của địa bàn nghiên cứu. 2.2. Nhiệm vụ Luận văn tập trung thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau: - Tổng quan những vấn đề lý luận, thực tiễn về du lịch và phát triển du lịch để vận dụng vào địa bàn nghiên cứu. - Đánh giá tiềm năng cho phát triển du lịch ở tỉnh Quảng Ninh. - Phân tích thực trạng, kết quả hoạt động du lịch trong giai đoạn 2006 – 2011 và việc khai thác các điểm, tuyến, cụm du lịch trên địa bàn. - Đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm phát triển du lịch Quảng Ninh đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 đạt hiệu quả cao và bền vững. 2.3. Giới hạn và phạm vi đề tài - Về nội dung: Đề tài tập trung đánh giá tài nguyên du lịch kết hợp phân tích hoạt động du lịch theo hai khía cạnh ngành và lãnh thổ. - Về phạm vi không gian: Phạm vi nghiên cứu đề tài là toàn bộ tỉnh Quảng Ninh. Bên cạnh đó có sự phân tích cụ thể vào các điểm, tuyến, cụm du lịch, trung tâm du lịch có ý nghĩa quan trọng của tỉnh; chú ý tới mối quan hệ của địa bànĐề tài: Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 8 nghiên cứu với các tỉnh lân cận. - Về thời gian: đề tài chủ yếu nghiên cứu giai đoạn 2006 – 2011, giải pháp phát triển đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. 3. Lịch sử nghiên cứu đề tài 3.1. Ở Việt Nam Kể từ khi đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, đặc biệt trong thập kỷ 90 của thế kỉ XX, ngành du lịch mới thực sự phát triển và dần trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Trước giai đoạn đó các công trình nghiên cứu địa lý du lịch nhìn chung vẫn chưa nhiều. Phần lớn tập trung vào các vấn đề tổ chức không gian du lịch, cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu du lịch với một số tác giả tiêu biểu như PGS.TS Vũ Tuấn Cảnh, GS.TS Lê Thông, PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ, PGS.TS Đặng Duy Lợi, PGS.TS Phạm Trung Lương, PGS.TS Trần Thị Minh Hòa, TS Phạm Lê Thảo, … Nghiên cứu về du lịch của Việt Nam nhìn chung có một số đề tài theo chiều sâu đã được thực hiện như: “Cơ sở lý luận phương pháp nghiên cứu các điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch biển Việt Nam” do Nguyễn Trần Cầu và Lê Thông chủ trì (1993); “Quy hoạch quốc gia và vùng, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu” do Vũ Tuấn Cảnh, Lê Thông thức hiện (1994); “Tổ chức lãnh thổ du lịch” của Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ (1999); Các cuốn sách chính “Địa lý du lịch” (1996) và “Địa lý du lịch Việt Nam” (2010), bài giảng “Quy hoạch du lịch các vùng Việt Nam” của Nguyễn Minh Tuệ ; “Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam” do Phạm Trung Lương chủ biên (2000);… Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu, một số dự án, đề tài tiêu biểu cập Nhà nước, một số bài báo và các báo cáo trong các cuộc hội thảo về du lịch của các địa phương được thực hiện với sự tham gia các nhà khoa học địa lý trong và ngoài nước. Tiêu biểu như luận án tiến sĩ: “Tổ chức lãnh thổ du lịch Hải Phòng” – Nguyễn Thanh Sơn (1997); “Phát triển du lịch TP.Hồ Chí Minh với việc khai thác tài nguyên du lịch vùng phụ cận” – Đỗ Quốc Thông (2004); “Tổ chức lãnh thổ du lịch Hòa Bình trên quan điểm bền vững” – Phạm Lê Thảo (2006); và một số bài báo có giá trị trên các tạp chí Du lịch Việt Nam, Nghiên cứu kinh tế, Toàn cảnh sự kiện và dư luận… 3.3. Tại Quảng NinhĐề tài: Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 9 Trên thực tế, đã có một số công trình nghiên cứu về du lịch của Quảng Ninh, như: “Phân tích hiện trạng phát triển du lịch Quảng Ninh” của Nguyễn Thị Luyến (1998); hay một số luận văn nghiên cứu du lịch theo quy mô lãnh thổ nhỏ hơn: “Tiềm năng, hiện trạng và các giải pháp phát triển du lịch huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh” của Đỗ Thị Hoài Trang (2010); “Phát triển du lịch Móng Cái trong xu thế hội nhập” của Thái Thị Ba (2011)…Đa số các đề tài đều tập trung vào phát triển du lịch các giai đoạn trước. Kế thừa các nghiên cứu đã có luận văn của chúng tôi là một đề tài nghiên cứu mà kết quả của nó tập trung vào giai đoạn 2006 - 2011, từ đó có những đóng góp nhất định cho sự phát triển du lịch tỉnh trong giai đoạn 2012 - 2020 và tầm nhìn đến 2030. 4. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 4.1. Quan điểm nghiên cứu 4.1.1. Quan điểm tổng hợp – lãnh thổ Nếu coi các đối tượng nghiên cứu của du lịch là thể thống nhất có sự phân bố trên một không gian lãnh thổ nhất định, trong đó các đối tượng có tác động qua lại với nhau và với các thành phần kinh tế - xã hội khác một cách chặt chẽ trên cùng phạm vi lãnh thổ. Do vậy khi nghiên cứu tiềm năng du lịch Quảng Ninh, cần chú ý đến các mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố với môi trường để từ đó rút ra được quy luật phát triển, đâu là yếu tố quan trọng nhất, đâu là yếu tố bổ trợ nhằm làm rõ các nguồn lực cho sự phát triển du lịch địa phương. 4.1.2. Quan điểm hệ thống Hệ thống lãnh thổ du lịch là hệ thống bao gồm nhiều phân hệ, trong đó phân hệ tài nguyên du lịch là phân hệ quan trọng bao gồm các yếu tố tự nhiên, nhân văn và các mối quan hệ qua lại mật thiết giữa chúng. Khi xét về mặt lãnh thổ, du lịch tỉnh Quảng Ninh là một bộ phận trong hệ thống lãnh thổ du lịch của vùng ĐBSH và DHĐB, do vậy cần đặt sự phát triển du lịch Quảng Ninh trong mối quan hệ tương quan với các lãnh thổ du lịch khác nhằm tạo ra sự liên kết chặt chẽ và định hướng phát triển lâu dài. Mặt khác, cần đặt hệ thống trong các cấp phân vị cao hơn để thấy được vị trí của hệ thống cũng như các mối liên hệ ra ngoài. Du lịch là một bộ phân trong hệ thống kinh tế - xã hội không chỉ của riêng tỉnh Quảng Ninh mà còn của các vùng lãnh thổ khác. Cần xem xét từ cấp phân vị thấp là điểm, tuyến cho đến khu duĐề tài: Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030 Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 – 2011 và tầm nhìn đến 2030
Trang 1MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 0
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn đề tài: 7
2.1 Mục đích 7
2.2 Nhiệm vụ 7
2.3 Giới hạn và phạm vi đề tài 7
3 Lịch sử nghiên cứu đề tài 8
3.1 Ở Việt Nam 8
3.3 Tại Quảng Ninh 8
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 9
4.1 Quan điểm nghiên cứu 9
4.1.1 Quan điểm tổng hợp – lãnh thổ 9
4.1.2 Quan điểm hệ thống 9
4.1.3 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh 10
4.1.4 Quan điểm phát triển bền vững 10
4.2 Phương pháp nghiên cứu 10
4.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu 10
4.2.2 Phương pháp phân tích số liệu thống kê 11
4.2.3 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa 11
4.2.4 Phương pháp bản đồ - biểu đồ 11
4.2.5 Phương pháp dự báo 12
4.2.6 Phương pháp chuyên gia 12
5 Những đóng góp chính của luận văn 12
6 Cấu trúc luận văn 12
Trang 2CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH12
1.1 Cơ sở lý luận 12
1.1.1 Lý luận chung về hoạt động du lịch 13
1.1.1.1 Các khái niệm về du lịch 13
1.1.1.2 Chức năng của du lịch 16
1.1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch 18
1.1.2 Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển du lịch 26
1.1.2.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá theo ngành 26
1.1.2.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá theo lãnh thổ 27
1.2 Cơ sở thực tiễn 28
1.2.1 Thực tiễn phát triển du lịch ở Việt Nam 29
1.2.2 Thực tiễn phát triển du lịch vùng Đồng Bằng Sông Hồng và duyên hải Đông Bắc 32 1.3 Tiểu kết 34
CHƯƠNG II: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH QUẢNG NINH 34
2.1 Tiềm năng phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh 34
2.1.1 Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ 34
2.1.2 Tài nguyên du lịch 36
2.1.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 36
2.1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 44
2.1.3 Cơ sở hạ tầng 53
2.1.3.1 Hệ thống giao thông vận tải 53
2.1.3.2 Hệ thống bưu chính viễn thông 55
2.1.3.3 Hệ thống điện 56
2.1.3.4 Hệ thống cấp thoát nước 57
2.1.4 Đặc điểm dân cư, dân tộc 58
2.1.5 Đường lối chính sách 59
2.1.6 Hợp tác đầu tư 59
2.1.7 Đánh giá chung 60
2.2 Thực trạng phát triển du lịch Quảng Ninh 61
2.2.1 Vai trò 61
2.2.2 Thực trạng hoạt động du lịch theo ngành 62
2.2.2.1 Khách du lịch 62
Trang 32.2.2.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật 68
2.2.2.3 Doanh thu du lịch 75
2.2.2.4 Lao động 78
2.2.2.5 Tổ chức quản lý du lịch 79
2.2.3 Thực trạng hoạt động du lịch theo lãnh thổ 79
2.2.3.1 Các điểm du lịch 80
2.2.3.2 Các tuyến du lịch 91
2.2.3.3 Các khu du lịch 92
2.2.3.4 Trung tâm du lịch Hạ Long 95
2.3 Đánh giá chung 99
CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH QUẢNG NINH ĐẾN 2030 103
3.1 Các quan điểm, mục tiêu phát triển du lịch Quảng Ninh 103
3.1.1 Quan điểm chỉ đạo 103
3.1.2 Mục tiêu phát triển du lịch đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030 104
3.1.2.1 Mục tiêu chung 104
1.1.2.2 Mục tiêu cụ thể 105
3.1.3 Các định hướng phát triển chủ yếu 106
3.2 Các giải pháp cụ thể phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh 117
3.3 Tổ chức thực hiện 121
3.3.1 Kế hoạch thực hiện 121
3.3.2 Trách nhiệm thực hiện: 121
KẾT LUẬN 123
TÀI LIỆU THAM KHẢO 126
PHỤ LỤC 129
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT
1 ĐBSH và DHĐB : Đồng bằng Sông Hồng và Duyên hải Đông Bắc
5 GTVT : Giao thông vận tải
6 Sở VH-TT&DL : Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch
7 TTTM : Trung tâm thương mại
8 UNESCO : Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hiệp Quốc
9 WTO : Tổ chức Thương mại thế giới
10 TTDL : Trung tâm du lịch
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Trang 5I DANH MỤC BẢN ĐỒ
1 Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Ninh
2 Bản đồ tài nguyên du lịch tỉnh Quảng Ninh
3 Bản đồ hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh
II DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 1.1: Chỉ tiêu sinh khí hậu đối với con người
Bảng 2.1: Nhiệt độ trung bình các tháng (0C) năm 2011 tại 2 trạm khí hậu Bảng 2.2: Lượng mưa trung bình các tháng (mm) năm 2011 tại 2 trạm khí hậu Bảng 2.3: Hệ thống các nhà máy nước ở tỉnh Quảng Ninh năm 2011
Bảng 2.4: Vị trí và vai trò của du lịch trong cơ cấu kinh tế Quảng Ninh giai đoạn
2007 – 2011 Bảng 2.5: Số lượt khách tham quan du lịch Quảng Ninh giai đoạn 2006 – 2011 Bảng 2.6 : Số ngày khách lưu trú phân theo khách quốc tế và nội địa
Bảng 2.7: Số lượng cơ sở lưu trú ở Quảng Ninh giai đoạn 2006 – 2011
Bảng 2.8: Số lượng tàu du lịch ở Quảng Ninh giai đoạn 2006 – 2011
Bảng 2.9 : Số tàu thăm quan Vịnh Hạ Long giai đoạn 2006 – 2011
Bảng 2.10 : Doanh thu từ du lịch Quảng Ninh giai đoạn 2006 – 2011
Bảng 2.11: Lao động trực tiếp trong ngành du lịch du lịch giai đoạn 2006 – 2011
III DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Hiện trạng khách thăm quan đến Quảng Ninh giai đoạn 2006 – 2011 Biểu đồ 2.2: Cơ cấu nguồn khách du lịch đến Quảng Ninh giai đoạn 2006 – 2011 Biểu đồ 2.3: Cơ cấu doanh thu du lịch Quảng Ninh năm 2006 và 2011
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Trước tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô khoa Địa
lý – trường Đại học Sư phạm Hà Nội, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Tổng cục Du lịch, Viện nghiên cứu và phát triển du lịch là những người đã trực tiếp dạy bảo em trong suốt quá trình học tập vừa qua
Em cũng xin cảm ơn Phòng Sau đại học – trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện giúp em hoàn thành khóa học này Cảm ơn Thư viện Đại học Sư phạm Hà Nội, Thư viện Quốc gia đã trang bị cho em những tài liệu cần thiết phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu
Xin bày tỏ lòng biết ơn đến các cơ ban ngành: Ủy ban nhân dân, Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch, Chi cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh đã cung cấp những tư liệu thiết yếu, phục vụ trực tiếp cho việc nghiên cứu đề tài này
Trên hết, em xin được bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến GS.TS Lê Thông,
người đã tận tình dạy bảo, định hướng khoa học và trực tiếp hướng dẫn em hoàn thiện đề tài nghiên cứu
Và cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn ba mẹ, các đồng nghiệp, bạn bè đã luôn đồng hành giúp đỡ em trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều, song do điều kiện và thời gian có hạn, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy em rất mong nhận được sự góp
ý và cảm thông của Quý Thầy Cô và các bạn!
Hà Nội, ngày 30 tháng 09 năm 2013
Học viên
Bùi Bích Phượng
MỞ ĐẦU
Trang 7Việt Nam có điều kiện địa lý tự nhiên, tiềm năng du lịch phong phú, hấp dẫn
về vẻ đẹp sinh thái độc đáo, nền văn hóa đa dạng và truyền thống lịch sử lâu đời Được đánh giá là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, có khả năng cạnh tranh cao, du lịch đã khẳng định được vị thế, vai trò của mình trong đời sống kinh tế xã hội Việt Nam, thu hút được sự quan tâm, đầu tư của Đảng và Nhà nước Năm 2011, Việt Nam đón 6 triệu lượt khách quốc tế, 30 triệu lượt khách nội địa, tổng thu du lịch đạt hơn 130 nghìn tỷ đồng, đóng góp trên 5% GDP và tạo ra trên 1,3 triệu việc làm Theo dự báo của Tổ chức Du lịch thế giới, năm 2012 số khách du lịch quốc tế
sẽ đạt 1 tỷ lượt cùng mức thu nhập du lịch là 1000 tỷ USD Với khẩu hiệu của
ngành du lịch giai đoạn 2010 - nay “Việt Nam - Sự khác biệt Á Đông”, Việt Nam
ngày càng trở thành điểm du lịch hấp dẫn của nhiều du khách quốc tế
Quảng Ninh – vùng đất địa đầu phía Đông Bắc Tổ quốc nằm trong vùng du lịch Đồng Bằng Sông Hồng và Duyên hải Đông Bắc, từ lâu được rất nhiều du khách trong và ngoài nước biết đến với các địa danh nổi tiếng như Vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long, bãi tắm Trà Cổ, khu di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử, chùa Quỳnh Lâm, đền Cửa Ông…Nhiều du khách mong muốn trong đời một lần được đến với Quảng Ninh để thưởng thức thắng cảnh thiên nhiên và những di tích lịch sử văn hóa mà bao thế hệ con người nơi đây tạo dựng nên
Với những lợi thế về tài nguyên du lịch, trong những năm qua ngành du lịch Quảng Ninh đã có những bước phát triển nhanh chóng, cơ sở vật chất phục vụ du lịch không ngừng được hoàn thiện, các di tích lịch sử và các thắng cảnh tự nhiên cũng được trùng tu, tôn tạo để khai thác phục vụ du lịch Trong giai đoạn 2006 –
2011, du lịch Quảng Ninh có nhiều bước phát triển nhảy vọt và thu hút lượng khách lớn đến thăm quan, nghỉ dưỡng…Có thể nói đây là giai đoạn phát triển rực rỡ của ngành du lịch Quảng Ninh về số lượng khách cũng như doanh thu du lịch, đặc biệt
Trang 8sau khi Vịnh Hạ Long được công nhận là 1 trong 7 kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới Tuy nhiên, sự phát triển du lịch Quảng Ninh vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và những lợi thế vốn có, còn mang tính riêng lẻ chưa tạo được sự gắn kết hữu
cơ giữa các khu vực
Từ những lý do trên, là người công dân sinh ra và lớn lên tại Quảng Ninh tác
giả lựa chọn đề tài “Phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2006 –
2011 và tầm nhìn đến 2030” với mong muốn đóng góp hơn nữa cho sự phát triển du
lịch tỉnh nhà, nhằm thúc đẩy ngành bắt kịp với xu thế của cả nước và trên thế giới
2 Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn đề tài:
2.1 Mục đích
Vận dụng có chọn lọc cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch trên thế giới và Việt Nam vào địa bàn tỉnh Quảng Ninh, mục đích chủ yếu của luận văn là đánh giá tiềm năng phát triển du lịch, phân tích thực trạng hoạt động du lịch để từ
đó đề xuất các giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả những tiềm năng du lịch, thúc đẩy hơn nữa sự phát triển du lịch của địa bàn nghiên cứu
2.2 Nhiệm vụ
Luận văn tập trung thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Tổng quan những vấn đề lý luận, thực tiễn về du lịch và phát triển du lịch để vận dụng vào địa bàn nghiên cứu
- Đánh giá tiềm năng cho phát triển du lịch ở tỉnh Quảng Ninh
- Phân tích thực trạng, kết quả hoạt động du lịch trong giai đoạn 2006 – 2011
và việc khai thác các điểm, tuyến, cụm du lịch trên địa bàn
- Đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm phát triển du lịch Quảng Ninh đến năm
2020 và tầm nhìn 2030 đạt hiệu quả cao và bền vững
Trang 9nghiên cứu với các tỉnh lân cận
- Về thời gian: đề tài chủ yếu nghiên cứu giai đoạn 2006 – 2011, giải pháp phát triển đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
3 Lịch sử nghiên cứu đề tài
3.1 Ở Việt Nam
Kể từ khi đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, đặc biệt trong thập kỷ 90 của thế kỉ XX, ngành du lịch mới thực sự phát triển và dần trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Trước giai đoạn đó các công trình nghiên cứu địa lý du lịch nhìn chung vẫn chưa nhiều Phần lớn tập trung vào các vấn đề tổ chức không gian du lịch, cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu du lịch với một số tác giả tiêu biểu như PGS.TS Vũ Tuấn Cảnh, GS.TS Lê Thông, PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ, PGS.TS Đặng Duy Lợi, PGS.TS Phạm Trung Lương, PGS.TS Trần Thị Minh Hòa, TS Phạm Lê Thảo, …
Nghiên cứu về du lịch của Việt Nam nhìn chung có một số đề tài theo chiều
sâu đã được thực hiện như: “Cơ sở lý luận phương pháp nghiên cứu các điều kiện
tự nhiên và tài nguyên du lịch biển Việt Nam” do Nguyễn Trần Cầu và Lê Thông
chủ trì (1993); “Quy hoạch quốc gia và vùng, phương pháp luận và phương pháp
nghiên cứu” do Vũ Tuấn Cảnh, Lê Thông thức hiện (1994); “Tổ chức lãnh thổ du lịch” của Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ (1999); Các cuốn sách chính “Địa lý du lịch” (1996) và “Địa lý du lịch Việt Nam” (2010), bài giảng “Quy hoạch du lịch các vùng Việt Nam” của Nguyễn Minh Tuệ ; “Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam” do Phạm Trung Lương chủ biên (2000);…
Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu, một số dự án, đề tài tiêu biểu cập Nhà nước, một số bài báo và các báo cáo trong các cuộc hội thảo về du lịch của các địa phương được thực hiện với sự tham gia các nhà khoa học địa lý trong và ngoài nước
Tiêu biểu như luận án tiến sĩ: “Tổ chức lãnh thổ du lịch Hải Phòng” – Nguyễn Thanh Sơn (1997); “Phát triển du lịch TP.Hồ Chí Minh với việc khai thác tài nguyên du lịch
vùng phụ cận” – Đỗ Quốc Thông (2004); “Tổ chức lãnh thổ du lịch Hòa Bình trên quan điểm bền vững” – Phạm Lê Thảo (2006); và một số bài báo có giá trị trên các tạp
chí Du lịch Việt Nam, Nghiên cứu kinh tế, Toàn cảnh sự kiện và dư luận…
3.3 Tại Quảng Ninh
Trang 10Trên thực tế, đã có một số công trình nghiên cứu về du lịch của Quảng Ninh,
như: “Phân tích hiện trạng phát triển du lịch Quảng Ninh” của Nguyễn Thị Luyến
(1998); hay một số luận văn nghiên cứu du lịch theo quy mô lãnh thổ nhỏ hơn:
“Tiềm năng, hiện trạng và các giải pháp phát triển du lịch huyện Vân Đồn, tỉnh
Quảng Ninh” của Đỗ Thị Hoài Trang (2010); “Phát triển du lịch Móng Cái trong xu thế hội nhập” của Thái Thị Ba (2011)…Đa số các đề tài đều tập trung vào phát triển
du lịch các giai đoạn trước Kế thừa các nghiên cứu đã có luận văn của chúng tôi là một đề tài nghiên cứu mà kết quả của nó tập trung vào giai đoạn 2006 - 2011, từ đó
có những đóng góp nhất định cho sự phát triển du lịch tỉnh trong giai đoạn 2012 -
2020 và tầm nhìn đến 2030
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Quan điểm nghiên cứu
4.1.1 Quan điểm tổng hợp – lãnh thổ
Nếu coi các đối tượng nghiên cứu của du lịch là thể thống nhất có sự phân bố trên một không gian lãnh thổ nhất định, trong đó các đối tượng có tác động qua lại với nhau và với các thành phần kinh tế - xã hội khác một cách chặt chẽ trên cùng phạm vi lãnh thổ Do vậy khi nghiên cứu tiềm năng du lịch Quảng Ninh, cần chú ý đến các mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố với môi trường để từ đó rút ra được quy luật phát triển, đâu là yếu tố quan trọng nhất, đâu là yếu tố bổ trợ nhằm làm rõ các nguồn lực cho sự phát triển du lịch địa phương
4.1.2 Quan điểm hệ thống
Hệ thống lãnh thổ du lịch là hệ thống bao gồm nhiều phân hệ, trong đó phân
hệ tài nguyên du lịch là phân hệ quan trọng bao gồm các yếu tố tự nhiên, nhân văn
và các mối quan hệ qua lại mật thiết giữa chúng Khi xét về mặt lãnh thổ, du lịch tỉnh Quảng Ninh là một bộ phận trong hệ thống lãnh thổ du lịch của vùng ĐBSH và DHĐB, do vậy cần đặt sự phát triển du lịch Quảng Ninh trong mối quan hệ tương quan với các lãnh thổ du lịch khác nhằm tạo ra sự liên kết chặt chẽ và định hướng phát triển lâu dài Mặt khác, cần đặt hệ thống trong các cấp phân vị cao hơn để thấy được vị trí của hệ thống cũng như các mối liên hệ ra ngoài Du lịch là một bộ phân trong hệ thống kinh tế - xã hội không chỉ của riêng tỉnh Quảng Ninh mà còn của các vùng lãnh thổ khác Cần xem xét từ cấp phân vị thấp là điểm, tuyến cho đến khu du
Trang 11lịch, trung tâm du lịch, vùng du lịch để thấy rõ sự thay đổi của phân hệ sẽ tác động như thế nào đến hoạt động và sự phát triển của toàn lãnh thổ
4.1.3 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Vận dụng quan điểm này là hết sức cần thiết trong việc khai thác tài nguyên
du lịch phục vụ mục đích phát triển du lịch Cần có sự kế thừa chọn lọc và phát huy những điểm, tuyến, loại hình du lịch đã khai thác có hiệu quả, đồng thời tìm ra những mặt yếu kém và khắc phục nhược điểm ở những điểm có tiềm năng khai thác chưa hiệu quả Quảng Ninh được thiên nhiên ban tặng nhiều cảnh trí đẹp, đặc biệt là Vịnh Hạ Long đã 2 lần được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới, đây chính là những tiềm năng để phát triển du lịch Trong thực tế quá trình khai thác đã đạt hiệu quả cao, tuy nhiên còn một số bất cập Bài toán đặt ra cho Quảng Ninh là làm sao khắc phục được những bất cập này để du lịch phát triển cao hơn nữa
4.1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Tài nguyên du lịch là yếu tố vô cùng quan trọng để phát triển du lịch, tuy nhiên tài nguyên du lịch, đặc biệt là tài nguyên du lịch tự nhiên không phải là mãi mãi, vô hạn Quan điểm cho rằng du lịch là ngành kinh tế ít ảnh hưởng tới môi trường đã không còn đúng nữa, đã có nhiều minh chứng về sự cạn kiệt tài nguyên
và những nguy hại tới môi trường xuất phát từ khai thác du lịch bất hợp lý Do vậy, cần có những chiến lược phát triển du lịch mà trong đó bảo vệ môi trường được chú trọng, hướng đến sự phát triển du lịch bền vững Trong bối cảnh hiện nay, du lịch Quảng Ninh cần phải đặt vấn đề môi trường lên hàng đầu thông qua những biện pháp, chính sách về tổ chức quản lí đúng đắn Sao cho vừa khai thác được nguồn lợi
từ tài nguyên du lịch sẵn có, vừa đảm bảo giữ gìn và tôn tạo được các giá trị văn hóa, về tự nhiên trên địa bàn tỉnh
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu
Từ các nguồn khác nhau, tài liệu thu thập về sau đó được thao tác xử lý trong phòng Là phương pháp được sử dụng để nghiên cứu những đối tượng có mối quan
hệ đa chiều và biến động trong không gian, thời gian, do đó rất thích hợp với nghiên cứu du lịch Phương pháp này cho phép tác giả tổng quan các tài liệu, kế thừa những nghiên cứu trước đó và có cơ sở để đưa ra những nhận định và kết luận của công trình Đây là thao tác quan trọng bởi nếu không được thực hiện một cách thận trọng và
Trang 12nghiêm túc thì có khả năng sai lệch làm ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu, đến tính chính xác và tính khoa học của công trình Trong luận văn này nguồn tài liệu chủ yếu được tham khảo và thu thập được từ Sở VH & TTDL tỉnh, Viện nghiên cứu và phát triển du lịch, Tổng cục du lịch, hệ thống các thư viện trường ĐHSP, quốc gia…
4.2.2 Phương pháp phân tích số liệu thống kê
Đây là phương pháp thích hợp được sử dụng để thống kê các chỉ tiêu có tính định lượng như: số lượng khách, doanh thu, lao động, vốn đầu tư…Từ những số liệu có tính định lượng như trên, tác giả tiến hành phân tích, so sánh và rút ra kết luận mang tính định tính Mục đích cuối cùng của những phần tích định lượng là rút
ra các kết luận định tính Nguồn số liệu thống kê chính thống có độ tin cậy là các số liệu tư Tổng cục du lịch, Sở Văn hóa Thể thao và Phát triển du lịch Quảng Ninh, Tổng cục Thống Kê, Cục thống kê của các huyện, khu du lịch, điểm du lịch
4.2.3 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa
Phương pháp khảo sát, điều tra thực địa là phương pháp đặc trưng, truyền thống của khoa học Địa lý Việc thu thập tài liệu ngoài thực địa nhằm bổ sung hoặc kiểm nghiệm những thông tin cần thiết cho quá trình phân tích, xử lý số liệu trước khi thực hiện đề tài Trước và trong khi thực hiện đề tài, tác giả đã trực tiếp đi thực
tế ở nhiều nơi như các cụm, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, đi dọc các tuyến du lịch tiêu biểu của tỉnh Ngoài ra, tác giả cũng đến thu thập tài liệu các cơ quan, ban ngành cũng như ban quản lý các điểm du lịch, trung tâm du lịch tỉnh
4.2.4 Phương pháp bản đồ - biểu đồ
Bản đồ - biểu đồ là phương pháp đặc trưng của môn Địa lý, thể hiện trực quan sinh động nhất các đối tượng nghiên cứu của Địa lý nói chung và Địa lý nói riêng Bằng ngôn ngữ kí hiệu, bản đồ mô phỏng hình ảnh thu nhỏ một cách trung thực nhất các đối tượng nghiên cứu Địa lý du lịch với sự phân bố về mặt không gian lãnh thổ cũng như một số mặt về định lượng và định tính của đối tượng Kết hợp với bản đồ là biểu đồ chỉ ra xu hướng phát triển của hiện tượng hoặc các dạng biểu đồ so sánh…Các
số liệu được thể hiện rõ ràng, các đối tượng gắn với không gian nhất định
Một số bản đồ chức năng được xây dựng như: Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Ninh, Bản đồ tài nguyên du lịch tỉnh Quảng Ninh, Bản đồ hiện trạng khai thác du lịch tỉnh Quảng Ninh…Các bản đồ này được xây dựng bằng kỹ thuật GIS với phần mềm MapInfo 9.0, đảm bảo tính chính xác và trực quan
Trang 134.2.5 Phương pháp dự báo
Căn cứ vào tính thống nhất của hệ thống, dựa trên các số liệu tính toán hiện tại, có thể dự báo xu hướng phát triển trong tương lai của địa phương Việc dự báo này sẽ giúp xác định nên chú trọng vào những yếu tố này hay hạn chế yếu tố kia để thúc đẩy nhanh sự phát triển đi lên của du lịch Quảng Ninh
4.2.6 Phương pháp chuyên gia
Thông qua việc xin đóng góp ý kiến, nhận xét của các chuyên gia để kiểm định lại các nhận định của tác giả về các nội dung lý luận và thực tiễn Trong quá trình thực hiện đề tài, các chuyên gia, nhiều nhà khoa học am hiểu về lĩnh vực du lịch, từ lý luận cho đến thực tiễn của Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Quảng Ninh đã đóng góp nhiều ý kiến vô cùng quý báu giúp giải quyết được nhiều vấn đề còn vướng mắc của đề tài
5 Những đóng góp chính của luận văn
- Làm sáng tỏ được cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch và vận dụng chúng vào du lịch tỉnh Quảng Ninh
- Đánh giá được những thế mạnh và hạn chế để phát triển du lịch ở tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở kiểm kê các tiềm năng tại địa bàn tỉnh
- Phân tích được thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh theo ngành
và theo lãnh thổ trong giai đoạn 2006 – 2011
- Đề xuất được định hướng và một số giải pháp cụ thể để phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2015 – 2020 và tầm nhìn đến 2030
6 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm các phần: Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận, tài liệu tham khảo và mục lục Trong số đó phần nội dung gồm:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch
- Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch Quảng Ninh
- Chương 3: Định hướng và các giải pháp phát triển Quảng Ninh giai đoạn
2015 – 2020 và tầm nhìn đến 2030
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1.1 Cơ sở lý luận
Trang 141.1.1 Lý luận chung về hoạt động du lịch
Hội nghị lần thứ 27 (năm 1993) của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã
đưa ra khái niệm du lịch như sau: “Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi
khác với môi trường sống thường xuyên con người và ở lại đó để tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn một năm”[17]
Trong Luật Du lịch Việt Nam (năm 2005), tại điều 4, chương I, định nghĩa:
“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư
trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
Như vậy, có thể thấy rõ sự khác nhau về quan niệm du lịch Tuy nhiên theo thời gian, các quan niệm này dần hoàn thiện Trong điều kiện nước ta hiện nay, quan niệm phổ biến được công nhận rộng rãi là quan niệm được trình bày trong Luật Du lịch Việt Nam (năm 2005)
Khách du lịch
Đã có nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về khách du lịch Tuy nhiên, về
cơ bản chúng còn phiến diện và chưa phản ánh đầy đủ nội hàm của khái niệm Một
số mới chỉ dừng lại ở việc phân tích động cơ du lịch, hoặc bóc tách du lịch khỏi các chức năng kinh tế - xã hội…
Trang 15Năm 1993, theo đề nghị của Tổ chức Du lịch Thế giới, Hội đồng Thống kê Liên Hợp quốc (UNSC) đã công nhận thuật ngữ sau để thống nhất việc soạn thảo thống kê du lịch:
Khách du lịch quốc tế (International tourist) bao gồm: Khách du lịch quốc tế (những người nước ngoài đến du lịch một quốc gia) và khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (những người đang sống trong một quốc gia đi du lịch nước ngoài) Khách du lịch trong nước: gồm những người là công dân của một quốc gia và những người nước ngoài đang sống trên lãnh thổ của quốc gia đó đi du lịch trong nước
Ở nước ta, theo Luật Du lịch Việt Nam (năm 2005) thì “Khách du lịch là
người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu thập ở nơi đến” Tại điều 34, chương V quy định: “Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế
Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam
Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch
Sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách dựa trên cơ
sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng
Theo Micheal M.Coltman: “Săn phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các
thành phần không đồng nhất và hữu hình”[17]
Theo luật Du lịch Việt Nam (2005): “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ
cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”
Như vậy, hiểu một cách chung nhất, sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tài nguyên du lịch đáp ứng nhu cầu của khách du lịch
Sản phẩm du lịch = Dịch vụ du lịch + Tài nguyên du lịch
Dịch vụ du lịch gồm có: dịch vụ lữ hành; dịch vụ vận chuyển; dịch vụ lưu trữ,
Trang 16ăn uống; dịch vụ vui chơi, giải trí; dịch vụ mua sắm; dịch vụ thông tin, hướng dẫn; dịch vụ trung gian và dịch vụ bổ sung
Tài nguyên du lịch gồm có tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch
Theo I.I.Pirojnik [17] du lịch là một trong những ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ, đến việc hình thành chuyên môn hóa và hiệu quả kinh tế của hoạt động du lịch
Về thực chất, tài nguyên du lịch là các điều kiện tự nhiên, các đối tượng văn hóa – lịch sử đã biến đổi ở mức độ nhất định dưới ảnh hưởng của nhu cầu xã hội và khả năng sử dụng trực tiếp vào mục đích du lịch
Theo Nguyễn Minh Tuệ, “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên, văn hóa –
lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục và phát triển thể lực, trí lực của con người, khả năng lao động vào sức khỏe của họ Những tài nguyên này được sử dụng trực tiếp và gián tiếp cho việc sản xuất dịch vụ du lịch” [17]
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005) quy định tại điều 4, chương I thì “Tài
nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”
Trong Luật Du lịch Việt nam (2005), tài nguyên du lịch được chia làm hai nhóm cơ bản theo sơ đồ sau:
Trang 17 Các loại hình du lịch
Các hoạt động du lịch rất phong phú và đa dạng Tùy theo yêu cầu và mục
đích khác nhau mà hoạt động đó được phân loại thành các loại hình khác nhau Các
loại hình du lịch chủ yếu là:
- Theo nhu cầu của khách: du lịch văn hóa, du lịch nghỉ dưỡng, thể thao, chữa
bệnh, MICE…
- Theo lãnh thổ hoạt động: du lịch nội địa, du lịch quốc tế…
- Theo vị trí địa lý: du lịch biển, núi, du lịch đô thị, du lịch đồng quê…
- Theo thời gian: du lịch ngắn ngày, dài ngày, cuối ngày…
- Theo lứa tuổi: thanh niên, gia đình…
- Theo phương tiện sử dụng: du lịch bằng ô tô, tàu hỏa, tàu thủy, máy bay…
- Theo hình thức tổ chức: du lịch cá nhân, theo đoàn…
1.1.1.2 Chức năng của du lịch
TÀI NGUYÊN DU LỊCH
Khí hậu
Nguồn nước
Sinh vật văn hóa, Di tích
lịch sử
Lễ hội
Dân tộc học
Nhân văn khác
DI SẢN HỖN HỢP
Địa
hình
Trang 18a Chức năng xã hội
Du lịch là ngành thu hút lao động rất lớn, có vai trò quan trọng trong việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân Du lịch còn góp phần thỏa mãn những nhu cầu tinh thần, nâng cao chất lượng cuộc sống, hồi phục sức khỏe, tăng cường sức sống và tái sản xuất khả năng lao động của nhân dân Theo các công trình nghiên cứu về sinh học của Crivosep và Dorin (1981) khẳng định, nhờ chế độ nghỉ ngơi và du lịch hợp lý, bệnh tật của dân cư trung bình giảm 30 %, bệnh đường
hô hấp giảm 40 %, bệnh thần kinh giảm 30 % Nhờ vậy du lịch góp phần giảm đáng
kể các chi phí của xã hội cho việc khám và chữa bệnh, nâng cao số ngày làm việc
và năng suất lao động [12] Hàng năm, đa số tổ chức và doanh nghiệp đều thực hiện những kỳ nghỉ ngắn ngày và dài ngày nhằm phục hồi sức khỏe, gắn kết các thành viên lại với nhau
Ngoài ra, nhờ có sự phát triển của ngành du lịch mà nhiều di sản văn hóa, lịch
sử của dân tộc được quảng bá, nhiều người biết đến hơn Du lịch mang tính giáo dục thẩm mỹ cao, phát huy tinh thần yêu nước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc khi được trực tiếp tiếp xúc với các thắng cảnh, di tích lịch sử dân tộc Về quan hệ quốc
tế, du lịch tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam mở rộng, củng cố, thắt chặt tình hữu nghị thân ái với các quốc gia khác trên thế giới
b Chức năng kinh tế
Du lịch không chỉ là ngành “xuất khẩu tại chỗ” mà còn là ngành “xuất khẩu
vô hình” mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, góp phần tăng thu nhập quốc dân, đa dạng hóa và thúc đẩy các ngành kinh tế khác cùng phát triển
Du lịch khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hợp lý Đó là sự tăng dần tỉ trọng ở khu vực dịch vụ trong cơ cấu nền kinh tế Có thể khẳng định rằng du lịch là một lĩnh vực kinh doanh đầy hấp dẫn so với các ngành kinh tế khác
c Chức năng sinh thái
Du lịch tạo nên sự gắn bó giữa con người với môi trường, đưa con người đến gần và hòa nhập vào thiên nhiên Tại một số quốc gia phát triển, đặc biệt những nơi
có ngành công nghiệp phát triển mạnh thì ngành du lịch được hình thành nhằm thay
Trang 19đổi không khí của các khu công nghiệp với khói, bụi, tiếng ồn
Du lịch còn giúp cho con người mở rộng sự hiểu biết về thiên nhiên và nâng cao ý thức bảo vệ thiên nhiên Tiếp xúc với khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ và thơ mộng, con người sẽ trở nên thanh thản và cân bằng về tâm lý Từ đó, tăng thêm lòng yêu thiên nhiên và ý thức phải giữ gìn môi trường sống của chính chúng ta Các nguồn thu từ du lịch là cơ sở quan trọng để tiến hành đầu tư lại cảnh quan, bảo vệ môi trường Do vậy mà hoạt động du lịch góp phần đầu tư bảo tồn và tôn tạo cảnh quan thiên nhiên, môi trường sinh thái
là cách tuyên truyền những chính sách và đường lối của Đảng và Nhà nước thuyết phục nhất
Du lịch góp phần giáo dục lòng yêu nước, ý thức giữ gìn và phát huy truyền thống dân tộc Đây là nhân tố rất quan trọng góp phần củng cố hòa bình thế giới Du lịch quốc tế làm cho con người hiểu biết và xích lại gần nhau Từ đó giúp con người trên mọi vùng miền toàn thế giới thêm gần gũi, thân thiện với nhau hơn, nhờ vậy
mà nó tăng cường tình hữu nghị giữa các dân tộc trên thế giới
1.1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch
a Vị trí địa lý
Đây là một nhân tố có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển du lịch
Vị trí địa lý bao gồm vị trí địa lý về mặt tự nhiên (các chỉ tiêu về giới hạn tọa độ, giới hạn lãnh thổ và các điểm đặc biệt có liên quan) và vị trí địa lý kinh tế - xã hội, chính trị
Đối với hoạt động du lịch, có hai yếu tố về vị trí địa lý cần xét đến là điểm đến nằm trong khu vực phát triển về du lịch ở mức độ nào đó và khoảng cách từ
Trang 20điểm đến tới nơi phát sinh cầu du lịch ngắn hay dài Tuy nhiên, để xét điểm đến du lịch chịu ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực từ vị trí địa lý thì còn phải xét trong loại hình du lịch nào, ví dụ như đối với loại hình du lịch sinh thái, mạo hiểm thì vị trí thuận lợi, gần đường giao thông chưa chắc đã có nhiều ý nghĩa Đối với các loại hình du lịch còn lại thì vị trí địa lý có ảnh hưởng lớn đến sức hấp dẫn của điểm đến Một điểm đến có nhiều tài nguyên, cảnh quan đẹp và lý thú song nếu quá xa thì lượng khách đến được chắc chắn cũng không nhiều
b Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch tự nhiên: Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm các đối tượng, hiện tượng tự nhiên và mối liên hệ giữa chúng được lôi cuốn vào để phục vụ cho mục đích du lịch Các yếu tố tự nhiên bao gồm: địa hình, nguồn nước, khí hậu, sinh vật là các yếu tố có ảnh hưởng nhất đến hoạt động du lịch
- Địa hình
Địa hình có vai trò hết sức quan trọng đối với du lịch Trước hết, bề mặt địa hình là nơi diễn ra các hoạt động của du khách, đồng thời cũng là nơi xây dựng các công trình thuộc cơ sở vật chất kĩ thuật hạ tầng phục vụ du lịch Đặc trưng hình thái
và trắc lượng hình thái có thể thuận lợi hoặc gây khó khăn cho hoạt động du lịch Các đơn vị hình thái chính của địa hình là đồi núi và đồng bằng, biển và bờ biển, chúng được phân biệt bằng độ cao địa hình
Địa hình miền núi là dạng địa hình có ý nghĩa quan trọng với du lịch bởi tính
đa dạng, có nhiều cảnh quan khác thường hấp dẫn khách du khách Nơi đây cũng tập trung giới động thực vật phong phú, nhiều hệ sinh thái độc đáo, thích hợp để phát triển các loại hình du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, leo núi mạo hiểm…
Bên cạnh đó, các dạng địa hình đặc biệt bao gồm kiểu địa hình karst và kiểu địa hình ven biển có giá trị lớn trong khai thác du lịch
Địa hình karst được tạo thành do sự lưu thông của nước trong các đá dễ hòa tan (đá vôi, thạch cao…) Kiểu karst hấp dẫn du khách nhất là các hang động karst Ngoài ra còn có kiểu karst ngập nước mà tiêu biểu là Vịnh Hạ Long, một trong những di sản thiên nhiên thế giới, có thể du ngoạn bằng tàu, thuyền
Dạng địa hình đồng bằng tương đối đơn điệu về ngoại hình, ít gây hứng thú với khách tham quan Tuy nhiên, đây là nơi thường tập trung các di tích lịch sử -
Trang 21văn hóa, kiến trúc…và các hoạt động kinh tế - xã hội phong phú Mặt khác, đây cũng là nơi phát sinh cầu du lịch lớn, là thị trường tiềm năng để các địa phương khác nhắm đến Có thể nói địa hình đồng bằng có ảnh hưởng gián tiếp đến du lịch Ngoài hai kiểu địa hình trên còn có dạng địa hình có ý nghĩa quan trọng đối với du lịch đó là địa hình biển và bờ biển Dọc bở biển là các bãi tắm đẹp, du khách
có thể tắm biển, thăm quan, du thuyền ra đảo, lặn biển và các loại hình du lịch thể thao Ngoài ra biển còn có nhiều đảo và quần đảo với những đặc điểm rất khác nhau nên khả năng khai thác rất đa dạng Ở nước ta, các đảo có tiềm năng du lịch lớn như Phú Quốc, Côn Đảo, Cát Bà…
- Khí hậu
Khí hậu là thành phần của tự nhiên sớm được khai thác như một dạng tài nguyên du lịch quan trọng Điều kiện khí hậu có ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến đi du lịch hoặc hoạt động dịch vụ du lịch Có hai chỉ tiêu khí hậu cần lưu ý đó là nhiệt độ không khí và độ ẩm không khí Ngoài ra cần tính đến các yếu tố khác như: áp suất khí quyển, gió, ánh nắng mặt trời, lượng mưa…Đặc biệt cần chú ý đến các hiện tượng thời tiết đặc biệt có thể cản trở chuyến du lịch như bão, lũ, sóng thần…
Như vậy, những nơi có khí hậu điều hòa thường được du khách ưa thích Khách thường tránh những nơi khí hậu cực đoan: quá nóng, quá lạnh, quá ẩm hay quá khô…Tuy nhiên, để đánh giá ảnh hưởng của khí hậu với du lịch rất phức tạp, mỗi loại hình du lịch ở thể phù hợp với những đặc điểm khí hậu thời tiết khác nhau
Nhiều nhà nghiên cứu đã xây dựng các chỉ tiêu sinh khí hậu để xác định mức độ
thích hợp của khí hậu đối với con người
Bảng 1.1: Chỉ tiêu sinh khí hậu đối với con người
Hạng Ý nghĩa Nhiệt độ TB năm (oC)
Nhiệt độ TB tháng nóng nhất Biên độ nhiệt TB năm (oC)
Lượng mưa
TB năm (mm)
Trang 22Du lịch còn có tính mùa rất rõ rệt chủ yếu là do tính mùa của khí hậu quy định Ở các vùng khác nhau trên thế giới có các mùa du lịch khác nhau Mùa du lịch quanh năm có ở các vùng khí hậu nhiệt đới như ở Miền Nam nước ta Nhiều loại hình du lịch có thể diễn ra quanh năm như du lịch chữa bệnh ở suối khoáng, du lịch trên núi Mùa hè các loại hình du lịch phong phú hơn như du lịch biển, du lịch núi, các hoạt động tham quan, dã ngoại…Mùa đông là mùa du lịch núi, ở một số quốc gia có băng tuyết thì du lịch thể thao là loại hình rất phát triển
- Thủy văn
Nếu như nguồn nước có vai trò quan trọng đối với cuộc sống, sản xuất sinh hoạt của con người nói chung, thì trong du lịch nguồn nước đóng một vai trò càng quan trọng Tài nguyên nước bao gồm nước trên mặt và nước ngầm, nước khoáng đều có thể phục vụ mục đích du lịch
Du lịch đòi hỏi phải cung cấp đầy đủ nguồn nước sạch cho du khách Đặc biệt, giá trị của nguồn nước đối với du lịch được thể hiện ở chỗ nước tạo nên môi trường cho nhiều loại hình hoạt động du lịch như tắm, bơi lặn, du thuyền, lướt ván, câu cá, tham quan đáy biển Vì vậy, các hồ nước, thác nước, sông suối…cũng là những yếu tố
có giá trị nhiều mặt đối với du lịch và được coi là tài nguyên du lịch Nước ngầm ít có giá trị với du lịch, chủ yếu để phục vụ nhu cầu sinh hoạt tại điểm đến của du khách Một nguồn nước không thể không nói đến đó là nước khoáng Đây là nguồn tài nguyên phục vụ nhu cầu chữa bệnh, nghỉ dưỡng của khách du lịch Nước khoáng chủ yếu nằm dưới đất, có thành phần hóa học đặc biệt và các tính chất lý học có tác dụng đối với sức khỏe con người Một số nguồn nước khoáng có giá trị cho du lịch
ở nước ta như Quang Hanh (Quảng Ninh), Kim Bôi (Hòa Bình), Hội Vân (Bình
Trang 23Định), Bình Châu (Bà Rịa – Vũng Tàu)…Trên thế giới có nhiều điểm du lịch nước khoáng nổi tiếng như: Vicky (Pháp), Boczomi (Grudia), Visbaden (Đức)…
- Sinh vật
Sau những căng thẳng, mệt mỏi của công việc, cuộc sống đô thị con người muốn quay về hòa mình vào thiên nhiên Tài nguyên sinh vật cũng là tài nguyên có giá trị du lịch rất to lớn Các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên là những nơi còn tồn tại nhiều loài động – thực vật nguyên sinh rất thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch sinh thái, tham quan nghiên cứu
Các tài nguyên sinh vật còn có thể tổ chức được thành các điểm tham quan sinh vật hoang dã, bán hoang mạc hoặc nhân tạo Ví dụ ở Việt Nam, khách du lịch đến Nha Trang không thể bỏ qua Viện Hải dương học Tài nguyên sinh vật còn tạo nên một loạt các loại hình du lịch nhận được sự đánh giá cao của du khách trong và ngoài nước như câu cá, câu mực, tát dìa bắt cá,…
Tuy nhiên không phải mọi loại tài nguyên động – thực vật đều được khai thác phục vụ du lịch Đối với mỗi loại du lịch đều có những tiêu chí nhất định về sinh vật, hệ sinh thái…
Tài nguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch nhân văn là các đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, được khai thác để phục vụ cho các hoạt động du lịch
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005) quy định tại điều 13, chương II: “Tài
nguyên du lịch nhân văn bao gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.”
- Di tích lịch sử – văn hóa
Di tích lịch sử - văn hóa là những tài nguyên du lịch rất có giá trị, là tài sản quý giá của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, mỗi đất nước và của cả nhân loại Nó được chia thành 4 nhóm chủ yếu sau:
Trang 24- Di tích khảo cổ
- Di tích lịch sử
- Di tích kiến trúc nghê thuật
- Danh lam thắng cảnh
Khi đánh giá các đối tượng nhân văn này, cần quan tâm các tiêu chí: Tổng số
di tích các loại trên lãnh thổ; số di tích được xếp hạng quốc gia; mật độ di tích trên một đơn vị diện tích [19] Mỗi một tiêu chí ở trên đều mang ý nghĩa khác nhau, chỉ tiêu đầu tiên đánh giá về mặt số lượng di tích, hai chỉ tiêu sau đánh gia về chất lượng di tích Đây là những chỉ tiêu quan trọng trong quá trình phân tích khả năng khai thác, phát triển du lịch của di tích văn hóa – lịch sử
- Lễ hội
Lễ hội là những hình thức sinh hoạt của cộng đồng dân cư Đây là loại hình văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú, là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc, hay là dịp để mọi người cùng hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại như ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống, hay giải quyết những nỗi lo âu, khao khát, ước mơ mà cuộc sống hiện tại chưa đáp ứng được
Lễ hội có nhiều dạng nhưng thông thường đều bao gồm hai phần liên quan đến nhau rất chặt chẽ, đó là phần lễ và phần hội Phần lễ mang tính chất trang trọng, tưởng niệm bậc thánh hiền hay thần linh được nhân dân tôn thờ Phần hội là lúc diễn ra các hoạt động vui chơi, thi thố tài năng về ca hát, về nghề truyền thống địa phương, về sức khỏe dẻo dai…
Hai nhân tố mà ta cần chú ý đến khi đánh giá ý nghĩa của lễ hội đó là thời gian diễn ra lễ hội và quy mô của lễ hội Ở nước ta đa số các lễ hội đều diễn ra vào mùa xuân
- Các đối tượng gắn với dân tộc học
Mỗi dân tộc có những điều kiện sinh sống, đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang sắc thái riêng của mình trên địa bàn cư trú nhất định Những đặc thù của từng dân tộc có sức hấp dẫn riêng đối với khách du lịch
Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học có giá trị với du lịch là các tập tục
lạ về cư trú, về tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống sinh hoạt, về kiến trúc cổ, các nét truyền thống trong quy hoạch cư trú và xây dựng, trang phục dân tộc…
- Làng nghề thủ công truyền thống
Trang 25Nghề thủ công truyền thống là những loại hình hoạt động kinh tế - xã hội rất phong phú Nghề thủ công trên thế giới rất đa dạng và có nhiều nét độc đáo, do vậy
mà nó có nhiều giá trị thu hút một lượng khách du lịch lớn Làng nghề cổ truyền có thế trở thành điểm tham quan du lịch mà ở đây du khách được nhìn, nghe kĩ thuật chế tác sản phẩm thủ công truyền thống, sau đó tự mình trải nghiệm kĩ thuật mà mình ưa thích Mặt khác, sản phẩm thủ công cũng là những món quà lưu niệm đầy giá trị cho khách du lịch
- Các đối tượng nhân văn khác
Ngoài các tài nguyên du lịch nhân văn kể trên, du lịch còn có thể khai thác nhiều tài nguyên đa dạng, phong phú khác để đáp ứng nhu cầu du khách như:
Các đối tượng văn hóa – thể thao: trung tâm khoa học, các trường đại học, thư viện lớn, các bảo tàng, nhà hát…
Các sự kiện văn hóa – thể thao như triển lãm mỹ thuật, sự kiện thể thao trong
và quốc tế…
Văn hóa nghệ thuật, ẩm thực : là một hình thức nghệ thuật biểu diễn truyền thống hoặc văn hóa ẩm thực cũng có ý nghĩa du lịch rất đa dạng, cần quan tâm nghiên cứu và khai thác để phát triển hơn nữa ngành du lịch
Như vậy, có thể thấy tài nguyên du lịch là một thành tố vô cùng quan trọng để tạo vùng du lịch và quyết định khả năng phát triển du lịch của một quốc gia Tài nguyên du lịch càng đặc sắc phong phú thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động ngành du lịch ngày càng nâng cao Đây chính là điều kiện làm tiền đề và thúc đẩy ngành du lịch phát triển mạnh mẽ Do vậy con người cần khai thác tài nguyên hợp
lý đi đôi với bảo vệ, khôi phục và tôn tạo các tài nguyên du lịch
c Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng là tiền đề cần thiết cho sự phát triển của bất cứ ngành kinh tế nào, du lịch cũng không ngoại lệ bởi nó cần có các nền tảng thuận lợi để phục vụ du khách Nổi bật hàng đầu chính là mạng lưới và phương tiện giao thông Bên cạnh
đó còn có hệ thống phục vụ trực tiếp như thông tin liên lạc, hệ thống cũng cấp điện nước – đây là những phần không thể thiếu được trong hoạt động du lịch
- Hệ thống giao thông vận tải
Yếu tố này quyết định tới sự tồn tại của các điểm du lịch vì thực chất du lịch
Trang 26là một chuyến đi ra ngoài nơi cư trú thường xuyên của du khách, cần phải đưa họ từ nơi ở đến địa điểm du lịch và đi lịch trong điểm du lịch ấy Do đó, hệ thống đường
xá, cầu cống và các phương tiện giao thông thuận tiện sẽ giảm bớt được thời gian di chuyển, tăng thời gian lưu trú của khách
Mạng lưới giao thông bao gồm đường ô tô, đường sắt, đường sông, đường hàng không, đường biển cùng với sự trợ giúp của nhiều phương tiện giao thông như: ô tô, tàu hỏa, tàu thủy, máy bay, thuyền, cáp treo,…
- Hệ thống thông tin liên lạc
Đây là nhân tố không thể thiếu được trong mảng cơ sở hạ tầng nhằm đảm bảo giao lưu, trao đổi các dòng tin tức của khách du lịch trong và ngoài nước một cách nhanh chóng, kịp thời và chính xác Cuộc sống ngày càng hiện đại, bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin lại nằm trong số những ngành có tốc độ tăng trưởng cao nhất thể giới và Việt Nam Sự bùng nổ của thông tin đã khiến cuộc sống con người gần nhau hơn Du khách có thể tìm kiếm thông tin về điểm đến du lịch, tour
du lịch một cách nhanh chóng Chưa bao giờ cơ hội quảng bá du lịch Việt Nam trở nên dễ dàng như thế
- Hệ thống điện và cấp thoát nước
Điện và nước là điều kiện có vai trò quan trọng trong các nhu cầu bức thiết của cuộc sống con người hiện nay, đáp ứng nhu cầu tối thiểu của khách du lịch Hệ thống điện đảm bảo cho các thiết bị phục vụ hoạt động vui chơi giải trí được vận hành thông suốt Hệ thống cấp thoát nước vừa đảm bảo cung cấp nước sạch, vừa đảm bảo xử lý nguồn nước thải ra môi trường của điểm đến, trả lại sự trong sạch cho môi trường
d Các nhân tố kinh tế - xã hội – chính trị
- Đường lối chính sách
Đường lối chính sách được coi là kim chỉ nam cho mọi hoạt động du lịch của mỗi quốc gia Nếu định hướng đúng thì chính sách chính là động lực thúc đẩy sự phát triển du lịch, phát triển hợp quy luật và đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao Ngược lại nếu không có chính sách đúng đắn thì nó sẽ là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển du lịch
Hệ thống đường lối chính sách sẽ là cơ sở tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng và thuận lợi cho du lịch Từ đó thúc đẩy quá trình giao lưu, tăng cường hợp tác đầu tư phát triển du lịch trong và ngoài nước
Trang 27- Các nhân tố kinh tế - chính trị - xã hội khác
Tác động đến du lịch còn hàng loạt các nhân tố khác mà ta cần chú ý như: sự phát triển của nền sản xuất xã hội, tình hình chính trị hòa bình ổn định, dân cư và lao động, đô thị hóa,…Tất cả những nhân tố này có ý nghĩa đòn bẩy tạo sự tăng trưởng nhanh cho ngành du lịch hoặc kìm hàm ngành kinh tế này chậm phát triển
1.1.2 Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển du lịch
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp Việc thành lập nên hệ thống các chỉ tiêu gồm các tiêu chí đánh giá sự phát triển du lịch là một việc làm quan trọng nhằm đảm bảo việc đánh giá một cách tương đối đầy đủ và khách quan đối tượng du lịch Hai nhóm lớn để đánh giá sự phát triển du lịch đó là chỉ tiêu đánh giá ngành và chỉ tiêu đánh giá lãnh thổ
1.1.2.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá theo ngành
a Nguồn khách
Đây được coi là một phân hệ rất quan trọng của hệ thống lãnh thổ du lịch Sự
có mặt của du khách được coi như là sự sống của một điểm du lịch
Để đánh giá nguồn khách, ta quan tâm đầu tiên đến tổng lượt khách qua các năm và tốc độ tăng trưởng bình quân ở cả khách nội địa và khách quốc tế Sau đó, mục đích du lịch cũng là một tiêu chí cần được phân tích và nó có sự khác nhau
giữa khách nội địa và quốc tế Với khách du lịch nội địa (Domestis Tourist) mục
đích du lịch bao gồm: du lịch nghỉ biển, tham quan, lễ hội, chữa bệnh, và các mục
đích khác Với khách du lịch quốc tế (International Tourist) thì mục đích lại được
phân theo: du lịch thuần túy, thăm thân, thương nhân và các mục đích khác Việc xác định được số lượng khách theo các mục đích du lịch là định hướng quan trọng trong việc hoạch định chiến lược, vạch định hướng và điều chỉnh các hoạt động kinh doanh sao cho phù hợp, hiệu quả cao
Khách du lịch còn được xem xét ở góc độ sử dụng các phương tiện đi lại, như: đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt, đường hàng không Các yếu tố này không chỉ là cơ sở thiết kế các tuyến du lịch đảm bảo đáp ứng nhu cầu và điều kiện của khách mà còn thúc đẩy việc nâng cấp, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch Cuối cùng, mức độ chi tiêu và thời gian lưu trú của khách tại điểm du lịch là tiêu chí
mà ta cần đánh giá
Trang 28Trong các chỉ tiêu trên, số lượt khách du lịch cho phép ta đánh giá về mặt
“lượng” hoạt động du lịch, còn mức độ chi tiêu và thời gian lưu trú đánh giá về mặt
“chất” Điều đó cho thấy, trong quá trình phát triển du lịch làm sao để tăng thời
gian lưu trú và chi tiêu của khách là mục tiêu quan trọng hàng đầu của ngành
b Cơ sở vật chất kĩ thuật
Là chỉ tiêu có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo hoạt động kinh doanh du lịch được hiệu quả Ta cần quan tâm đến mức độ tiện nghi và đa dạng của cơ sở vật chất – kĩ thuật, trong đó cơ sở lưu trú và ngành kinh doanh lưu trú là tiêu chí quan trọng hàng đầu Cơ sở lưu trú được đánh giá qua số lượng phòng, buồng, mức tăng trưởng hàng năm, công suất sử dụng phòng; số khách sạn được xếp sao và số khách sạn phân theo hình thức quản lý Ngoài ra, số lượng và chất lượng của các cơ sở vui chơi giải trí, mua sắm, nhà hàng…cũng cần được đánh giá, nhằm đảm bảo đáp ứng được nhu cầu của du khách, góp phần lấp đầy khoảng thời gian đi du lịch bằng một loạt các hoạt động thú vị, thoải mái tạo sự độc đáo và ấn tượng riêng cho mỗi sản phẩm du lịch
c Doanh thu
Du lịch thể hiện đóng góp của mình vào cơ cấu nền kinh tế thông qua doanh thu hàng năm Doanh thu du lịch bao gồm tất cả các khoản thu do khách chi trả từ lưu trú, ăn uống, vận chuyển khách du lịch và các khoản khác…Trên thực tế, các khoản thu không tập trung chủ yếu trong ngành du lịch mà nó còn do nhiều ngành khác tham gia hoạt động du lịch thu Vì vậy chỉ tiêu doanh thu du lịch thường không phản ánh được hết sự đóng góp tích cực của mình vào nền kinh tế
d Nguồn lao động
Muốn hoạt động kinh doanh du lịch được diễn ra thường xuyên và có hiệu quả thì tiêu chí nguồn lao động đóng vai trò rất quan trọng Để đánh giá lao động ta cần quan tâm tới tổng số lao động, mức độ tăng trưởng qua các năm và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nguồn lao động Số lượng nguồn lao động đảm bảo khả năng phục vụ khách và chất lượng lao động thì quyết định tới mức độ hài lòng của du khách, đây chính là tiêu chí để đánh giá chất lượng sản phẩm du lịch
1.1.2.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá theo lãnh thổ
a Điểm du lịch
Trang 29Điểm du lịch là cấp phân vị thấp nhất Đối với tiêu chí này cần phân tích qua
sự có mặt của một loại tài nguyên nào đó (tự nhiên, văn hóa, lịch sử, kinh tế - xã hội), cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch và mức độ hoạt động tại điểm du lịch Hai yếu tố này sẽ quyết định đây là điểm đang khai thác hay điểm còn ở dạng tiềm năng Dựa vào sự hấp dẫn của tài nguyên và sự hoàn thiện của kết cấu hạ tầng mà người ta xếp hạng các điểm du lịch quốc gia và điểm du lịch địa phương Bên cạnh đó, việc đánh giá tiêu chí thời gian lưu trú của du khách tại điểm lưu trú cũng khá quan trọng nhằm thể hiện mức độ thu hút và hấp dẫn khách tại điểm đó
b Tuyến du lịch
Tuyến du lịch là đơn vị tổ chức không gian được tạo bởi nhiều điểm khác nhau về quy mô, chức năng Việc đánh giá các tuyến du lịch dựa trên các tiêu chí: tên, chiều dài tuyến; các điểm du lịch trên thuyền; thời gian hoạt động của tuyến và sản phẩm du lịch chủ yếu Căn cứ vào phạm vi hoạt động của tuyến du lịch mà ta phân ra tuyến nội tỉnh hay liên tỉnh; tuyến du lịch quốc gia hay quốc tế Và dựa vào đặc điểm hoạt động điểm du lịch ta xác định được các tuyến du lịch có tiềm năng
mà vẫn chưa được khai thác
c Khu du lịch
Khu du lịch là khu vực có nhiều nguồn tài nguyên du lịch hấp dẫn cả về mặt
tự nhiên lẫn nhân văn Với hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật được đáp ứng cả về mặt chất lượng và số lượng đã tạo ra sự thu hút một lượng lớn khách du lịch Việc xác định và hình thành nên các khu du lịch được dựa trên cơ sở đánh giá nguồn tài nguyên thiên, khả năng khai thác và thực trạng hoạt động của các điểm du lịch tại địa phương đó
d Trung tâm du lịch (quốc gia và địa phương)
Có thể nói trung tâm du lịch là nơi tập trung đa dạng và phong phú các nguồn tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng và đặc biệt có sự thu hút khách du lịch rất lớn Đây được coi như hạt nhân phát triển du lịch của địa phương Để đánh giá chỉ tiêu này ta cần chú ý tới các sản phẩm du lịch của trung tâm và vai trò của trung tâm đó trong sự phát triển du lịch địa phương
1.2 Cơ sở thực tiễn
Trang 301.2.1 Thực tiễn phát triển du lịch ở Việt Nam
Nước ta nằm trong khu vực Đông Nam Á, nơi đang diễn ra các hoạt động kinh tế sôi động nói chung và du lịch nói riêng Vì thế nước ta có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch Du lịch Việt Nam – một điểm đến thân thiện và an toàn đã thực sự để lại những dấu ấn đẹp trên trang bản đồ du lịch thế giới, và ngày càng thu hút nhiều hơn nữa cộng đồng du lịch thế giới
Bên cạnh vị trí thuận lợi, nước ta còn có sự đa dạng về nguồn tài nguyên Bao gồm cả tài nguyên tự nhiên như bãi biển, hang động, sinh vật, cảnh quan thiên nhiên độc đáo…và tài nguyên nhân văn với các di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, phong tục tập quán, các làng nghề thủ công truyền thống, sự đa dạng về bản sắc văn hóa của các dân tộc…Đây là điều kiện quan trọng để nước ta phát triển nhiều loại hình
du lịch với những sản phẩm khác nhau, trong thời gian ngắn khác nhau
Ngay từ thời phong kiến, hoạt động du lịch nước ta đã xuất hiện khá rõ nét Các chuyến du ngoạn của vua chúa để mở mang bờ cõi, ngắm cảnh và những chuyến du ngoạn của các thi sĩ thời trung đại như Trương Hán Siêu, Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương Các dấu tích trên đá của Chúa Trịnh Sâm ở động Hương Tích hay bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh quan là những bằng chứng về những chuyến du ngoạn của ông cha ta trong lịch sử
Và cho đến khi Công ty du lịch Việt Nam được thành lập, vào ngày 9/7/1960
đã chính thức đánh dấu sự ra đời của ngành du lịch Việt Nam như một ngành kinh
tế độc lập Sau 1975 du lịch nước ta có nhiều phát triển mới, tuy nhiên, du lịch chỉ thực sự chuyển biến mạnh mẽ và trở thành một ngành kinh tế khi đất nước tiến hành đổi mới, đặc biệt từ những năm 90 của thế kỷ XX Trong xu thế phát triển hiện nay,
du lịch Việt Nam đã từng bước khẳng định vị thế của một ngành kinh tế mũi nhọn
đúng như khẳng định của Đảng và Nhà nước “Phát triển du lịch là một hướng chiến
lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phấn đấu từng bước đưa nước ta thành trung tâm du lịch, thương mại – dịch vụ có tầm cỡ trong khu vực” (Chỉ thị số 46 –
CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam)
Khách du lịch
Trang 31Những năm gần đây, do chính sách của Nhà nước đổi mới phù hợp cùng với luật đầu tư thông thoáng, tình hình chính trị ổn định, đời sống người dân cải thiện nên số lượng khách cả quốc tế và nội địa ngày càng tăng Từ năm 2000 đến năm
2011, tổng số khách du lịch Việt Nam tăng từ 13,5 triệu lượt khách lên hơn 36 triệu lượt khách (tăng 2,7 lần), trung bình mỗi năm tăng 2,03 triệu lượt khách
Cuối năm 1994 lần đầu tiên nước ta đón người khách quốc tế thứ 1 triệu, mở đầu cho sự gia tăng mạnh Nếu năm 2000, lượng khách quốc tế đến Việt Nam mới đạt 2,1 triệu lượt khách thì đến năm 2011, chúng ta đã đón người khách thứ 6 triệu, đạt 6,01 triệu lượt khách tăng 2,9 lần Mặc dù năm 2007 là năm khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng số lượng khách đến với Việt Nam vẫn tăng và tác động mạnh mẽ đến thành công của sự nghiệp phát triển du lịch
Trong cơ cấu khách theo thị trường thì khách du lịch Trung Quốc đến Việt Nam chiếm tỷ trọng cao nhất (23% - năm 2011), thứ hai là khách Hàn Quốc (8,3% - 2011), Hoa Kì, Nhật Bản, Đài Loan, Ôxtrâylia….Khách đến từ Châu Âu vẫn chiếm
số lượng lớn nhất trong tổng số lượng khách quốc tế đến Việt Nam Hiện nay khách quốc tế đến nước ta chỉ một lần, 85% không muốn quay trở lại Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến điều này như thiếu hụt cơ sở vui chơi giải trí, trình độ của lao động du lịch còn thấp, và hiện nay tình trạng “chặt chém”, bắt nạt du khách tại một số điểm
du lịch đã và đang tạo ấn tượng xấu đối với du khách Vì thế ngành cần có những biện pháp nghiêm khắc hơn nữa để khắc phục và xóa bỏ những nhược điểm trên Khách nội địa luôn chiếm vị trí áp đảo trong cơ cấu khách du lịch nước ta Điều đó chứng tỏ một phần dân cư cuộc sống được cải thiện, sau những ngày lao động căng thẳng, họ cần nghỉ nghơi, du lịch để phục hồi sức khỏe Chính vì thế số khách nội địa tăng mạnh từ 11,5 triệu lượt người năm 2000 lên 30 triệu lượt người năm 2011, tăng 2,7 lần so với năm 2000
Doanh thu du lịch
Số lượng khách du lịch tăng lên nhanh chóng đã kéo theo doanh thu của ngành du lịch Nếu như năm 2000 doanh thu của ngành du lịch là 18,8 nghìn tỷ đồng thì đến năm 2011 tăng 111,2 nghìn tỷ đồng đạt 130 nghìn tỷ đồng Mặc dù năm 2009 lượng khách du lịch có giảm do biến động về dịch cúm và khủng hoảng kinh tế Nhưng ngành đã có những tháo gỡ kịp thời, doanh thu của ngành tăng
Trang 32khoảng 8% so với 2009
Như vậy hoạt động du lịch đã thu hút sự tham gia của các thành phần kinh tế
và mọi tầng lớp nhân dân, mang lại nguồn thu nhập không chỉ cho đối tượng trực tiếp tham gia kinh doanh du lịch mà còn gián tiếp đối với những ngành liên quan, xuất khẩu tại chỗ và tạo thu nhập cho cộng đồng dân cư địa phương
Cơ sở vật chất kĩ thuật
Nhu cầu du lịch ngày càng tăng, hệ thống cơ sở vật chất – kỹ thuật hạ tầng cũng được đầu tư xây dựng và ngày càng hoàn thiện nhằm đáp ứng lượng lớn khách du lịch Tính đến hết năm 2011, tổng số cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn nước ta là 13.000 cơ
sở với 265.000 buồng Trong đó, 48 khách sạn 5 sao với 12.121 buồng; 126 khách sạn
4 sao với 15.517 buồng; 273 khách sạn 3 sao với 18.900 buồng Hệ thống khách sạn Việt nam hiện chủ yếu là loại nhỏ với quy mô 19 – 20 buồng/khách sạn [17]
Ngoài ra các cơ sở vui chơi giải trí, thể thao và dịch vụ khác cũng được đầu tư phát triển mạnh như: Thiên đường Bảo Sơn (Hà Nội), Vinpearl (Nha Trang), Đại Nam (Bình Dương)…và nhiều các trung tâm thương mai, nhà hàng lớn phân bố tại các thành phố lớn khắp cả nước Tuy nhiên, nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển du lịch, các loại hình vui chơi giải trí còn đơn điệu, thiếu các trung tâm giải trí đa chức năng Do vậy mà khả năng lưu giữ khách còn thấp
Nguồn lao động
Nguồn nhân lực phục vụ ngành du lịch tăng lên nhanh chóng và đáp ứng được yêu cầu về sự phát triển của ngành Hiện nay, lao động trực tiếp có khoảng 478 nghìn người (2010), tăng 5,1 lần so với năm 2000 có số lao động là 94 nghìn lượt người Tuy nhiên, chất lượng nguồn lao động vẫn còn nhiều hạn chế, trong tổng số lao động thì có gần 10% đạt trình độ đại học, 55% lao động mới qua các lớp đào tạo nghiệp vụ Do vậy mà cần phải đào tạo và nâng cao trình độ hơn nữa của nguồn nhân lực để có thể đảm bảo phục vụ tốt nhất cho ngành du lịch
Hoạt động du lịch Việt Nam có nhiều bước nhảy vọt trong những năm gần đây
Nó đã thay đổi diện mạo đất nước, đóng góp một phần không lớn vào cơ cấu GDP của
cả nước Những hiệu quả kinh tế - xã hội của du lịch như tạo việc làm, tăng thu nhập, thúc đẩy sự phát triển các ngành kinh tế khác…chính là động lực thúc đẩy cho sự phát triển bền vững của ngành Hứa hẹn trong giai đoạn tới, nhiều cơ hội quảng bá sẽ đến với ngành du lịch Việt Nam nhằm gặt hái được nhiều thành công hơn nữa
Trang 331.2.2 Thực tiễn phát triển du lịch vùng Đồng Bằng Sông Hồng và duyên hải Đông Bắc
Theo Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến
2030, vùng du lịch Đồng Bằng Sông Hồng và duyên hải Đông Bắc (ĐBSH và DHĐB) là một trong bảy vùng thuộc danh sách các vùng du lịch ở Việt Nam với tổng diện tích đất tự nhiên là 21068,1 km2, chiếm 6,4% diện tích cả nước Đây là vùng có quy mô dân số lớn nhất cả nước Năm 2011, tổng số dân của vùng đạt 19.999,3 nghìn người, chiếm 22,8% dân số cả nước Vùng ĐBSH và DHĐB nằm ở gần trung tâm của đồng bằng Bắc Bộ, bao gồm 11 tỉnh: Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Nam Định, Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Thái Bình, Hải Phòng, Hà Nam và Quảng Ninh Phía Bắc và phía Tây vùng tiếp giáp với vùng du lịch Trung
du miền núi Bắc Bộ, phía Nam tiếp giáp với vùng Bắc Trung Bộ Toàn bộ phía Đông, vùng du lịch ĐBSH và DHĐB được bao bọc bởi biển Đông
Vùng ĐBSH và DHĐB sở hữu nhiều tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn,
có Thủ đô Hà Nội cổ kính cùng hàng nghìn di tích lịch sử, văn hóa, danh lam, thắng cảnh đã được xếp hạng, các làng nghề truyền thống và hệ thống di sản văn hóa phi vật thể đậm đà bản sắc Đó là những điều kiện cần thiết để phát triển, đưa ĐBSH và DHĐB trở thành một trung tâm du lịch lớn của cả nước và khu vực
Tài nguyên du lịch tự nhiên độc đáo của vùng phải kể đến các khu rừng già nguyên sinh như các Vườn Quốc Gia (VQG) Cúc Phương (Ninh Bình), VQG Cát
Bà (Hải Phòng), VQG Ba Vì (Hà Nội) các khu dự trữ sinh quyển: Cát Bà, khu đất ngập nước ĐBSH (Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình) với hệ sinh thái rừng rậm nhiệt đới rất điển hình, thỏa mãn trí tò mò và sự say mê nghiên cứu khoa học của du khách Nguồn nước khoáng theo các mạch suối tự nhiên nhằm giải khát và chữa bệnh: Tiên Lãng (Hải Phòng), Tiền Hải (Thái Bình), Quang Hanh (Quảng Ninh) đạt tiêu chuẩn cao Vùng còn có các bãi biển đẹp, nổi tiếng như Trà Cổ (Quảng Ninh),
Đồ Sơn (Hải Phòng) và có sức hút nhất là kì quan thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long Mùa hè nóng bức nhất từ tháng 5 đến tháng 9, thuận lợi cho du lịch biển nghỉ mát tại Vịnh Hạ Long, Cát Bà, Đồ Sơn, Cát Cò, Đồng Châu, Thịnh Long
Với nền văn hóa lâu đời trải qua 4000 năm lịch sử, vùng ĐBSH và DHĐB có mật độ các di tích văn hóa – lịch sử cách mạng lớn nhất nước ta Toàn vùng có khoảng 1993 di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia, chiếm khoảng 65% tổng số di
Trang 34tích của cả nước Mật độ di tích có sự khác nhau giữa các tỉnh, thành phố trong vùng, riêng thủ đô Hà Nội có khoảng 831 di tích, chiếm khoảng 25% tổng số di tích của vùng Tính đến năm 2012, vùng du lịch đồng bằng sông Hồng có 6/11 di sản văn hoá thế giới Cụ thể là: Hoàng Thành Thăng Long, ca trù, hội Gióng, quan họ, Mộc bản triều Nguyễn và 82 bia đá ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám Những lễ hội truyền thống như Đền Trần, Hội Lim (Bắc Ninh), hội chùa Hương, Hội Gióng (Hà Nội), Yên Tử (Quảng Ninh),…Đây cũng là quê hương của những làn điệu chèo, khúc ca quan họ,câu hát văn, nghệ thuật múa rối nước, các làng nghề truyền thống…
Vùng có nhiều kiến trúc mỹ thuật độc đáo như chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), chùa Keo (Thái Bình), cố đô Hoa Lư (Ninh Bình), chùa Tây Phương và chùa Một Cột (Hà Nội)…Những viện bảo tàng lớn và có giá trị nhất Việt Nam: Bảo tàng Lịch
sử, Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Cách mạng, Bảo tàng Hồ Chí Minh,… Đây là những điều kiện thuận lợi cho khách tham quan và nghiên cứu
Hoạt động du lịch trong vùng phát triển rất mạnh mẽ với tam giác tăng trưởng
là Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, trong đó Hà Nội là hạt nhân Năm 2011, số lượng khách du lịch của vùng cao nhất cả nước, luôn chiếm hơn 50% cả về lượng khách quốc tế và khách nội địa Đặc biệt, Quảng Ninh là tỉnh thu hút số lượng khách quốc tế lớn thứ hai cả nước (sau TP.Hồ Chí Minh) Có đươc kết quả này, bên cạnh việc các tài nguyên du lịch phong phú, còn do đây là vùng có hệ thống cơ sở vật chất
kỹ thuật phục vụ du lịch tương đối tốt và đồng bộ; đội ngũ lao động trong ngành có trình độ, đặc biệt là sự quan tâm, đầu tư của Nhà nước cho vùng trọng điểm
Sản phẩm du lịch đặc trưng nhất của vùng du lịch ĐBSH và DHĐB là du lịch tham quan thắng cảnh biển, du lịch văn hóa trên cơ sở khai thác các giá trị của nền văn minh lúa nước và các nét sinh hoạt truyền thống đồng bằng Bắc Bộ, du lịch đô thị, du lịch MICE [3] Những sản phẩm du lịch cụ thể là:
- Du lịch văn hóa kết hợp với du lịch tham quan nghiên cứu các di tích văn hóa, nghê thuật, kiến trúc, danh lam, thắng cảnh
- Du lịch nghỉ dưỡng cuối tuần, du lịch dã ngoại
- Du lịch tham quan thắng cảnh biển, đảo
- Du lịch lễ hội, tâm linh, ẩm thực, làng nghề truyền thống
- Du lịch chữa bệnh
- Du lịch đô thị, du lịch MICE, mua sắm và vui chơi giải trí [19]
Trang 35Từ đây ta nhận thấy vai trò của Quảng Ninh trong vùng du lịch ĐBSH và DHBB Những phân tích ở phần sau sẽ làm rõ nét vai trò của Quảng Ninh với vùng nói riêng và cả nước nói chung
1.3 Tiểu kết
Du lịch ngày càng có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội, chính trị
và vai trò đặc biệt đối với con người thông qua việc phục hồi và tạo sức lao động
Du lịch muốn phát triển đòi hỏi rất nhiều nhân tố, trong đó tài nguyên du lịch đóng vai trò rất quan trọng, bao gồm cả tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn Mỗi loại tài nguyên lại được dựa trên các tiêu chí khác nhau để đánh giá nhằm nhìn nhận đúng khả năng kết hợp của chúng trên một lãnh thổ, sao cho phù hợp với sự phát triển du lịch Ngoài ra cũng phải kể đến các yếu tố khác như vị trí, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch, đường lối chính sách, sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương…cũng ảnh hưởng không nhỏ tới du lịch của mỗi địa phương Việc nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn giúp cho việc nghiên cứu của luận văn đi đúng hướng và đạt kết quả tốt hơn
Du lịch Quảng Ninh muốn phát triển và được biết đến nhiều hơn trên toàn thế giới cần phải có kế hoạch quy hoạch cụ thể dựa trên những lợi thế sẵn có về nguồn lợi tự nhiên, các giá trị du lịch ý nghĩa về nhân văn, lịch sử, dân tộc… Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, chú trọng hướng tới sự phát triển bền vững đang là mục tiêu
mà ngành du lịch Quảng Ninh hướng tới
CHƯƠNG II: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
bộ với bờ biển khúc khuỷu nhiều cửa sông và bãi triều, bên ngoài là 2.077 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 1.030 có tên, còn 1.047 đảo nhỏ chưa có tên Sự cấu thành lãnh thổ và biển cả liền kề như vậy đã đưa Quảng Ninh trở thành một tỉnh duyên
Trang 36hải độc đáo nhất của Việt Nam với diện tích là 6102.4 km² (năm 2011) chiếm 1,84% diện tích cả nước
Quảng Ninh có toạ độ địa lí trên đất liền được xác định như sau :
- Điểm cực Bắc : 21˚44’B tại dãy núi cao thôn Mỏ Toòng, xã Hoành Mô, huyện Bình Liêu
- Điểm cực Nam : 20˚40’B tại đảo Hạ Mai, xã Ngọc Vừng, huyện Vân Đồn
- Điểm cực Đông : 108˚30’Đ tại mũi Gót trên bán đảo Trà Cổ, phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái
- Điểm cực Tây : 106˚26’Đ tại sông Vàng Chua, thôn Vân Đông, xã Nguyễn Huệ, huyện Đông Triều
Bề ngang từ đông sang Tây, nơi rộng nhất là 195 km Bề dọc từ Bắc xuống Nam khoảng 102 km
Quảng Ninh có biên giới quốc gia và hải phận giáp giới nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa Trên đất liền, phía Bắc của tỉnh (có các huyện Bình Liêu, Hải Hà và thị xã Móng Cái) giáp huyện Phòng Thành và thị trấn Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây với 132,8 km đường biên giới; đôi bên có chỗ núi đồi và thung lũng nối liền (40,8 km), còn phần lớn (92 km) ngăn cách bởi sông suối, trong đó có đoạn thượng nguồn sông Ka Long và sông Bắc Luân Đây là điều kiện thuận lợi để Quảng Ninh giao lưu với Trung Quốc về kinh tế, văn hóa nói chung và du lịch nói riêng
Quảng Ninh nằm trong dải hành lang biển lớn của Bắc Bộ, trên đó có mạng lưới đường bộ, đường sắt và cảng biển lớn đang được mở rộng và phát triển Cùng với Hải Phòng, Quảng Ninh giữ vai trò cửa mở lớn ra biển cho cả nước ở phía Bắc (có thể cho cả các tỉnh Tây – Nam Trung Quốc và Bắc Lào) để chuyển tải hàng hóa xuất khẩu, đẩy mạnh giao lưu kinh tế với các vùng khác trong cả nước và với nước ngoài Đồng thời còn có khả năng thiết lập mối quan hệ hàng hải và hàng không với các nước trong khu vực Đông Á, Đông Nam Á và thế giới Đây là ưu thế đặc biệt của Quảng Ninh Từ đây du lịch bằng đường biển của Quảng Ninh cũng đã phát triển mạnh, với việc đón nhiều tàu du lịch nước ngoài ghé thăm
Với các tỉnh bạn trong nước, Quảng Ninh có hơn 300 km giáp Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Dương và Hải Phòng Là một cực trong tam giác phát triển của vùng
Trang 37kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Quảng Ninh có quan hệ mật thiết về các hoạt động kinh
tế, khoa học và văn hóa xã hội, đặc biệt là du lịch, với thủ đô Hà Nội, Hải Phòng, các tỉnh ĐBSH và ven biển với hệ thống quốc lộ 4B, quốc lộ 10, quốc lộ 18 đi qua địa bàn của tỉnh
Trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến 2020, Quảng Ninh nằm trong vùng du lịch ĐNSH và DHĐB, trong đó địa bàn động lực tăng trưởng du lịch
là Hà Nội – Hải Phòng – Hạ Long Sản phẩm du lịch đặc trưng của vùng là du lịch tham quan thắng cảnh biển, du lịch văn hóa trên cơ sở khai thác các giá trị của nền văn minh lúa nước và các nét sinh hoạt truyền thống đồng bằng Bắc Bộ, du lịch đô thị, du lịch MICE Từ đây đã hình thành rất nhiều tuyến du lịch quốc gia và quốc tế,
mà Quảng Ninh là một điểm đến quan trọng
và hiểm yếu, trong thì giữ vững cương trực, ngoài thì khống chế đất Thanh Núi cao
có Lôi Âm, sông lớn có Bạch Đằng; 22 cửa biển, hơn 10 đồn ải, hải đảo quanh co, sông bến khuất khúc, cũng là nơi then chốt ở ven biển” (Sách Đại Nam nhất thống trí) Bằng lời văn dung dị, các nhà địa lý tiền bối của nước ta đã mô tả địa hình, địa mạo Quảng Ninh một cách ngắn gọn mà rạch ròi, khái quát mà cụ thể, giản dị mà oai nghiêm, bình thường mà sang trọng
Quảng Ninh được xem là hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam với đồi núi chiếm hơn 80% diện tích, đồng bằng chiếm 18% diện tích nhỏ hẹp giống như một đường viền rạch ranh giới đất liền, còn lại là hệ thống núi đá vôi và hơn 2000 hòn đảo nổi tập trung trong vịnh Hạ Long và Bái Tử Long
Nét nổi bật là những dải đồi, dải núi, khối núi được sắp xếp thành những bậc địa hình theo dạng một cánh cung lớn, lồi về hướng Đông Nam, trên chiều dài 150
km từ dãy Yên Tử đến Quảng Nam Châu ở Hải Hà, mà ta thường nói là cánh cung Đông Triều – một trong bốn cánh cung điển hình của vùng núi Đông Bắc Việt Nam,
Trang 38với 5 bậc địa hình bao gồm từ dưới 100 m, 100 – 200 m, 200 – 500 m, 500 – 1000
b Khí hậu
Khí hậu là một phần quan trọng của môi trường tự nhiên có ý nghĩa đối với hoạt động du lịch Các yếu tố khí hậu bao gồm: Nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa và chế độ gió Trong đó, nhiệt độ và độ ẩm là hai chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng đến du lịch
Khí hậu Quảng Ninh tiêu biểu cho khí hậu các tỉnh miền Bắc Việt Nam vừa
có nét riêng của một tỉnh miền núi ven biển Các quần đảo ở huyện Cô Tô và Vân Đồn… lại có đặc trưng của khí hậu đại dương
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có một mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều; một mùa đông lạnh, ít mưa và tính nhiệt đới nóng ẩm là bao trùm nhất với lượng bức
xạ trung bình năm 115,4 kcal/cm² và nhiệt độ không khí trung bình hàng năm trên 21˚C; độ ẩm tương đối của không khí luôn luôn cao, trung bình năm 84%; Lượng mưa trung bình hàng năm 1700mm – 2400 mm, số ngày mưa trung bình năm từ 90 đến 170 ngày
Bãi Cháy 12,6 16,4 16,4 22,5 26,0 28,9 28,9 28,1 27,2 24,1 23,3 17,0 22,6 Móng Cái 11,5 15,3 15,6 22,3 25,5 28,3 28,8 28,2 27,3 23,9 22,5 15,9 22,1
(Nguồn: Niên giám thống kê Quảng Ninh 2011)
Khí hậu Quảng Ninh phân hoá thành hai mùa rõ rệt Mùa hạ từ tháng V đến tháng XI, đây là giai đoạn nóng, ẩm, mưa nhiều, chịu ảnh hưởng của gió mùa mùa
hè thổi theo hướng Đông Nam mang theo mưa lớn, chiếm tới 85% tổng lượng mưa
Trang 39năm Nhiệt độ trung bình mùa hè là 28,50C, tháng nóng nhất là tháng 6 và tháng 7 Mùa đông lạnh, khô hanh, ít mưa (khoảng 150 đến 400 mm), ảnh hưởng của gió Đông Bắc Nằm ở địa đầu Tổ quốc, là một trong những nơi đầu tiên đón gió mùa Đông Bắc kết hợp với địa hình núi cánh cung nên Quảng Ninh chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa Đông Bắc hơn các địa phương nằm cùng vĩ độ Nhiệt độ mùa này trung bình 16,50C, tháng lạnh nhất là tháng 12 và tháng 1. Vào mùa đông, hiện tượng sương muối thường xảy ra ở khu vực Bình Liêu, Ba Chẽ…Ngoài sự chênh lệch nhiệt độ theo mùa, nền nhiệt ở Quảng Ninh còn có sự phân hóa theo khu vực, những khu vực miền núi thường có nhiệt độ thấp hơn Như vậy, so sánh với các chỉ tiêu khí hậu sinh học với con người, khí hậu Quảng Ninh thích hợp với sức khỏe con người và thuận lợi cho các hoạt động du lịch diễn ra
Bảng 2.2: Lượng mưa trung bình các tháng (mm) năm 2011 tại 2 trạm khí hậu:
(Nguồn: Niên giám thống kê Quảng Ninh 2011)
Mặt khác, do diện tích lớn lại có nhiều vùng địa hình khác nhau nên khí hậu còn có sự phân hoá theo không gian Ở địa đầu Móng Cái nhiệt độ thấp, mưa nhiều: nhiệt độ trung bình hàng năm là 22 độ C, lượng mưa trung bình năm tới 2.751mm TX.Quảng Yên ở tận cùng phía Nam, nhiệt độ trung bình năm là 24
độ C, lượng mưa trung bình năm là 1.700 mm Vùng núi cao của Hoành Bồ, Ba Chẽ, khí hậu khá khắc nghiệt, mỗi năm thường có 20 ngày sương muối và lượng mưa hàng năm thấp Bình Liêu lại có mưa lớn (2.400 mm) và mùa đông kéo dài tới 6 tháng Vùng hải đảo lượng mưa trung bình từ 1.700 đến 1.800 mm/năm, là nơi rất nhiều sương mù về mùa đông
Quảng Ninh cũng thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão, trung bình hàng năm có 5 - 6 cơn bão, có cường độ khá mạnh, nhất là ở vùng đảo và ven biển
Khí hậu Quảng Ninh nói chung thích hợp cho phát triển du lịch, nhất là du lịch thăm quan, thể thao và du lịch sinh thái…Với đặc điểm khí hậu phân hóa theo
Trang 40mùa nên các hoạt động du lịch ở Quảng Ninh sẽ có tính phân mùa, mùa du lịch thích hợp nhất là từ tháng 2 đến tháng 10 Tuy nhiên, gần đây tính phân mùa cũng không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động ngành du lịch vì ở Hạ Long một loại hình du lịch đang được đầu tư và đẩy mạnh đó là du lịch MICE Bên cạnh đó ngành du lịch
ở Quảng Ninh cũng cần chú ý đến một số hiện tượng thời tiết đặc biệt như giông bão, sương mù…để có kế hoạch chủ động phòng tránh, đảm bảo cho du lịch hoạt động đều trong cả năm
c Tài nguyên nước
Là một tỉnh ven biển, Quảng Ninh có số lượng sông suối khá lớn, mật độ trung bình biến đổi từ 1 đến 1,9 km/km², có nơi 2,4 km/km² Quảng Ninh có đến
30 sông, suối dài trên 10km nhưng phần nhiều đều nhỏ Diện tích lưu vực thông thường không quá 300 km², trong đó có 4 con sông lớn là hạ lưu sông Thái Bình, sông Ka Long, sông Tiên Yên và sông Ba Chẽ Ngoài ra, Quảng Ninh còn có 11 sông nhỏ với chiều dài các sông từ 15 – 35 và được phân bố dọc theo bờ biển Phần nhiều các sông bắt nguồn từ vùng núi cách cung Đông Triều trên độ cao 500 – 1300m, đều chảy theo hướng tây bắc – đông nam, vuông góc với bờ biển Nhìn chung sông nhỏ, ngắn và dốc, phần nhiều không có trung lưu, của sông đổ ra biển
có dạng vịnh cửa sông ; thung lũng sâu và hẹp, xâm thực mạnh, nhưng xâm thực ngang yếu và hầu như không có bồi tụ
Lượng nước các sông khá phong phú, ước tính 8.776 tỷ m3
phát sinh trên toàn lưu vực Dòng chảy lên tới 118 l/s/km2 ở những nơi có mưa lớn Cũng như lượng mưa trong năm, dòng chảy của sông ngòi ở Quảng Ninh cũng chia ra làm 2 mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9 có lượng nước chiếm 75 – 80% tổng lượng nước trong năm, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 có lượng nước chiếm 20 -25% tổng lượng nước trong năm Với nguồn nước mặt phong phú này, Quảng Ninh có điều kiện đảm bảo nhu cầu sinh hoạt, hoạt động vui chơi giải trí của khách
Về nguồn nước ngầm, tổng trữ lượng khai thác đã được tìm kiếm thăm dò của
13 khu vực là 129.049 m3/ngày Đây là nơi cung cấp nước chính để xử lý phục vụ cho sinh hoạt của người dân cùng các hoạt động kinh tế, trong đó có du lịch
Một nguồn tài nguyên nước không thể không nhắc đến của Quảng Ninh là