1. Tên sáng kiến kinh nghiệm:“Hướng dẫn học sinh tìm hiểu ý nghĩa nhan đề tác phẩm Ngữ văn lớp 9 ôn luyện thi vào 10 THPT” 2. Tác giả sáng kiến: Họ và tên: Bế Thị Quỳnh Địa chỉ: Trường THCS thị trấn Đu Phú Lương Thái Nguyên. Số điện thoại: 0355 307 507 Email: nhuquynh88.tnggmail.com3. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Bế Thị Quỳnh Trường THCS thị trấn Đu Phú Lương Thái Nguyên.4. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục – Áp dụng cho học sinh lớp 9 trường THCs thị trấn Đu.5. Ngày sáng kiến kinh nghiệm được áp dụng lần đầu: Sáng kiến áp dụng lần đầu: Ngày 15 tháng 8 năm 2017.6. Mô tả bản chất của sáng kiến:6.1: Lời giới thiệu: 6.2. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH. 6.2.1.Thuận lợi: Là một giáo viên, tôi luôn chấp hành tốt mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Sống trong một tập thể đội ngũ giáo viên có phẩm chất đạo đức và vững vàng về nghiệp vụ chuyên môn, có tinh thần đoàn kết kỷ luật, tương thân tương ái. Là một giáo viên trẻ cũng đã có chút kinh nghiệm nhưng tôi luôn tự phấn đấu, trau dồi kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ bằng cách học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp, tự mua tài liệu để nghiên cứu. Khi đảm nhận công tác giảng dạy và bồi dưỡng HSG môn Ngữ văn 9; Lịch sử 9; Ôn luyện thi vào lớp 10 môn Ngữ văn tôi luôn nhận được sự quan tâm của ban giám hiệu, tổ chuyên môn, phụ huynh học sinh…trường THCS thị trấn Đu. Chính vì vậy, tôi như được có thêm sức mạnh, luồng sinh khí mới để phấn đấu gặt hái được nhiều thành công trong công tác giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và ôn luyện thi vào lớp 10 môn Ngữ văn nói riêng. 6.2.2. Khó khăn: Đời sống của giáo viên còn nhiều khó khăn. Đại đa số học sinh trên địa bàn là con em các dân tộc ít người ở miền núi, sự tiếp thu kiến thức còn hạn chế, chưa có tinh thần hiếu học, gia đình lại chưa thực sự quan tâm. Đặc biệt, một bộ phận học sinh nhà nghèo, không muốn thi vào lớp 10, không muốn tiếp tục đi học mà muốn ở nhà đi làm để kiếm thêm thu nhập phụ giúp bố mẹ trang trải những khoản chi tiêu trong gia đình. Trang thiết bị phục vụ cho việc dạy –học còn thiếu, sách tham khảo khan hiếm. Do vậy mà ảnh hưởng phần nào đến chất lượng dạy và học. Do thời gian bồi dưỡng học sinh giỏi dự thi HSG cấp huyện quá dài, học sinh không có thời gian ôn thi vào các trường THPT. Bản thân tôi là giáo viên mới chuyển đến, nhà xa cách trường hơn 40km nên việc bám trường lớp còn gặp nhiều khó khăn. Trên đây là những khó khăn của bản thân tôi trong công tác bồi dưỡng và ôn luyện môn Ngữ văn 9 luyện thi vào lớp 10. Tôi tự thấy cần phải cố gắng, nỗ lực nhiều hơn nữa để tìm ra giải pháp, phương pháp dạy học để đem đến cho học sinh sự hứng thú, niềm say mê, từ đó rèn luyện ý chí, niềm tin, khả năng viết bài để dự thi các kì thi đạt kết quả cao hơn, vững tin hơn vào tương lai của mình. 6.3.NỘI DUNG BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:6.3.1.Nội dung biện pháp thực hiện: Chất lượng khảo sát đầu năm ( học sinh 2 lớp 9A và 9B ): TSHS 54 TSHSGiỏiKháTrung bìnhYếuSL%SL%SL%SL%5459%1222%3056%713% Qua kết quả khảo sát đầu năm, ở thực tế một số giờ học tôi thấy học sinh gặp nhiều khó khăn trong việc học bài, làm bài và đặc biệt là việc chuẩn bị bài trước khi đến lớp, tâm lý nhiều em còn ngại và thường nói học môn này rất khó, không biết tạo lập văn bản, không cảm thụ được tác phẩm. Không có học sinh tham gia đội tuyển HSG, nhìn vào những tác phẩm trong sách dài thậm chí còn không muốn đọc tìm hiểu. Đặc biệt thường bỏ qua việc tìm hiểu ý nghĩa nhan đề tác phẩm – một chìa khóa quan trọng để nắm bắt nội dung cốt lõi của văn bản. Thực trạng của vấn đề là gì ? Khi chúng ta lên lớp, chúng ta thường thấy ở các em có những hạn chế như:
Trang 1CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng sáng kiến huyện Phú Lương
Tôi (chúng tôi) ghi tên dưới đây:
Chức danh
Trình độ chuyên môn
Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo ra sáng kiến
(ghi rõ đối với từng đồng tác giả, nếu có)
1 Bế Thị Quỳnh 24/04/1988 THCS thị trấn
Đu
Giáoviên ĐH Văn 100%
1 Tên sáng kiến kinh nghiệm:
“Hướng dẫn học sinh tìm hiểu ý nghĩa nhan đề tác phẩm Ngữ văn lớp 9 ôn luyện thi vào 10 THPT”
2 Tác giả sáng kiến:
- Họ và tên: Bế Thị Quỳnh
- Địa chỉ: Trường THCS thị trấn Đu - Phú Lương - Thái Nguyên
- Số điện thoại: 01674 701 662 Email: nhuquynh88.tng@gmail.com
3 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
Bế Thị Quỳnh - Trường THCS thị trấn Đu - Phú Lương - Thái Nguyên
Trang 24 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
Giáo dục – Áp dụng cho học sinh lớp 9 trường THCs thị trấn Đu
5 Ngày sáng kiến kinh nghiệm được áp dụng lần đầu:
Sáng kiến áp dụng lần đầu: Ngày 15 tháng 8 năm 2017
6 Mô tả bản chất của sáng kiến:
6.1: Lời giới thiệu:
6.2 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH.
6.2.1.Thuận lợi:
- Là một giáo viên, tôi luôn chấp hành tốt mọi chủ trương, đường lối của Đảng,chính sách, pháp luật của Nhà nước Sống trong một tập thể đội ngũ giáo viên cóphẩm chất đạo đức và vững vàng về nghiệp vụ chuyên môn, có tinh thần đoànkết kỷ luật, tương thân tương ái
- Là một giáo viên trẻ cũng đã có chút kinh nghiệm nhưng tôi luôn tự phấn đấu,trau dồi kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ bằng cách học hỏi kinh nghiệm củađồng nghiệp, tự mua tài liệu để nghiên cứu
- Khi đảm nhận công tác giảng dạy và bồi dưỡng HSG môn Ngữ văn 9; Lịch sử9; Ôn luyện thi vào lớp 10 môn Ngữ văn tôi luôn nhận được sự quan tâm củaban giám hiệu, tổ chuyên môn, phụ huynh học sinh…trường THCS thị trấn Đu.Chính vì vậy, tôi như được có thêm sức mạnh, luồng sinh khí mới để phấn đấugặt hái được nhiều thành công trong công tác giảng dạy và bồi dưỡng học sinhgiỏi nói chung và ôn luyện thi vào lớp 10 môn Ngữ văn nói riêng
6.2.2 Khó khăn:
- Đời sống của giáo viên còn nhiều khó khăn Đại đa số học sinh trên địa bàn là
con em các dân tộc ít người ở miền núi, sự tiếp thu kiến thức còn hạn chế, chưa
có tinh thần hiếu học, gia đình lại chưa thực sự quan tâm Đặc biệt, một bộ phậnhọc sinh nhà nghèo, không muốn thi vào lớp 10, không muốn tiếp tục đi học màmuốn ở nhà đi làm để kiếm thêm thu nhập phụ giúp bố mẹ trang trải nhữngkhoản chi tiêu trong gia đình
Trang 3- Trang thiết bị phục vụ cho việc dạy –học còn thiếu, sách tham khảo khanhiếm Do vậy mà ảnh hưởng phần nào đến chất lượng dạy và học
- Do thời gian bồi dưỡng học sinh giỏi dự thi HSG cấp huyện quá dài, học sinhkhông có thời gian ôn thi vào các trường THPT
- Bản thân tôi là giáo viên mới chuyển đến, nhà xa cách trường hơn 40km nênviệc bám trường lớp còn gặp nhiều khó khăn
Trên đây là những khó khăn của bản thân tôi trong công tác bồi dưỡng và ônluyện môn Ngữ văn 9 luyện thi vào lớp 10 Tôi tự thấy cần phải cố gắng, nỗ lựcnhiều hơn nữa để tìm ra giải pháp, phương pháp dạy học để đem đến cho họcsinh sự hứng thú, niềm say mê, từ đó rèn luyện ý chí, niềm tin, khả năng viết bài
để dự thi các kì thi đạt kết quả cao hơn, vững tin hơn vào tương lai của mình
6.3.NỘI DUNG- BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:
6.3.1.Nội dung & biện pháp thực hiện:
Chất lượng khảo sát đầu năm ( học sinh 2 lớp 9A và 9B ): TSHS- 54
đề tác phẩm – một chìa khóa quan trọng để nắm bắt nội dung cốt lõi của vănbản Thực trạng của vấn đề là gì ?
Khi chúng ta lên lớp, chúng ta thường thấy ở các em có những hạn chếnhư:
+ Không chủ động được trong việc lĩnh hội kiến thức
Trang 4+ Kỹ năng nói trước đông người còn lúng túng, ấp úng, không biết nhậnxét đánh giá ý kiến của bạn, chưa mạnh dạn phát biểu ý kiến xây dựng bài.
+ Không có tinh thần tự giác, không có ý thức phấn đấu vươn lên, không
có thói quen hợp tác trong học tập cũng như trong cuộc sống
- Trên lớp trong một tiết học nhiều học sinh trả lời câu hỏi của giáo viên mộtcách máy móc, thiếu tư duy, suy nghĩ kỹ tuy các em có tham khảo bài họcnhưng thiếu cơ sở, chưa hiểu cặn kẽ vấn đề Bên cạnh đó cũng có một số họcsinh có thói quen thụ động, nghe, ghi chép những gì giáo viên nói mà khôngtham gia vào tìm hiểu bài giảng, còn lơ là trong tiết học hoặc nói chuyện riêng…
- Khi chuẩn bị bài học, các em còn lệ thuộc vào tài liệu hay làm theo một cáchmáy móc Như vậy thường lạc đề hoặc không trình bày đúng nội dung yêu cầu.Trong một tiết học nhiều học sinh không thể tóm tắt trình bày lại nội dung chínhcủa bài học, từ chỗ không hiểu bài, học sinh sẽ chán nản, buông xuôi việc học.Thậm chí trốn tiết đi chơi hoặc chơi các trò chơi ảnh hưởng đến việc học tập
- Trước tình học tập như trên, thầy cô giáo phải đầu tư suy nghĩ để tìm ra cácbiện pháp có hiệu quả trong giáo dục và đào tạo học sinh Đây cũng là lý do đểtôi viết đề tài này Qua đề tài này mong rằng với những gì trong thực tế giảngdạy của mình, làm thế nào góp phần vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy củagiáo viên và việc học tập của học sinh đối với bộ môn Ngữ văn nói chung vàNgữ văn 9 nói riêng
- Các em cần thấy được thái độ học tập tích cực, đặt mục tiêu vào vấn đề họctập, nhận ra tầm quan trọng của việc tự học, sự kiên nhẫn, tự tin vào sự thànhcông Muốn tự học ở mọi nơi, mọi lúc với mọi người trong mọi lĩnh vực, các emcần có một thái độ học tập nghiêm túc và đặc biệt phải có sự đam mê Nhưng tựhọc không thể tự phát huy tuỳ tiện và muốn học thế nào cũng được Cần phải cócách thức, phương pháp tự học sao cho hợp lý, phù hợp với chính bản thân như:phải căn cứ vào ưu điểm trong quá trình nhận thức và hòan cảnh của bản thân để
áp dụng nguyên tắc chung nhất là phải tìm hiểu, nắm vững được những đặctrưng yêu cầu cơ bản của các kiến thức Ngữ văn trong chương trình THCS Phải
Trang 5xác định được các loại bài, mối quan hệ giữa Văn học Việt Nam và văn học thếgiới
Đối với học sinh lớp 9 luyện thi vào 10, trong cấu trúc đề thi, những câu hỏiliên quan đến ý nghĩa nhan đề chiếm số lượng điểm không nhiều (thường từ 0,5-> 1 điểm), nhưng đây cũng sẽ là số điểm vô cùng quan trọng quyết định kết quảthi vào lớp 10 của các em Nếu chủ quan, lơ là, bỏ qua không làm câu này sẽ vôcùng đáng tiếc
Như vậy để hướng dẫn học sinh ôn luyện Ngữ văn 9 luyện thi vào lớp 10,
giáo viên cần cho học sinh ôn luyện theo các chuyên đề, với ý nghĩa nhan đề cáctác phẩm văn học trong chương trình ngữ văn 9 có thể tách riêng là chuyên đềnhỏ để học sinh tiếp thu bài tốt hơn, kết quả thi sẽ cao hơn, không bỏ sót điểm ởbất cứ câu nào, ý nào, dù là nhỏ nhất
Trong năm học 2017- 2018, tôi được phân công ôn luyện cho học sinh thivào lớp 10 môn Ngữ văn, trong suốt quá trình giảng dạy tôi luôn chú trọng đầu
tư kiến thức, phương pháp để giúp các em học tập tốt nhất Sau đây là phần nội
dung trong chuyên đề Ý nghĩa nhan đề tác phẩm ngữ văn lớp 9 mà tôi đã hướng
dẫn học sinh tìm hiểu:
Ý NGHĨA NHAN ĐỀ TÁC PHẨM NGỮ VĂN LỚP 9
I/ Giới thiệu chung về nhan đề trong tác phẩm văn học:
Lưu ý không nhầm nhan đề với tiêu đề, tựa đề:
+ “Tựa đề” còn gọi là Lời tựa hay đề tựa là những lời- thường của
tác giả viết dưới nhan đề, để giới thiệu hoặc để nói điều cần thiết, hệ trọng của một văn bản, một tác phẩm Tựa đề (lời tựa) có thể tương đối dài, ở đầu một cuốn sách, là để giới thiệu cuốn sách đó Ví dụ: "Tựa đề cho tác phẩm X" Nhưng,
Trang 6nhiều khi tựa đề chỉ là một, hai dòng ngắn gọn, nói lên chủ đích của tác giả, hoặc cảm hứng khởi nguồn cho tác phẩm của mình.
+ “Tiêu đề”Là cái nhan đề nhỏ, là tên của một chương mục trong chỉnh thể tác phẩm, hoặc tên một phần của văn bản Những văn bản dài, các tiểu thuyết hoặc phóng sự, v.v thường có các tiêu đề, để tách các phần, các chương, hoặc các ý lớn, làm cho bố cục của tác phẩm trở nên rành mạch và người đọc dễ tiếp nhận Dưới mỗi tiêu đề là một vài đoạn văn, tạo thành một bộ phận của tác phẩm, có ý nghĩa tương đối độc lập.
Các tiêu đề thường được đánh dấu: I, II, III, , hoặc A, B, C, )
2 Các cách đặt nhan đề:
Nhan đề (đầu đề) thường do người viết đặt ra - như người bố, người mẹ đặttên cho đứa con của mình; nhưng cũng có khi do người khác (cán bộ biên tập)đặt hộ, hoặc đổi tên đi cho hay, cho phù hợp với chủ đề của tác phẩm Có nhữngbài nói, bài viết không có nhan đề, nhưng khi đăng báo, toà soạn phải đặt têncho Vì thế, ở phía dưới có ghi chú: Nhan đề (tên bài, đầu đề) do toà soạn đặt Đối với nhà thơ Phạm Tiến Duật, ông đánh giá cao lao động sáng tạo của
nhà văn ngay từ nhan đề Theo ông, người nghệ sĩ có ba cách đặt đầu đề cho tác
phẩm của mình:
+ Cách thứ nhất là không đặt gì cả, tức là tác giả khước từ hoàn toàn việc
giới thiệu với người đọc tác phẩm của mình: ở loại này tác giả thường viết lên
đầu đề hai chữ vô đề
+ Cách thứ hai: đặt đầu đề mà như không đặt
+ Cách thứ ba: đặt đầu đề gợi ý, gợi tình, gợi cảm, gợi cảnh
Như thế, phương pháp đặt nhan đề gần giống với cách cấu tứ: phú, tỉ, hứng Một “bài thơ hay”, “bài thơ lớn” ngoài nội dung cụ thể của nó đem lại, thì
nhan đề cũng góp phần không nhỏ trong việc tạo ra tầm vóc tư tưởng của bàithơ “Dù đặt thế nào thì đặt đầu đề của tác phẩm văn học phải thống nhất biệnchứng với nội dung tác phẩm”,“thống nhất trong âm dương, trong phức điệu”
Nhà thơ Phạm Tiến Duật tỏ ra không ưa kiểu “treo đầu dê bán thịt chó”, càng
không bằng lòng với kiểu tạo ra một cái nhan đề quá nghèo nàn về tư tưởng.Nhan đề sẽ “vô duyên” nếu như “nó không bổ sung cho tác phẩm được gì” Cần
phải có “nghệ thuật” đặt nhan đề: “Nếu dưới bài là chật thì đầu đề phải rộng;
Trang 7dưới bài quá lạnh thì đầu đề phải nóng Cái tứ của bài là giả thì tác phẩm chỉ
có thể cứu lại bằng cái tình thật chứa trên đầu bài”(Phạm Tiến Duật, Vừa làm vừa nghĩ, Nxb Văn học, 2003).
Mỗi tác giả có cách đặt nhan đề khác nhau theo hứng thú,thẩm mĩ
riêng: Người thích dài, người thích cộc, kẻ gây thích gây ấn tượng, người thích
giấu ý đồ Phạm Tiến Duật định ra cái tiêu đề cũng có vẻ thừa: “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” Ở đây, dấu hiệu của sự sáng tạo, mỹ cảm độc đáo của thi nhân có quan hệ chặt chẽ với cái yếu tố thừa đó
Tựu trung lại, cách đặt nhan đề rất đa dạng và phong phú, có thể kể đếnnhững cách như sau:
+ Đặt tên tác phẩm theo tên nhân vật chính Vd: Truyện Kiều; Chuyện
Người con gái Nam Xương; lão Hạc…;
+ Đặt nhan đề dựa trên tư tưởng, chủ đề chính trong tác phẩm hoặc
thông điệp của tác giả VD: Lặng lẽ Sa pa( Nguyễn Thành Long); Mùa xuân
nho nhỏ( Thanh Hải); Làng( Kim lân)…
+ Nhan đề là một hình ảnh trong tác phẩm mang ý nghĩa biểu tượng VD:
Chiếc lược ngà ( Nguyễn Quang Sáng); Bếp lửa ( Bằng Việt); Ánh trăng( Nguyễn Duy); Lặng lẽ Sapa ( Nguyễn Thành Long); Bến quê ( Nguyễn MinhChâu)…
+ Nhan đề là một hành động, trạng thái vd: Nói với con ( Y Phương);
Sang Thu ( Hữu Thỉnh); Viếng lăng Bác ( Viễn Phương)…
Từ đây có thể thấy có nhiều cách để một nhà văn , nhà thơ đặt nhan đề chotác phẩm của mình Song nhan đề trong tác phẩm văn học phải là sự tìm tòi,sáng tạo nghệ thuật của nhà văn, góp phần định hướng cho người đọc, ngườitiếp nhận đến với nội dung ý nghĩa của tác phẩm
3 Thế nào là một nhan đề hay?
Nhiều nhà văn sau khi hoàn thiện khâu cuối cùng của sự sáng tạo nghệthuật mới đặt tên cho tác phẩm của mình; tên gọi này, chính là sự tổng kết lại dự
đồ sáng tác của họ Ernest Miller Hemingway chia sẻ về kinh nghiệm đặt nhan
đề như sau: “Sau khi viết xong một truyện… tôi kể ra cả một lô tên có thể mangđặt cho truyện đó Đôi khi chúng có hàng trăm cái tên Rồi tôi bắt đầu gạch bỏ,
Trang 8có khi, tất cả những tên nghĩ ra đều bị gạch hết” Lại có trường hợp đặt nhan đềcho tác phẩm do một sự tình cờ nào đó, có lúc tên truyện được lấy ra từ trong
thân truyện Nhan đề, một yếu tố cận văn bản (cùng với tiêu đề các chương, các
lời tựa, bạt, lời đề từ, các lời bình luận in trên bìa sách, các ghi chú của ngườiviết ) do tác giả đặt (hoặc bạn hữu/biên tập viên sành sỏi nào đó gợi ý), nhìnchung đều có dụng ý tư tưởng, thậm chí nó còn có chức năng định hướng cách
đọc, sự tiếp nhận của độc giả đối với phần chính văn Nhan đề như một mật mã
của thông điệp thẩm mỹ, một mô hình nghệ thuật, nó là cái biểu nghĩa của văn bản văn học, cho độc giả biết trước: văn bản này viết về cái gì, có thể đọc nó hoặc nên đọc văn bản như thế nào.
Người xưa khẳng định: “Chỉ ra cái cốt tủy của toàn bài, hoặc ở đầu bài,hoặc ở giữa bài, hoặc ở cuối bài” Không ít tác giả nhận thấy: “ Đầu đề phải nổilên trên bề mặt văn bản, không có nó không xây dựng được mô hình văn bản”.Không ít tác phẩm thay đổi tên gọi nhiều lần, do tác giả chưa ưng ý, cảm thấy
chưa thích hợp Vậy thế nào là một nhan đề hay?
Một nhan đề hay phải đảm bảo 2 yêu cầu về hình thức và nội dung:
+ Ấn tượng về hình thức: Ngắn gọn hàm súc như Đồng chí ( chính Hữu);
Làng ( Kim Lân); hoặc ngược lại với ngắn gọn hàm súc là dài tưởng như có từthừa, VD: Bài thơ về tiểu đội xe không kính ( Phạm Tiến Duật); Hoặc có nhữngnhà thơ nhà văn tạo ra sự đặc biệt bằng cách làm thay đổi thói quen trật tự ngônngữ mà chúng ta hay dùng hàng ngày, thay vì chủ ngữ đứng trước vị ngữ, động
từ đứng trước thành phần bổ ngữ cho động từ, danh từ đứng trước thành phầnđịnh ngữ của nó thì ở đây tác giả sử dụng lối đảo ngữ như: Lặng lẽ Sapa( Nguyễn Thành Long); Sang Thu ( Hữu Thỉnh)…
+ Sâu sắc, thú vị về nội dung: Trong nhan đề phải góp phần truyền tải nội
dung tư tưởng của tác phẩm, những hình ảnh biểu tượng tập trung nhất chủ đềtác phẩm: Ánh trăng, Bếp lửa, Bến quê; Con cò; Những ngôi sao xa xôi…Hoặcnhan đề có thể hé lộ nội dung của nó một cách rất độc đáo và mới mẻ, như:Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ (thường các em bé khi sinh ra được
Trang 9nuôi lớn ở mỗi gia đình, lớn lên cùng lời ru bên nôi, còn ở đây các em bé này lạilớn trên lưng mẹ); Mùa xuân nho nhỏ…
II/ Vai trò của nhan đề trong tác phẩm văn học:
Tại sao chúng ta phải tìm hiểu ý nghĩa nhan đề tác phẩm? Vì:
1 Nhan đề là cửa sổ nhìn ra thế giới, là chìa khóa nghệ thuật giúp người đọc khám phá chiều sâu ý nghĩa trong tác phẩm:
Mỗi tác phẩm văn chương là con đẻ tinh thần của mỗi nhà văn, trong quá
trình sáng tác họ đã phải suy tư nghiền ngẫm, thai nghén tác phẩm của mình rấtlâu, có những tác phẩm được viết rất nhanh, chỉ trong vài giờ vài ngày, nhưngcũng có những tác phẩm được viết ra là trăn trở suy tư của nhà văn trong suốtnhiều năm, thậm chí là cả một cuộc đời Cho nên, có thể nói mỗi tác phẩm ra đời
là đứa con tinh thần của mỗi nhà văn, đặt nhan đề cho tác phẩm cũng chính làđặt tên cho đứa con tinh thần của mình Cha mẹ sinh ra chúng ta, khi đặt tên đãgửi gắm vào đó biết bao hi vọng, mong ước thì nhà văn cũng như vậy Khi đặttên cho tác phẩm, họ trải qua nhiều suy tư trăn trở để làm sao đặt nhan đề gửigắm được tư tưởng, tình cảm, chủ đề tác phẩm, do đó khi tìm hiểu nhan đề tácphẩm ta sẽ thấy nhan đề ấy hé lộ cho ta những hiểu biết về tư tưởng về chủ đềtác phẩm, đó chính là cánh cửa đầu tiên mở ra nội dung tác phẩm
2 Nhan đề góp phần định hướng tiếp cận cho người đọc:
Nhan đề của tác phẩm mang ý nghĩa rất đặc biệt, nó là một bộ phận của tácphẩm, đó là phần đầu tiên khi mỗi chúng ta tiếp xúc với một tác phẩm ta nhìnthấy Ta chưa đọc câu chuyện, chưa đọc bài thơ, chưa biết nhân vật, chưa biếtcảm xúc nhưng ta đã biết nhan đề của nó rồi, và khi gấp sách lại ta thấy nhan đề
là cái cuối cùng ta nhìn thấy, còn đọng lại, còn nhớ về tác phẩm của mình Nhan
đề chính là phần đầu tiên ta tiếp xúc và cũng chính là phần cuối cùng ta còn nhớ
về tác phẩm Cho nên, nhan đề có một vai trò cực kì quan trọng trong việc tạodựng những ấn tượng cho người đọc về tác phẩm bao gồm: Tư tưởng chủ đề củatác phẩm; Thông điệp nghệ thuật tác giả gửi gắm trong tác phẩm; Phong cách
Trang 10nghệ thuật của nhà văn; Đặc điểm của từng giai đoạn văn học và thể loại vănhọc
Chính vì vậy các nhà văn nhà thơ rất chú ý trong việc đặt tên cho tác phẩmcủa mình
III Một số nhan đề tác phẩm cần chú ý trong chương trình ngữ văn lớp 9:
5 Bài thơ về tiểu đội xe không kính Phạm Tiến Duật
6 Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ Nguyễn Khoa Điềm
2 Ý nghĩa nhan đề một số tác phẩm ngữ văn 9:
Tác phẩm được xem là áng “ thiên cổ kì bút”(bút lạ từ ngàn xưa)
3 Truyện Kiều của Nguyễn Du vốn có tên gọi khác khác là “Đoạn trường
Trang 11+ Tên gọi: “Đoạn trường tân thanh” đoạn trường (đứt ruột) tân thanh (tiếng kêumới) tên gọi được rút ra từ nội dung cơ bản của tác phẩm " tiếng kêu đau xót toát lên từ số phận con người.
Cả hai đầu đề đều phù hợp với nội dung tác phẩm có tác dụng định hướng cho người đọc khi tiếp xúc với văn bản
5 Bài thơ về tiểu đội xe không kính:
- Bài thơ có một nhan đề khá dài tưởng như có chỗ thừa, nhưng chính nhan đề
ấy lại thu hút người đọc ở cái vẻ lạ độc đáo của nó
- Nhan đề bài thơ đã làm nổi bật hình ảnh của toàn bài : những chiếc xe không kính Hình ảnh này là một phát hiện thú vị của tác giả, thể hiện sự gắn bó và am hiểu hiện thực đời sống chiến tranh trên tuyến đường Trường Sơn
- Nhan đề có thêm hai chữ “bài thơ” cho thấy rõ hơn cách nhìn, cách khai thác hiện thực của tác giả: không chỉ viết về những chiếc xe không kính hay là cái hiện thực khốc liệt của chiến tranh, mà điều chủ yếu là tác giả muốn nói về chất thơ của hiện thực ấy: chất thơ của tuổi trẻ hiên ngang dũng cảm,vượt lên thiếu thốn, hiểm nguy của chiến tranh
8 Mùa xuân nho nhỏ:
- Tên bài thơ là một sáng tạo độc đáo, một phát hiện mới mẻ của nhà thơ
- Hình ảnh “Mùa xuân nho nhỏ” là biểu tượng cho những gì tinh túy nhất, đẹp
đẽ nhất của sự sống và cuộc đời của mỗi con người thể hiện nguyện ước của nhà thơ muốn làm một mùa xuân nghĩa là sống đẹp, sống với tất cả sức sống tươi trẻ của mình nhưng rất khiêm nhường là một mùa xuân nho nhỏ góp vào mùa xuân lớn của đất nước, của cuộc đời
- Thể hiện quan điểm về sự thống nhất giữa cái riêng và cái chung, giữa cá nhân và cộng đồng
Trang 12Tình cảm yêu làng, yêu nước không chỉ là tình cảm của riêng ông Hai mà còn là tình cảm chung của những người dân Việt Nam thời kì ấy.
Trong cái không khí lặng im của Sa Pa, Sa Pa mà nhắc tới người ta chỉ nghĩ đến chuyện nghĩ ngơi lại có những con người ngày đêm lao động hăng say, miệt mài lặng lẽ, âm thầm cống hiến cho đất nước
11 Chiếc lược ngà:
- Vì chiếc lược ngà là kỉ vật cuối cùng của ông Sáu dành cho con
- Là minh chứng cho tình cảm giữa hai cha con của ông Sáu
Chiếc lược kỉ niệm, chiếc lược tình cha, chiếc lược của hi vọng và niềm tin, là quà tặng của người đã khuất
13 Những ngôi sao xa xôi:
Tác giả đặt tên truyện là Những ngôi sao xa xôi: Từ ánh mắt nhìn xa xăm của
Phương Định, lời các anh bộ đội lái xe ca ngợi họ, hình ảnh thơ mộng lãng mạn,đẹp và trong sáng lại phù hợp với những cô gái mơ mộng đang sống và chiến đấu trên cao điểm…những vì sao trên tuyến đường Trường Sơn Những ngôi sao
là biểu tượng cho vẻ đẹp anh hùng của những cô gái thanh niên ở Trường Sơn
Ở họ luôn có những phẩm chất tốt đẹp, có sức tỏa sáng diệu kì Ánh sáng ấy không phô trương mà phải chịu khó tìm hiểu chúng ta mới cảm nhận được vẻ
đẹp diệu kì Các chị xứng đáng là những ngôi sao trên đỉnh Trường Sơn
IV Làm quen, luyện các dạng đề liên quan đến nhan đề tác phẩm:
Trang 131 Các dạng đề về ý nghĩa nhan đề tác phẩm:
Bên cạnh việc ôn luyện kiến thức, học sinh cần làm quen và luyện thành
thạo các dạng đề để khắc sâu các nội dung đã học Các dạng đề có thể tìm kiếm trên mạng, qua các loại sách tham khảo , nâng cao…
Đối với chương trình ngữ văn lớp 9, trong chuyên đề ý nghĩa nhan đề tác phẩm ta thường thấy các dạng đề như sau:
Dạng 1: Nêu ý nghĩa nhan đề tác phẩm
Dạng 2: Giải thích ý nghĩa nhan đề tác phẩm (hình thức viết một đoạn văn)Dạng 3: Phân tích ý nghĩa nhan đề tác phẩm
2.Cách viết đoạn văn giải thích ý nghĩa nhan đề tác phẩm.
a.Hướng dẫn viết đoạn.
Nhan đề của tác phẩm thường được tác giả đặt bằng một từ, một cụm từ.Nhan đề tác phẩm thường chứa đựng đề tài, nội dung hoặc chủ đề của tác phẩm
mà tác giả muốn gửi gắm vào đó Đôi khi nhan đề tác phẩm đồng thời cũng làmột điểm sáng thẩm mĩ, là tín hiệu nghệ thuật cần khai thác để làm sáng tỏ chủ
đề tác phẩm Có nhan đề nêu lên đề tài của tác phẩm ( “Làng” – Kim Lân), có nhan đề hướng vào tư tưởng chủ đề của tác phẩm ( “ Lặng lẽ Sa Pa” - Nguyễn Thành Long), có nhân đề gửi gắm một thông điệp sâu sắc nào đó (“Bến quê” -
Nguyễn Minh Châu),…Bởi vậy, để hiểu được nhan đề của tác phẩm, cần phảiđọc kĩ tác phẩm, tìm hiểu nội dung, tìm hiểu các tầng nghĩa của hình tượng, xâuchuỗi những hiểu biết về chi tiết, hình ảnh, hình tượng trong tác phẩm để xácđịnh đúng chủ đề tác phẩm Từ đó quay lại tìm hiểu về ý nghĩa nhan đề tácphẩm, đọc ra dụng ý mà tác giả gửi gắm trong đó
- Yêu cầu về nội dung:
+ Nêu được chính xác tên tác phẩm, tên tác giả
+ Xác định ý nghĩa nhan đề tác phẩm thể hiện về phương diện gì: đề tài,nội dung, tên nhân vật chính, chủ đề, …mối quan hệ giữa tên tác phẩm và chủ
đề tác phẩm