1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SKKN Văn 9 A tỉnh

30 263 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 121 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Học sinh có giây phút đợc lắng đọngtrong cảm xúc của tác phẩm, đợc suy nghĩ về một vấn đề các em muốn tự mìnhkhám phá… Các hoạt động của giờ học phải diễn ra thật tự nhiên không hề gò ép

Trang 1

II:Nh÷ng h¹n chÕ cña giê d¹y vµ häc v¨n hiÖn nay – Nguyªn nh©n 6

III:Mét sè kinh nghiÖm n©ng cao hiÖu qu¶ giê d¹y vµ häc v¨n 9

Trang 2

- Đổi mới dạy học bằng đáp ứng mục tiêu,yêu cầu của đất nớc trong giai

đoạn mới là yêu cầu và cũng là niềm mong mỏi của đội ngũ GV và cán bộ quảnlýgiáo dục

“Phơng pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ dộng, sáng tạo của ngời học; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dỡng phơng pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho ngời học“.

Đổi mới phơng pháp dạy học Ngữ văn không nằm ngoài những định hớng

đổi mới nói trên

- Mục tiêu năm học 2008 – 2009 đã đợc xác định: giảm căng thẳng, khơidậy hứng thú học tập, khả năng hoạt động sáng tạo tích cực của học sinh

2 Căn cứ vào những khó khăn trong việc nâng cao hiệu quả giờ dạy và học Văn

Hiện nay, số học sinh thích học môn Văn cha nhiều Một số không nhỏ họcsinh không thích học Văn và yếu kém về năng lực cảm thụ văn chơng Điều đóthể hiện qua những giờ học ở lớp và qua những bài kiểm tra, bài thi khiến cácthày cô chấm bài phải “cời ra nớc mắt”

- Về phía học sinh, phần lớn các em cha thực sự hài lòng với cách dạy Văncủa các thày cô Theo phản ánh của không ít học sinh, các giờ lên lớp của thày côgiáo Văn không tạo đợc ấn tợng cho các em

Trang 3

- Nh vậy, cả thày trò đều cảm thấy cha thực sự thoải mái Trò mong muốn

có những giờ dạy Văn hấp dẫn hơn ở thày còn thày cũng đòi hỏi trò phải say mê

và có trách nhiệm với môn học này

Dù hàng năm giáo viên vẫn đợc tham dự các đợt thực tập Khu, dự giờ thămlớp ở trờng, dự giờ giáo viên dạy giỏi… nhng dờng nh vẫn còn những điều đángbàn về phơng pháp dạy học văn

II Lịch sử vấn đề

- Vụ Giáo dục Trung học, Bộ Giáo dục Đào tạo có nhiều tài liệu bồi dỡngcho giáo viên Ngữ văn theo tinh thần đổi mới

- Vấn đề “Nâng cao hiệu quả giờ dạy và học Văn” đợc nhiều nhà giáo,

các nhà nghiên cứu quan tâm và có nhiều bài viết có chất lợng

Đó là những định hớng phơng pháp dạy học cơ bản giúp giáo viên vậndụng vào quá trình dạy học Ngữ văn Trung học cơ sở

Ngời viết trên cơ sở kế thừa phơng pháp giáo dục đã đợc định hớng kết hợpvới việc học hỏi đồng nghiệp, sự trải nghiệm của bản thân muốn qua đề tài này đ-

ợc cùng các đồng chí và các bạn chia sẻ kinh nghiệm “ Nâng cao hiệu quả giờ dạy và học Văn“ ở trờng THCS.

III Mục đích của đề tài

1 Rút ra một số nguyên nhân khiến giờ dạy và học Văn hiệu quả cha cao

2 Đề xuất một số kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả giờ dạy và học Văn

IV Nhiệm vụ nghiên cứu

1 Tìm hiểu tình hình dạy và học Văn ở trờng THCS (chủ yếu ở lớp 9)

2 Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến hiệu quả giờ dạy và học Văn cha cao

3 Rút ra một số kinh nghiệm dạy và học Văn

V Phơng pháp nghiên cứu

- Tìm hiểu, trao đổi

- So sánh

Trang 4

Phần II : Nội dung

I Đánh giá một giờ dạy và học Văn có hiệu quả

1 Giờ Văn đó phải tạo nên tâm lí thoải mái, nhẹ nhàng cho cả ngời dạy và ngời học.

Điều đó thể hiện ở nhiều phơng diện : giọng nói của thày nhẹ nhàng, lợngkiến thức nhẹ nhàng, lợng câu hỏi vừa phải Học sinh có giây phút đợc lắng đọngtrong cảm xúc của tác phẩm, đợc suy nghĩ về một vấn đề các em muốn tự mìnhkhám phá… Các hoạt động của giờ học phải diễn ra thật tự nhiên không hề gò ép,khiên cỡng

2 Học sinh đợc khơi gợi hứng thú, say mê, có nhu cầu khám phá.

Nói nh nhà văn Tạ Duy Anh thì “bản chất của việc học văn là khám phá những bí mật về vẻ đẹp: khám phá những bí mật về con ngời, khám phá sự kì lạ của ngôn ngữ“ khi đó mỗi giờ học Văn giống nh một cuộc thám hiểm vào những miền đất mới luôn hứa hẹn vô số bất ngờ thú vị“ Ngời thày phải là ng-

ời hớng các em đi đến những miền đất ấy

3 Học sinh có tình cảm, thái độ đúng đắn trớc những con ngời, sự việc , vấn đề– mà tác phẩm đề cập, phản ánh

Đó là những tình cảm, thái độ: vui – buồn, yêu – ghét, yêu thơng – cămthù, ca ngợi – phê phán… Thơng “Cô bé bán diêm– chết vì đói rét giữa đêm

giao thừa, bất bình trớc thái độ thờ ơ, ích kỉ của con ngời trớc nỗi đau đồng loại…

Ngỡng mộ, trân trọng lẽ sống “Lặng lẽ dâng cho đời“ của những con ngời mới

nơi Sa Pa thơ mộng ( Lặng lẽ Sa Pa)… Xúc động bởi dòng cảm xúc dạt dào của

tình bà cháu( Bếp lửa)… Nghĩ suy về những lời cha nói với con ( Nói với con).

Thật đáng tiếc khi học những áng văn “ sống mãi với thời gian“ ấy mà

( Đổi mới PPDH môn Ngữ văn THCS – Nguyễn Quang Minh, Nguyễn

Thuý Hồng)

Trang 5

Từ “ Ca Huế trên sông Hơng”, học sinh thêm yêu những khúc dân ca quê

mình, trân trọng giữ gìn bản sắc văn hoá có từ bao đời Từ lời ngời cha “Nói với con”, các em tìm thấy ở đó lời nói với chính mình về tình cảm gia đình, tình yêu

quê hơng, ý thức gắn bó cội nguồn, ý chí vơn lên trong cuộc sống…

Nhng môn Văn không phải là những lời giáo huấn khô khan, gợng ép, hôhào… mà lay động tâm hồn con ngời rất tự nhiên, rất ám ảnh, rất tinh tế… và tràn

đầy cảm xúc Tự các em thấy mình phải nh thế, nên nh thế, ớc ao đợc nh thế…Không cần lúc nào phải nói ra mà tự nhủ trong lòng Đó là sự thành công của giờhọc Văn

5 Một điều rất quan trọng đó là từ một giờ Văn cụ thể, học sinh hiểu thêm cách học Văn để dần dần các em có thể tự đọc – hiểu tác phẩm văn học một cách khoa học, đúng đắn.

“Hãy tìm ra phơng pháp cho phép giáo viên dạy ít hơn, học sinh học nhiều hơn“ ( A Kômenxki)

Tên gọi –Đọc – Hiểu văn bản” đã lu ý giáo viên về mặt phơng pháp,

không chỉ giúp học sinh nắm những kiến thức cụ thể về nội dung cũng nh nghệthuật của một văn bản nhất định mà còn giúp học sinh nắm đợc đặc điểm của kiểuvăn bản để từ đó cách đọc – hiểu thích hợp với kiểu văn bản

II Những điểm hạn chế của giờ dạy và học Văn hiện nay – Nguyên nhân

1 Vẫn còn những giờ học nặng nề Học sinh luôn phải đối mặt với baonhiêu câu hỏi liên tiếp Có những câu hỏi hoặc quá khó hoặc không phù hợp vớitrình độ nhân thức của học sinh hoặc câu hỏi không rõ Có nhiều câu hỏi vụn vặt,câu hỏi xa rời trọng tâm Học sinh nh bị đa vào “ma trận”, không hình dung nổi

đâu là trọng tâm bài Học sinh quay cuồng trong những câu hỏi, thót tim về lo bịcô gọi trả lời Và nh thế không còn cảm hứng chỉ còn thấy sợ, chán, nặng nề

Nguyên nhân của căn bệnh “ ma câu hỏi” này là do giáo viên nhầm tởng

đặt nhiều câu hỏi để phát huy tính tích cực của học sinh

Một nguyên nhân khiến cho giờ học nặng nề ( nặng về kiến thức), đó là bởingời dạy muốn đa nhiều thông tin về tác giả, tác phẩm, muốn truyền hết những gìmình biết, mình hiểu cho học trò

2 Giáo viên cha có phơng án câu hỏi gợi mở để những học sinh trung bình,yếu đợc tham gia vào tiết học Các em gần nh bị đứng ngoài cuộc, cả lớp chỉ vài

ba em trả lời Học sinh im lặng trớc câu hỏi hoặc trả lời miễn cỡng không hứngthú

Trang 6

3 Những lời phát biểu, ý kiến học sinh đa ra cha đợc sự động viên khuyếnkhích, bị phủ nhận tức thì hoặc lời nhận xét “đúng”, “sai” mà cha có sự lí giảithấu đáo có sức thuyết phục Có khi học sinh đa ra ý hiểu khá độc đáo, mới mẻnhng lại bị phủ nhận (vì không đúng ý cô).

Hạn chế này là do bản thân ngời dạy cha có sự chuẩn bị chu đáo, cha nắm

đợc đặc điểm của văn bản, đó là sự đa nghĩa Trớc đây mọi ngời đều cho rằng vănbản chỉ có một ý nghĩa duy nhất và đều tìm cách tiếp cận cái ý nghĩa duy nhất ấy.Nhng không có một tác phẩm xuất sắc nào lại chỉ đóng khung trong một cáchhiểu duy nhất Có nhiều cách hiểu khác về một văn bản : có ý nghĩa do tác giảdụng ý biểu đạt trong văn bản, có ý nghĩa do cấu tạo của văn bản gợi lên, có ýnghĩa do ngời đọc liên hệ, suy diễn hay áp đặt cho nó

Trong các ý nghĩa ấy, những ý nghĩa phù hợp với cấu trúc biểu đạt thì bổsung cho nhau Các ý nghĩa không phù hợp với sự biểu đạt thì phải coi là không

có sức thuyết phục Vì vậy, việc phủ nhận những ý nghĩa phù hợp với văn bản dohọc sinh phát hiện ra sẽ làm mất đi hứng thú sáng tạo, phát hiện của các em

4 Thảo luận còn mang tính hình thức

+ Một giờ học Văn đa ra quá nhiều câu hỏi thảo luận Cảm thụ văn bản( nhất là văn bản nghệ thuật) thuộc về khả năng của mỗi cá thể học sinh Do vậyhoạt động cá nhân tự bộc lộ phải là hình thức dạy học thờng xuyên hàng đầu

+ Câu hỏi thảo luận không có sức thu hút học sinh: quá đơn điệu, quá dễhoặc quá khó với khả năng học sinh

- Ví dụ : Nhận xét về logic diễn biến tâm trạng của ngời anh?

(Bức tranh của em gái tôi – Ngữ Văn 6)

Câu thơ :

ánh trăng đi qua ngõ

Nh ngời dng qua đờng

(ánh trăng – Ngữ văn 9)

Sử dụng biện pháp tu từ gì ?

+ Cuộc thảo luận tẻ nhạt, chỉ tập trung vào học sinh khá, giỏi, những họcsinh khác vì tự ti không đa ý kiến gì

5 Các phơng pháp và hình thức dạy học cha phong phú lôi cuốn Hoạt

động chủ yếu là hỏi, trả lời, vài lần thảo luận nhóm

6 Ngời thày cha chú ý đến giọng điệu văn chơng Giọng điệu đều đều,hoặc quá nhỏ hoặc quá to ( nhất là khi học sinh ồn ào) hoặc quá nhanh… Sự thànhcông của giờ dạy Văn có phần không nhỏ của giọng điệu ngời thày

7 Về phía học sinh :

Trang 7

- Không đọc kĩ trớc văn bản Chuẩn bị bài ở nhà còn mang tính đối phó( Chép ở sách giải bài tập, “ Để học tốt”), bản thân cha suy nghĩ trớc những câuhỏi phần “ Đọc – Hiểu văn bản”.

- Thể hiện những kiến thức để đọc – hiểu văn bản còn thiếu hụt ( TiếngViệt, Văn học, Lịch sử…)

- Cha biết cách đọc – hiểu văn bản theo thể loại Nhiều khi chỉ nắm đợcnội dung, nghệ thuật của 1 văn bản cụ thể

Nh vậy việc khắc sâu cách khám phá tác phẩm theo một thể loại nào đócòn cha đợc giáo viên chú trọng

III Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả giờ dạy và học văn

1 Chú ý việc xác định thể loại và cách tiếp cận văn bản

Trớc khi tìm hiểu VB, giáo viên cũng cho học sinh xác định thể loại Nhngqua nhiều tiết học đợc dự, tôi thấy sau khi xác định tác phẩm thuộc thể thể loại gì,giáo viên chuyển sang phần khác học sinh cha hiểu xác định thể loại để làm gì

Và sau khi học xong văn bản, giáo viên vẫn cha lu ý cho học sinh cách khám phávăn bản theo thể loại đó Nh vậy mặc dù đợc học nhiều bài thơ, nhiều truyệnngắn, nhiều văn bản nghị luận… học sinh vẫn còn lúng túng khi phải tự đọc –hiểu một văn bản nào đó

Một trong những nguyên lí của việc đọc – hiểu văn bản là đọc tác phẩmtheo đặc trng thể loại Đọc – hiểu văn bản không chỉ nhằm tiếp nhận giá trị riêngcủa 1 văn bản cụ thể Với vị trí tiêu biểu cho 1 thể loại nào đó, việc tiếp nhận mỗivăn bản đều bao hàm sự định hớng về cách thức tiếp cận mỗi văn bản đều baohàm sự định hớng về cách thức tiếp cận kiến thức của thể loại hoặc kiểu bài văn

Nh vậy, khi tìm hiểu một văn bản (nhất là sau khi tìm hiểu), giáo viên cầnkhắc sâu kiến thức về thể loại đã học, cách tiếp cận, khám phá văn bản để họcsinh có thể vận dụng với 1 văn bản có cùng thể loại

*Tổ chức cho học sinh khám phá tác phẩm theo một thể loại nào đó là giúphọc sinh trả lời đợc câu hỏi: cần dựa vào những yếu tố nào để tìm ra nội dung và ýnghĩa văn bản

+ Với kiểu văn bản thơ trữ tình: Yếu tố quan trọng về nội dung là cảm xúccủa nhân vật trữ tình Yếu tố quan trọng về nghệ thuật là từ ngữ, hình ảnh, nhịp

điệu, vần điệu câu thơ, các biện pháp tu từ

+ Với kiểu văn bản tự sự : Yếu tố quan trọng là các sự kiện, nhân vật, cáctính cách, là ngôn ngữ tự sự, tình huống, kịch tính…

Trang 8

+ Với kiểu văn bản nghị luận : là trình tự lập luận mối quan hệ giữa các lậpluận.

Cụ thể : khổ thơ đầu đi từ cảm xúc trớc mùa xuân thiên nhiên với dòngsông, bông hoa, tiếng chim hót rồi những khổ tiếp theo mở rộng thành cảm xúctrớc mùa xuân của đất nớc Những khổ cuối trở về với mùa xuân trong tâm hồnnhà thơ

Học sinh sẽ không còn bỡ ngỡ khi tìm hiểu những bài thơ tiếp :

- Bài “Viếng lăng Bác”: từ cảm xúc trớc hàng tre bên lăng Bác tới mùaxuân về cuộc đời Bác và tình cảm của nhân dân dành cho Bác rồi khổ cuối lắng

đọng những tình cảm, ớc nguyện thiết tha của nhà thơ

- Bài “Sang thu” : cảm xúc đợc khơi lên từ hơng ổi gần gũi quen thuộctrong một ngõ nhỏ rồi mở rộng trong không gian bao la (dòng sông, cánh chim,

đám mây…) và khép lại bằng những suy ngẫm của nhân vật trữ tình

Ví dụ 2 : Đọc văn bản “Làng” – Kim Lân

Sau khi xác định thể loại : Truyện ngắn

- GV đặt câu hỏi : tìm hiểu nhân vật trong tác phẩm tự sự em cần khai thácnhững yếu tố nào?

- Học sinh đa ý kiến (có thể còn thiếu thì giáo viên bổ sung):

+ Tìm hiểu nhân vật qua : hoàn cảnh sống và làm việc, những suy nghĩ,việc làm, cách sống, tình cảm và quan hệ với mọi ngời

Trang 9

2 Xây dựng hệ thống câu hỏi hợp lí trên cơ sở mục tiêu cần đạt

2.1 Xác định mục tiêu cần đạt (Về nội dung và nghệ thuật) từ đó phác thảo hệ thống các ý

* Ví dụ : Văn bản “Chuyện ngời con gái Nam Xơng”

Dựa trên hệ thống các ý, giáo viên phác thảo hệ thống câu hỏi Nh vậy hệthống câu hỏi sẽ luôn hớng về trọng tâm

2.2 Xây dựng hệ thống câu hỏi hợp lí, hấp dẫn

a Biểu hiện sự hợp lí, hấp dẫn của hệ thống câu hỏi

+ Tính trọng tâm : các câu hỏi đều phải hớng về trọng tâm, phục vụ chomục tiêu cần đạt

+ Tính liên kết : các câu hỏi phải gắn kết với nhau hợp lí, không lộn xộn.Trả lời câu hỏi đó có nghĩa là đã hình thành đợc nội dung chính của bài

+ Tính chắt lọc : Không ôm đồm, nhiều câu hỏi lan man, nhiều câu hỏiphát hiện quá, dễ làm mất thời gian, rối bài hoặc làm học sinh mất sự tập trung.Chắt lọc câu hỏi sẽ tạo nên sự nhẹ nhàng cho giờ học

+ Tính phân hoá : Phân hoá thành nhiều mức độ giúp cho mọi đối tợng họcsinh đều đợc tham gia vào bài

+ Tính hấp dẫn : Đó là những câu hỏi phải đạt đợc yêu cầu : độc đáo, mới,lạ, kích thích sự cảm thụ, thu hút sự chú ý, khả năng thích nghĩ, thích nói của trò

Có thể sử dụng câu hỏi nêu giả định đảo ngợc để tạo không khí tranh luận Đảongợc cũng là cách lạ hoá cho cách nhìn, cách nghĩ về đối tợng nhận thức

- Số phận oan nghiệt của ngời phụ nữ dới chế độ phong kiến.

- Nghệ thuật dựng truyện, dựng nhân vật, yếu tố kì ảo.

điểm)

Nỗi oan sáng tỏ bằng cái bóng (mở nút)

Cuộc sống dới thuỷ cung, khát vọng giải oan (Yếu tố kì

ảo)

Oan tình đợc giải, Vũ N-

ơng vẫn không trở về (Tính bi kịch yếu tố kì ảo)

Trang 10

* Ví dụ : Ta thử đặt ra hai cách kết thúc: một kết thúc nh truyện (Vũ Nơngkhông trở về) Một kết thúc : Vũ Nơng đợc về với Trơng Sinh và con Em nghĩxem kết thúc nào hay hơn, làm cho ý nghĩa câu chuyện sâu sắc hơn? Vì sao?

b Ví dụ hệ thống câu hỏi cho Chuyện ngời con gái Nam Xơng”

?1 Tình huống nào đã khiến bản tính ghen tuông của Trơng Sinh có cơ hộibùng nổ? Tình huống ấy có vai trò gì trong câu chuyện về cuộc đời Vũ Nơng?

?2 Thái độ của Trơng Sinh nh thế nào? Vì sao Trơng Sinh có thể đối xử nhvậy? Em có nhận xét gì về cách miêu tả tâm lí nhân vật của tác giả?

?3 Em có suy nghĩ gì về cách tự minh oan của Vũ Nơng? (Nó có mangtính tích cực không? Nàng có cách giải oạn, thanh minh nào khác không?)

?4 Hình tợng cái bóng đem lại giá trị gì cho câu chuyện ?

?5 Trơng Sinh đã lập đàn giải oan cho nàng Oan tình đã đợc giải, phảichăng nỗi đau không còn, nàng sẽ đợc sống trong bình yên?

?6 Hãy chỉ ra những chi tiết kì ảo của truyện truyền kì trong truyện? Tácdụng của những chi tiết đó

?6 Ta thử đặt ra 2 cách kết thúc : một kết thúc nh truyện (Vũ Nơng khôngtrở về), một kết thúc là Vũ Nơng đợc về với Trơng Sinh và con Em nghĩ xem kếtthúc nào hay hơn, làm cho ý nghĩa câu chuyện sâu sắc hơn? Vì sao?

?7 Theo em, những nguyên nhân nào gây nên cái chết oan nghiệt cho VũNơng? Đâu là nguyên nhân sâu xa?

Từ việc đọc – tìm hiểu văn bản bằng trả lời các câu hỏi học sinh sẽ giảimã đợc ý nghĩa của văn bản Đó là :

1 Nghệ thuật dựng truyện (Tạo tình huống truyện) hấp dẫn

2 Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật

- Trơng Sinh xử sự hồ đồ, độc đoán, vũ phu

- Xã hội phong kiến xem trọng quyền uy của kẻ giàu và của ngời đàn ôngtrong gia đình

3 Vũ Nơng dùng cái chết để tự minh oan, đó là sự đầu hàng số phận, chathực sự đấu tranh để chống lại số phận, giành lại hạnh phúc cho mình Nhng nàngkhông có cách nào khác vì luật lệ xã hội phong kiến, không bênh vực cho ngờiphụ nữ

4 Hình tợng cái bóng là tình tiết để dẫn đến truyện (nỗi oan), đẩy truyệnlên tới điểm đỉnh (bị mắng nhiếc, đánh đuổi, dẫn đến cái chết oan nghiệt) vàchính nó lại mở nút để giải quyết câu chuyện ( nỗi oan sáng tỏ)

Trang 11

5 Dù câu chuyện có kết thúc phần nào có hậu, Vũ Nơng đợc ở trong mộtthế giới khác nhng tất cả chỉ là ảo ảnh Ngời đã chết không thể sống lại đợc hạnhphúc thực sự đâu còn có thể làm lại đợc Đó chính là bi kịch cuộc đời số phận ng-

ời phụ nữ vẫn tiềm ẩn ở ngay trong cái lung linh kì ảo ấy

6 Vũ Nơng không trở về, Trơng Sinh suốt đời sẽ phải sống trong đau khổdằn vặt Ngời đời phải lấy đó làm bài học cảnh tỉnh: những gì tốt đẹp ta khôngnâng niu trân trọng mà phũ phàng làm tan vỡ không bao giờ có thể lấy lại đợc

7 Nguyên nhân dẫn đến cái chết oan nghiệt của Vũ Nơng :

Do con dại vô tình, do chiến tranh, do Vũ Nơng yếu đuối, Trơng Sinh ghentuông hồ đồ tàn nhẫn… Nhng nguyên nhân sâu xa chính là xã hội phong kiến vớichế độ nam quyền Ngời đàn ông có quyền hành tuyệt đối với vợ con trong gia

đình Họ có quyền quyết định cuộc đời ngời phụ nữ Bởi vậy tôn ti trật tự của xãhội phong kiến chính là bức tờng xây ngõ cụt cuộc đời ngời phụ nữ

8 Những yếu tố kì ảo làm cho truyện li kì hấp dẫn hơn ( đúng với đặc điểmcủa truyện truyền kì)

c Xây dựng một số câu hỏi gợi mở

Không phải mọi câu hỏi mà giáo viên đa ra học sinh đều trả lời ngay màcác em còn phải suy nghĩ Giáo viên phải có cách gợi mở, dẫn dắt suy nghĩ chohọc sinh bằng các câu hỏi gợi mở ( nh thêm dữ kiện để học sinh dễ trả lời, thay

đổi trật tự kết cấu câu hỏi)

* Ví dụ :

? Hình ảnh Vũ Nơng giữa dòng sông lúc ẩn lúc hiện nói lời vĩnh biệt “ Đatạ tình chàng thiếp chẳng thể trở về nhân gian đợc nữa” và “bóng nàng loangloáng mờ nhạt dần mà biến đi mất” để lại cho em cảm nghĩ gì?

Giáo viên gợi :

- Cảm nghĩ gì về số phận “Ngời con gái Nam Xơng”?

- Cái giá phải trả của Trơng Sinh?

- Tình cảm tác giả dành cho nhân vật?

3 Vận dụng các phơng pháp dạy học hợp lí

Có nhiều phơng pháp dạy học văn, trong đề tài này, tôi chỉ xin đề cập đếnmột số kinh nghiệm vận dụng phơng pháp dạy học văn để học sinh tích cực hứngthú học tập

3.1 Phơng pháp vấn đáp gợi tìm

Trang 12

Bản chất của phơng pháp này là sử dụng một hệ thống câu hỏi để gợi họcsinh tìm tòi suy nghĩ nhằm đạt đợc những mục tiêu của bài học Giáo viên khôngtrực tiếp đa ra kiến thức mà hớng dẫn học sinh t duy từng bớc để tự hoàn thànhkiến thức.

Các bớc tiến hành : Ví dụ khi tìm hiểu khổ cuối bài thơ “Bếp lửa” của BằngViệt:

* Bớc 1 : Xác định yêu cầu cần đạt sau khi vấn đáp

VD : Tình cảm của cháu dành cho bà, rộng hơn là tình yêu đất nớc, tìnhcảm cội nguồn

* Bớc 2 : Xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp với việc tìm hiểu nội dung

Câu hỏi 1 : u tiên cho học sinh yếu, trung bình yếu

Câu hỏi 2 : dành cho học sinh trung bình trả lời

Câu hỏi 3 : nên gọi học sinh khá giỏi

Câu hỏi 4 : dành cho các đối tợng học sinh

Nghĩa là, với mỗi mức độ của câu hỏi cần xác định nên gọi đối tợng nào trảlời để các loại đối tợng đều đợc tham gia Các em học yếu, trung bình, khá, giỏi

Trang 13

đều đợc phát huy vai trò của mình trong việc tham gia xây dựng bài Tất nhiên,nêu học sinh yếu, trung bình muốn đợc trả lời các câu hỏi khó hơn cũng nênkhuyến khích các em Nên xây dựng những câu hỏi mang tính chất t duy, cảmthụ, khái quát, giảm những câu hỏi phát hiện để học sinh đợc phát triển năng lực

t duy, cảm thụ

3.2 Phơng pháp dùng lời (Giảng bình)

- Nhiều giáo viên Ngữ văn đã vận dụng đổi mới thái quá biểu hiện ở việchầu nh chỉ đa ra các câu hỏi, hớng dẫn học sinh thảo luận mà quên đi việc thêmnhững lời bình giảng đầy chất văn chơng vào giờ dạy

Giảng giải để làm rõ hoặc mở rộng kiến thức khó trong văn bản

Bình khi cần thể hiện sự cảm thụ sâu sắc, tinh tế của ngời đọc có kinhnghiệm về tác phẩm

- Nếu bình, giảng đợc phát huy đúng lúc, đúng chỗ sẽ có tác dụng hỗ trợ,gây lòng tin và hứng thú thẩm mĩ cho ngời học Thậm chí lời bình hay còn gópphần rèn kĩ năng cảm thụ văn chơng, kĩ năng biết nghe những lời hay ý đẹp, từ đólàm nảy sinh nhu cầu viết hay của ngời học trong những bài tự luận văn học

- Nhng lời bình giảng ấy không mang tính áp đặt mà chỉ với t cách làm mộtngời bạn cùng tham gia đọc - hiểu, tranh luận với học sinh, qua đó giúp các emlĩnh hội đợc giá trị đa chiều của tác phẩm ( hớng dẫn chứ không làm thay, cảmthụ thay)

- ở đây, tôi muốn nói đến việc khuyến khích học sinh có những lời bình(bộc lộ sự rung động,say mê, sự cảm kích, cảm phục của mình trớc các bình diệnnào đó của áng văn, bài thơ, trớc tâm hồn và tài hoa của tác giả ) Trong các giờvăn, lời bình hầu nh chỉ xuất hiện ở phía giáo viên (thày nói cái hay mà trò cảmnhận đợc cho học sinh nghe) Học sinh cha đợc chú ý, phát huy khả năng này

Để học sinh đợc phát huy năng lực cảm thụ cùng hứng thú với tác phẩm,giáo viên cần hớng dẫn học sinh tự biết bình các chi tiết, hình ảnh nghệ thuật cógiá trị Điều này rất cần thiết giúp cho học sinh viết văn tốt hơn

* Ví dụ : Hớng dẫn học sinh bình về lẽ sống “lặng lẽ dâng cho đời” trong

bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải.

Gợi :

- Nhà thơ Thanh Hải sắp từ giã cõi đời nhng vẫn không ngừng khát khaocống hiến cho cuộc đời Em có cảm nghĩ gì về lẽ sống ấy, hãy nói cho các bạn

Trang 14

- Em có thể dùng câu bộc lộ cảm xúc đánh giá về lẽ sống ấy? Hoặc đa ramột hình ảnh so sánh để làm đẹp hơn lẽ sống ấy?

Học sinh đa ra lời bình:

- HS 1: Lẽ sống ấy thật tuyệt đẹp biết bao!

- HS 2: Ông nh một con tằm trớc khi chết vẫn cố gắng nhả những sợi tơ đẹpcho đời và bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” ông để lại trớc khi về nơi cát bụi là sợi tơtuyệt đẹp ấy

Những lời bình của thày trò sẽ làm giờ học đậm đà chất văn chơng hơn

3.3 Thảo luận nhóm

- Hình thức hoạt động nhóm chỉ nên xuất hiện khi:

+ Có những phạm vi kiến thức mang tính khái quát

+ Có những tình huống có vấn đề trong bài vợt quá khả năng cá thể và phảicần đến t duy tập thể

- Tránh tình trạng trong nhóm chỉ có học sinh khá giỏi làm việc rất tích cựccòn hầu nh học sinh trung bình, yếu tự ti không làm gì, nên thảo luận theo các b-ớc:

+ Bớc 1: Mỗi học sinh trong nhóm đều đa ra ý kiến trên phiếu học tập củamình (để mọi đối tợng học sinh đều đợc tham gia )

+ Bớc 2: Nhóm trởng tập trung các phiếu và điều hành nhóm

+ Bớc 3: Các nhóm đi đến thống nhất, cử đại diện trình bày

Các nhóm tranh luận cuối cùng đi đến thống nhất

Giáo viên là ngời chốt lại bằng đáp án chuẩn

+ Bớc 4: Sau khi có đáp án các nhóm cần chấm chéo.(để tạo sự hào hứngcho học sinh )

4 Đa dạng các hình thức dạy học

4.1 Vẽ tranh và tự thuyết minh tranh

Sau khi tự đọc, tự tìm hiểu văn bản ở nhà, học sinh vẽ theo ý tởng củamình, minh hoạ một hình ảnh nào đó mình tâm đắc (nên cho một tổ vẽ mộttranh) Học sinh tự cử một bạn viết lời thuyết minh cho tranh vẽ của tổ Qua thực

tế vận dụng, học sinh rất thích hình thức hoạt động này

* Ví dụ :

+ Tổ 1 : Vẽ cảnh Trịnh Hâm du Vân Tiên xuống vời

+ Tổ 2 : Vẽ cảnh ông Ng cõng Vân Tiên

+ Tổ 3 và tổ 4 : Vẽ hình ảnh ông Ng trong cuộc sống:

Trang 15

“ Rày roi mai vịnh vui vầy Ngày kia hứng gió đêm nầy chơi trăng“

(Các tranh vẽ minh hoạ cho tiết học “Lục Vân Tiên gặp nạn”)

4.2 Kể một câu chuyện nhỏ về tác giả, hoàn cảnh sáng tác tác phẩm,

đọc đoạn thơ, đoạn văn mình thích nhất.(giáo viên và học sinh cùng tham gia)

Đây là những hình thức hoạt động khiến học sinh hào hứng và nhiệt tìnhtham gia Giáo viên có thể cho điểm để khuyến khích các em

Để có những câu chuyện hay về tác giả và hoàn cảnh sáng tác tác phẩm,giáo viên cần tích cực su tầm

Ví dụ : Câu chuyện về tác giả Thanh Hải – ngời sáng tác “ Mùa xuân nhonhỏ”

Đợc tập kết ra Bắc năm 1959 (tuổi 20) nhng Thanh Hải vẫn xin ở lại miềnNam chiến đấu Ông sống cùng đồng bào Tà ôi, Vân Kiều ăn củ nâu, củ chuốithay cơm Cuộc đời bao gian khổ nhng ông vẫn kiên cờng Khi vào tuổi 50 ( tócbạc), ông lâm bệnh nặng, phải chống chọi với nỗi đau đớn của căn bệnh ung thgan hiểm nghèo, sự sống chỉ tính bằng giờ, bằng phút Nhạc sĩ Trần Hoàn, ngờibạn thân thiết của ông khuyên ông hãy nghỉ ngơi, đừng viết nữa nhng ông vẫnviết, viết hối hả vì sợ mình không còn viết đợc nữa, chỉ một tháng sau (12/ 1980),

ông đã qua đời Sau khi ông mất, vợ ông dọn giờng bệnh và tìm thấy dới tấm nệmbài thơ này…

Từ câu chuyện, học sinh hiểu và đồng cảm với nhà thơ hơn, trân trọng bàithơ, xúc động trớc những tình cảm chân thành, cao đẹp mà tác giả gửi gắm trong

đó

4.3 Đóng vai nhân vật, diễn xuất một đoạn trong truyện là hoạt động khiến học sinh ghi nhớ, in sâu ấn tợng và cảm xúc về nhân vật.

* Ví dụ : 2 em học sinh đóng vai ông Hai và bà chủ nhà (Làng – Kim

Lân) diễn xuất đoạn kết truyện

+ Tự nhập thân quan toà xét xử trong phiên toà “Nỗi oan của Vũ Nơng”.

Học sinh tự phán xử theo ý của mình Nếu không đợc các bạn (ngời dự) đồng tình

thì “luật s“ sẽ lên tiếng.

* Ví dụ : Học sinh đã phán xử : Trơng Sinh, ta không cho ngời chết mà sẽbắt ngời phải sống trong dằn vặt Đêm nào cái bóng của Vũ Nơng cũng về ám ảnhngơi Nhân đây ta cũng nói cho tất cả mọi ngời dự phiên toà tỉnh ngộ: t tởng nam

Ngày đăng: 10/11/2015, 01:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh Nhuận Thổ khi nhìn thấy ngời bạn xa. - SKKN Văn 9  A   tỉnh
nh ảnh Nhuận Thổ khi nhìn thấy ngời bạn xa (Trang 24)
w