1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phong slư của người tày ở hòa an cao bằng

116 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 4,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Diễn tả nhận thức, tâm lý, tình cảm của con người về thiênnhiên vũ trụ, về cuộc sống xã hội, đời sống tình cảm cha con, vợ chồng, nhất làtình yêu nam nữ… Trong kho tàng văn

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây làcông trình nghiên cứu của riêng tôi , các tài liệu trong luâṇ văn làtrung thưcc̣ Nôịdung luâṇ văn chưa từng đươcc̣ công bốtrong bất cứ công trinh̀ nào

Tôi xin chiụ trách nhiêṃ vềlời cam đoan này

Thái nguyên , ngày 20 tháng 4 năm 2016

Người cam doan

Vi Thi Tiêệ́p

XÁC NHẬN CỦA KHOA CHUYÊN MÔN

XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

GS.TS Vũ Anh Tuấn

Trang 4

Em xin gửi lời cảm ơn đến nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Triều Ân,nhà nghiên cứu dân gian Dương Sách, các nghệ nhân dân gian, Phòng văn hóahuyện Hòa An- Cao Bằng và các cán bộ thư viện tỉnh Cao Bằng đã cung cấp

tư liệu và nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu

Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô gáo đã đọc và chỉ ranhững thành công và hạn chế của em trong luận văn tốt nghiệp này

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2016

Vi Thị Tiếp

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang bìa phụ

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 7

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI TÀY Ở HÕA AN – CAO BẰNG VÀ THỂ LOẠI PHONG SLƯ 7

1.1 Vài nét về cộng đồng người Tày ở Cao Bằng 7

1.1.1 Cộng đồng người Tày ở Cao Bằng 7

1.1.2 Cộng đồng người Tày ở Hòa An – Cao Bằng 7

1.1.2.1.Điều kiện tự nhiên, kinh tế của người Tày ở Hòa An – Cao bằng 7

1.1.2.2 Đặc điểm xã hội – văn hóa của người Tày ở Hòa An – Cao Bằng 9

1.2 Khái quát về Phong slư 13

1.2.1 Khái niệm Phong slư 13

1.2.2 Nguồn gốc và bản chất diễn xướng của Phong slư 14

1.2.3 Phong slư trong quá trình lưu truyền và đổi mới 16

1.3 Phong slư ở Hòa An – Cao Bằng 17

1.3.1 Phong slư trong đời sống văn hóa của người Tày ở Hòa An – Cao Bằng 17

1.3.2 Các giai đoạn phát triển của thể loại Phong slư 18

1.3.3 Hình thức diễn xướng của Phong slư 19

Chương 2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHONG SLƯ Ở HÕA AN – CAO BẰNG 22

2.1 Phong slư là những lời bày tỏ tình yêu đôi lứa 22

2.1.1 Phong slư là những lời tỏ tình chân thành, giản dị 22

2.1.2 Phong slư là những lời bày tỏ khát vọng về hạnh phúc lứa đôi 28

Trang 6

2.1.3 Phong slư là những lời bày tỏ nỗi buồn trong tình yêu cách trở 33

2.2 Phong slư là những lời nhắn gửi, lời dặn dò 37

2.3 Sự chuyển hóa đổi mới chức năng của Phong slư trong đời sống hiện đại .44

2.3.1 Phong slư là những lời ca ngợi Đảng và Bác Hồ 44

2.3.2 Phong slư là những lời ca ngợi tình yêu quê hương đất nước 50

Chương 3 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA PHONG SLƯ Ở HÕA AN– CAO BẰNG 55

3.1 Kết cấu của Phong slư 55

3.2 Thể thơ thất ngôn trường thiên 59

3.3 Ngôn ngữ lời thơ Phong Slư 62

3.3.1 Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, giàu hình ảnh 63

3.3.2 Lời thơ Phong slư là sự kết hợp giữa ngôn ngữ bình dân và ngôn ngữ bác học 66

3.4 Nghệ thuật sử dụng các biện pháp tu từ 70

3.4.1 Biện pháp tu từ so sánh 71

3.4.2 Biện pháp tu từ điệp ngữ 73

3.5 Không gian và thời gian nghệ thuật trong Phong slư 76

3.5.1 Không gian nghệ thuật 76

3.5.1.1 Không gian thiên nhiên 77

3.5.1.2 Không gian tâm tưởng 81

3.5.2 Thời gian nghệ thuật 84

3.5.2.1 Thời gian hiện thực 84

3.5.2.2 Thời gian tâm lý 87

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Về phương diện khoa học

Cao Bằng – mảnh đất văn hóa, từ xa xưa là nơi hội tụ của nền văn hóacác tộc người Tày, Nùng, Dao, Mông Trong quá trình vận động của lịch sử,văn hóa các dân tộc luôn có sự hòa nhập, đan xen, bồi đắp lẫn nhau tạo nênnhững nét văn hóa riêng biệt, mang nét đặc trưng của từng tộc người Riêngvùng đất Hòa An – Cao Bằng kinh đô thành nhà Mạc xưa nơi tập trung nhiềunét đẹp văn hóa khác nhau của tỉnh Cao Bằng với những làn điệu dân ca mượtmà say đắm lòng người như Sli, Lượn, Phong slư, hay những câu ca dao, thànhngữ, tục ngữ Diễn tả nhận thức, tâm lý, tình cảm của con người về thiênnhiên vũ trụ, về cuộc sống xã hội, đời sống tình cảm cha con, vợ chồng, nhất làtình yêu nam nữ… Trong kho tàng văn học dân gian của người Tày ở Hòa An -Cao Bằng, Phong slư hiện nay vẫn còn tồn tại nhưng cũng đang dần bị maimột, số người biết Phong slư hiện nay không còn nhiều, đặc biệt là thế hệ trẻ

Do vậy, việc sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn và phát huy những giá trị Phong slưlà sự trăn trở của những người có tâm huyết muốn giữ gìn bản sắc văn hóa dântộc

Thực tế từ trước tới nay đã có một số bài viết, công trình nghiên cứu vềPhong slư nhưng với số lượng còn rất hạn chế Vì vậy việc nghiên cứu vềPhong slư ở Hòa An – Cao Bằng vẫn là một đề tài mở cho những ai yêu thíchloại hình văn học dân gian này

1.2 Về phương diện thực tế.

Phong slư là thơ tình, thư tình của người Tày có kết cấu và luật thơ cốđịnh, có cách ngâm riêng biệt mang đậm bản sắc văn hóa của người Tày Khichữ Nôm Tày xuất hiện và phát triển mạnh mẽ trong văn chương cũng là thời

kỳ Phong slư phát triển rực rỡ, tuy nhiên, khi chữ quốc ngữ xuất hiện, chữNôm Tày dần bị mai một làm cho nền văn học chữ Nôm rơi vào suy thoái và

Trang 8

có nguy cơ mất hẳn Theo đó các làn điệu dân ca Tày được viết theo thể thơthất ngôn truyền thống của người Tày (trong đó có Phong slư) cũng tàn lụi dần.

Do vậy, việc nghiên cứu những nét cơ bản về giá trị nội dung và nghệ thuật củaPhong slư sẽ giúp chúng ta phần nào hiểu được về đời sống văn hóa, tinh thầncủa người Tày, đồng thời góp phần gìn giữ, bảo lưu và phát huy những nét đẹp

đó trong văn hóa truyền thống vốn có của dân tộc Tày ở Hòa An – Cao Bằngnói riêng của cộng đồng dân tộc Tày nói chung

Xuất phát từ phương diện khoa học và thực tiễn nêu trên chúng tôi chọn

"Phong slư của người Tày ở Hòa An – Cao Bằng" làm đề tài luận văn tốt

nghiệp của mình Hoàn thành công trình này còn là nguyện vọng của tôi,người con của vùng đất Hòa An với mong muốn được khám phá, tìm hiểu, tônvinh những giá trị văn hóa của quê hương mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Dân Tộc Tày có nền văn hóa lâu đời, đã góp cho nền văn hóa nghệ thuậtchung của dân tộc Việt Nam nhiều thể loại phong phú, đặc sắc và đa dạng như:Then, lượn, câu đố, thành ngữ, tục ngữ Tuy nhiên cũng như nhiều dân tộckhác khi chưa có chữ viết, chưa có kho lưu trữ và chủ yếu được truyền miệngnên việc nghiên cứu văn học dân gian của dân tộc Tày cũng còn gặp nhiều khókhăn Nhưng cũng do ưu thế truyền miệng nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệkhác trong sinh hoạt cộng đồng, trong những lễ hội mà những giá trị văn hóa

đó vẫn còn tồn tại

Phong slư là một thể loại văn học dân gian của người Tày, được lưutruyền trong dân gian Hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu quy mô lớnnào về Phong slư của người Tày, các tài liệu nghiên cứu về Phong slư màchúng tôi có được mới chỉ dừng lại ở mức khái quát sơ bộ, chưa đi sâu vào tìmhiểu, phân tích nội dung, nghệ thuật của Phong slư Dưới đây là một số bàiviết, đề tài nghiên cứu đã từng quan tâm đến Phong slư của người Tày:

Trang 9

- Tạp chí văn học số 3 (1976) có bài viết: "Vài suy nghĩ về hát Quan Lang, Phong slư, lượn" của tác giả Vi Hồng Trong bài viết này tác giả giới

thiệu về những nội dung tổ chức, hình thức cơ bản, khái quát về các loại hìnhdân ca phổ biến của dân tộc Tày, Nùng Tuy nhiên tác giả mới chỉ giới thiệukhát quát về các thể loại này

- Trong tài liệu "Sli lượn dân ca trữ tình Tày – Nùng" (1979) của tác giả

Vi Hồng có giới thiệu đến đời sống văn hóa, tinh thần của hai dân tộc Nùng qua làn điệu dân ca Sli, Lượn Trong đó tác giả cũng đề cập tới nhómdân ca đặc thù Tày được gọi là Phong slư Tác giả có viết "Phong slư là nhữngbức thư viết bằng thơ về tình yêu được trai gái Tày dùng để trao đổi, bày tỏtình cảm lứa đôi Phong slư là những khúc hát diễm tình hô hào, kêu gọi, thiếttha cho những mối tình chung thủy" [18, tr 231]

Tày Trong tài liệu" Nghiên cứu văn nghệ dân gian Việt Nam" của tác giả

Đặng Văn Lung xuất bản năm 1997 có đề cập đến khái niệm, hình thức diễnxướng của Phong slư dân tộc Tày

- Trong tài liệu "Âm nhạc dân gian các dân tộc Tày – Nùng – Dao Lạng Sơn" (2000)của tác giả Nông Thị Nhình, nhà xuất bản văn hóa dân tộc đã đề

cập tới các loại hình dân ca của các dân tộc Tày – Nùng – Dao, trong đó cónhắc tới thể loại dân ca Phong slư của dân tộc Tày Tác giả cho rằng Phong slưlà một làn điệu hát thơ, làn điệu này dùng để diễn tả những bài thơ, đúng hơn là những bức thư về tình yêu đôi lứa

- Tác giả Hoàng Hựu nhà nghiên cứu văn hóa trong bài viết "Về bức Phong slư (Thư tình) viết trên nền vải của người Tày" đăng trên tạp chí Hán

Nôm, số 2(87) năm 2008 đã đề cập nội dung của bức Phong slư cổ, trong đó cóđề cập tới khái niệm, thể loại, hình thức, nội dung của một bức Phong slư

- Năm 1994 Phương Bằng cho xuất bản công trình sưu tầm, nghiên cứu

"Phong slư", trong công trình này tác giả đã sưu tầm, phiên dịch chữ Nôm của

những bức Phong slư tình yêu cổ ở các tỉnh miền núi Phía Bắc

Trang 10

- Đề tài nghiên cứu khoa học "Hệ thống đề tài trong Phong slư của người Tày ở Lạng Sơn" của tác giả Lâm Thị Diệp đã nghiên cứu về thể loại

Phong slư trên phương diện hệ thống đề tài chung của Phong slư trong giaiđoạn xưa và hiện đại

Nhìn chung việc nghiên cứu về Phong slư còn rất ít so với bề dày của thể loại này trong nền văn hóa dân tộc Tày

Các bài viết, các công trình nghiên cứu đề cập tới Phong slư chỉ dừng lại

ở một góc độ nhỏ mà chưa đi sâu tìm hiểu cặn kẽ thể loại này Từ thực tế trên,

đề tài "Phong slư của người Tày ở Hòa An – Cao Bằng" sẽ hướng tới

nghiên cứu về thể loại văn học này một cách cụ thể hơn và góp phần giữ gìn,bảo tồn, phát huy những giá trị về nội dung và nghệ thuật của Phong slư trongđời sống hiện nay

3. Mục đích và nhiêm vụ nghiên cứu.

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu "Phong slư của người Tày ở Hòa An – Cao Bằng" để

tìm hiểu về nội dung và nghệ thuật của thể loại văn học này

- Tìm hiểu đời sống tư tưởng tình cảm của người Tày ở Hòa An, CaoBằng

- Góp phần giữ gìn, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Tày ở Hòa An, Cao Bằng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tập hợp các tài liệu liên quan đến Phong slư

- Sưu tầm, tìm hiểu thêm các văn bản về Phong slư tồn tại trong đờisống dân gian dưới hình thức diễn xướng từ đó tiếp cận nghiên cứu, đưa ranhững phân tích, đánh giá về nội dung và nghệ thuật

- Bước đầu đưa ra ý kiến gìn giữ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa, nghệ thuật của Phong slư trong cuộc sống hiện tại

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 11

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đề tài tập trung nghiên cứu, khảo sát những lời bài hát Phong slư đã được các nhà nghiên cứu sưu tầm và xuất bản thành sách

- Những tư liệu sưu tầm, điền dã tại Hòa An- Cao Bằng của tác giả

đề tài

4.2 Phạm vi gnhiên cứu

* Phạm vi tư liệu nghiên cứu:

- Phương Bằng, (1976), Phong slư, Nxb văn hóa dân tộc, Hà nội.

- Những tư liệu chưa xuất bản:

+ Văn bản của chính tác giả sưu tầm qua các nghệ nhân dân

gian * Phạm vi vấn đề nghiên cứu:

Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ tìm hiểu một số đặcđiểm nội dung và nghệ thuật tiêu biểu của Phong slư ở Hòa An – Cao Bằng

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả có sử dụng kết hợp nhiều

phương pháp nghiên cứu khác nhau cụ thể:

- Phương pháp điền dã văn học

- Phương pháp khảo sát, thống kê

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành

6. Đóng góp của luận văn

Nghiên cứu Phong slư trong đời sống văn hóa dân gian của người Tày ởHòa An – Cao Bằng góp phần giới thiệu một thể loại ca dao, dân ca trong khotàng văn học dân gian người Tày đến người đọc Đồng thời giúp cho người đọchiểu rõ hơn về nội dung, nghệ thuật của Phong slư và đời sống tư tưởng, tìnhcảm của đồng bào dân tộc Tày nói chung, đồng bào dân tộc Tày ở Hòa An –Cao Bằng nói riêng

Trang 12

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1 : Khái quát về cộng đồng người Tày ở Hòa An – Cao Bằng vàthể loại Phong slư

Chương 2 : Những nội dung cơ bản của Phong slư ở Hòa An – CaoBằng

Chương 3 : Một số đặc điểm nghệ thuật của Phong slư ở Hòa An – CaoBằng

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI TÀY Ở HÕA AN – CAO BẰNG

VÀ THỂ LOẠI PHONG SLƯ 1.1 Vài nét về cộng đồng người Tày ở Cao Bằng.

1.1.1 Cộng đồng người Tày ở Cao Bằng.

Cao Bằng là một tỉnh miền núi nằm ở phía Đông Bắc của tổ quốc Nơiđây là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc như: Tày, Nùng, Dao, Mông, Kinh Nhưng người Tày có số lượng lớn nhất chiếm khoảng 43% dân số toàn tỉnh.Theo một số nghiên cứu, người Tày ở Cao Bằng được hình thành từ ba nhánh:

- Nhánh người Tày gốc: Còn gọi là Thổ, nghĩa là thổ dân, là nhữngngười đã sinh sống ở địa phương từ lâu đời, nhánh này là con cháu của ngườiTày cổ

- Nhánh người Ngạn có nguồn gốc từ Quý Châu, Trung Quốc, theo "Sơ khảo lịch sử Cao Bằng" ghi chép: Trong các cuộc giao tranh giữa các tộc

người, người Ngạn đã dạt sang Cao Bằng sinh sống, hòa nhập vào cư dân địaphương và trở thành người Tày

- Nhánh người Kinh hóa Tày: Là con cháu các quan lại và binh línhngười Kinh từ dưới xuôi lên cai quản và bảo vệ biên giới, họ lấy vợ người Tày,sinh sống và lập nghiệp tại đây lâu dần trở thành người Tày Sách cũ còn ghichép lại: Khi triều đình nhà Mạc bị Lê Trịnh đánh đuổi đã chạy lên trấn giữvùng đất Cao Bằng trong gần một thế kỉ Sau khi nhà Mạc diệt vong, con cháuvà quan quân sống hòa vào cùng nhân dân địa phương, đồng hóa với ngườiTày Chính sự giao lưu Kinh - Tày này đã tạo nên một nét văn hóa đặc sắcriêng biệt của người Tày ở nơi đây

1.1.2 Cộng đồng người Tày ở Hòa An – Cao Bằng

1.1.2.1.Điều kiện tự nhiên, kinh tế của người Tày ở Hòa An – Cao bằng

Hòa An là một huyện trung tâm nằm xung quanh, bao bọc lấy thành phốCao Bằng Có các đầu mối giao thông từ đường 3, 4 tỏa đi các huyện và đi cảbiên giới Trung Quốc Có tọa độ địa lý:

Trang 14

Từ 20039'49 vĩ độ Bắc từ Khuổi Săng xã Hồng Nam đến núi Bản Chang

Đặc điểm địa hình huyện Hòa An tương đối bằng phẳng với những cánhđồng rộng lớn nằm cạnh những dòng sông, dòng suối là điều kiện thuận lợicho việc tưới tiêu phát triển nông nghiệp lúa nước Khí hậu vùng đất này chiathành bốn mùa rõ rệt, mùa xuân còn rét, mùa hè mưa nhiều, mùa thu rất nóng,mùa đông rất lạnh Với khí hậu ẩm nhiệt đới đã tạo điều kiện thuận lợi cho cưdân canh tác và trồng trọt theo mùa Ngay từ xa xưa người dân nơi đây đã biếttận dụng những ưu thế của thiên nhiên để lao động phục vụ cuộc sống, sinhhoạt hàng ngày

Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, huyện Hòa An được đánh giá là mộthuyện có tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh Huyện có những cánh đồng rộng,phì nhiêu là vựa lúa lớn nhất của tỉnh, trong dân gian vẫn còn lưu truyền cáccâu thơ thể hiện sự giàu có của mảnh đất này:

"Cao Bằng gạo trắng nước trong

Bát ngát ruộng đồng Giàu nhất Hòa An"

Là huyện nông nghiệp nên nguồn lực chủ yếu của Hòa An là đất đai,mặt nước và nguồn lao động khá dồi dào tạo điều kiện thuận lợi cho việc pháttriển kinh tế của huyện, cụ thể:

Trang 15

Về cơ cấu nền kinh tế hiện nay của huyện Hòa An chủ yếu là nền kinh tếnhiều thành phần nông lâm kết hợp chăn nuôi, kinh doanh, thương nghiệp vàdịch vụ Tiềm năng khai thác chủ yếu vẫn là nông nghiệp, tuy nhiên Hòa Anđang từng bước chuyển dịch sang cơ cấu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ápdụng chuyển giao công nghệ, khoa học kĩ thuật trong nông nghiệp đã dần làmtăng cao đời sống của nhân dân.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, môi trường tự nhiên cũnggây ra không ít khó khăn cho sản xuất và đời sống Chế độ mưa theo mùa gâynên tình trạng lũ lụt gây mất mùa Cùng với việc chịu ảnh hưởng của gió mùaĐông Bắc trong mùa đông với các hiện tượng thời tiết như sương muối, sươnggiá gây nhiều ảnh hưởng xấu đến sản xuất

Địa hình huyện Hòa An như một dải đồng bằng với những cánh đồngbằng phẳng trải dài dọc theo những sườn đồi, những dòng suối, con sông nhưnhững dải lụa dài vô tận Khung cảnh sơn thủy hữu tình này dường như đãkhơi nguồn cảm hứng thơ ca cho con người nơi đây Ai đã từng đặt chân đếnmảnh đất này đều sẽ không bao giờ quên được khung cảnh yên bình với nhữngcánh đồng rộng bát ngát thẳng cánh cò bay, với những câu lượn vút cao theogió, những câu Phong slư tình yêu thấm đẫm hương vị của cánh đồng, bờruộng của núi rừng Hòa An

Chính điều kiện tự nhiên, kinh tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự pháttriển nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, mang đặc trưng riêng biệt của vùngđất này Phải chăng những làn điệu Then, Lượn, Phong slư ra đời và tồn tại đểđáp ứng nhu cầu thưởng thức văn nghệ và gửi gắm những khát vọng tinh thần,tình yêu của họ với mảnh đất nơi đây

1.1.2.2 Đặc điểm xã hội – văn hóa của người Tày ở Hòa An – Cao Bằng

Hòa An là huyện có nhiều dân tộc sinh sống và định cư lâu đời Trong

đó đông nhất là dân tộc Tày, cộng đồng người Tày ở Hòa An chủ yếu sống tậptrung thành các làng, bản có từ 40 – 60 nóc nhà trở lên, sống đoàn kết quy tụ

Trang 16

với nhau Một gia đình thường có từ 2 – 3 thế hệ cùng chung sống với nhautrong một mái nhà Tất cả các gia đình người Tày đều được xây dựng theo chế

độ hôn nhân một vợ một chồng, mang tính phụ hệ Người phụ nữ Tày trong giađình trước đây không được xã hội đối xử bình đẳng như nam giới nhưng họvẫn được coi trọng trong gia đình bởi họ có vai trò là người quan trọng tronglao động sản xuất, quản lí kinh tế gia đình và chính họ còn là người nuôidưỡng và làm giàu thêm những điệu hát dân ca từ thế hệ này sang thế hệ khác,cứ như thế ngọn lửa văn hóa cứ hồng mãi trong mỗi nếp nhà sàn và thấmđượm trong mỗi tâm hồn của những con người nơi đây

Hòa An có đặc điểm văn hóa phong phú và đa dạng, được quy tụ và thểhiện thông qua đời sống, phong tục, tập quán truyền thống của cộng đồng mỗidân tộc, biểu hiện qua các sinh hoạt tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng tôn giáo ở

lễ hội truyền thống

- Về Văn hóa vật thể.

Về văn hóa ẩm thực: người Tày ở Hòa An, Cao Bằng có đời sống vănhóa ẩm thực rất phong phú đa dạng mang bản sắc văn hóa dân tộc, miền núi.Trong bữa ăn người Tày luôn thể hiện sự kính trên, nhường dưới trong nội tộc,gia quyến và thành tâm, hào hiệp mến khách Hiện thực sinh động ấy cũng đã

đi vào dân ca Tày cùng năm, tháng

Về trang phục, người Tày, nói chính xác hơn là phụ nữ Tày có truyềnthống quanh năm, trồng bông, kéo sợi, dệt vải rất khéo léo Họ nhuộm vảitrắng dệt xong bằng thứ thuốc nhuộm tinh chế từ cây chàm, để có được màuxanh tím óng Từ đó làm ra trang phục nam và nữ của người Tày Tất cả từquần, áo, váy, thắt lưng đến khăn đội đầu, khăn trùm đều nhuộm chàm Trongtang lễ, hay thời gian để tang họ vận đồ trắng may vội, khăn tang trắng, giàyvải má trắng, khuy áo thay bằng tua vải trắng khâu vào áo, buộc lại Họ quanniệm rằng, màu trắng là màu trong tang lễ Trang phục của người Tày cũngđược phản ánh rất rõ qua các bài ca dao, dân ca Tày

Trang 17

Về nhà ở, từ lâu, người Tày sống quần tụ thành xóm, làng từ 8 đến 15nhà, cũng có nơi tới 20, 30 nhà san sát nhau, hoặc nhiều hơn Tùy từng nơi,hoàn cảnh khác nhau mà bà con làm nhà có khác khác nhau Vùng đồi núi,vùng sâu, vùng xa, biên giới người Tày thường làm nhà sàn thưng ván, cót,buộc cây, trát vách xung quanh hoặc tường trình hay xây đá Vùng đồng bằng,ven thị trấn thường làm nhà trệt Nhưng nhà truyền thống của người Tày, nétkiến trúc văn hóa độc đáo, đặc trưng điển hình chính là ngôi nhà sàn.

- Văn hóa phi vật thể.

Quá trình lịch sử và hoàn cảnh, điều kiện sinh hoạt đã tạo cho người Tày

ở Hòa An một kho tàng văn hóa phi vật thể đậm đà bản sắc dân tộc, với sựphong phú, sinh động về phong tục tập quán, tín ngưỡng và giàu có về văn họcnghệ thuật

Về phong tục tập quán, Phong tục tập quán của người Tày ở Hòa An rấtđặc sắc Phong tục cưới xin của người Tày thể hiện đầy đủ sự thiêng liêng, sựvui vẻ ấm nồng tình cha mẹ và họ hàng, bạn bè, là ngày vui của cộng đồng.Theo các cụ già kể lại qua những làn điệu dân ca, đặc biệt là làn điệu Phongslư có thể thấy được sự bình đẳng tự do trong việc lựa chon bạn đời trăm nămcho mình Họ tự tìm hiểu nhau để xây dựng một cuộc đời chung Theo phongtục thì việc định ngày cưới rất quan trọng nên gia đình nhà trai phải đến nhờnhững người thông hiểu Nho giáo để xem ngày lành tháng tốt rồi mới tổ chứcđám cưới

Phong tục đám ma của người Tày cũng có nhiều nét đặc sắc Trong đámtang dù xót thương nhưng không ai được khóc khi chưa nhập quan, đây là mộttục lệ phải tuân thủ nghiêm túc Khi có người thân qua đời người trong nhàphải đi nhờ thầy tào về thực hiện các thủ tục đám ma Quan tài người chếtđược đặt ở giữa nhà trên hai cây chuối chắc nịch bên trên có úp nhà táng Quầnáo đám tang đều do người nhà tự khâu bằng vải trắng Sau khi mọi thủ tục đã

Trang 18

xong thầy tào sẽ làm lễ tế cúng người chết về cõi tiên, một đám ma của ngườiTày thường diễn ra từ 3 đến 7 ngày.

Bên cạnh đó còn có lễ chúc phúc, chúc thọ, lễ chúc khang ninh cũng làmột phong tục đặc sắc của người Tày tại Hòa An – Cao Bằng, nhằm báo hiếucha mẹ những người sinh thành Các lễ này thường mời thầy tào hoặc bà bụtđến góp vui, hát những bài hát ca ngợi công đức của cha mẹ

Về Tết và lễ hội: người Tày quanh năm có nhiều tết và lễ hội mang đặctrưng của nền sản xuất nông nghiệp, lúa nước như: Tết nguyên đán, Tết Đắpnọi, Tết Thanh Minh, Rằm Tháng bẩy Lễ hội Lồng Tồng, Lễ hội đền, chùa(Hội chùa: Đống Lân, đền Kỳ Sầm, đền Vua Lê )

Về Tín ngưỡng, tôn giáo: Người Tày ở Hòa An rất coi trọng thờ cúng tổtiên Đây là một tín ngưỡng rất quan trọng và không thể thiếu trong đời sốngtâm linh của người Tày và là một trong các thành tố tạo nên bản sắc văn hóacủa người Tày

Về Văn học dân gian, Văn học dân gian của người Tày ở Hòa An cũnggiống như dân tộc Tày các vùng khác có sự phong phú và đa dạng về nhiều thểloại như: Thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện thơNôm, lời ăn tiếng nói của nhân dân (thành ngữ, tục ngữ, vè, phuối pác, phuốirọi ) Văn học dân gian Tày đi sâu phán ánh cuộc sống lao động sản xuất,chiến đấu, phản ánh khát vọng của nhân dân Bên cạnh đó các làn điệu dân catrữ tình mượt mà phản ánh đời sống tâm hồn tình cảm của người Tày sâu sắcnhư: Lượn, Then, hát Quan Lang, Mo, Pựt Trong đó Phong slư là một hìnhthức thơ ca đặc biệt của người Tày, Phong slư là những bức thư tình yêu, mộtthể thơ đặc sắc của trai gái Tày dùng để trao đổi tình cảm, tình yêu lứa đôi.Những bức thư tình yêu này được viết bằng chữ nôm Tày được các trí thứcbình dân viết và ghi lại những tâm tư tình cảm thầm kín của trai gái Tày, đượcđọc ngâm với giai điệu rất thiết tha, vì vậy những bức Phong slư đó trở thànhmột loại dân ca mang tính cộng đồng như những loại hình dân ca khác

Trang 19

Về ngôn ngữ, người Tày chủ yếu sử dụng hệ ngôn ngữ Tày – Thái, lànhóm ngôn ngữ rất gần với tiếng Việt về hệ thống ngữ pháp và thanh âm Tuynhiên chỉ những từ ngữ về thiên nhiên, sự vật hiện tượng trong sinh hoạt làsáng tạo của người Tày còn lại là vay mượn từ Tiếng Hán, tiếng Hán Việt vàtiếng Việt Về chữ viết, người Tày không có chữ viết riêng nên lịch sử thànhvăn của dân tộc Tày gần như không có Ngày xưa khi chữ viết chưa ra đờingười Tày giao tiếp chủ yếu bằng phương thức truyền miệng Chữ Nôm ra đờitrong khoảng thế kỉ từ XIII – XV Đến khi nhà Mạc chuyển triều đình lên CaoBằng đã để lại dấu ấn chữ Nôm Tày trên vùng đất bản địa vào khoảng thế kỉXVI – XVII Vì vậy có thể khẳng định chữ Nôm Tày ra đời không muộn hơn

so với chữ Nôm Việt Chữ Nôm Tày do chịu ảnh hưởng của chữ Nôm Việt mà

ra nên có cấu tạo như chữ Nôm Việt Đến giai đoạn sau này người Tày vừa sửdụng chữ viết theo lối Quốc Ngữ bằng chữ cái Latinh, do vốn từ của dân tộccòn nghèo nàn, và việc vay mượn chữ Nôm và chữ Hán làm cho chữ viết củadân tộc Tày gặp nhiều khó khăn Có thể thấy việc chữ viết ra đời là một trongnhững điều kiện vô cùng quan trọng trong việc lưu giữ nền văn hóa văn họccủa các dân tộc nói chung của dân tộc Tày nói riêng

Tiếng nói Tày rất sinh động về âm thanh, giàu có về từ ngữ và đặc biệt làrất sinh động về sắc thái biểu cảm Việc ra đời của chữ viết tiếng Tày trở thànhmột phương tiện đắc dụng cho việc ghi chép, sáng tác thơ ca Trong đó Phongslư là một loại hình tiêu biểu

Tất cả những điều kiện trên đã tạo cho dân tộc Tày ở Hòa An sáng tạo ranhiều hình thức sinh hoạt văn học nghệ thuật giàu bản sắc được lưu truyềntrong dân gian

1.2 Khái quát về Phong slƣ

1.2.1 Khái niệm Phong slư

Trong quá trình sáng tạo văn hoá nghệ thuật dân gian của dân tộc mình,người Tày đã có nhiều điệu lượn, hát phong phú, đa dạng và làn điệu Phong slư

Trang 20

với chất liệu đậm đà trữ tình, yêu thương da diết của đôi lứa đã được xuất hiệntừ lâu, đó là các câu hát theo lối tự sự hoặc là những lá thư của những ngườiđang yêu gửi cho nhau Phong slư khác với các loại hình dân ca khác như:Then, Sli, Lượn, Phong slư vừa mang tính cá nhân vừa mang tính quần chúng.Cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa rõ ràng về loại hình nghệ thuật này.

Trên cơ sở tham khảo ý kiến của các nhà nghiên cứu, các nghệ nhân dângian và qua quá trình tiếp xúc tìm hiểu chúng tôi lấy khái niệm về Phong slưcủa nhà văn, nhà nghiên cứu Vi Hồng làm định hướng cho việc nghiên cứu củamình trong luận văn này:

Phong slƣ là những bức thƣ viết bằng thơ về tình yêu đƣợc trai gái Tày dùng để trao đổi, bày tỏ tình cảm lứa đôi [18, tr 222]

1.2.2 Nguồn gốc và bản chất diễn xướng của Phong slư

Văn học nghệ thuật là sản phẩm tinh thần của đời sống xã hội, do conngười sáng tạo ra trong quá trình lao động sản xuất và phục vụ cho chính nhucầu của họ Phong slư cũng giống như các loại hình nghệ thuật dân gian khácđều bắt nguồn từ trong hoạt động lao động sản xuất, sinh hoạt đời sống củanhân dân nên khó có thể xác định được rõ ràng thời điểm ra đời Từ xa xưaPhong slư đã tồn tại và lưu truyền ở Hòa An và nhiều địa phương khác đã cósức sống lâu bền cùng sự phát triển của người Tày ở Hòa An

Phong slư ra đời từ nhu cầu trao đổi tâm tư, tình cảm của các chàng trai,

cô gái Tày trong tình yêu, phản ánh các cung bậc tình cảm và những khát vọngcủa người đang yêu Trong giai đoạn chữ viết hình thành và phát triển, khi hátsli, lượn giao duyên trực tiếp không diễn đạt được hết mọi nỗi nhớ, niềmthương chất chứa trong lòng những chàng trai cô gái Tày, họ đã nhờ đến các

"slấy sli" những trí thức bình dân viết nên những bức Phong slư để gửi gắmđến người mình yêu thương Các "Ssấy sli" này đã dựa trên những câu ca cósẵn trong dân gian sáng tác thành một bức Phong slư hoàn chỉnh phù hợp vớitâm trạng của người nhờ viết

Trang 21

Xuân thiên vằn dú quẹng giường ngần Slíp hốc vọng hai mần tỏng táng

Sĩ từ dú lặm mản hác than Vằng quẹng dú giường chang lo xót Điếp thâng bạn nâu boóc voằn xưa Phuồn lai vỉ viết slư thăm bạn.

Dịch nghĩa:

Ngày xuân vắng vẻ ngự giường hoa Mười sáu nhìn trăng vọng cửa sổ Mình thân trai than thở sau màn Ngày vắng đơn côi lòng lo lắng Nhớ em nụ hoa trắng ngày xưa Buồn quá anh viết thư thăm bạn

Hầu hết trong các bức Phong slư đều miêu tả, giãi bày tâm trạng củamình với bạn tình với những cung bậc tình cảm khác nhau Đến khi họ có đượcnhau thì những bức Phong slư trở thành kỉ vật lưu giữ kỉ niệm được trân trọnggiữ gìn của hai người, còn những cặp không đến được với nhau Phong slư trởthành kỉ niệm mãi mãi không bao giờ quên của họ

Trong quá trình phát triển của mình, loại hình Phong slư với tư cách làmột thể loại văn học dân gian có kết cấu hoàn chỉnh, với cách ngâm đọc riêngbiệt được cả xã hội đón nhận Khi nhận được Phong slư gửi đến nếu biết chữthông thường những chàng trai cô gái họ tự đọc, nhưng cũng có lúc bức "Slư"

đó được đọc cho cả làng, cả bản cùng nghe Nhưng trong xã hội trước đây sốngười biết chữ không nhiều nên khi nhận được Phong slư họ phải đến nhờ các

"slấy sli" những người tri thức bình dân đọc hộ, bằng việc ngâm ngợi, diễnxướng những bức Phong slư những “slấy sli” này đã biến những con chữ riêng

tư, cụ thể thành một sinh hoạt dân ca không thể thiếu trong đời sống của dântộc Tày

Trang 22

1.2.3 Phong slư trong quá trình lưu truyền và đổi mới.

Văn học dân gian chủ yếu là những sáng tác truyền miệng của nhân dânlao động, tuy nhiên bên cạnh việc truyền miệng văn học dân gian còn có cảnhững sáng tác bằng văn bản Trải qua lịch sử lâu dài khi đã có chữ viết thì vănhọc dân gian được lưu truyền bằng cả hai phương diện Trong đó Phong slưcủa người Tày là loại hình thơ ca dân gian được lưu truyền bằng cả hai phươngdiện truyền miệng và chữ viết

Phong slư là những bức thư tình yêu của những chàng trai cô gái Tàygửi cho nhau để trao đổi tình cảm, tình yêu đôi lứa Trong xã hội xưa kia khinhững người biết chữ không nhiều, những chàng trai cô gái muốn viết Phongslư phải đến nhờ những "sấy sli" những người trí thức bình dân viết hộ Họ lànhững người sáng tác Phong slư thay những chàng trai cô gái đang yêu, đồngthời là người đọc những bức Phong slư được gửi đến Thông thường nhữngbức Phong slư được gửi đến sẽ được "Sấy sli" đọc cho một mình người nhậnnghe nhưng cũng có khi bức Phong slư ấy được đọc cho cả nhà, cả bản để mọingười cùng nghe Chính yếu tố này đã tạo cho Phong slư vừa mang tính cánhân vừa mang tính cộng đồng Qua quá trình tìm hiểu chúng tôi được các cụtrên 80 tuổi cho biết, trước đây những bức Phong slư rất nhiều nhưng ngày nay

để tìm được một bức Phong slư hoàn chỉnh là rất hiếm, nếu còn chỉ là nhữngđoạn, những câu lưu trong trí nhớ, những đoạn được ghi chép trong nhữngquyển sách của các cụ

Tuy nhiên cùng với thời gian và sự phát triển của xã hội, những chàngtrai cô gái Tày dần dần không còn viết Phong slư gửi cho nhau nữa, vì vậyPhong slư không còn là những bức thư tình yêu mà Phong slư có sự đổi mới,chuyển hóa phù hợp với tiến trình của văn học thời đại mới Phong slư ngàynay là sự sáng tạo nghệ thuật của một tác giả cụ thể, các bài Phong slư mới vẫntuân thủ theo cách diễn đạt của Phong slư cổ về luật thơ, cách ngâm, đọc

Trang 23

nhưng kết cấu, lời thơ, nội dung thơ đã có sự thay đổi cho phù hợp với đặcđiểm của xã hội ngày nay Nếu như trước đây Phong slư chỉ là những bức thư

sử dụng để trao đổi về tình yêu đôi lứa thì hiện nay Phong slư là tiếng nói cangợi Đảng, Bác Hồ, ca ngợi quê hương đất nước và cuộc sống mới Có thểthấy đề tài trong Phong slư hiện nay đã trở nên phong phú và đa dạng hơn.Chúng ta sẽ dễ dàng bắt gặp các bài Phong slư mới này tại các Cuộc thi, Hộidiễn văn nghệ quần chúng ở Hòa An - Cao Bằng

1.3 Phong slƣ ở Hòa An – Cao Bằng

1.3.1 Phong slư trong đời sống văn hóa của người Tày ở Hòa An – Cao Bằng

Phong slư là thư tình của người Tày, khi chữ Nôm Tày ra đời và pháttriển mạnh mẽ Phong slư được viết bởi những người trí thức bình dân sống gầngũi và trân trọng những sản phẩm tinh thần của nhân dân lao động Chínhnhững trí thức bình dân này đồng sáng tạo, cải biên tạo nên những bức Phongslư mang đậm sắc thái tình cảm cá nhân cụ thể Những bài Phong slư đã in sâutrong tâm hồn tình cảm của biết bao người và những giai điệu ấy vẫn còn đượclưu truyền tới các thế hệ con cháu hôm nay Thông qua những bài Phong slưtrai gái Tày có thể bày tỏ những nỗi niềm từ đáy sâu lòng mình để bạn tình cóthể cảm nhận được, bởi trước kia trai gái Tày rất ngại ngùng trong việc thổ lộtình yêu, mặc dù cả hai bên đều biết mình có tình cảm với nhau nhưng khôngthể nói thành lời, họ chỉ gặp nhau, chào nhau ở đám cưới, ngày chợ, ngày hội chỉ nói với nhau vài lời ngắn ngủi nên không thể diễn tả hết được lòng mình.Khi trở về, với nỗi nhớ nhung da diết ấy họ viết lên (hoặc nhờ sấy sli viết hộ)gửi cho nhau để có thể đọc, hát bất cứ chỗ nào, bất cứ lúc nào trong bản, ngoàiđồng, ngoài rẫy Những người nghe Phong slư có thể thức cả đêm để nghePhong slư, để ngẫm nghĩ về cái tình, cái nghĩa được gửi gắm trong đó Mỗi lầnnghe như vậy mọi người cảm tưởng tình yêu, tình vợ chồng của mình đượccủng cố thêm, cao đẹp hơn

Trang 24

Trong quá trình tìm hiểu chúng tôi được các cụ cao tuổi ở địa phươngcho biết: Ngày xưa ở các làng, bản tồn tại hình thức sinh hoạt cộng đồng hàngtháng vào buổi tối của một ngày nhất định (thường là ngày 15 âm lịch), đó làdịp để mọi người giao lưu, gặp gỡ và hát Sli, Lượn cùng nhau Trong các tốisinh hoạt cộng đồng ấy, các bức Phong slư được trai gái Tày mang tới và nhờnhững người biết chữ hát cho mọi người cùng nghe Đây là một hình thức diễnxướng đặc trưng của Phong slư khác biệt so với các thể loại dân ca khác củadan tôcc̣.

Qua viêcc̣ điền da taị 5 xã của huyệ n Hoa An chung tôi thu đươcc̣ 76 bài,đoaṇ Phong slư tư cac cu c̣cao tuổi

bài như vậy

trong đơi sống văn hoa cua ngươi Tay nơi

nam nư Tay không con viết nhưng bưc Phong slư đểgưi cho nhau nưa ma giơ

đây những bài Phong slư hiêṇ đaị là những bài thơ

ngợi tình yêu quê hương đất nước, ca ngợi cuộc sống lao động sản xuất vàcông cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Chính viêcc̣ lưu truyền vàsư c̣chuyển đổi đócho thấy Phong slư vẫn còn tồn tại, lưu truyền và phát triển cùng sự phát triển của côngc̣ đồng người Tày vùng đất nơi đây

1.3.2 Các giai đoạn phát triển của thể loại Phong slư.

Cùng với sự vận động của lịch sử văn học Phong slư cũng có những bước phát triển mạnh mẽ trải qua các giai đoạn cụ thể như sau:

- Giai đoạn đầu tiên:

Ở giai đoạn này Phong slư chủ yếu được sử dụng để trao đổi tâm tư tìnhcảm của trai gái Tày, có kết cấu và luật thơ cố định, với cách ngâm vịnh riêngbiệt Cùng với sự ra đời của chữ Nôm nền văn học viết (Văn học chữ Nôm)của dân tộc Tày có những bước phát triển rực rỡ, đặc biệt là Thơ Nôm Tày.Đây là giai đoạn Phong slư có sự phát triển nhất Xuất phát từ nhu cầu

Trang 25

giao lưu tình cảm của những chàng trai cô gái khi những lời hát giao duyên SliLượn không nói hết được những tâm tư tình cảm của họ, khi họ không có đủđiều kiện để ngày ngày hát giao duyên với nhau, dẫu đang yêu say đắm baonhiêu, nhưng ngoảnh sang bên cạnh thì thấy ngổn ngang những công việcruộng nương, nên họ đã đến nhờ những "Slấy sli" (người trí thức bình dân)viết hộ những tình cảm của mình để gửi đến người yêu thương Trong giaiđoạn này, gửi Phong slư cho nhau trở thành một phong trào của những chàngtrai, cô gái đang yêu.

Bên cạnh đó ở giai đoạn này Phong slư còn được vận dụng để trao đổithông tin như vận dụng trong thiệp cưới, để ghi chép lại những câu chuyện đãqua Có thể thấy đây là giai đoạn phát triển đỉnh cao nhất của Phong slư và trởthành điểm nối giữa văn học dân gian và văn học viết

- Giai đoạn hiện nay:

Theo thời gian Phong slư có sự vận động và biến đổi mạnh mẽ Phongslư giai đoạn này chủ yếu đề cập đến đề tài Đảng, Bác Hồ, tình yêu quê hươngđất nước Ở giai đoạn này Phong Slư vẫn sử dụng thể thơ, cách sáng tác, cáchđọc ngâm của Phong slư xưa tuy nhiên không còn mang kết cấu chặt chẽ củamột bức thư nữa mà chỉ còn lại phần nội dung mà bài thơ muốn đề cập đến

1.3.3 Hình thức diễn xướng của Phong slư

Cũng là hình thức dân ca nhưng mỗi dân tộc lại mang một đặc điểmkhác nhau Nếu Ở dân ca Quan họ Bắc Ninh không thể tách khỏi môi trườngsông nước, Sli của người Nùng chủ yếu gắn với quang cảnh hội xuân, phiênchợ, trên các gò đồi ven suối thì người Tày hát dân ca chủ yếu hát trong môitrường tương đối ổn định là trong nhà Trong không gian làng bản tĩnh mịch,xung quanh phủ màn đêm, bên bếp lửa bập bùng những tiếng lượn, tiếng ngâmcất lên phá tan đi quang cảnh tĩnh lặng, buồn tẻ, u tịch của núi rừng Chínhtrong không gian này những lời ca lại có một sức hút mãnh liệt

Trang 26

Qua quá trình tìm hiểu thực tế một số xã trên địa bàn huyện và theo nhậnxét của các nghệ nhân dân gian đều cho rằng: Hát Phong slư của vùng đượcchia ra làm hai giai đoạn:

- Giai đoạn nguyên sơ:

Phong slư gửi cho các chàng trai cô gái Tày thông thường thì họ nhờ cácSấy sli đọc hộ, hoặc tự đọc nếu họ biết chữ Tuy nhiên trước đây số người biếtđọc biết viết ở Hòa An Cao Bằng không nhiều vì vậy các Sấy sli mới là nhữngngười sáng tác Phong slư thực sự thay cho những chàng trai cô gái đang yêu,đồng thời đọc những Phong slư từ nơi khác gửi tới “Các sấy sli” có thể đọc,ngâm Phong slư tại nhà của mình, hoặc tại nhà của các chàng trai cô gái.Người nghe có thể chỉ có một mình chàng trai cô gái hoặc cả gia đình và bạn

bè người thân Việc ngâm này thường diễn ra khi mọi công việc đồng áng đãkết thúc và quây quần bên ánh lửa bập bùng Hình thức diễn xướng diễn ra đơn

lẻ này là dạng thức nguyên hợp tồn tại phổ biến ở nhiều thể loại dân ca của cácdân tộc khác

- Giai đoạn có tổ chức lề lối:

Hình thức này đã dần dần tách khỏi không gian sinh hoạt đời thường Ởgiai đoạn này hình thức diễn xướng đã có sự tổ chức bài bản, thứ tự trước sau.Hình thức tổ chức này cũng giống như các cuộc hát Quan họ ở Kinh Bắc, hát

Ví dặm của người Kinh ở Xứ Nghệ Trong các dịp lễ hội, các cuộc thi, giaolưu văn hóa văn nghệ Phong slư đã được diễn xướng trên sân khấu giốngnhư các làn điệu dân ca khác Đây là một hình thức mới phát triển của Phongslư ở giai đoạn hiện đại

Phong slư là những bức thư tình của người Tày ở Hòa An – Cao Bằng,qua những lời thơ chân thành, giản dị cho chúng ta thấy được nét đẹp tâm hồn,tâm tư tình cảm của đồng bào dân tộc Tày nơi đây

Trang 27

TIỂU KẾT

Qua những nội dung được trình bày trên đây, chúng tôi thấy người Tày

ở Hòa An - Cao Bằng cũng như người Tày ở các địa phương khác trên cả nướcđều có truyền thống lịch sử, nền văn hóa phong phú và đa dạng, mang nhữngnét đặc trưng riêng về phong tục, tập quán và lối sống Trong kho tàng văn hóanghệ thuật dân gian của người Tày ở Hòa An - Cao Bằng, Phong slư giữ vai tròquan trọng trong đời sống tinh thần, phản ánh sinh động tâm hồn, tình cảm,phong tục, tập quán của cư dân bản địa

Với những nét giới thiệu mang tính sơ lược và khái quát về dân tộc Tàyvà một vài đặc điểm về Phong slư của người Tày ở Hòa An - Cao Bằng đãgiúp chúng ta phần nào hiểu được nền văn hóa, văn học của người Tày và thểloại Phong slư Để qua đó làm nền tảng cho việc nghiên cứu sâu hơn về nộidung và nghệ thuật của thể loại văn học dân gian này ở các chương sau

Trang 28

Chương 2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHONG SLƯ

Ở HÕA AN – CAO BẰNG 2.1 Phong slư là những lời bày tỏ tình yêu đôi lứa.

Tình yêu là đề tài muôn thủa không bao giờ vơi cạn của văn học nghệthuật từ xưa tới nay Với người Tày ở Hòa An - Cao Bằng đề tài về tình yêucũng được thể hiện một cách ý nhị, uyển chuyển, chân thành, mộc mạc quanhững khúc hát dân ca trữ tình mượt mà như làn điệu Then, Sli, Lượn, Phongslư Tất cả tạo nên nét đặc sắc riêng biệt của thơ ca dân tộc Tày Trong đề tàinày chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu tìm hiểu một số nội dung của Phong slư ởHòa An - Cao Bằng

Phong slư cung co nhưng net giống vơi cac loaịhinh dân ca khac cuangươi Tay đều la nhưng lơi bôcc̣ lô

̀ ̀

Phong slư cung co nhưng net khac biêṭso loaịhinh dân ca

Lươṇ của người Tày

hai ngươi baṇ tri ki vơi hinh thưc trao đổi môṭcach gian tiếp đểdiêñ ta tinh

cảm lứa đôi , còn Lượn chỉ là những lời hát diễn tả tìn

quê hương đất nươc ma không co văn ban cu c̣thể

Nội dung cơ bản của Phong slư là nói về tình yêu, đề tài về tình yêu đôilứa trong Phong slư được thể hiện một cách sâu sắc nhất với nhiều cung bậc,sắc thái tình cảm khác nhau, chủ yếu là mượn hình ảnh cỏ cây, hoa lá, chimmuông, nước non, trời đất để bày tỏ tâm trạng, tình cảm sâu xa với bạn tình

2.1.1 Phong slư là những lời tỏ tình chân thành, giản dị.

Cũng giống như nhiều thể loại văn học dân gian khác Phong slư phản ánh được tất cả những cung bậc của tình yêu Ngay từ những ngày đầu làm quen cho đến hôn nhân không thể thiếu được những lời tỏ tình, nó chính là chiếc chìa khóa mở cửa trái tim đang còn đóng chặt Với bản tính đặc trưng của người Tày "Cái bụng nghĩ sao, cái miệng nói vậy" họ không nói bóng gió,

xa xôi mà thẳng thắn bộc lộ tình cảm của mình Chàng trai với lối tỏ tình diễn đaṭthẳng thắn chàng nhắc laịtừ ngày găpc̣ cô gái hinh̀ bóng cô gái như in sâu

Trang 29

gái, lối to tinh đầy thẳng thắn nhưng vâñ mang trong minh sư c̣e de ươm hoi

̉ ̀

“không biết em còn nhớtới ngày đôi ta găpc̣ nhau” găpc̣ em anh mang theo nỗi nhớtrởvề, ngày tháng qua đi số ng trong nỗi nhớcô đơn không biết em cólòng thương anh không

Từ vằn én sặp nhạn ngộ căn Mèng pjạc bjoóc mùa xuân hâng mử Kết căn sle đảy rú quén căn

Bấu chắc noọng nhằng chứ dú đai Điếp bạn tồng thiên thai là dá

Pi bươn vằn tốc mạ dú đai Chắc noọng nhằng diếp quan nảy rá

Rụ là chê táng xá vô duyên

Dịch nghĩa:

Từ ngày én nhạn gặp nhau Ong đã rời hoa xuân lâu lắm Kết bạn để được quen nhau Không biết em còn nhớ tới ngày đó Nhớ em ngẩng nhìn trời càng nhớ Ngày tháng năm qua anh ở cô đơn Không biết em có thương không đã Hay là chê anh khác xã vô duyên [13]

Nhận được bức Phong slư của chàng trai gửi đến lòng cô gái bồi hồi xaoxuyến nhưng vẫn tỏ ý nghi ngờ, không biết những lời nói trong thư kia có thậtlòng không hay đó chỉ là những lời trêu đùa khi mới gặp

Noọng phác căm mừa chổn vỉ quan Táng cần dú táng mường cách biệt Niên quá nguyệt khổn tiết lai lai Bấu chắc vỉ nam giai đâu toọng

Trang 30

Ké khả bấu cảm vội bạn cằn cừn văn hác tương tư đâu toọng Lắp kết đuổi vỉ cá táng mường

Dịch nghĩa:

Em gửi lời về chốn quan anh Khác người ở khác bản cách biệt Năm qua trăng đến nhanh nhanh Không biết lòng anh thế nào Người già bảo đừng vội tin Tối ngày hãy suy nghĩ trong lòng Nếu kết với bạn khác mường [48]

Kết thúc những lễ hội mùa xuân, sau những cuộc lượn hát giao duyêngặp gỡ, những chàng trai cô gái mang tình cảm của mình trở về với nhữngcông việc thường ngày nhưng vẫn mang trong mình một nỗi nhớ về người đãgặp, chính những cuộc gặp gỡ lượn giao duyên đó là vườn ươm cho những mốitình tuổi trẻ, và đã yêu thì phải có thư tình, những lá thư tình đó được gửi đi,trao lại mang trong đó những lời tỏ tình làm quen chân thành nồng thắm, thiếttha đến người mình yêu thương Nhận được những lá thư bày tỏ tình cảm ấynhững cô gái có trao lòng đáp lại sẽ có những bức thư trả lời đáp lại tình cảm

đó Mới đầu có thể là sự hồ nghi, lo lắng đó chỉ là lời trêu đùa nhưng cũng cókhi đó là sự đáp lại tình cảm ấy một cách thẳng thắn

Trang 31

Em sẽ một lòng thương anh [15]

Tình yêu xuất phát từ tình cảm chân thành và sâu lắng nên nỗi nhớnhung càng da diết mặn nồng Có ai yêu mà không nhớ, có lẽ nỗi nhớ đã trởthành một đặc trưng bất biến của tình yêu Với người Tày cũng vậy nỗi nhớhàng đêm khóc thầm trên gối được gửi gắm theo gió, theo mây đến ngườithương Để thể hiện tình yêu của mình chàng trai Tày đã dùng các tấm gươngngười đời, nhất là gương trong lịch sử, trong các chuyện cổ tích mượn nhữngtích như Lưu Đài – Hán Xuân, Nam Kim – Thị Đan, Ngưu Lang – Chức Nữ,Thục Đế - Hằng Nga để bày tỏ tình cảm của mình, để khéo léo gợi cho ngườiyêu noi theo:

Ngưu Lang xo ăn cầu pây mà Thục Đế vọng Hằng Nga nhằng đảy Buồn lai vỉ lặc hảy tềnh mon

Điếp bạn bấu đảy nòn cừn rủng

Dịch nghĩa

Ngưu Lang xin cái cầu đi lại Thục Đế thương Hằng Nga còn được Buồn quá anh khóc thầm trên gối Yêu em không được thao thức đến sáng [15]

Chàng trai nhận được lá thư lúc này bằng một giọng điệu vừa gần vừa

xa, một phần chàng lấy những câu chuyện tình yêu để làm minh chứng, dẫu cókhoảng cách xa xôi nhưng nhất định sẽ đến được với nhau, phần nữa chàngmong khi nhận được bức thư này sẽ cùng em được kết duyên

Ngộ răng ngộc cắp rà sinh thẻ Hết cần noọng cỏi nghỉ hẩu thông Xưa Minh Nga cầm cung thượng đáng Khúy mả lồng đạo lảng tu đin

Nhằng kết bạn Vương Sinh đảy mả

Trang 32

Nàng tiên dú tềnh phả nhằng thông Cần thển cắp cần bân nhằng hợp Hiền sị vỉ xo kết đuổi nàng

Tiểng là bức thư mà tham khảo

Dịch nghĩa:

Gặp gỡ nhau mang tiếng yêu thương Mong em hãy suy nghĩ nông sâu Nàng Minh Nga bị cấm cung Còn cưỡi ngựa xuống chốn trần gian

Và kết bạn với Vương Sinh còn được Nàng tiên ở trên trời còn nghĩ

Người tiên ở với người trần còn hợp Nên anh xin kết duyên cùng em Nay có bức thư đến để thăm hỏi [15]

Và để ướm hỏi thêm tình cảm của cô gái, trong bức thư chàng trai đã mạnh dạn xin chiếc túi để làm tin, để được mơ màng tơ tưởng tới em để cho thỏa nỗi nhớ

Phác Slư xo tủi nỏi đuổi nàng Sli hẩu căn phải tèn cọng toọng Đảy thảy mà tung phóng pjàng khoăn Đua nòn khỏi mền phăn mơ mảng

Dịch nghĩa:

Gửi thư xin túi với nàng

Em cho anh cái túi xoàng cũng được Được túi về anh để ôm ấp

Đi khỏi ngỏi mơ màng tơ tưởng [13]

Trong những bức Phong slư ta luôn bắt gặp hình ảnh những chàng trai,

cô gái diễn tả nỗi nhớ bằng sự mất ăn, mất ngủ nhớ đến người thương nơi xalàm lòng nhũn mềm Nhìn xa xa bướm ong đủ đôi vậy mà nhìn lại bản thân mình lẻ loi đơn chiếc

Trang 33

Chứ siết căn gằm nòn bấu đắc Gần dú nam, dú bắc vuồn sim Đang lểu ón vận đin thảo dược Mèng đo tôi khua khước đuổi hoa Táng ngậy đang thân rà mình lế.

Dịch nghĩa:

Nhớ nhau lòng bồi hồi chẳng ngủ Người ở nam, ở bắc sầu lòng Người nhũn mềm như chi đúc chảy Bướm đủ đôi vui nhảy cùng hoa Day dứt thân phận ta đơn chiếc.

[46, Tr 1087]

Buồn vì nỗi cô đơn thường trực lại thêm nỗi nhớ người phương xakhông thể kể hết, chàng trai trở về cầm giấy bút viết gửi tâm trạng của mìnhđến người mình yêu thương

Vỉ chứ noọng căm bút viểt slư Viết soong cằm phác mừa giương bạn

Pi bươn bặng én nhạn bân pây Thì giờ bặng nặm lây lồng hát Ngẩn ngơ mốc sẩy khát tốc châu

Vạ đăm choắc voằn tầu đảy rủng

Dịch nghĩa:

Anh nhớ em cầm bút viết thư Viết đôi lời đến với bạn Năm tháng qua nhanh như én lượn Thời gian qua nhanh như tiếng hát Ngẩn ngơ bối rối trong lòng

Trời tối biết ngày nào mới sáng [13]

Trang 34

Không chỉ trong Phong slư mà trong những làn điệu hát giao duyên thểhiện tình yêu trong buổi chớm nở của các dân tộc khác cũng thật đặc sắc vàphong phú Đây là lời tỏ tình đầy bóng bẩy, hoa mĩ của chàng trai dân tộc Kinhbày tỏ niềm khao khát cháy bỏng trong tình yêu:

Ước gì anh hóa ra hoa

Để em nâng lấy rồi mà cài khăn Ước gì anh hóa ra khăn

Để cho em đắp, em lăn, em nằm

[36, tr 581]

Cũng là cách bày tỏ tình yêu nhưng chàng trai cô gái Tày có phần bày tỏthẳng thắn hơn, điều đó cũng thật dễ hiểu bởi bản chất con người lao độngmiền núi so với miền xuôi có phần bộc trực, thật thà Còn những chàng traiKinh lại sử dụng cách nói chuyện tầm phào bâng quơ trên mây, dưới gió mượnnhững yếu tố gián tiếp để dẫn dắt đến tình cảm của mình

Sông cách sông, thủy cách thủy

Em xe sợi chỉ, em bắc cây cầu

Để cho anh sang mà giảm mối sầu tương

tư [36, tr.490]

Với những lối tỏ tình của những chàng trai cô gái buổi đầu mới yêuchứa đựng sự hồn nhiên trong sáng, chân thật của tâm hồn tuổi trẻ Những lờithơ tỏ tình thuở ban đầu e ấp đó đầy ắp niềm vui, sự hứa hẹn đến với nhau đểthành vợ thành chồng Hơn hết vần thơ đó càng tô đẹp thêm cho cuộc sống tâmhồn của người Tày tinh thần lạc quan, yêu đời yêu cuộc sống thiết tha

2.1.2 Phong slư là những lời bày tỏ khát vọng về hạnh phúc lứa đôi.

Trong Phong slư không chỉ chứa đựng những cảm xúc say sưa buổi banđầu gặp gỡ của những chàng trai, cô gái Tày dành cho nhau mà trong đó còn lànhững lời bày tỏ khát vọng về hạnh phúc lứa đôi cháy bỏng:

Vằn cón rầu kết khỏa tận tâm Kết căn nhất đẩy căn chắng sử

Trang 35

Nỗi khát khao tự do hạnh phúc ấy dâng trào, họ hẹn ước mãi mãi bênnhau không rời xa đến khi nào con hươu bỏ rừng lớn, con trâu bỏ không ăn cỏvà khi nào múc nước được đầy giỏ mới biết tình yêu của họ sâu nặng đếnnhường nào:

Slương căn sương hẩu nắc hẩu hâng Vửa tầu nạn lìa đông gỏi dá

Vửa tầu oài lìa nhả gỏi thôi Tắc nẳm đảy têm cuôi gỏi viạc.

đủ, họ chỉ có ước mơ giản đơn được về cùng chung một nhà với nhau

Vỉ đảy noọng bấu nghị lăng tàng Cần bấu định soong khoăn hác định Chỉ kết đuổi mỉnh kỉn đing rườn

Trang 36

Đảy noọng vỉ bấu ngại lăng khỏ Bấu mì khẩu lồng mỏ gỏi xa Tắm tò đảy lương gia định các

Dịch nghĩa:

Anh có em không còn lo nghĩ Người không được tình để cho hồn Chỉ một lấy em thương cho được Được em anh sẽ hết buồn

Không có gạo thổi cơm sẽ kiếm Chỉ mong cho được đến chung nhà [13]

Khát vọng yêu thương, hạnh phúc của những chàng trai cô gái Tày đôikhi là những lời trái lôgic thực tế để cam đoan rằng vì người mình yêu mà họ

sẽ làm được những công việc trái với thực tế đời thường như: Thả lá tre xuống

ao để thành cá, vãi trấu để thành gà, cấy cỏ thành lúa

Đảy vỉ noọng bấu ngại lăng tàng Thả mảy peo lồng thôm pền tra Vãn cóc cụng pền cáy têm lằng Đăm nhả lồng làng pền khẩu

Dịch nghĩa:

Được anh em không ngại gian lao Thả lá tre xuống ao thành cá Vãi trấu cũng nên gà đầy chuồng Cấy cỏ tranh xuống đồng thành thóc [15]

Khát vọng hạnh phúc ấy còn được thể hiện qua lời của cô gái dẫu cuộc sống đầy vất vả khó khăn đói rét nhưng đã yêu thì quyết cùng nhau vượt qua:

Tậu vỉ lăng mong bấu ngại Gẳm bấu fà sứt vải cũng khua Tón bấu đảy kin đay cụng dú

Trang 37

Au căn đảy vần dảu bấu thân Tháp nẳm bấu mì càn mừ thỉu Kin lảo bấu mì điếu noọng xo Thây rẩu bấu mì mò bai bác Bấu hử vỉ thai rác là thôi Pản tắc đảy pền tôi vỉ ới.

Dịch nghĩa:

Thành đôi khó khăn không ngại Đêm ngủ không chăn màn vẫn cười Bữa không được ăn ngon vẫn ở Lấy được nhau dẫu khó vẫn bên nhau Gánh nước không đòn thì xách tay Hút thuốc không điếu em sẽ tìm Bừa rẫy không trâu làm bằng cuốc Không để nhau đói rét là thôi Làm sao được thành đôi hạnh phúc [13]

Khát vọng tình yêu, hạnh phúc lứa đôi mãnh liệt của trai gái Tày cho tanhớ đến khát vọng tình yêu của những chàng trai cô gái dân tộc Thái trongtruyện thơ "Tiễn dặn người yêu" họ muốn vượt lên mọi lễ giáo phong kiến kìmkẹp để được bên nhau hạnh phúc Khát vọng ấy khiến người con trai Thái thốtlên như một lời thề hẹn trong tình yêu

Yêu em anh quyết được

Đã thương nhau quyết lấy.

[42, tr 222]

Trong tình yêu ấy những chàng trai cô gái Thái họ chỉ mang trong mình ước mơ được sống bên nhau hạnh phúc, trọn đời trọn kiếp đến già

Trang 38

Yêu nhau, yêu trọn đời gỗ cứng Yêu nhau, yêu trọn kiếp đến già

Ta yêu nhau, tàn đời gió, không rung không

chuyển [42, tr 225]

Sức mạnh tình yêu đang đốt cháy trong lòng những người đang yêu,khiến họ nói lên được những ý nghĩ táo bạo, kiên quyết vượt lên trên tất cảmọi khó khăn gian khổ phía trước nhưng các chàng trai, cô gái Tày phải bấtlực trước thực tế cuộc sống Họ không lấy được nhau, họ bị ngăn cách bởi giađình, xã hội, những lễ giáo cổ xưa khiến tình yêu của họ phải chia cắt, đauđớn Dẫu vậy, khát vọng được bên nhau khiến tình yêu trong họ vẫn mãi mạnh

mẽ, họ hẹn nhau thoát khỏi cuộc sống kìm kẹp đó đến một nơi mới, nơi chỉ cóhai người cùng nhau xây dựng một cuộc sống hạnh phúc:

Giờ nẩy noọng vẫn nghị au căn Tằng gần ké nắm hăn thúc toọng Bấu chứ cạ một noọng hác thông Nhược vỉ nhằng nhất tâm đuổi noọng

Mì thương dú keng kéo hất nà

Tọ rà khổn xa tháng đảy hăn Bặng soong rà kết căn giừo nẩy Kết bạn mong cạ đảy định rườn Noọng kết bạn hết gương thiên hạ Khỏ khát dú chang đông tó ké.

Dịch nghĩa:

Đến nay em vẫn hẹn lấy anh Dẫu cha mẹ song thân không vừa ý Không phải em chỉ nghĩ vậy đâu Nếu chàng còn nhớ nhau hãy liệu Thương nhau hẹn ở đỉnh núi cấy cày

Trang 39

Ta đi đâu kiếm tình hỡi chàng Giống hai ta kết duyên chốn này Yêu nhau định lấy ngay cho được Lấy cho thiên hạ biết nêu gương Dẫu cùng nhau nghèo đói tới già [48]

Cũng có khi đó là những lời tiễn dặn nhau cùng về nơi suối vàng để tìnhyêu còn mãi:

Vằn thai khửn thượng nưa cỏi tím Slíp soong quản thượng đính cỏi xa Mửa mển bạn thương rà cỏi xiết.

ta cảm nhận được tâm hồn giản dị, chân thành, nồng thắm của họ

2.1.3 Phong slư là những lời bày tỏ nỗi buồn trong tình yêu cách trở

Khát khao hạnh phúc là vậy, thậm chí họ còn nguyện sẽ chết cũng nhau.Nhưng không phải đôi trai gái nào cũng đi hết con đường tình yêu ấy Ta bắtgặp trong Phong slư tình cảm của những đôi trai gái yêu nhau nhưng khôngđến được với nhau qua những bức thư buồn nói lời chia tay:

Lìa căn ná tủi hương mầu dá Phjạc căn nghịa bạn khả soong tàng

Từ này rừ pây mà khổn cúng Phjạc căn ná đạo rủng soong khoăn

Trang 40

Dịch nghĩa:

Chia tay anh như bỏ thắt lưng Nước mắt tràn rơi đều chan chứa Giá như được đi mãi bên nhau

Xa nhau thực bồn chồn khó nghĩ Bữa ăn nhìn đôi đũa nhớ hình Cầm bát tưởng như hình tồn tại Lại thân lẻ đồn đại càng buồn [13]

Tình yêu với những lời hẹn ước của họ đang diễn ra tốt đẹp nhưng bởi lễgiáo phong kiến, xã hội kiên quyết chia rẽ họ một cách nghiệt ngã trong khi họ

tự nguyện thiết tha gắn bó với nhau, thiết tha gặp nhau nhưng bị ngăn cấm Cóthể thấy nỗi buồn trong Phong slư là cái buồn mang tính "căm ghét, nguyềnrủa" xã hội Họ bị ngăn cách, không lấy được nhau họ chỉ biết than trách duyênsố không hợp, trách trời cao ghen ghét bắt họ phải chia xa

Ngày đăng: 27/11/2020, 11:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w