Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên và xãhội của Nà Lữ, quá trình lịch sử của vùng đất này cũng như đời sống kinh tế và xã hội của cư dân Nà Lữ trong
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Nguyêñ Thi Haạ̉i
Nà Lữ (Hòa An - Cao Bằng) từ thếkỷIX
đến nửa đầu thếkỷXIX
Luận văn ThS Lịch sử: 60 22 54
Nghd : GS.TS Nguyễn Quang Ngọc
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nà Lữ là một cánh đồng cổ, nằm trong vùng sản sinh ra nghề nông trồng lúanước của các dân tộc Tày – Thái Vì thế, con người đến đây tụ cư từ rất sớm Tronglịch sử, Nà Lữ là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự của Cao Bằng – mộttỉnh biên giới thuộc “nơi phên dậu thứ tư về phương Bắc” nước ta Ngay từ thế kỷ
IX, Cao Biền đã cho xây dựng thành Nà Lữ, đưa nơi đây trở thành căn cứ quân sựquan trọng của nhà Đường nhằm chống lại quân Nam Chiếu Vào thế kỷ XI, Nà Lữlại được chọn là trung tâm cát cứ của cha con Nùng Tồn Phúc, Nùng Trí Cao Năm
1592, sau khi thất thủ ở Thăng Long, vua tôi nhà Mạc đã chạy lên Cao Bằng tiếp tụccủng cố và xây dựng chính quyền cát cứ, đặt kinh đô ở vùng Nà Lữ, Cao Bình NhàMạc đổi xã Nà Lữ thành phường, xây dựng cung điện và tu sửa thành trì Trongsuốt thế kỷ XVII, Nà Lữ luôn là mục tiêu tấn công của quân Lê – Trịnh, hòng lật đổchính quyền họ Mạc Năm 1677, Nà Lữ thất thủ, nhà Mạc chạy về Phục Hòa rồi thấtbại hoàn toàn, triều đình Lê – Trịnh trực tiếp cai quản Cao Bằng Từ đó, Nà Lữkhông còn là trấn thành nhưng vẫn là trung tâm của châu Thạch Lâm, là căn cứquân sự của trấn Cao Bằng
Có thể nói, trong khoảng thời gian từ thế kỷ IX đến giữa thế kỷ XIX, Nà Lữ
là khu vực thể hiện tập trung nhất những biến động chính trị, xã hội cũng nhưvăn hoá của vùng Cao Bằng Tìm hiểu Nà Lữ một cách thấu đáo không chỉ cho ta
có cái nhìn sâu sắc về mảnh đất nơi biên viễn mà còn bổ sung nguồn tư liệu quantrọng trong việc tìm hiểu về vấn đề Nùng Tồn Phúc, Nùng Trí Cao, Bế KhắcThiệu, vấn đề nhà Mạc ở Cao Bằng, cuộc chiến tranh Trịnh – Mạc giai đoạn
1592 - 1677 Đồng thời, nó giúp chúng ta có cái nhìn khoa học về những giá trịkinh tế, văn hóa truyền thống của Nà Lữ, từ đó, có những chính sách phát triểnphù hợp, góp phần phát huy nguồn nội lực trong công cuộc công nghiệp hóa,hiện đại hóa của đất nước
Việc nghiên cứu Nà Lữ trong giai đoạn từ thế kỷ IX đến giữa thế kỷ XIX sẽcung cấp nguồn tư liệu quan trọng, phục vụ việc giảng dạy, học tập và nghiêncứu Lịch sử địa phương, Nhân học, Văn hóa …
Trang 3Vì những lý do trên, chúng tôi chọn “Nà Lữ (Hòa An – Cao Bằng) từ thế kỷ
IX đến giữa thế kỷ XIX” làm đề tài luận văn Thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch
Đầu tiên là cuốn Cao Bằng thực lục của tác giả Bế Hựu Cung viết năm Gia
Long thứ 9 (1810) do Cao Huy Giu dịch Bế Hữu Cung (1757 - 1820) quê ở xãBắc Khê, tổng Xuất Tính, châu Thạch Lâm, trấn Cao Bằng (nay thuộc xã CanhTân, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng) Ông là người học rộng, biết nhiều, từng
được bổ nhiệm là Hữu thiêm đô ngự sử, lãnh chức Tổng trấn Cao Bằng Cao
Bằng thực lục ghi chép tỉ mỉ về núi sông, truyền thuyết dân gian, các thần tích,
phong tục tập quán, cung cấp nhiều tư liệu lịch sử địa phương từ thời cổ đến đầutriều Nguyễn Trong đó, tác giả giới thiệu về thành Nà Lữ, về việc vua Lê Thái
Tổ lên dẹp Bế Khắc Thiệu và cho xây dựng sinh từ của mình ở đó
Cuốn thứ hai là Cao Bằng tạp chí của Bế Huỳnh Bế Huỳnh (1857 - 1930)
quê ở xã Tĩnh Oa, tổng Tĩnh Oa, châu Thạch Lâm (nay là xã Dân Chủ, Hòa An,Cao Bằng) Ông là người có tư chất thông minh, học rộng, được bổ làm Huấnđạo Trùng Khánh phủ, sau là Tri châu Hà Quảng Ông để tâm sưu tầm nghiên
cứu về lịch sử, văn hóa địa phương và viết Cao Bằng tạp chí vào năm 1921, gồm
3 tập Nhật tập (tập 1) có 6 chương viết về địa danh, sông núi, hang động, nguồngốc sắc tộc và phong tục Nguyệt tập (tập 2) gồm 3 chương viết về chiến tranhxảy ra ở Cao Bằng từ cổ cho đến khi Pháp bảo hộ Tinh tập (tập 3) gồm 6chương viết về thần từ cổ tích (nói về các đền miếu), dị đoan lục (chuyện mê tín
dị đoan), nhân vật lục (các danh nhân địa phương), kỹ nghệ thổ sản và chỉ dẫn vềphương pháp giải độc Qua bộ sách này, Bế Huỳnh nêu lên một số vấn đề liênquan đến Nà Lữ như việc cát cứ của Nùng Tồn Phúc, Nùng Trí Cao; việc LêThái Tổ đem quân lên đánh Bế Khắc Thiệu ở Nà Lữ; chiến tranh giữa nhà Mạcvới Lê – Trịnh…, hiện tượng “Kinh già hóa Thổ”, phong tục tập quán… nhưngrất sơ lược
Trang 4Thứ ba là cuốn Cao Bằng thủ hiến liệt phương danh của Mông Tô Trần sao
lục năm 1955 Đây là cuốn sách tác giả sưu tầm được khi đi điền dã tại CaoBằng, do ông Mông Văn Bút (con trai của ông Mông Tô Trần) ở xã Phong Châu,huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng cung cấp Hiện nay, bản gốc của cuốn sách
này đang được lưu giữ tại Bảo tàng Cao Bằng Cao Bằng thủ hiến liệt phương
danh vừa là sự sao chép một số cuốn sách của các nhà nghiên cứu trước như Cao Bằng tạp chí, Cao Bằng Tam trung sự tích biên chí, … vừa là kết quả nghiên
cứu của tác giả Mông Tô Trần Tác phẩm gồm 49 đầu mục, 72 tờ chữ Hán Nôm
đã cung cấp cho người đọc những hiểu biết cơ bản về diên cách, điều kiện tựnhiên, dân cư, phong tục tập quán, thần từ cổ tích, phương pháp chữa bệnh, … ởCao Bằng, đặc biệt là các chức quan của huyện Thượng Lang, phủ Trùng Khánh
và các chức quan đứng đầu tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn 1885 -1943 Tác phẩm
đã cung cấp cho chúng ta một vài tư liệu mới về thành cổ Nà Lữ và Đền Vua Lênhư chỉ rõ rằng sau khi Lê Thái Tổ đánh thắng Bế Khắc Thiệu đã để lại một tấm
áo bào và một thanh kiếm sắc để nhân dân thờ phụng Sau này, khi tiêu diệt quânMạc, vua Lê Hy Tông lại ban áo bào và kiếm báu để thờ như cũ, đồng thời chothờ Lê Tuân, Lê Tải trong đền Từ những chi tiết như thế, chúng ta có đượcnhững hiểu biết rõ ràng hơn về vùng đất Nà Lữ trong lịch sử
Thứ tư là tập kỷ yếu hội thảo Văn hóa dân gian Cao Bằng do Hội văn nghệ
Cao Bằng xuất bản năm 1993 Đây là một cuộc hội thảo có sự góp mặt của rấtnhiều nhà văn hóa dân gian nổi tiếng như GS Tô Ngọc Thanh, PGS Vũ NgọcKhánh, GS Trần Quốc Vượng,… Các tham luận đã cung cấp cho người đọc
những hiểu biết cơ bản về Folklore Cao Bằng Đặc biệt, báo cáo Cao Bằng dưới
cái nhìn dân gian về sự giao hòa văn hóa Tày – Việt của GS Trần Quốc Vượng
đã đề cập đến vấn đề giao thoa văn hóa giữa người Tày và người Việt mà Nà Lữ
là một điển hình
Thứ năm là cuốn Địa chí Cao Bằng được xuất bản năm 2000, đề cập đến
các vấn đề lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội Cao Bằng từ nguyên thủy cho đếnnhững năm 90 của thế kỷ XX Song những nghiên cứu về Nà Lữ rất hạn chế,nhất là vào thế kỷ XVII – XIX, chủ yếu đề cập đến di tích lịch sử đền Vua Lê vàthành Nà Lữ
Trang 5Thứ sáu là Luận văn Thạc sĩ Văn hóa dân tộc Tày ở huyện Hòa An (Cao
Bằng) của tác giả Lô Việt Thắng Tác giả là người ở làng Nà Lữ, xã Hoàng
Tung, huyện Hòa An Luận văn được hoàn thành năm 2006, đề cập đến đời sốngvật chất và đời sống tinh thần của cư dân Hòa An cũng như Nà Lữ nhưng tiếcrằng, tác giả chưa chỉ ra những yếu tố truyền thống, sự biến đổi của nó và đặcbiệt là sự giao thoa văn hóa Tày Việt ở khu vực nghiên cứu
Cuối cùng là cuốn Địa chí các xã huyện Hòa An xuất bản năm 2008, trong
đó có phần viết về xã Hoàng Tung (tức là xã Nà Lữ xưa), đề cập đến vị trí địa lýhành chính, kinh tế, văn hóa - xã hội nhưng chủ yếu là những vấn đề từ đầu thế
kỷ XX đến năm 2007
Như vậy, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về Nà Lữ (Hòa
An, Cao Bằng) từ thế kỷ IX đến giữa thế kỷ XIX Hầu hết các tác phẩm nêu trênchỉ đề cập đến thời điểm xây dựng và một vài sự kiện lịch sử liên quan đến thành
Nà Lữ và đền Vua Lê Nhiều vấn đề như chế độ sở hữu ruộng đất, tình hình kinh
tế, chính trị - xã hội và văn hóa của cư dân phường Nà Lữ cùng những biếnđộng lịch sử trong khoảng thời gian đã giới hạn chưa được làm sáng tỏ Mặcnhiên, thành quả của các nhà nghiên cứu đi trước không chỉ dẫn dắt chúng tôiđến với Nà Lữ, mà còn gợi mở nhiều ý kiến quý báu cho chúng tôi tiếp tục đi sâutìm hiểu về vùng đất này trong giai đoạn từ thế kỷ IX đến giữa thế kỷ XIX
3 Mục đích, đối tượng, pham vi và nội dung nghiên cứu
Chọn đề tài “Nà Lữ (Hòa An, Cao Bằng) từ thế kỷ IX đến giữa thế kỷXIX”, chúng tôi mong muốn dựng lại một cách chân thực lịch sử Nà Lữ, qua đó
có thể bổ sung nguồn tư liệu, góp phần lý giải một số vấn đề lịch sử Việt Namthời phong kiến như vấn đề Nùng Trí Cao, Bế Khắc Thiệu, vấn đề nhà Mạc ởCao Bằng; chiến tranh Trịnh – Mạc giai đoạn 1592 – 1677; vấn đề giao thoa vănhóa xuôi ngược và hiện tượng “Kinh già hóa Thổ” Đó là những vấn đề lâu naycác nhà nghiên cứu chưa có điều kiện đi sâu tìm hiểu
Đề tài của chúng tôi tập trung nghiên cứu về Nà Lữ với tư cách là một xã,đóng vai trò là trung tâm chính trị, quân sự của Cao Bằng trong giai đoạn lịch sử từthế kỷ IX đến giữa thế kỷ XIX Trong giai đoạn đó, Nà Lữ không ngừng được mởrộng, ban đầu là một làng, sau đó được phân tách thành nhiều làng, xóm khác nhau
Do hạn chế về nguồn tư liệu, chúng tôi không thể khảo sát một cách đầy
Trang 6đủ về quá trình thay đổi diên cách của Nà Lữ mà chỉ xác định lãnh thổ củaphường Nà Lữ vào nửa đầu thế kỷ XIX thông qua tư liệu địa danh, địa chí, địa
bạ Do đó, luận văn tập trung nghiên cứu Nà Lữ theo lãnh thổ đã xác định được,bao gồm các xóm Làng Đền, Nà Lữ, Bản Giài, Nà Riềm, Khau Luông, Bó Lếch,Bản Chạp, Bến Đò, Kế Nông thuộc xã Hoàng Tung, huyện Hòa An, tỉnh CaoBằng hiện nay, trong đó, Nà Lữ được coi là làng gốc Các làng, xóm còn lại củaHoàng Tung chỉ được nghiên cứu ở mức độ cần thiết để đối sánh và bổ sung chokhu vực chính
Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên và xãhội của Nà Lữ, quá trình lịch sử của vùng đất này cũng như đời sống kinh tế và
xã hội của cư dân Nà Lữ trong giai đoạn từ thế kỷ IX đến giữa thế kỷ XIX Tuynhiên, do hạn chế về nguồn tư liệu, nên chúng tôi chưa thể khôi phục diện mạo
Nà Lữ một cách đầy đủ, nhất là giai đoạn trước thế kỷ XVII Vì thế, khi nghiêncứu về đời sống kinh tế và văn hóa, chúng tôi chỉ tập trung vào giai đoạn tồn tạicủa phường Nà Lữ từ thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Nghiên cứu về một địa phương cụ thể nên chúng tôi gặp rất nhiều khó khăntrong việc tìm kiếm tài liệu, nhất là một địa phương ở xa trung tâm đất nướcnhư Nà Lữ Một vài sự kiện lịch sử, kinh tế, văn hóa của Nà Lữ đã được nhắc
đến trong các bộ sử thời phong kiến như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt
sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục, Đại Việt thông sử, Lịch triều tạp kỷ… Các bộ sử và ghi chép của các học giả Việt Nam đương đại đã cung cấp cho
chúng tôi những nét khái quát về bối cảnh kinh tế, xã hội, làm cơ sở cho việc đisâu khảo sát về Nà Lữ
Trong quá trình thu thập tài liệu, chúng tôi nhận thấy các sách địa lý lịch sử
như: Dư địa chí (Nguyễn Trãi), Đại Nam thống nhất chí, Đồng Khánh dư địa chí, Hoàng Việt nhất thống dư địa chí (Lê Quang Định), Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú)… hay các sách viết về Cao Bằng như: Cao Bằng thực lục (Bế Hựu Cung), Cao Bằng tạp chí (Bế Huỳnh), Cao Bằng sự tích (Nguyễn Đức Nhã), Cao Bằng thành hãm sử ký (Nguyễn Đình Tông), Cao Bằng ký lược (Phạm An Phủ) …
cũng cung cấp cho chúng tôi những tư liệu cụ thể về tình hình
Trang 7chính trị, xã hội, văn hóa ở địa phương có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến
Nà Lữ Tuy nhiên, tài liệu về Nà Lữ do những cuốn sách trên mang đến rất sơlược
Kết hợp với các nguồn tài liệu trên, tư liệu địa bạ của phường Nà Lữ và 11địa bạ khác thuộc tổng Hà Đàm được lập vào năm Gia Long 4 (1805) và MinhMệnh 21 (1840) cũng được chúng tôi khai thác triệt để nhằm tìm hiểu rõ hơn vềtình hình sở hữu ruộng đất của địa phương nửa đầu thế kỷ XIX
Sau khi thực dân Pháp chiếm nước ta, nguồn tư liệu ghi chép về Cao Bằngcủa các viên quan đô hộ và các học giả người Pháp tăng lên nhiều, tiêu biểu nhất
là cuốn La haute région du Tonkin et officier colonial: Cercle de Cao Bang
(Vùng cao Bắc kỳ và viên chức thuộc địa: hạt Cao Bằng) của Paul Marabail.Cuốn sách khảo khá kỹ về Cao Bằng với nhiều lĩnh vực như kinh tế, xã hội,phong tục tập quán của các tộc người … Điều đó ít nhiều đã cung cấp nhữnghiểu biết cơ bản về yếu tố kinh tế, văn hóa truyền thống của Cao Bằng nói chung
và Nà Lữ nói riêng
Mặc dù chúng tôi đã cố gắng khai thác triệt để các tài liệu thư tịch nhưngvẫn chưa đủ để nhận thức toàn diện về Nà Lữ Để khắc phục khó khăn đó, chúngtôi tiến hành thu thập tư liệu từ điều tra thực địa tại Nà Lữ và các vùng lân cận.Kết quả, nguồn tài liệu thu được rất phong phú, góp phần quan trọng trong việchoàn thành đề tài nghiên cứu này Chúng tôi tạm thời chia thành ba loại như sau:
- Nguồn tài liệu thư tịch sưu tầm được gồm văn bia, câu đối đền Vua Lê,gia phả các dòng họ, quy định của các hội hữu ước trong làng xã, sách Then …Những tài liệu này phản ánh cụ thể tình hình kinh tế, tín ngưỡng, phong tục tậpquán… của cư dân địa phương
- Nguồn tài liệu vật chất: Bao gồm các di tích như thành Nà Lữ, đền Vua
Lê, gạch ngói nhà Mạc, đạn đá thời nhà Mạc, nhà cửa, các công cụ sản xuất, …Đây là những chứng tích vật chất còn lại giúp chúng ta nhận thức đúng đắn hơn
về Nà Lữ trong quá khứ
- Nguồn tài liệu truyền miệng: Bao gồm các truyền thuyết dân gian, ca dao,tục ngữ, hát ru, đồng dao, các cách giải thích địa danh của Nà Lữ … Những tưliệu này tuy mang tính ước lệ, thiếu độ chính xác nhưng nếu biết so sánh, đối
Trang 8chiếu với các nguồn tư liệu khác một cách nghiêm túc thì nó lại cung cấp chochúng ta nhiều thông tin bổ ích để nghiên cứu về Nà Lữ.
Nguồn tư liệu khảo sát thực địa sau khi được xử lý theo phương pháp khoahọc là nguồn tài quan trọng bổ sung cho tài liệu thư tịch, giúp chúng tôi bướcđầu khôi phục diện mạo của Nà Lữ trong lịch sử
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, trước hết chúng tôi chú ý khai thác tài liệu thư tịch,
kể cả những tài liệu của nhà nước phong kiến và tư nhân còn được lưu giữ đếnngày nay Nhưng không phải lúc nào nguồn tư liệu gốc cũng có sẵn Để khắcphục sự khuyết thiếu đó, chúng tôi sử dụng phương pháp hồi cố, lấy kết quả từquá trình điều tra thực địa với mong muốn khôi phục diện mạo Nà Lữ trong giaiđoạn từ thế kỷ IX đến giữa thế kỷ XIX Ngoài phương pháp nghiên cứu lịch sử,phương pháp lôgic, tác giả còn sử dụng phương pháp liên ngành như văn hóahọc, văn hóa dân gian, nhân học, địa lý học … để nghiên cứu Nà Lữ một cáchtổng thể, mang tính toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa.Đồng thời, phương pháp định tính và định lượng cũng được tác giả sử dụng đểphân tích, xử lý địa bạ, kết hợp với phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh,đối chiếu với các nguồn tư liệu khác, các địa phương khác để làm nổi bật nhữngluận điểm khoa học đưa ra
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu về Nà Lữ (Hòa An, Cao Bằng)trong giai đoạn từ thế kỷ IX đến giữa thế kỷ XIX Dựa trên nguồn tư liệu khaithác được, luận văn bước đầu khôi phục một cách có hệ thống về lịch sử, kinh
tế, chính trị, văn hóa cũng như những biến động về dân cư của vùng đất nàytrong lịch sử
Kinh đô nhà Mạc cũng như hệ thống quân sự, chính sách tích cực phát triểnkinh tế, xã hội của vương triều Mạc ở Nà Lữ nói riêng và Cao Bằng nói chungđược chúng tôi bước đầu tái hiện Đồng thời, chúng tôi cũng cung cấp nhữnghiểu biết cơ bản về cuộc chiến tranh Trịnh – Mạc diễn ra ở Cao Bằng, trong đó,
Nà Lữ là một trong những chiến trường ác liệt nhất
Lần đầu tiên tài liệu địa bạ phường Nà Lữ lập vào đầu triều Nguyễn được đưa
ra phân tích, từ đó cho thấy, ruộng đất tư hữu ở Nà Lữ đã chiếm ưu thế hoàn
Trang 9toàn (gần 100%) Đây là kết quả của sự biến động về chính trị, dân cư và địnhchế khai hoang của các triều đại phong kiến Sự phát triển kinh tế hàng hóa ở Nà
Lữ trong giai đoạn đầu thế kỷ XVII đã góp phần phá vỡ quan hệ kinh tế, chínhtrị, xã hội truyền thống
Luận văn đã bước đầu công bố nguồn tư liệu về các dòng họ Tày gốc Kinh
ởNà Lữ và một số địa phương lân cận trong vùng Hòa An, góp phần làm sáng tỏhiện tượng “Kinh già hóa Thổ” Đồng thời, dựa trên nguồn tư liệu điền dã, tácgiả đã chứng minh Nà Lữ là một trong những vùng giao thoa văn hóa Tày – Việtđặc trưng và điển hình nhất
Luận văn được hoàn thành sẽ trở thành nguồn tài liệu tham khảo cho cácnhà nghiên cứu về Cao Bằng và sinh viên khi học bộ môn Lịch sử địa phương,Nhân học, Văn hóa học…
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết kuận, luận văn được chia thành 4 chương:
- Chương 1: Nà Lữ: Mấy nét khái quát về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và
xã hội Chương này tập trung làm rõ duyên cách và vị trí địa lý phường Nà Lữ
cũng như nguồn gốc dân cư và quá trình tộc người diễn ra ở đây trong giai đoạn
từ thế kỷ IX đến giữa thế kỷ XIX
- Chương 2: Quá trình lịch sử Chương này làm rõ lịch sử Nà Lữ từ thời
nguyên thủy cho đến giữa thế kỷ XIX, nhằm cung cấp những hiểu biết cơ bản vềnhững biến động chính trị, xã hội đã xảy ra ở vùng đất này
- Chương 3: Đời sống kinh tế phường Nà Lữ Chương này tập trung phân
tích địa bạ đầu thời Nguyễn, nhằm làm rõ chế độ sở hữu ruộng đất phường Nà
Lữ, đồng thời phác họa mô hình kinh tế truyền thống của phường Nà Lữ
- Chương 4: Đời sống văn hóa phường Nà Lữ Chương này tập trung
nghiên cứu đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của cư dân địa phương, từ đólàm rõ sự giao thoa văn hóa Tày – Việt trong lịch sử
Trang 10CHƯƠNG 1
NÀ LỮ: MẤY NÉT KHÁI QUÁT VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÝ,
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI 1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Nà Lữ là một cánh đồng cổ của Cao Bằng, đã xuất hiện trong truyền thuyết
Pú Lương Quân – câu truyện kể về cuộc sống nguyên thủy của người Tày cổ.
Trong các thư tịch trước thế kỷ XIX, hầu như không có tư liệu nói về diên cáchcủa Nà Lữ
Đầu thế kỷ XIX, theo tư liệu địa bạ, phường Nà Lữ là một đơn vị hànhchính tương đương cấp xã, thuộc tổng Hà Đàm, châu Thạch Lâm, trấn CaoBằng, nay là một bộ phận của xã Hoàng Tung, huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng,cách Thị xã 10km về hướng Đông Nam và cách Thị trấn Nước Hai 6km vềhướng Tây Bắc Theo Địa bạ Gia Long 4 (1805), phường Nà Lữ “Đông cậnMạnh Tuyền xã địa phận lấy trung giang làm giới; Tây gần Phúc Tăng xã địaphận, lấy suối Hội Tùng làm giới; Nam gần Hà Hoàng xã, lấy Pàn Chân xứ làmgiới; Bắc giáp Cối Khê xã, lấy Chiêu Bình lãnh thổ sơn làm giới” [125] Sau cảicách hành chính Minh Mệnh, địa giới các xã cũng có ít nhiều thay đổi Theo địa
bạ Minh Mệnh 21 (1840), phường Nà Lữ “Đông cận Cầu Lâm, Vu Thuỷ xã, lấybán giang làm giới, lại gần Xuân Lĩnh xã, Tha Yến bán giang làm giới; Tây gầnPhúc Tăng xã, lấy bán khê Hội Tùng làm giới; Nam gần xã Hà Đàm, lấy PànChân xứ làm giới, lại gần Cối Khê xã, lấy Lãnh Chung, Chiêu Bình làm giới;Bắc giáp Thọ Cương, lấy trung hà làm giới” [126] Như vậy, về đại thể, địa giớiphường Nà Lữ vẫn được giữ nguyên Song có lẽ người chép địa bạ Minh Mệnh
21 đã có sự nhầm lẫn: xã Cối Khê thực chất nằm ở phía Bắc Nà Lữ, gianh giới làđèo Bình, nay là làng Mã Quan thuộc xã Hồng Việt; xã Thọ Cương chính là khuvực Đà Lạn (xã Bế Triều) ở về phía Đông Bắc, lấy sông Bằng làm gianh giới.Đến thời Đồng Khánh, địa giới Nà Lữ về cơ bản vẫn được giữ nguyên, nhưng đãtrở thành đơn vị hành chính xã [89, tr.659]
Trang 11Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, xã Nà Lữ gồm 16 bản: Nà Lữ, Làng Đền,Đoóng Mậy, Chân Khắc Thiệu, Nà Riềm, Nà Thắng, Bản Giài, Khau Luông, Bản
Kế, Bản Nông, Hoằng Chuông, Hoằng Gioòng, Nà Đồng, Nà Nhâm, Bó Lếch[40, tr.187] Qua khảo sát thực tế địa phương, kết hợp với tài liệu trên, chúng tôithấy, địa vực phường Nà Lữ đầu thế kỷ XIX bao gồm 9/14 xóm của xã HoàngTung hiện nay là: xóm Làng Đền, Nà Lữ, Bản Giài, Nà Riềm, Khau Luông, BóLếch, Bản Chạp, Bến Đò, Kế Nông Các xóm này nằm về phía Đông của xã, giápsông Bằng
Nà Lữ là cách gọi theo tiếng Việt, biến âm từ tiếng Tày cổ “Nà Lậc” màthành “Nà Lậc” nghĩa là ruộng sâu, lầy thụt Theo các cụ già địa phương kể lại,
Nà Lữ ngày xưa là một vùng đất trũng ven sông, quanh làng Nà Lữ đã có 12giếng nước tự nhiên Nhiều khu ruộng cao của Hoàng Tung hiện nay xưa là đầmlầy như khu Nà Ó (ruộng cây sậy) (nay thuộc Bản Chạp) Đầu thế kỷ XX, nhândân mới khai phá vùng Nà Ó, cải tạo thành ruộng lúa Hơn nữa, những địa danh
có tiền tố “ao” nay đã trở thành ruộng cao, dùng để cày cấy như Ao Quan, Ao
Cả, Ao Xe, Thâm Rạng (Ao voi) Nà Lữ còn có tên gọi là Nà Lự hay Na Lữ.Đây là các cách phát âm khác của cư dân địa phương và các vùng lân cận Cótên gọi là Nà Lự bởi trong phát âm của người Tày không có dấu ngã, nên những
từ có dấu đó nhiều khi chuyển thành dấu nặng
Nà Lữ nằm ở trung tâm khu vực lòng máng sông Bằng (cánh đồng Hoà Anhiện nay), có độ cao trung bình so với mặt nước biển là 250 - 350m Do nằmgiữa hai dãy núi đá vôi Bảo Lạc - Tắp Ná và Lục Khu Hà Quảng - Trà Lĩnh, ởgiữa có sông Bằng chảy qua, nên Nà Lữ cũng như khu vực Hoà An có một vùngđất rộng rãi với những cánh đồng phì nhiêu nằm xen với đồi núi
Đồi núi ở Nà Lữ nằm trong dãy núi đất bắt nguồn “từ xã Triều Vũ huyệnNguyên Bình chạy đến núi Thiên Mã (núi đất) xã Phúc Tăng, tản đi các xã Phúc
Cơ, Hà Đàm, Nà Lữ, An Ninh rồi hết, dài khoảng 20 dặm” [89, tr.661] Vì thế, ở
Nà Lữ núi đất là chủ yếu, chiếm khoảng 20% diện tích tự nhiên của vùng, tạothành những rừng cây um tùm, rậm rạp, cung cấp cho cư dân địa phương nhiềulâm sản Các loại gỗ quý như lim, táu, nghiến, lát sả kài, cáng lò, bồ đề dùng
Trang 12để làm nhà cửa và các vật dụng gia đình; các loại cây hương liệu và thuốc quýnhư kim mao cẩu tích, sa nhân, hà thủ ô, tam thất, mộc nhĩ, nấm hương, ; cácloại rau, thực phẩm như măng, rau ngót rừng, rau dển, củ nâu, củ chàm Mây,tre, vầu, nứa, trúc thì nhiều vô kể, không chỉ có ở rừng mà còn mọc dọc theo
bờ sông Bằng và các khe suối Rừng Nà Lữ còn là nơi sinh sống của nhiều loàiđộng vật như hươu, nai, hổ, báo, lợn lòi, tê tê, sóc, cầy,
Nà Lữ nằm trong đới địa chất sông Hiến, được hình thành cách đây khoảng
26 - 30 triệu năm Đới sông Hiến nằm giữa đứt gãy sông Năng và đứt gãy CaoBằng - Tiên Yên Trong đới có một đường đứt gãy dài chạy theo hướng TâyĐông, qua vùng núi Phya Oắc nối liền từ Nguyên Bình đến Hoà An Đường đứtgãy này có đá trầm tích lục nguyên phun trào và trầm tích của hồ Nêôgen Do đó,trong lòng đất của đới sông Hiến, đặc biệt là khu vực Nguyên Bình, Hoà An,Thạch An có nhiều khoáng sản quý như vàng, thiếc, đồng, sắt, ti tan Nà Lữ có
mỏ sắt ở xóm Bó Lếch (giếng sắt)
Hệ thống sông suối của Nà Lữ dày đặc, đảm bảo nguồn nước tưới để pháttriển nghề trồng lúa Bằng Giang là con sông lớn nhất của tỉnh, bắt nguồn TrungQuốc, qua huyện Hà Quảng, “chảy về phía đông qua xã Nhượng Bạn và AnNinh, lại chảy về phía đông nam qua các xã Cối Khê, Thọ Cương, Cầu Lâm, Nà
Lữ và Vu Thuỷ” [67, tr.415], đến thành Mục Mã hợp lưu với sông Hiến, sôngCổn, rồi xuôi về Quảng Hoà, sang Long Châu (Trung Quốc) Sông Bằng chảyqua địa phận Nà Lữ dài khoảng 3km “rộng 13 trượng 8 thước, sâu 5 thước” [89,tr.661], vừa cung cấp nguồn nước dồi dào cho các cánh đồng ở Nà Lữ, vừa thuậnlợi cho thuyền bè qua lại
Ngoài ra, Nà Lữ có nhiều suối, chiếm 7/11 con suối của xã Hoàng Tung, hầuhết bắt nguồn từ đồi núi phía Tây Nam, chảy qua các khe núi và cánh đồng ra sôngBằng như Khuổi Quan, Khuổi Lủng, Khuổi Cườm, Khuổi Luông, Khuổi Nặm,Suối Thiềng, suối Thơi Suối của Nà Lữ nhỏ, dốc, nước chảy xiết, mỗi khi trời mưa
to, nước lên rất nhanh và thường ứ lại từ 3 đến 5 ngày sau mới rút hết [89, tr.657].Sông suối ở Nà Lữ không chỉ đem lại nguồn nước cho sinh hoạt và sản xuất mà còn
Trang 13cung cấp cho cư dân một lượng không nhỏ thuỷ sản như tôm, cá dầm xanh, cá chép, ba ba, rùa
Trong lịch sử, Nà Lữ đã từng đóng vai trò là kinh đô, là trung tâm chính trịcủa một vùng nên giao thông rất thuận lợi, có cả đường bộ và đường thuỷ Sách
Đồng Khánh địa dư chí có nhắc đến một con đường nhỏ đi từ phủ lỵ Hoà An
(tức là Cao Bình, xã Hưng Đạo hiện nay) theo hướng Tây Nam qua các xã Nà
Lữ, Lân Chỉ (huyện Thạch Lâm), các xã Gia Bằng, Bằng Đức (huyện NguyênBình) đến xã Vân Tòng giáp giới huyện Cảm Hoá (tỉnh Thái Nguyên) [89,tr.658] Nà Lữ còn nhiều đường mòn, có thể sử dụng những phương tiện thô sơnhư ngựa, xe trâu nối liền các bản với nhau, các bản với rừng và đồng ruộng.Nhiều con đường đã được nhân dân cải tạo thành đường lớn, ô tô có thể vàođược như đường nối liền từ Làng Đền, Nà Lữ qua Bến Đò, Bản Chạp, Kế Nông,
Bó Lếch, đến Bản Tấn có một đường đi Quốc lộ 3; một đường đi Hào Lịch, đếnLam Sơn (xã Hồng Việt) lại có một đường qua cầu Hoằng Bó lên Thị trấn NướcHai, một đường đi Minh Tâm, Nguyên Bình
Nà Lữ nằm ở khu vực trung tâm cánh đồng Hòa An, lại có sông Bằng chảyqua nên cũng được coi là một trong những đầu mối giao thông về đường thuỷ,thuận tiện cho việc thông thương với các địa phương trong tỉnh và với TrungQuốc Trên con sông này, những chiếc thuyền mành và bè mảng thường xuyênchuyên chở khách du lịch và thương nhân đi lại buôn bán giữa Trung Quốc vàCao Bằng [135, tr.181] Thương nhân người Hoa có thể đi thuyền từ Long Châu(Trung Quốc) sang buôn bán ở các chợ dọc sông Bằng Qua khảo sát thực tế chothấy, Nà Lữ từng có 3 bến đò (thuộc các xóm Làng Đền, Nà Lữ và Bến Đò) Từđây, người dân địa phương có thể đi thuyền mảng lên buôn bán ở Háng Cáp(Nước Hai), Nà Giàng (Hà Quảng), Mỏ Sắt (xã Dân Chủ), có thể sang phố CaoBình (Háng Shéng), hoặc xuôi xuống Mục Mã cũng như các chợ miền Đông CaoBằng, thậm chí sang tận Long Châu (Trung Quốc) Tuy nhiên, sông Bằng thường
bị cạn nước vào mùa đông, và lòng sông luôn ẩn chứa những ghềnh đá nguyhiểm vào mùa hè [135, tr.181] Do đó, càng về sau, giao thông đường thủy càngmất vai trò của mình trong việc thông thương với Trung Quốc
Trang 14Khí hậu Nà Lữ cũng như Cao Bằng đều mang những đặc điểm chung khíhậu miền Bắc nhiệt đới gió mùa Do điều kiện cảnh quan quy định nên khí hậu ở
đây mang tính tiểu vùng rõ rệt Nguyễn Trãi đã dẫn lời trong sách Ác thuỷ ký
rằng thiên hạ có 29 xứ nước độc thì Cao Bằng chiếm cả 4 xứ là châu Thạch Lâm,Quảng Nguyên, Thượng, Hạ Lang [98, tr.240-241] Ở Nà Lữ, “mùa xuân còn rét,mùa hè mưa nhiều, mùa thu rất nóng, mùa đông rất lạnh… có lam chướng” [67,tr.406] Cụ thể là: “Đất liền vùng chân rừng, nhiều sương mù chướng khí, mặttrời lên cao 2, 3 trượng sương núi mới tan, từ thu đông đến mùa xuân đều nhưthế Mùa xuân nhiều gió đông bắc, tháng 3 trời còn rét Tháng 4 thời tiết ấm dần.Tháng 5, 6 nắng nóng, mưa nhiều, sông suối dâng tràn, sau mưa từ 3 đến 5 ngàymới rút hết Tháng 7, 8 lui nóng, đêm đến lạnh dần Tháng 9, 10 trời thường âm
u Tháng 11, 12 gió bắc, rét đậm, thỉnh thoảng có mưa tuyết Nhưng bốn mùakhông có gió bão” [89, tr.657]
Như vậy, ở Nà Lữ một năm vẫn có hai mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từtháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 20 - 220C Vào mùa lạnh, nhiệt độ trungbình giảm xuống dưới 160C Lạnh nhất trong năm là tháng 11, 12, nhiệt độ trungbình tháng xuống tới 13 - 140C, có năm nhiệt độ xuống dưới 00C, thường kèmtheo sương muối Nhưng mùa đông không phải là một chuỗi thời gian rét liêntục mà có xen kẽ những ngày ấm áp do gió đông mang lại Nhiệt độ tối cao trongmùa lạnh có thể đạt tới 28 - 290C Nhưng nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêmrất lớn Ban ngày, trời quang, nắng ấm, nhiệt độ lên khá cao nhưng ban đêmgiảm xuống rất thấp, biên độ trung bình ngày từ 8 -100C, nhất là vào thời giangiao mùa [6, tr.12-13] Vì thế, vào khoảng tháng 3, 4 và tháng 7-8 (âm lịch),người dân Nà Lữ đêm ngủ vẫn phải đắp chăn bông Người dân thường có câuca: “Bươn chất dân rẻt rẻt - Bươn pét dân rịu rịu” (tức là tháng 7 mới chớm rét,tháng 8 đã thấy lạnh buốt) Vào mùa nóng, nhiệt độ thấp nhất là 250C, cao nhất
có thể lên tới 370C Thời gian nóng nhất trong năm là tháng 5, tháng 6
Do ở xa biển, nên lượng mưa trung bình hàng năm của Nà Lữ đạt từ 1300 1500mm Song lượng mưa không phân bố đều trong các tháng, mùa mưa chỉ kéo
Trang 15-dài trong vòng 5 tháng nhưng tập trung tới 70 - 80% tổng lượng mưa của năm.Thời gian mưa nhiều nhất là tháng 6, tháng 7, lượng mưa trung bình tháng cóthể lên tới 300mm Những tháng mùa khô thì khác hẳn, lượng mưa chỉ đạt từ 4 -50mm Trong thời gian này thường xảy ra hạn hán trầm trọng, có khi 4 tuần liềnkhông có mưa Ví dụ vào tháng 2, 3 năm 1962 ở Hoà An có tới 53 ngày liềnkhông mưa gây ra nạn hạn hán kéo dài [6, tr.31-32] Thỉnh thoảng ở Nà Lữ cũngxuất hiện những thiên tai khác như sương muối, mưa đá gây ảnh hưởngkhông nhỏ đến sản xuất.
Ở Nà Lữ, độ ẩm tương đối cao, trung bình từ 75 - 85% Độ ẩm có thể giảmxuống dưới 30%, nhất là vào khoảng tháng 12 và tháng 1 Nhưng sang thời kỳmưa phùn vào tháng 2, 3 độ ẩm có thể đạt tới hơn 90%
Khí hậu trên đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống sinh hoạt và sảnxuất của cư dân “Ruộng đất khô rắn xấu xa, chỉ cấy được vụ mùa, không có vụchiêm, tháng 4 cấy, tháng 8, tháng 9 thu hoạch, nếu cấy hơi muộn đến cuối mùathu khí hậu giá lạnh, lúa không trổ bông được mà bị chết khô” [67, tr.406-407].Song, so với các vùng khác của Cao Bằng thì Nà Lữ là một nơi tương đối thuậnlợi để phát triển sản xuất nông nghiệp
Đất ở Nà Lữ chủ yếu là đất phù sa được bồi đắp bởi sông Bằng và đất mùntrên núi nên rất thuận lợi cho cây lúa nước phát triển Tuy nhiên, đất ở đây khôngđược màu mỡ như vùng đồng bằng Theo Địa bạ thì tổng diện tích cấy trồng củaphường Nà Lữ năm 1805 là 344 mẫu 7 sào 3 tấc và đến năm 1840 nhờ khaihoang mà tăng lên 347 mẫu 1 sào 13 thước 3 tấc, song hoàn toàn là ruộng hạng 2
và hạng 3, trong đó ruộng hạng 3 chiếm 56,7%
Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên như trên, Nà Lữ có thể phát triển mộtnền kinh tế toàn diện: nông - lâm - ngư nghiệp và công thương, trong đó nônglâm nghiệp được coi là thế mạnh
1.2 Dân cư và dân tộc
Khi xét về dân cư và thành phần dân tộc, chúng tôi không chỉ bó hẹp trongđịa phận của Nà Lữ từ thế kỷ IX đến giữa thế kỷ XIX mà mở rộng ra toàn xãHoàng Tung hiện nay nhằm nhìn nhận về khu vực này một cách tổng thể Bởi lẽ,
Trang 16trong quá trình phát triển, dân số ngày càng tăng, nhiều dòng họ ban đầu sinhsống ở làng Nà Lữ, do khai hoang, cải tạo đất đai để cấy trồng đã chuyển ra ởgần những khu ruộng của mình tạo thành các bản mới, hoặc di cư sang nhữngbản làng khác.
Xã Hoàng Tung hiện có 5 dân tộc anh em cùng chung sống là Tày, Nùng,Kinh, Mông, Dao với 798 hộ, 3265 nhân khẩu, được phân bố cụ thể như sau:
Bảng 1.1: Thành phần các dân tộc trong xã Hoàng Tung, huyện Hòa An
Pú Lương Quân, hiện vẫn được lưu truyền rộng rãi ở địa phương Truyền thuyết
kể về sự xuất hiện và cuộc sống nguyên thuỷ của người Tày cổ ở Cao Bằng màtrung tâm là cánh đồng Hoà An Nà Lữ (Nà Lự) chính là một trong những cánhđồng của người Tày cổ đã được nhắc đến trong truyền thuyết này [80, tr.12].Đặc biệt, qua nghiên cứu địa danh tại khu vực Nà Lữ cho thấy, từ tên xã cho đếntên xóm, bản, sông, suối, núi, đồi, ruộng đồng… hầu hết là tiếng Tày, chiếm hơn80% Điều đó chứng tỏ rằng, Nà Lữ là nơi cư trú lâu đời và liên tục của các tộcngười thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái, chủ yếu là người Tày
Trải qua quá trình lịch sử, với nhiều biến động chính trị, bên cạnh một vàidòng họ Tày bản địa, lớp cư dân mới đã xuất hiện Người Tày ở Hoàng Tunghiện nay hầu hết có gốc Việt, theo kiểu mà người ta thường gọi là “Kinh già hoáThổ” Với vị trí địa lý thuận lợi, lại từng là kinh đô, trung tâm chính trị của vùng,
Trang 1721
Trang 18nên phường Nà Lữ đã tiếp nhận dòng người Kinh từ dưới xuôi lên từ rất sớm,
có thể bắt đầu từ thế kỷ XI, với sự kiện vua quan nhà Lý đem quân lên dẹp
“loạn” Nùng Tồn Phúc và Nùng Trí Cao Nhưng có lẽ, lúc này cư dân của Nà
Lữ chưa bị xáo trộn nhiều Phải đến những thế kỷ XV, XVI, XVII, cư dân Nà Lữmới có biến động mạnh trong dân cư, dòng người Kinh từ dưới xuôi lên ở lạisinh sống, lập gia đình rất đông Một môtip chung là chàng trai người Việt, lấy
cô gái Tày, con cháu lớn dần chịu ảnh hưởng của văn hóa, phong tục tập quán
người Tày do mẹ truyền dạy Lâu dần, họ tự nhận mình là người Tày Trong Cao
Bằng tạp chí nhật tập, Bế Huỳnh đã chia người Thổ (người Tày) thành bốn loại
là Thổ ty (con cháu công thần triều Lê được phân phong thế tập cai quản ở đây),
Phụ Đạo (người Tày bản địa được triều đình phong làm phụ đạo), Thổ trước(dân Tày bản địa) và Biến Thổ (người ở dưới đồng bằng hoặc đi việc vua, đi dạyhọc mà tới, dân tứ xứ đến buôn bán cùng con cháu bề tôi nhà Mạc, những ngườiphò giúp Tây Sơn an trí ở đây …) [36, tr.2] Hiện nay, gia phả của các dòng họđều phản ánh hiện tượng này
Vào thế kỷ XV, vua Lê Thái Tổ đem quân lên đánh Bế Khắc Thiệu - một vịtướng của người Tày đã có công trong cuộc kháng chiến chống quân Minh Sử
cũ chép “Thành Nà Lữ từ khi Thái Tổ nhà Lê lên đánh Bế Khắc Thiệu, đóng lại
ở thành ấy, sau làm điện để thờ sống, sai dân làng ấy phải quét dọn điện ấy” [22,tr.48] Không chỉ lập sinh từ, vua Lê còn cho hai võ tướng là Lê Tuân, Lê Tải ở lại,đóng trong thành Nà Lữ, trông coi trấn ải Cao Bằng Gia phả dòng họ Lê ở NàGiưởng (xã Hồng Việt) và Nà Lữ (xã Hoàng Tung) còn ghi rõ Lê Vĩnh Tải, ngườiThanh Hóa theo Lê Lợi khởi nghĩa chống Minh giành thắng lợi, được phong tước,đặt phủ tại Bắc Ninh Năm 1430, hai ông theo vua Lê Thái Tổ lên đánh Bế KhắcThiệu, sau đó được lệnh ở lại trấn giữ vùng Cao Bằng Trên hoành phi bàn thờ họ
Lê còn khắc: “Nguyên tự Bắc Ninh phù ngự giá” [31] Ban đầu họ Lê ở Nà Lữ,nhưng khi nhà Mạc thất thủ ở Thăng Long, lên Cao Bằng, định đô
ở Nà Lữ (sau mở rộng sang Cao Bình) vào cuối thế kỷ XVI đã đẩy dòng họ nàysang tận Nà Giưởng, sát chân dãy núi Thiên Mã (Lam Sơn ngày nay) Lúc này,
Nà Lữ lại được bổ sung thêm một lớp cư dân mới thuộc dòng dõi con cháu,quan quân của nhà Mạc
Trang 19Sau 85 năm đóng đô ở Cao Bình Nà Lữ, năm 1677, nhà Mạc bị quân Lê Trịnh đánh bại Con cháu nhà Mạc phải đổi họ và phần lớn chạy đi nơi khác sinhsống như dòng họ Ma, Mạc ở Minh Tâm (Nguyên Bình), họ Mông ở Đức Hồng,Phong Châu (huyện Trùng Khánh), họ Ma ở Chí Thảo (Quảng Uyên) Một bộphận nhỏ con cháu nhà Mạc lấy họ mẹ là họ Phạm ở lại sinh sống tại Nà Lữ Lớp
-cư dân mới được hình thành chủ yếu quan quân nhà Lê - Trịnh Gia phả dòng họHoàng ở Lam Sơn (Hồng Việt) và Nà Lữ (Hoàng Tung) ghi rõ: “Nguồn gốc ông
tổ nguyên là trí thức ở Gia Miêu trang, thuộc huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung,trấn Thanh Hoa Vào thời Lê triều, ông tổ đầu tiên của ta nhậm chức Quan trấn
Vũ Định, được truyền đời thế tập mà cai quản Về sau, nhân vì nhà Mạc, nhàTrịnh tranh giành nhau gây loạn, tổ tiên ta cụ Hoàng Triều Hoa, Hoàng TriềuNinh, phụng mệnh vua Lê lên Cao Bằng đánh dẹp nhà Mạc; đánh thắng đượcvua Lê phong đất ở Phúc Tăng làm Thái ấp, cho lấy dân 7 xã xung quanh vùngthái ấp làm binh đinh canh điền và phục dịch, vinh thăng tước Phúc Quận Công,chức Tổng trấn Cao Bằng Cụ Hoa sáng nghiệp ở Phúc Tăng, cụ Ninh sángnghiệp ở Nà Lữ” [32] Cụ Hoàng Triều Ninh đã quản lĩnh đội quân ở lại Nà Lữ
Là những người lính, từng chiến đấu vào sinh ra tử nên tính cách của người dân
Nà Lữ mạnh mẽ Trong vùng Hòa An vẫn lưu truyền câu: “Anh hùng Na Lữ, haychữ Phúc Tăng” Những người lính ấy đã dựng nhà, lấy vợ người Tày và sinhcon đẻ cái Từ đó hình thành những dòng họ Tày gốc Kinh như họ NguyễnTrọng gốc ở Thanh Hóa; họ Bùi, Đàm, Nguyễn Khánh ở Nam Định … Vì “Kinhgià hoá Thổ” nên họ thường dùng song ngữ Tày – Việt và dân quanh vùng vẫngọi là “Keo pha Nà Lữ”
Từ cuối thế kỷ XVII trở đi, cư dân Tày ở Nà Lữ không có nhiều biến độnglớn Về căn bản, người Tày ở xã Hoàng Tung hiện nay đều có gốc Kinh
1.2.2 Dân tộc Nùng
Về nguồn gốc của tộc danh Nùng rất có thể bắt nguồn từ dòng họ Nùng,một trong 4 dòng họ có thế lực lớn (Nùng, Hoàng, Chu, Vi) ở vùng Tả và HữuGiang tức miền đất thuộc Cao Bằng và Nam Quảng Tây (Trung Quốc) Sau khicuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao (vào thế kỷ XI) chống lại nhà Tống bị thất bại,nhiều người thuộc dòng họ Nùng đã chạy theo Nùng Trí Cao vào vùng Đặc Ma(Vân Nam, Trung Quốc) hoặc chạy trốn vào rừng hoặc đổi thành họ Nông để
Trang 20tránh sự khủng bố của vương triều Tống Bế Huỳnh khi nói về Nùng Trí Caoviết: “Hậu duệ của Nùng thị ngày nay trong tỉnh hạt không còn Duy truyền rằng,nghe nói thời kỳ chiến tranh giữa nhà Trần với nhà Nguyên, có cháu tằng tôn củaNùng Trí Cao tên là Hùng Công, từ tỉnh Vân Nam của Bắc quốc dắt gia quyếnngầm trở về nước ta lập nghiệp ở Bảo Lạc, tức là hậu duệ của Trí Cao” [38,tr.68] Song ông cũng nghi vấn về điều này Hiện nay, dòng họ Nông ở Bảo Lạcvẫn truyền đời lại mình là con cháu của Nùng Trí Cao và viết thành cuốn gia phảcủa dòng họ Nông (họ Nùng) bắt đầu từ đời Nông Dân Phú [29] Rất có thể,cùng với tiến trình lịch sử tiếp diễn về sau, từ tên gọi tộc họ đã chuyển hoá thànhtộc danh để chỉ tộc người sinh sống trên địa bàn lãnh thổ họ Nùng trước kia (tức
là Cao Bằng và một vài tỉnh Đông Bắc của nước ta) Như vậy, vào khoảng thờigian từ thế kỷ VIII cho đến thế kỷ XI, ở Nà Lữ đã có tộc người Nùng sinh sống.Sau sự biến Nùng Trí Cao, họ đã dần hoà nhập vào cộng đồng Tày địa phương,trở thành những người Tày bản địa Bởi, hai tộc người Tày và Nùng có chungnguồn gốc lịch sử, chung hệ ngôn ngữ và có văn hoá về cơ bản giống nhau, nênrất dễ diễn ra quá trình hòa hợp tộc người
Trong khi đó, ở bên kia biên giới sau ngày nước Cộng hoà Nhân dânTrung Hoa thành lập, tộc người Nùng đã hợp nhất vào cộng đồng người Choang
và tộc danh Nùng để chỉ bộ phận người Choang ở các khu vực Tây và Tây NamQuảng Tây, Trung Quốc như Bình Quả, Đô An, Mục Biên, Đức Bảo và cácvùng Đông Nam Vân Nam như Văn Sơn cùng một số vùng thuộc vùng biên giớiTrung- Việt thuộc tỉnh Quảng Tây và Vân Nam Tộc người Nùng ở Việt Namngày nay là bộ phận người Nùng ở bên kia biên giới nhập cư sang Ở Cao Bằng,
“ngoài người Nùng Mấn và Nùng Vảng là người bản địa vốn có, còn lại đều làloại hai ba trăm năm hoặc năm sáu mươi năm trước mới từ phương bắc di cưxuống đây, ở lẫn lộn với người Thổ, người Nùng bản địa Họ khai khẩn đất đai
mà canh tác nộp thuế nên đều trở thành người Nùng bản địa” [36, tr.3] Thực ra,các nhóm Nùng sang nước ta sớm nhất là cách ngày nay khoảng từ 300- 400năm, cũng có nhóm mới sang được mấy đời và ngày nay vẫn còn giữ được mốiquan hệ họ hàng với người đồng tộc ở bên kia biên giới
Cả tỉnh Cao Bằng hiện nay có 13 nhóm Nùng khác nhau nhưng ở xãHoàng Tung chỉ có một nhóm Nùng duy nhất là Nùng Giang Theo sử cũ, nhóm
Trang 21Nùng Giang còn gọi là Nùng Giang Viện, là tộc người Nùng ở châu Quy Thuận(Trung Quốc) di cư sang và cư trú chủ yếu ở Hà Quảng và Thượng Lang (TrùngKhánh hiện nay) [36, tr.3] Qua khảo sát thực tế địa phương cho thấy, ngườiNùng xã Hoàng Tung là ở huyện Hà Quảng mới di cư về từ năm 1979 Khi chiếntranh biên giới nổ ra, đồng bào chạy giặc, khi hoà bình thì ở lại Hoàng Tung vànhiều xã khác thuộc khu vực cánh đồng Hoà An, khai hoang phục hoá, cấy trồng
và sinh cơ lập nghiệp Họ cư trú rải rác, xen lẫn với người Tày và người Kinh,nhưng tập trung đông nhất là ở Nà Riềm Hiện nay, dân số của tộc người Nùng ởHoàng Tung chiếm 10 % tổng dân số của xã, đứng thứ hai sau tộc người Tày
1.2.3 Dân tộc Kinh
Như trên đã nói, người Kinh di cư lên sinh sống ở Nà Lữ từ rất sớm Họ cóthể là những người dân nghèo lên miền núi kiếm ăn, có thể là quan quân triềuđình phong kiến, hoặc thầy đồ, thầy địa lý, hay những người buôn bán Quá trình
di cư của người Kinh đến Nà Lữ diễn ra liên tục trong lịch sử, có lúc lẻ tẻ, có lúc
ồ ạt Qua nhiều đời, họ đã dần hoà nhập vào cộng đồng Tày địa phương, trở thành những người Tày gốc Kinh
Các hộ người Kinh ở Hoàng Tung hiện nay chủ yếu quê ở Hưng Yên, HàTây… lên vào năm 1963, khi Trung ương Đảng phát động phong trào nhân dânmiền xuôi lên tham gia phát triển kinh tế vùng núi Đặc biệt, từ năm 2000, khi nhàmáy khai thác quặng được mở trên địa phận xã Hoàng Tung, số lượng người Kinh
đã tăng lên nhanh chóng, chiếm vị trí thứ ba với 6,46% dân số toàn xã
Xã Hoàng Tung hiện nay còn có 2 hộ người Mông và 1 hộ người Dao Những hộ này đều mới chuyển cư đến
Tiểu kết
Nằm trong thung lũng Hòa An, Nà Lữ là nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợicho sản xuất và sinh hoạt của con người Mặc dù ruộng đất chỉ thuộc hạng 2 vàhạng 3 nhưng do nằm giáp sông Bằng, lại có hệ thống suối dày đặc, đảm bảonguồn nước tưới thường xuyên nên ruộng đất của Nà Lữ được khai phá sớm, ít
bị bỏ hoang Nà Lữ không chỉ có ruộng đồng mà còn có núi rừng, sông suối,thuận lợi cho phát triển kinh tế nông nghiệp đa dạng kết hợp với kinh tế khai thác
tự nhiên
Trang 22Nhờ có điều kiện tự nhiên thuận lợi, Nà Lữ sớm trở thành nơi tập trung đôngdân cư và là trung tâm chính trị, quân sự của Cao Bằng trong quá khứ Trải qua cácgiai đoạn lịch sử, thành phần dân cư, dân tộc của Nà Lữ có nhiều xáo trộn Trước
sự kiện vua Lê Thái Tổ mang quân lên đánh Bế Khắc Thiệu, dân cư địa phươnghầu hết là các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái, trong đó người Tày là chủyếu Nhưng từ thế kỷ XV, đặc biệt là thế kỷ XVI – XVII, trải qua những biến độngchính trị, cư dân gốc còn lại rất ít, thay vào đó là lớp cư dân mới, chủ yếu là ngườiKinh từ miền xuôi lên theo nhà Mạc và nhà Lê – Trịnh Do cùng sinh sống lâu dàitrong một địa vực nhất định mà quá trình hòa hợp giữa tộc người Kinh và tộc ngườiTày ở đây đã diễn ra và trở thành điển hình cho hiện tượng “Kinh già hóa Thổ”.Song, dù là người bản địa hay di cư từ nơi khác đến, có nguồn gốc, phong tục vàngôn ngữ khác nhau nhưng khi tới địa phương sinh sống đều thương yêu đùm bọclẫn nhau, đoàn kết gắn bó, cùng đấu tranh chống thiên tai, giặc giã, xây dựng quêhương mới ngày càng giàu đẹp hơn
Trang 23CHƯƠNG 2
QUÁ TRÌNH LỊCH SỬ 2.1 Nà Lữ từ khởi nguồn đến căn cứ quân sự của nhà Đường thế kỷ IX
Lịch sử Nà Lữ gắn liền với sự xuất hiện của con người trên đất Hoà An
-Cao Bằng Truyền thuyết Pú Lương Quân góp phần khẳng định rằng Hòa An là
nơi phát tích của người Tày cổ Báo Luông (trai to) và Sao Cải (gái lớn) đã gặpnhau, lấy nhau và chung sống trong Ngườm Ngả (tức Ngườm Bốc ở Bản Nưa,
xã Hồng Việt, huyện Hòa An), sinh ra một trăm người con Qua lao động, họ đãtìm ra lửa, phát minh ra nghề nông lúa nước, thuần dưỡng và chăn nuôi gia súc,dần dần mở rộng địa bàn cư trú xuống gần những cánh đồng Quá trình ấy gắnliền với những địa danh Tày cổ của Hòa An như Nà Đuốc, Nà Loòng, Nà Niền,
Nà Mỏ, Nà Lữ, Vỏ Má, Lậu Pất, Khau Ma, Nà Vài, Nà Mò, Chông Mu [80,tr.12]… Hơn nữa, các địa danh thuộc Nà Lữ hầu hết được gọi theo tiếng Tày đãchứng tỏ đây là nơi cư trú lâu đời và liên tục của các tộc người thuộc nhóm ngônngữ Tày – Thái, chủ yếu là người Tày
Cốt lõi lịch sử của truyền thuyết này phần nào đã được chứng minh quanhững di chỉ khảo cổ học ở khu vực Hòa An Năm 1995, Bảo tàng Cao Bằng đãthu lượm ngẫu nhiên một công cụ được chế tác từ đá cuội quarzite, có chiều dài14cm, rộng 13cm và dày 6,3cm ở bên bờ sông Hiến thuộc thôn Hào Lịch, xãHoàng Tung Đây là một tropper được ghè hai nhát lớn từ hai phía để tạo thànhmũi nhọn [91, tr.96-97] Những công cụ này thuộc dạng của văn hoá Sơn Vi hangđộng Tây Bắc [79, tr.28] Dấu tích của nền văn hoá Hoà Bình - Bắc Sơn cũngđược tìm thấy nhiều ở các huyện của Cao Bằng Ngay tại Ngườm Bốc, cách Nà
Lữ không xa, các nhà khảo cổ học đã đào thám sát, thu được một khối trầm tíchCanxi Cácbonnat có chứa hóa thạch động vật và vỏ ốc suối khá lớn hầu hết đãđược chặt đít, 11 hiện vật bằng đá Qua nghiên cứu, các nhà khảo cổ khẳng địnhđây là một di tích cư trú của người nguyên thủy sống vào giai đoạn chuyển tiếpgiữa thời đại đá cũ và đá mới, tương đương với giai đoạn văn hóa Hòa Bình sớm[18, tr.3-5]
Những vết tích thời đại đá ở khu vực này tuy còn rải rác nhưng cũng cho tathấy sự phát triển liên tục của các nền văn hoá khảo cổ tại Cao Bằng… Mặc dùchưa tìm được tầng văn hóa nhưng rõ ràng, người nguyên thủy đã có mặt ở Hòa
An và có thể xem giai đoạn “Pú Luông Quân” là giai đoạn xã hội thị tộc nguyên
thủy của người Tày - Thái mà sử cũ gọi là bộ lạc Tây Âu
Trang 24Trải qua lao động và sáng tạo, xã hội loài người ngày càng phát triển Vào giaiđoạn hậu kỳ đá mới, sơ kỳ kim khí, công xã thị tộc dần tan rã, công xã nông thôn
dần được hình thành Truyền thuyết Cẩu chủa cheng vùa của đồng bào Tày Cao
Bằng phản ánh một xã hội phụ hệ đang mạnh bước tới ngưỡng cửa văn minh, của
sự hình thành nhà nước “Nước Nam Cương” nằm ở phía Nam Trung Quốc vàvùng đất Cao Bằng ngày nay, giáp với nước Văn Lang, do Thục Chế - cha của ThụcPhán - làm vua, kinh đô đặt ở Nam Bình (tức Cao Bình thuộc xã Hưng Đạo, Hòa
An hiện nay) Đó là một liên minh bộ lạc gồm mười mường, mỗi chúa cai quản một
xứ nhưng lệ thuộc vào mường trung tâm của Thục Chế, cứ ba năm tiến cống mộtlần Khi Thục Chế chết, Thục Phán còn nhỏ tuổi, các chúa mường kéo quân đến vâykinh thành đòi nhường ngôi Thục Phán tổ chức cuộc thi tài giữa các chúa, ai thắngcuộc sẽ nhường ngôi cho Bằng tài trí thông minh của mình, Thục Phán đã khéo tìmcách làm cho các chúa phải thua cuộc, giữ vững ngôi vị “Nước Nam Cương” ngàycàng cường thịnh, nhân lúc Văn Lang suy yếu đã đánh chiếm, lập lên nước Âu Lạc,đóng đô ở Cổ Loa [53, tr.54] Theo truyền thuyết, Nà Lữ thuộc khu vực kinh đô của
“nước Nam Cương” lúc bấy giờ
Nhiều học giả còn hoài nghi về nguồn gốc của An Dương Vương ThụcPhán nhưng đa số nghiêng về giả thuyết Thục Phán quê ở Cao Bằng và cho rằngông là thủ lĩnh một liên minh bộ lạc người Tây Âu (người Tày cổ) ở vùng núiphía Bắc Việt Nam và Nam Quảng Tây (Trung Quốc), trong đó Hòa An – CaoBằng là trung tâm Nhân dân vùng Cổ Loa đến nay vẫn tương truyền rằng An
Dương Vương là “một tù trưởng miền núi” và trong lễ hội đền Cổ Loa, lễ vật
không thể thiếu ở Đền Thượng là bánh chưng tròn và dài, thường gọi là bánhchưng Tày [62, tr.508] Tuy vậy, những chứng tích vật chất, tư liệu khảo cổ học
ở Cao Bằng chưa ủng hộ cho quan điểm này Ngoài những chiếc trống đồngĐông Sơn loại muộn phát hiện ngẫu nhiên ở khu vực Bảo Lạc, Trùng Khánh, divật đồng thau ở Cao Bằng rất hiếm Song, sự có mặt của một vài mũi lao đồng vàrìu đồng mang phong cách Đông Sơn được tìm thấy ở khu vực Cao Bình - Hòa
An đã bước đầu khẳng định sự tồn tại của nền văn hóa này trên đất Cao Bằng.Như vậy, trong buổi đầu lịch sử, Nà Lữ nằm trong khu vực trung tâm củavùng Tày - Thái ở phía Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc Từ nơi đây, conngười đã xuất hiện, sinh sôi nảy nở, lao động và sáng tạo, từng bước tiến vào xãhội văn minh
Trang 25Sau khi nước Âu Lạc của An Dương Vương thất bại, nước ta rơi vào tayTriệu Đà, mở đầu thời kỳ Bắc thuộc trong lịch sử Việt Nam Nhưng đối với miềnđất trung tâm của “nước” Nam Cương cũ, phong kiến Trung Quốc không kiểm soátđược trực tiếp, mà duy trì những châu “ki mi” (ràng buộc) do tù trưởng tự lập ở khuvực Cao Bằng Từ thời Hán đến Lục triều, thư tịch Trung Quốc đều chép vùng này
là của người Lý, Lão Đến thời Đường (thế kỷ VI -IX), nhân dân vùng Tả Giang,Hữu Giang (tức là vùng Quảng Tây, Quảng Đông), vùng biên giới phía Bắc vàĐông Bắc của Cao Bằng được gọi là Tây Nguyên Man, và cũng được gọi là ngườiLão Vua Đường Thái Tông lên ngôi, muốn kiểm soát chặt chẽ hơn vùng Tả, HữuGiang nên “ở Quế Tây lập 36 châu “ki mi”, ở An Nam đô hộ phủ lập 41 châu “kimi” Từ đấy nhân dân Tày - Nùng dần chịu sự thống trị của phong kiến Hán tộc
Do đó, các thủ lĩnh Tày - Nùng ở Tây Nguyên lần lượt nổi dậy phản kháng, nổitiếng nhất là các cuộc nổi dậy của Hoàng động” [115, tr.80] Cũng trong thời giannày, các bộ tộc ở phía Nam Quý Châu, Vân Nam (Trung Quốc) đã nổi dậy chốngách đô hộ của phong kiến Hán, lập thành một quốc gia riêng vào khoảng giữa thế kỷVIII, mà sử sách gọi là nước Nam Chiếu Tháng 12 năm thứ 12 niên hiệu Đại Trungđời Tuyên Tông (năm 858), “thổ Man đem quân Nam Chiếu đến đánh úp bản phủ,
hạ được phủ thành” Lý Hộ lúc bấy giờ là Đô hộ An Nam đã bỏ chạy về Vũ Châu Đến năm thứ 2 niên hiệu Hàm Thông (năm 861), Lý Hộ “chiêu tập thổ binh đánh lũMan, lấy lại được phủ thành” [114, tr.34] Nhưng sau đó, quân Nam Chiếu lại quaytrở lại cướp phá, đến năm thứ 4 niên hiệu Hàm Thông (863) “Nam Chiếu lại đem 5vạn quân Man tới đánh, hạ được phủ thành” [114, tr.35] Năm 864, vua Đường ÝTông liền cử Cao Biền làm “An Nam đô hộ phủ Kinh lược Chiêu thảo sứ, đượcgiao phó hết quân lính của Trương Nhân đem đi” [114, tr.35-36] Tháng 9 năm đó,Cao Biền thống suất quân đội tấn công quân Nam Chiếu, “chém được tướng Man
là Đoàn Thiên Tù và chém quân thổ Man tới 3 vạn đầu” [114, tr.36] Sau khi đánhthắng quân Nam Chiếu, nhà Đường bỏ Đô hộ phủ và đặt Tĩnh Hải quân, phong CaoBiền làm Tiết độ sứ Tháng 4 niên hiệu Hàm Thông 7 (năm 866), “Biền sai đắp
thành Đại La và đắp hai thành Nà Lữ, Phục Hoà” [22, tr.48-49] Theo Cao Bằng thủ hiến liệt phương danh, vào khoảng đời từ Tự Đức đến Thành Thái, có người ở các thành Nà Lữ, Phục Hòa cày cấy đào được các đồ dao đồng, đấu đồng mấy mươi
món, đều có niên hiệu Hàm Thông thứ 7” [99, tr.118] Sự kiện này phần nào chứng
tỏ vai trò quan trọng của Nà Lữ trong vùng biên cương của Tổ quốc vào thế kỷ VIII-
Trang 26IX Thành Nà Lữ được xây dựng như thế nào? Hiện nay, chúng tôi chưa tìmđược nguồn tài liệu cụ thể Dấu tích của thành ở khu vực Làng Đền (Nà Lữ)không còn nguyên vẹn, nó đã bị xáo trộn và bị nhiều dấu tích của đời sau phủlên Để hiểu rõ về thành cổ Nà Lữ, chúng ta phải chờ đợi các cuộc khai quật khảo
cổ học Với sự ra đời của thành này, Nà Lữ đã trở thành trung tâm của vùng CaoBằng, hay nói cách khác là “châu trị châu Quảng Nguyên”
Các dòng họ có thế lực lớn cai quản vùng Cao Bằng lúc bấy giờ là họ
Hoàng, Nùng, Chu, Vi , đều là họ của người Tày - Nùng Theo Tân Đường
thư, Tây Nguyên Man truyện, miền Hữu Giang thuộc phạm vi cai quản của họ
Nùng Theo đó, từ đầu thế kỷ IX, thế lực của họ Nùng ở Cao Bằng và miền Tả
Giang rất mạnh, có các thủ lĩnh như Nùng Kim Ý, Nùng Kim Lặc, Nùng Kim
Trừng, Nùng Trọng Vũ… [115, tr.80] Cao Bằng thực lục cho biết dòng họ Nùng
là “người châu Quảng Uyên (nay là phủ Cao Bằng), nhà nối đời làm thủ lĩnh, cónhiều binh quyền, ở nước Việt từ đời Đường trở về đây, hùng cứ đất QuảngNguyên, cùng với họ Hoàng, họ Chu thống lĩnh đến tám phần mười, mà họNùng lại hùng mạnh, cứ như tằm ăn rỗi, thôn tính dần dần hết” [23, tr.2] Đếnthế kỷ X, nhà Nam Hán phong Nùng Dân Phú làm thủ lĩnh mười châu ở QuảngNguyên, sau đó nhà Tống phong chức Kiểm hiệu Tư không [92, tr.179] Điều đóchứng tỏ, họ Nùng có thế lực lớn, được các triều đại phong kiến Trung Quốc,nhất là từ đời Đường, giao cho trấn trị vùng Cao Bằng, lấy Nà Lữ làm trị sở.Như vậy, ngay từ buổi đầu lịch sử, Nà Lữ đã đóng vai trò là trung tâm củaCao Bằng Vào thế kỷ IX, Nà Lữ đã trở thành căn cứ quân sự quan trọng của nhàĐường để chống lại quân Nam Chiếu và được đặt dưới sự cai quản của các thủlĩnh họ Nùng
2.2 Trung tâm cát cứ của Nùng Tồn Phúc, Nùng Trí Cao thế kỷ XI
Thế kỷ XI, Cao Bằng vẫn tồn tại phổ biến những bộ lạc Tày cổ cư trú trongmột địa vực nhất định, thường gọi là khe, động như động Xuân Phách, động LôiHỏa,…còn mang tính độc lập do các tù trưởng nắm giữ Vùng cư trú của các tộcngười Tày - Nùng - Choang ở phía Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc đóng vai trònhư vùng đệm, vùng trung gian và chịu sức ép từ hai phía là nhà Tống (TrungQuốc) và nhà Lý (Việt Nam) Đường biên giới lúc đó chưa được phân định nhưthời cận hiện đại mà vẫn dựa trên biên giới tộc người Sau 1000 năm Bắc thuộc,biên giới Việt - Trung gần như bị xoá bỏ trong phân định các khu vực hành chínhđương thời “Về phía Tây Cao Bằng, dân Man sống thành từng động không hẳn
Trang 27thuộc về ai, cho nên biên giới có thể nói là chưa có”, “các bộ lạc phía tây hầunhư độc lập, ai mạnh kẻ nấy quản” [33, tr.85] Lúc này, cả hai quốc gia (cụ thể lànhà Lý và nhà Tống) đều muốn mở rộng và khẳng định quyền thống trị củamình.
Nhà Lý ra sức củng cố vùng biên viễn bằng những chính sách và biện phápvừa mềm mỏng, vừa kiên quyết Một mặt, nhà Lý đoàn kết và tranh thủ các tùtrưởng miền núi bằng cách phong chức tước, gả công chúa cho họ nhằm thắtchặt quan hệ giữa triều đình và các tộc người thiểu số Mặt khác, vua quan nhà
Lý khôn khéo đấu tranh làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn chia rẽ các tùtrưởng, các tộc người thiểu số với triều đình Đại Việt, kiên quyết dập tắt cáccuộc nổi dậy có xu hướng cát cứ địa phương Nhiều động Tày - Nùng đã quythuận, nộp cống cho triều Lý như châu Vạn Nhai (Vũ Nhai, Thái Nguyên doNùng Toàn Lộc làm thủ lĩnh), châu Vũ Lặc (thuộc Cao Bằng do Nùng ĐươngĐạo làm thủ lĩnh), châu Thảng Do (thuộc Cao Bằng do Nùng Tồn Phúc làm thủlĩnh)… Vua Lý Thái Tông đã khẳng định “họ Nùng nối đời giữ bờ cõi vẫnthường nộp đồ cống” [50, tr.260] Đó là hành động có ý nghĩa tích cực của cácthủ lĩnh họ Nùng ở châu Quảng Nguyên
Tuy nhiên, trong xu thế phát triển của lịch sử, khi nhà nước trung ương chưathể quản lý chặt chẽ vùng biên viễn thì các thủ lĩnh họ Nùng cùng nhân dân Tày –Nùng – Choang ở Cao Bằng và phía Nam tỉnh Quảng Tây cũng muốn nổi dậy, xâydựng một quốc gia độc lập, ngang hàng với Đại Tống và Đại Việt Năm 1038, NùngTồn Phúc đã họp các động chung quanh, “tiếm xưng là Chiêu Thánh Hoàng Đế, lập
A Nùng là Minh Đức Hoàng hậu, phong cho con là Trí Thông làm Nam NhaVương, đổi châu ấy là nước Trường Sinh, sửa soạn binh giáp, đắp thành kiên cố để
tự giữ, không nộp cống xưng thần nữa” [50, tr.260] Đại Nam nhất thống chí chép:
“Nùng Tồn Phúc nổi dậy chiếm thành Nà Lữ làm phản, có tu bổ lại” [67, tr.417].
Như vậy, kinh đô của nước Trường Sinh đặt tại Nà Lữ
Việc dựng nước Trường Sinh của Nùng Tồn Phúc đã làm nhà Lý lo sợ,đích thân vua Lý Thái Tông đem quân lên đánh dẹp nhằm dập tắt xu hướng cát
cứ ly khai ở vùng biên viễn Điều đó chứng tỏ, châu Quảng Nguyên mà trungtâm là Nà Lữ rất được nhà Lý coi trọng và ngay từ đầu đã khẳng định đượcquyền thống trị ở đây Vua Lý bắt được Tồn Phúc và con trai là Trí Thông, còn
vợ là A Nùng và con trai thứ là Trí Cao trốn thoát Khi thắng trận trở về, vua “sai
Trang 28san phẳng cả thành trì của Tồn Phúc, chiêu an vỗ về nhân dân” [77, tr.316].
Thành Nà Lữ vừa được Nùng Tồn Phúc gia cố đã bị phá huỷ hoàn toàn
Ba năm sau (1041), con thứ của Tồn Phúc là Nùng Trí Cao cùng với mẹ là ANùng lại nổi dậy, chiếm châu Thảng Do, dựng nước Đại Lịch “Vua sai tướng điđánh, bắt sống được Trí Cao đem về kinh sư Vua thương tình cha là Tồn Phúc
và anh là Trí Thông đều đã bị giết nên tha tội, cho giữ châu Quảng Nguyên như
cũ, lại thêm bốn động Lôi Hỏa, Bình, An, Bà và châu Tư Lang nữa” [50, tr.262].Tương truyền, Nùng Trí Cao được Lý Thái Tông cho ở lại Thăng Long ăn học 3năm Vua Lý đã tha tội cho Trí Cao, tiếp tục dùng ông để cai quản biên viễn vàlàm yên lòng dân biên giới vì nhà vua biết rõ họ Nùng có ảnh hưởng rất lớn ởkhu vực Cao Bằng Hơn nữa, vua Lý cũng muốn thông qua Nùng Trí Cao, tiếptục lôi kéo các khe động vùng biên viễn, thắt chặt mối quan hệ giữa các dân tộcbiên giới với Thăng Long, không để nhà Tống giành mất quyền thống trị ở đây.Tháng 9 năm 1043, vua Lý “sai Ngụy Trưng đến châu Quảng Nguyên ban choNùng Trí Cao đô ấn, phong làm Thái bảo” [50, tr.264] Tháng 12 năm sau, Tháibảo Nùng Trí Cao về chầu Điều đó chứng tỏ Nùng Trí Cao vẫn tiếp tục giữ lệtiến cống, thần phục nhà Lý, đồng thời việc ghi chép chu đáo đó cũng chứng tỏtriều đình rất coi trọng ông
Vốn dè chừng với họ Nùng nên vua Lý Thái Tông vừa dùng Trí Cao vừa canhchừng, để ý Năm 1048, Nùng Trí Cao vừa giữ động Vật Ác (thuộc đất Tống), vua
liền cho rằng ông làm phản và sai Quách Thịnh Dật (sách Việt sử lược chép là Quách Thịnh Ích) đi đánh, “Trí Cao phải hàng” Theo GS Trần Quốc Vượng, lần
này Trí Cao không đầu hàng nhà Lý mà ông đã bị thua trận, phải chạy sang đấtTống [114, tr.129] Vì thế, năm 1050, “Nùng Trí Cao giữ động Vật Dương ở châu
An Đức đất Tống, lấy động đó làm nước Nam Thiên, cải nguyên là Cảnh Thuỵ”[114, tr.87] Năm 1052, “Nùng Trí Cao làm phản, tiếm xưng là Nhân Huệ Hoàng
Đế, đặt quốc hiệu là Đại Nam, sang cướp đất Tống, phá trại Hoành Sơn, vây hãmcác châu Ung, Hoành, Quý, Đằng, Ngô, Khang, Đoan, Củng, Tầm rồi kéo đến vâythành Quảng Châu Lại vào Ung Châu, giết tướng tá của nhà Tống hơn 3000người” [50, tr.269] Thực ra đây là một cuộc tiến công kết hợp với nổi dậy, mà nổidậy là chủ yếu Bởi lẽ, lúc này nhà Tống đã suy yếu, chiến tranh liên miên, nhân dânvùng phía nam Trung Quốc bị bóc lột nặng nề Đó là nơi cư trú của các bộ tộc nửa
tự do (lúc lệ thuộc vào nhà Tống, lúc lại lệ thuộc vào nhà Lý) của người Nùng –Choang, vốn là một bộ phận của
Trang 29tộc người Tây Âu, của “nước Nam Cương” cũ Vì vậy, khi Nùng Trí Cao tiếncông vào, họ nhiệt liệt hưởng ứng, chỉ trong thời gian ngắn, lực lượng tăng lênđến vài vạn, các châu ở hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây hiện nay hầu như bịđánh bại hoàn toàn Vua tôi nhà Tống vô cùng lo sợ Khu mật sứ Địch Thanhdâng biểu xin đi đánh Do tình thế ngày càng bất lợi, Trí Cao sai Lương Châu vềThăng Long xin cứu viện Ngay lập tức, vua Lý xuống chiếu cử Vũ Nhĩ mang 2vạn quân lên hỗ trợ cho Trí Cao Nhưng khi quân cứu viện đến Nà Lữ thì quâncủa Trí Cao đã bị thua lớn ở Tổng Quỷ (Cách Linh, huyện Phục Hòa ngày nay).Trí Cao bị quân Tống truy đuổi đã cùng gia đình bỏ lại ấn Thái bảo trên nonSầm, rồi rút sang nước Đại Lý Sử cũ chép “người nước Đại Lý chém đầu TríCao bỏ vào hòm dâng vua Tống” [50, tr.270] Hiện nay các nhà nghiên cứu TháiLan, Ấn Độ, Trung Quốc đều cho Nùng Trí Cao là ông tổ của nhiều nhóm Tháiđang sinh sống ở Thái Lan, ở Assam (Ấn Độ), A Hom (Miến Điện), và nhómngười Choang, Đai ở Quảng Tây (Trung Quốc) Đây là một vấn đề cần đượcnghiên cứu thêm.
Khi nghe tin Nùng Trí Cao mất, “vua Lý cảm khái than, tiếc tài dũng lược cáithế Vả Trí Cao vốn căn bản ở đất Quảng Nguyên, sau khi bay đi mất, dân trongchâu hàm ơn đức của Trí Cao lập miếu phụng thờ Nhà Lý đặc chiếu ban phong TríCao làm Khâu Sầm đại vương, đền ở thôn Bản Ngần, xã Tượng Lặc châu ThạchLâm, phong mẹ là A Nùng làm Bà Hoàng đại vương, đền tại thôn Phù Vạn, xã KimPha châu Thạch Lâm, hai đền ấy đều được phong thượng đẳng thần, xuân thu quốctế” [23, tr.8] Tiếp đó, các triều đại phong kiến đều sắc phong cho Nùng Trí Cao là
“Kỳ Sầm biên tái bảo quốc an dân phúc thần” Ghi nhớ công lao to lớn của ông,nhân dân địa phương đã dựng đền thờ ông ở nhiều nơi, kể cả ở Quảng Tây (TrungQuốc), nhưng miếu thờ lớn, mang tính cội nguồn được dựng ở Kỳ Sầm (Bản Ngần,
xã Vĩnh Quang, Hoà An), cách Nà Lữ không xa Điều đó cho thấy Nùng Trí Caokhông làm phản, chống lại nhà Lý như các sử gia phong kiến từng nói Việc nổi dậylập quốc của Nùng Tồn Phúc rồi Nùng Trí Cao, tuy không thành công nhưng cũngtạo cơ sở cho Lý Thường Kiệt thực hiện chủ trương “tiên phát chế nhân” trongcuộc kháng chiến chống Tống lần 2 (1075 - 1077)
Như vậy, vào thế kỷ XI, Nà Lữ tiếp tục đóng vai trò là trung tâm chính trịcủa châu Quảng Nguyên với sự thống lĩnh của họ Nùng Cư dân Nà Lữ thế kỷ X–XI chủ yếu là các tộc người Tày - Nùng Từ sau sự biến Nùng Tồn Phúc vàNùng Trí Cao, người Việt bắt đầu đặt chân đến Nà Lữ nói riêng và Cao Bằng nói
Trang 30chung, dù với lượng người rất nhỏ Sau khi vua Lý Thái Tông lên dẹp Nùng TồnPhúc có lẽ đã để lại một vài người thân tín ở đây để “chiêu an vỗ về dân chúng”.Hiện nay, chưa có tài liệu thư tịch nào nói đến sự xuất hiện của người Kinh ở Nà
Lữ thời Lý, nhưng theo tư liệu dân gian thì Nàng Cầm - vợ của Nùng Trí Cao làngười Kinh, con một vị quan họ Trần trong triều Lý [92, tr.18-19] Sau này, anh ruộtcủa bà tham gia trong cuộc tiến công của Nùng Trí Cao sang đất Tống, ông đã hisinh trong trận đánh ở Tổng Quỷ, nay vẫn còn đền thờ ở xã Cách Linh, huyện PhụcHoà Hơn nữa, khi quân của Vũ Nhĩ tiến lên Cao Bằng, đã đóng ở Nà Lữ một thờigian để bình ổn vùng biên viễn Trong một thời gian ngắn, dấu ấn của người Việtghi lại ở Nà Lữ không nhiều, cư dân bản địa vẫn chiếm đa phần nhưng sự giao thoavăn hoá Tày - Nùng - Việt ở đây đã bắt đầu diễn ra
Sau khi cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao thất bại, nhà Lý đã thu phục vùngCao Bằng, nhưng không đặt thành các lộ, phủ mà vẫn giữ các châu, động do tùtrưởng tự cai quản theo luật tục Chính quyền trung ương sử dụng chính sáchmềm mỏng như ban chức tước, gả công chúa, nhằm lôi kéo, ràng buộc họ.Sang thế kỷ XII, Nà Lữ nằm trong châu Thái Nguyên thuộc phủ Phú Lương dothủ lĩnh Dương Tự Minh cai quản Năm 1143, ông được vua Lý giao “cai quảnviệc công các khe động dọc theo biên giới về đường bộ” [50, tr.315] Theo tưliệu dân gian tại Cao Bằng, Dương Tự Minh được phong thực ấp ở phủ PhúBình (Thái Nguyên), phủ Bắc Bình (Cao Bằng) thuộc châu Thái Nguyên Ông đãtừng sinh sống ở vùng Đà Quận (xã Hưng Đạo) [22, tr.14] Hiện nay, ở Đà Quậnvẫn còn đền thờ Dương Tự Minh và chùa Viên Minh được xây dựng vào thời kỳ
đó Như vậy, mặc dù nhà Lý vẫn giữ nguyên các châu kimi nhưng đã từng bướcđặt vùng này vào hệ thống hành chính của triều đình
Sang thời Trần, về mặt tổ chức hành chính ở Nà Lữ không có gì thay đổi sovới triều Lý Sử cũ và các nguồn tư liệu thư tịch được biết cho đến nay khôngthấy có ghi chép gì về Nà Lữ trong thời kỳ Trần - Hồ
2.3 Quân thành thế kỷ XV
Năm 1407, quân Minh xâm lược Đại Việt Nhân dân Nà Lữ cùng nhân dâncác dân tộc Cao Bằng đứng lên chống trả quyết liệt Song sức giặc mạnh nêncuộc kháng chiến nhanh chóng bị thất bại Quân Minh đã chọn thành Nà Lữ làtrụ sở chính, đồng thời, đặt các đồn binh dọc các đường giao thông và những nơiđông dân như Đống Lân (xã Vu Thuỷ), Bác Khê, Gia Cung, Cốc Chủ, Háng Cáp(Nước Hai) , đồng thời thiết lập bộ máy cai trị Theo sự sắp xếp bộ máy hành
Trang 31chính của nhà Minh thì Nà Lữ thuộc đất huyện Thái Nguyên, phủ Thái Nguyên[98, tr.654] Chúng đào tạo một số thổ quan làm tay sai nhằm thực hiện chínhsách lấy người Việt trị người Việt Năm 1419, để tăng cường vai trò của bộ máyhành chính cấp địa phương, nhà Minh tiến hành tổ chức lại hệ thống xã, thôn.Theo đó, cứ 110 hộ lập thành 1 lý do Lý trưởng đứng đầu Dưới lý là giáp, mỗigiáp 10 hộ, do Giáp thủ đứng đầu Lý trưởng và Giáp thủ có nhiệm vụ thu thuếcho chính quyền đô hộ Chúng thi hành chính sách áp bức bóc lột hết sức tànbạo, cho quân cướp bóc thóc gạo, vơ vét tài sản của nhân dân, bắt trai trángtrong vùng làm thổ binh cho chúng, ai chống lại bị giết luôn, ai chạy trốn thì bắt
vợ con Phụ nữ có mang thì mổ bụng, trẻ con thì đem ra bờ ruộng chồng lên nhaurồi lấy cây nhọn xuyên qua lưng, để xác thối cho quạ rỉa Nhân dân khắp vùngoán thán, nổi dậy chống quân Minh dưới sự lãnh đạo của các thổ hào địaphương Họ tập hợp nhau trong các bản, mỗi khi có giặc đến thì chạy vào trongcác “Dẻ”, cho người canh gác và sẵn sàng chiến đấu “Dẻ” trong tiếng Tày làthành luỹ, nơi bảo vệ con người và tài sản
Cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất của nhân dân Cao Bằng chống ách đô hộ nhàMinh là khởi nghĩa của Bế Khắc Thiệu, trung tâm là cánh đồng Hòa An Bế KhắcThiệu quê ở xã Phù Dúng, tổng Phù Dúng, châu Thạch Lâm (nay thuộc HàQuảng, tỉnh Cao Bằng) Ông tổ của Bế Khắc Thiệu thuộc dòng dõi của NguyễnTrãi Khi gia đình Nguyễn Trãi bị chu di tam tộc, một người con trai của ông đãchạy lên Cao Bằng, dừng chân dạy học tại Áng Mò (xã Bắc Khê, tổng Xuất Tính,châu Thạch Lâm, nay là vùng Canh Tân, Minh Khai của huyện Thạch An) Ôngtrọ nhà họ Bế thuộc dòng dõi thổ tù lớn nhất vùng, sau được họ Bế gả con gáicho Theo tập tục của người Tày, nếu ăn sản nghiệp bên vợ thì phải mang họ vợ,hoặc mang hai họ (lấy họ vợ đặt trước họ mình) Từ đó, ông mang họ BếNguyễn Các thế hệ tiếp theo đổi dần ra các nhánh khác như Bế Khắc, Bế Ích,
Bế Hựu…[30]
Bế Khắc Thiệu là một hào trưởng, hay cứu giúp người nghèo nên đượcmọi người quý mến và kính trọng Ông thích ngao du, kết bạn với những người
có nghĩa khí Trong số những người bạn của ông, Nông Đắc Thái là người giỏi
võ nghệ, được tiên truyền cho cây nỏ thần bắn trăm phát trăm trúng, quê ở NàGiưởng, tổng Nhượng Bạn (nay là Hồng Việt, Hòa An) Hai ông đã cùng nhautập hợp lực lượng, chuẩn bị mọi mặt để khởi nghĩa chống quân Minh Bế KhắcThiệu được suy tôn làm tướng quân, Nông Đắc Thái là phó tướng Trong dân
Trang 32gian hiện nay vẫn còn lưu truyền câu ca “Khắc Thiệu vi vương, Đắc Thái vithần” Theo ý kiến của Nông Đắc Thái, Bế Khắc Thiệu dựng thành ở núi KhauPhước (Khau Phước – núi chim Khách) thuộc xã Cối Khê (nay là núi Bế KhắcThiệu thuộc Mã Quan, Hồng Việt, Hòa An) Đây là núi đất cao, từ trên đỉnh cóthể quan sát rất rõ toàn bộ khu vực cánh đồng Hòa An, lại nằm sát sông BằngGiang, sườn núi có mỏ nước tự nhiên, phía nam giáp ngay thành Nà Lữ, phía tây
là núi Khau Khấu, làng Kẻ Ngõa và dãy núi đá Liên Sơn trùng điệp Đóng quân
ở đây vừa thuận lợi về nguồn lương thực, vừa tiện cho việc quan sát, tiến đánhquân Minh cũng như đảm bảo rút lui an toàn khi cần thiết Hiện nay, trên núi BếKhắc Thiệu còn nhiều dấu tích như đường hào nối từ đỉnh núi xuống Đèo Bình,thông ra Nà Lữ và dọc bờ sông, chạy theo thung lũng để về dãy núi Liên Sơn(Lam Sơn) Trên đỉnh núi được san phẳng, tương truyền là nơi xây dựng doanhtrại Xung quanh còn nhiều địa danh lưu giữ dấu ấn của nghĩa quân Bế KhắcThiệu như Bàn Cờ (nơi quân lính vui chơi), Bến Lưu (nơi giữ nước cung cấpcho quân trong thành), Mã Quan (bến tắm ngựa) … đặc biệt là các “Dẻ” như DẻĐoóng, Dẻ Nghều, Dẻ Gụp (xã Hồng Việt); Dẻ Vủa, Dẻ Phai, Dẻ Chang, DẻKhau Khang, Dẻ Rào, Dẻ Phya Pán (xã Bình Long) Hệ thống các “Dẻ” nàygiúp cho nhân dân cũng như quân Bế Khắc Thiệu náu mình mỗi khi quân Minh
đi càn
Được sự ủng hộ của nhân dân trong vùng, nghĩa quân Bế Khắc Thiệu ngàycàng lớn mạnh, giành nhiều thắng lợi, tiêu biểu nhất là trận Nà Khuổi Theo tài liệuđịa phương, quân Minh có một vệ ở Nà Lữ nhưng không dám đánh đồn KhauPhước Bởi đường từ thành Nà Lữ lên núi Khau Phước dốc cao, khó đi, đườnghành quân lên chỉ có thể đi một người Năm 1426, quân Minh sau khi thất thủ ở đồnĐống Lân, Mục Mã đã co cụm lại ở Nà Lữ Chúng quyết định tiến công thànhKhau Phước từ phía Bắc theo con đường Nà Lữ đi Kẻ Trặng, lên Roỏng Nguổc,Bản Hào, Nà Khuôn, rồi tiến theo khe lũng nhỏ Nà Khuổi, đánh úp thành từ phíasau Biết được kế hoạch của địch, phó tướng Nông Đắc Thái đã chỉ huy quân phụckích ở hai sườn núi Nà Khuổi, quân Minh bị thất bại nặng nề Tướng giặc là TrìnhDương bị Nông Đắc Thái bắn vào mắt phải mà tử trận Cùng lúc ấy, một đội quâncủa Bế Khắc Thiệu theo hướng đông, dọc sông Bằng tấn công thành Nà Lữ [113,tr.158] Chỉ trong một ngày, nghĩa quân đã giải phóng cả khu vực Hoà An rộng lớn.Quân Minh ở các đồn khác nghe tin thành Nà Lữ bị hạ liền bỏ chạy Cao
Bằng hoàn toàn giải phóng Nhân dân trong vùng còn lưu truyền thơ rằng:
Trang 33“Núi Khắc Thiệu trời mây man mácSông Bằng Giang sóng bạc trùng trùngSơn kỳ thuỷ tụ một vùng
Xuất sinh tuấn kiệt anh hùng vô song”
Sau khi chiếm được thành Nà Lữ, Bế Khắc Thiệu cho tu sửa lại thành vàđóng quân ở đây
Trong quá trình khởi nghĩa, Bế Khắc Thiệu luôn tìm cách liên minh với cácnghĩa quân khác như nghĩa quân Nông Văn Lịch ở Lạng Sơn Khi nghe tincuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi nổ ra - là nơi hội tụ của nhiều tướng giỏiyêu nước, Bế Khắc Thiệu đã lặn lội vào Thanh Hoá tìm gặp và xin gia nhậpnghĩa quân Lam Sơn Hiện nay, chúng ta không rõ Bế Khắc Thiệu bắt đầu theo
Lê Lợi từ năm nào, chỉ biết ông có tên trong phái đoàn nghĩa quân Lam Sơn doBình Định vương cầm đầu trong Hội thề Đông Quan (10/12/1427) Tướng lĩnh
đi theo Lê Lợi là những nhân vật nổi tiếng như Trần Nguyên Hãn, Lưu NhânChú, Phạm Văn Xảo, Nguyễn Chích, Nguyễn Lý, Phạm Bôi, Bế Khắc Thiệu…
Sự có mặt của Bế Khắc Thiệu trong phái đoàn này cũng đủ nói lên vai trò to lớncủa ông trong cuộc kháng chiến chống Minh cũng như sự nhìn nhận đánh giácủa Lê Lợi đối với ông Khi Lê Lợi lên ngôi (1428), ông là một trong 26 ngườiđược phong tước Á hầu và mang quốc tính (Lê Khắc Thiệu) [41, tr.222]
Nhưng đến năm 1430, sử cũ chép “Tháng 11, vua đi đánh bọn nghịch tặc ởchâu Thạch Lâm, trấn Thái Nguyên là Bế Khắc Thiệu và Nông Đắc Thái Bấygiờ, Khắc Thiệu và Đắc Thái tranh nhau tự lập, nên phải đi đánh”… “tháng 2năm 1431, vua bắt được Bế Khắc Thiệu và Nông Đắc Thái đem về” [51, tr.305-
306] Sách Cương mục viết: “Tháng 2, mùa xuân Nhà vua tiến quân đến châu
Thạch Lâm, thắng trận: Khắc Thiệu phải chạy rồi chết; bắt được Đắc Thái Đem tội trạng của Khắc Thiệu và Đắc Thái báo cáo cho trong kinh đô và ngoài
các lộ đều biết” [77, tr.861] Cao Bằng tạp chí nguyệt tập ghi: “Tháng 2 năm thứ
4 Thái Tổ ngự giá thân chinh, bọn võ thần là Lê Tuân, Lê Tải theo quân tiến đếnthành Nà Lữ châu Thạch Lâm đại chiến với Khắc Thiệu, máu nhuộm đỏ cả longbào, chính tay chém Bế Khắc Thiệu ở núi Phya Tém” “Lại bắt được Đắc Tháiđem về kinh sư chém đầu” [38, tr.71] Vua Lê Thái Tổ còn tự mình làm bài thơkhắc trên núi Phya Tém (nay thuộc xã Bình Long, huyện Hoà An):
Phiên âm: Bất từ vạn lý chỉnh sư đồ
Duy dục biên phương xích tử tô,
Trang 34Thiên địa bất dung gian giản tại;
Cổ kim thuỳ xá bạn thần tru,Trung lương tự khả lương đa phúc;
Bạo bội chung nan bảo nhất khuĐái lệ bất di thần tử tiết
Danh thuỷ vạn cổ dữ sơn câuDịch nghĩa: Đường xa chẳng quản ngại ra quân,
Chỉ muốn biên phương cứu lấy dânTrời đất chẳng dung phường phản tặcXưa nay ai xá tội gian thần,
Trung lương ắt tự giành nhiều phúcBạn nghịch đành khôn giữ chiếc thânSông cạn đá mòn không đổi tiếtDanh cùng núi ấy vạn năm xuân [67, tr.418]
Sau khi thắng trận, vua Lê Thái Tổ đã cho lập sinh từ của mình ở cửa phíaĐông thành Nà Lữ, tựa lưng vào gò Long, nhìn ra sông Bằng để chiêu an, vỗ vềdân chúng và khẳng định sức mạnh cũng như uy thế của mình ở vùng đất này.Trước khi trở về, vua Lê Thái Tổ để lại một tấm áo bào và một thanh kiếm sắccho nhân dân thờ cúng [99, tr.118] Đồng thời, vua cử hai võ tướng là Lê Tuân
và Lê Tải ở lại trấn thủ thành Nà Lữ [38, tr.71], trở thành ông tổ của dòng họ Lê
ở xã Hoàng Tung và xã Hồng Việt (huyện Hoà An)
Về mặt hành chính, Lê Thái Tổ vẫn đặt Nà Lữ là một trong 174 xã củachâu Thái Nguyên, phủ Yên Bình, trấn Thái Nguyên [98, tr.240,654], nằm trongBắc Đạo Đến đời Lê Thánh Tông, đổi châu Thái Nguyên thành châu ThạchLâm, thừa tuyên Thái Nguyên (Năm 1469 đổi thành Ninh Sóc thừa tuyên) dophiên thần họ Bế thế tập cai quản [67, tr.403] Theo Nguyễn Văn Siêu, nămQuang Thuận thứ 10, định số phủ, huyện, châu cho 12 thừa tuyên Ninh Sóc lạigọi là Thái Nguyên, đặt thêm phủ Cao Bằng, đặt vệ Ninh Sóc Phủ Cao Bằnglúc bấy giờ thuộc thừa tuyên Thái Nguyên, gồm 4 châu: Thượng Lang, Hạ Lang,Thạch Lâm, Quảng Uyên [86, tr.148] Theo đó, Nà Lữ vẫn là một trong 92 xãcủa châu Thạch Lâm [86, tr.159] Năm 1499, Cao Bằng được tách ra làm mộttrấn riêng, từ đó, châu Thạch Lâm thuộc vào trấn Cao Bằng, đặt dưới sự quản lýcủa các phiên thần
2.4 Kinh đô nhà Mac cuối thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVII
Trang 35Cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, Nà Lữ một lần nữa được chọn làm kinh
đô của “non nước Cao Bằng” Năm 1592, khi thất thủ ở kinh thành Thăng Long,vua Mạc Kính Cung cùng hoàng tộc, quan lại đã chạy lên Cao Bằng, chọn đâylàm nơi cát cứ của chính quyền họ Mạc, đối trọng với triều đình Lê – Trịnh NhàMạc chọn Cao Bằng vì tương truyền trước đó, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêmkhi được vua Mạc Mậu Hợp hỏi về tương lai của nhà Mạc đã nói: “Cao Bằngtuy tiểu khả dung sổ thế” (nghĩa là đất Cao Bằng tuy nhỏ bé nhưng cũng dungthân được vài đời) [59, tr.114]
Theo Cao Bằng thủ hiến liệt phương danh, “đến đời Lê Thế Tông năm
Quang Hưng thứ 21 (1598), Mạc Kính Cung chiếm cứ Cao Bằng, ở trong thànhnày [thành Nà Lữ], xây dựng cung điện” [99, tr.118] Sau đó, do yêu cầu pháttriển, nhà Mạc mở rộng kinh đô sang bờ Bắc sông Bằng (khu vực Bản Phủ thuộcCao Bình ngày nay) Trải qua 85 năm, với ba đời vua Mạc (Mạc Kính Cung, MạcKính Khoan, Mạc Kính Vũ), vùng Nà Lữ đã mang một gương mặt mới, từngbước được đô thị hoá và trở thành “phường” cùng với phố Cao Bình
Ban đầu, Mạc Kính Cung đã chấn chỉnh tổ chức bộ máy quan lại Về đại thể,
mô hình tổ chức bộ máy nhà Mạc khi lên Cao Bằng vẫn được giữ nguyên như khicòn ở Thăng Long Những người tham gia vào bộ máy đều là quan lại cũ ủng hộnhà Mạc và một số nhân sĩ địa phương như Bế Văn Phụng, Nông Quỳnh Vân.Nguồn quan lại được bổ sung thường xuyên thông qua thi cử Trường thi được nhàMạc lập ở Bản Thảnh (tức Làng Thánh nay thuộc xã Hưng Đạo)
Với những hoạt động của vua quan và bộ máy triều đình nhà Mạc, Nà Lữ đãđóng vai trò kinh thành – quân thành – thị thành Điều đó được thể hiện trước hết
ở tên cấp hành chính của Nà Lữ là “phường” Yếu tố “thị” cũng được phát triểnmạnh để đáp ứng nhu cầu của hoàng cung, quan lại và một số lượng lớn binhlính đóng trong thành Hiện nay, nguồn tư liệu không cho phép chúng ta dựng lại
cụ thể, chi tiết về diện mạo phần thị cũng như tình hình phát triển thủ côngnghiệp và thương nghiệp của Nà Lữ Tuy nhiên, sự xuất hiện địa danh cánh đồngĐầu Chợ ở phía Tây Nam thành Nà Lữ và sự kiện năm 1724, chúa Trịnh hạ lệnhtriệt bỏ tuần ty Nà Lữ [43, tr.124] đã phần nào nói lên điều đó
Cùng với việc mở rộng kinh đô sang bờ tả sông Bằng, nhà Mạc đã cho xâydựng Bản Phủ (nơi vua làm việc), Đền Giao (nơi tế Trời Đất), Thiên Thanh(chiêm tinh), Đông Tầm (khu cung tần mỹ nữ ở), vườn Thượng Uyển, trường
Trang 36học ở Làng Thánh (nay là Bản Thảnh), … Nà Lữ trở thành quân thành kiên cốbảo vệ cho kinh đô từ phía Tây Nam.
Thành Nà Lữ thời nhà Mạc có hình tứ giác với tổng diện tích 37,5 ha PhíaĐông Bắc giáp sông Bằng, phía Tây Bắc giáp núi Bế Khắc Thiệu, phía ĐôngNam giáp cánh đồng Đầu Chợ và làng Nà Lữ, phía Tây Nam giáp khu Nà Thính,Tường Gạch Thành được sửa sang và xây bằng gạch vồ, người Tày địa phươnggọi là Gạch Vùa (gạch Vua) Qua khảo sát dấu tích gạch còn lại ta thấy, GạchVùa có màu xám, to và dầy, kích thước không đều nhau Những viên dùng đểxây tường thành thường có chiều dài 37cm, chiều rộng 16 cm và chiều cao 15
cm Những viên dùng để xây đền vua Lê thường có kích thước 37cm x 14cm x8cm Những viên gạch lát nền thường có kích thước 32cm x 23cm x 5 cm.Những viên gạch chạy chỉ thường có kích thước 21cm x 10cm x 4cm Các côngtrình kiến trúc trong thành đều được lợp bằng ngói máng Hiện nay, ở khu vựcphía Tây (nhân dân gọi là Tường Gạch) còn nhiều dấu tích lò gạch, lò ngói, lòvôi của nhà Mạc Lò ngói của nhà Mạc có hình trái cam với đường kính khoảng3m, chiều cao khoảng 3m và được làm chìm dưới lòng đất
Chân thành được xây dựng hoàn toàn bằng đá tảng cỡ lớn với nhiều kíchthước khác nhau: 79cm x 51cm x 54cm, hoặc 65cm x 33cm x 46 cm, có tảng cókích thước 93cm x 62cm x 30cm (hiện còn ở chân cổng thành phía Nam).Tương truyền, loại đá tảng này được khai thác ở xã Bình Long, huyện Hòa An
và vận chuyển bằng đường thủy (bè mảng) xuôi theo dòng sông Mãng đến cửaĐông thành Nà Lữ rồi cho quân chuyển lên để xây chân thành, cổng thành
Bên trong tường thành bằng gạch, nhà Mạc còn cho đắp tường đất thoaithoải để giữ và xây dựng hệ thống đường thành chạy xung quanh Đường thànhphía Đông chạy theo bờ sông Mãng dài 510m, mặt thành rộng 5m, hiện chỉ cònmột đoạn khoảng 200m là thành đất tương đối nguyên trạng, tường thành đấtbên trong có đoạn cao hơn đường thành 2m, bên ngoài bị đào bới không cònthành gạch Cửa Đông của thành thông ra bờ sông Mãng, thuộc khu vực cánhđồng cửa Đông (nay là phần đất của ông Hoàng Văn Hào, xóm làng Đền) Đây làcửa để vận chuyển hàng hoá bằng đường thuỷ từ Mỏ Sắt (huyện Hoà An) xuống,
từ Long Châu (Trung Quốc) và các huyện miền Đông lên Hiện nay cổng chỉ cònlại dấu tích
Đường thành phía Bắc dài 770 m Thành gạch nay không còn chỉ còn thànhđất và đường thành đã bị người dân phá để xây nhà, làm ruộng Cổng phía Bắc
Trang 37chưa xây xong, chủ yếu để thoát nước nên gọi là Cống Bắc Cống Bắc giáp vớiRoỏng Khoang thông ra Khau Phước (núi Bế Khắc Thiệu) – một đồn binh quantrọng của nhà Mạc để bảo vệ thành Nà Lữ và vùng kinh đô.
Đường thành phía Tây dài 570m, hiện nay chỉ còn thành đất Phía trong vàngoài thành nay vẫn còn dấu tích của các lò gạch, lò ngói và một ao rất lớn có từthời Mạc Cửa Tây giáp ruộng Nà Thính, Dọc Hồ, Khau Vũ và là cổng thoáthiểm để rút lui sang dãy Liên Sơn khi quân lính trong thành không kháng cự nổi.Hiện nay cổng thành hầu như không còn dấu vết
Đường thành phía Nam dài 490m nhưng nay chỉ còn thành đất khoảng200m, mặt đường thành rộng gần 5m, tường đất bên trong cao hơn 2m Cửa Namgiáp cánh đồng Đầu Chợ, có hình bán nguyệt Theo các cụ già kể lại, đây là cửachính của thành vì trước đây, đường vào thành phải đi qua Chợ Tương truyền cửanày được xây bằng gạch, hình vòm có hoa văn trang trí đẹp, cánh cổng làm bằng gỗnghiến kiên cố Cửa rộng 5m, chân cổng được xây bằng một loại đá tảng to, phẳng.Hiện nay, hình thù móng cổng và đá kè chân cổng vẫn còn nguyên
Các công trình kiến trúc trong thành hiện nay đã bị phá hủy hoàn toàn, trừđền Vua Lê Do đó, việc khôi phục lại mô hình kiến trúc bên trong thành là rấtkhó khăn Trong thành có bốn gò đất cao, tương truyền từ thời Mạc, mỗi gò đấtnày được đặt bằng tên của một con vật linh thiêng là Long, Ly, Quy, Phượng GòLong (Con Rồng) là gò cao nằm ở phía Đông, là nơi có đền Vua Lê Gò Ly (ConHổ) là gò to, cao và rộng nhất với diện tích khoảng 5ha Đứng trên gò Ly có thểquan sát toàn bộ khu vực xung quanh Có thể, nơi đây đã từng có trạm gác, đàiquan sát của quân Mạc Gò Quy (con Rùa) có diện tích khoảng 1ha, nằm ở phíaTây Nam của thành Gò Phượng (hay còn gọi là dải đồi Phượng) có diện tíchkhoảng 3 ha nằm ở chính giữa thành chạy dọc theo đường thành phía Đông,trước mặt là ruộng lúa, phía sau là vườn cây Dọc thung lũng nối từ đường thànhNam trước kia có một đường đi lát gạch thành bậc, nối thẳng vào khu Bàn Cờ ởtrước dải đồi Phượng nhưng nay đường gạch này đã bị phá Ở phía Bắc giáp gòPhượng là vườn đạn với diện tích khoảng 2,5ha Đây là kho chứa đạn đá hìnhtròn, được mài tương đối nhẵn, gồm nhiều loại to, nhỏ khác nhau: Loại to cóđường kính 9cm, nặng 1,2kg; loại nhỏ có đường kính 3,5cm, nặng 0,08kg
Trong 85 năm, ngoài việc củng cố và xây lại thành Nà Lữ, nhà Mạc còn để lạirất nhiều dấu ấn ở vùng đất Nà Lữ thông qua các địa danh đến nay vẫn tồn tại, như:
Trang 38- Thâm Rạng (Bến Voi) nay thuộc địa phận Bản Giài, phía Bắc giáp Nà Ảng
- Nà Hẩu, phía Nam giáp Nà Củ, phía Tây giáp ruộng, phía Đông giáp Đồng Vua.Tương truyền đây là nơi quan quân nhà Mạc đưa voi ra tắm và uống nước
- Tổng Vùa: là một cánh đồng rộng, phẳng nằm ở khu vực giáp xóm Bến
Đò và Bản Giài Đây là cánh đồng của nhà vua, sản phẩm làm ra nhằm phục vụcho nhu cầu lương thực của hoàng cung
- Cầu Vẽ (Cầu Vệ) nối làng Nà Lữ với xóm Bến Đò, cầu rộng 3m, dài 6mđược xây hình vòm bằng gạch vồ Hiện nay cầu đã bị hỏng, nhân dân xây dựnglại bằng bê tông cốt thép
- Ao Xe (bãi đỗ xe ngựa) ở gần cầu Vệ, giáp sông Bằng thuộc địa phậnlàng Nà Lữ Theo người dân địa phương thì bãi xe này đã có từ trước, khi nhàMạc lên đã mở rộng thêm, diện tích khoảng 3 ha Bên cạnh Ao Xe có VườnMây, là nơi cảnh đẹp, các quan dừng chân ngắm cảnh
- Ao Cả: thuộc làng Nà Lữ nằm ở phía tây cánh đồng Đầu Chợ, là ao thả cácủa quan quân nhà Mạc Bây giờ là ruộng lúa của dân, có diện tích gần 1 ha.Hiện nay vẫn còn một đoạn bờ ao dài 10m cao 1m
- Ao Quan: thuộc làng Nà Lữ, nằm sát đường liên xã Hoàng Tung - Hồng
Việt, diện tích khoảng 5000m2 Đây là ao dành riêng cho các quan trong triều vãn cảnh, hiện nay là ruộng lúa
- Đầu Chợ: nơi họp chợ thời nhà Mạc, diện tích khoảng 1,5 ha, là khu đất rộng bằng phẳng, hiện nay là ruộng lúa
- Ao Sen: thuộc xứ đồng Bó Thuông nằm ở phía Tây Nam thành với diện tích khoảng 1 ha Đây là nơi các quan vãn cảnh, hiện nay là ruộng lúa
- Bến đua thuyền: Nằm trên dòng sông Bằng, đoạn qua thành Nà Lữ
Tương truyền vào dịp đầu xuân năm mới tại đây có tổ chức đua thuyền
- Cầu Thơi nằm ở phía Tây Bắc thành Nà Lữ thuộc làng Đền, cầu được bắcqua một con suối, có hình vòm xây bằng gạch vồ (gạch vùa) Qua thời gian, cầu
đã bị hỏng và được thay bằng cầu tre
- Suối Đông Thảo, Vườn Quýt, Vườn Tọa (nay thuộc xóm Bản Chạp) là nơi vua thường đến thư giãn, ngắm cảnh
Thành Nà Lữ đã trở thành một căn cứ quân sự quan trọng để bảo vệ chínhquyền họ Mạc Xung quanh thành Nà Lữ, nhà Mạc cho xây dựng một hệ thốngcác đồn bao bọc bên ngoài như ở phía Nam có Vỏ Dẻ - Vò Đuổn – Đống Lân;phía Bắc có đại đồn Bế Khắc Thiệu; phía Đông có đại đồn Khau Lừa; phía Tây
Trang 39có đại đồn Bản Tấn – Vò Giưởng - Khau Lêu – Khau Luông… Sau này, nhàMạc xây dựng một phần kinh đô sang Cao Bình là có ý lợi dụng sông Bằng làmchiến hào quan trọng, cản trở bước tiến công của quân Lê – Trịnh.
Nhà Mạc còn chuẩn bị một hậu cứ an toàn để ẩn náu mỗi khi kinh đô gặp khókhăn Từ thành Nà Lữ có đường qua dãy núi Thiên Mã (nay là dãy Lam Sơn) vàohậu cứ của nhà Mạc ở Lũng Tàn (nay thuộc xã Minh Tâm) Dấu vết còn để lại rấtnhiều qua những đoạn thành bao bằng gạch và địa danh ở khu vực xã Hồng Việthiện nay Lũng Tàn là một thung lũng khoảng 3,5 ha được bao bọc xung quanh lànúi đá cao, giữa những chỏm núi, nhà Mạc đều đắp thành bao Đường vào lũng này
có hai lối: một đi qua hai Lũng Làng và Lũng Cút và một đi qua Lũng Chang nhưngphải vượt đèo Kéo Sải rất nguy hiểm Đây là một vùng hậu cứ an toàn, vừa đảm bảonguồn lương thực, vừa đảm bảo “lui có thể giữ, tiến có thể đánh” Cửa vào LũngLàng có một ngọn núi gọi là “vọng quan đài” (núi có một hang thông hai bên, từtrên hang có thể quan sát cả cánh đồng rộng trước mặt, kiểm soát được vùng trungtâm của xã Minh Tâm) Mỗi khi rút vào đây, nhà Mạc thường bố trí quân tập trung
ở Lũng Làng và Lũng Cút, triều đình ở trong Lũng Tàn Đường vào Lũng Tàn làkhe núi đá, chỉ có thể đi hàng một Khi có địch cần báo động, quân ở vòng ngoài sẽđốt lửa báo hiệu cho phía trong chuẩn bị để rút hoặc tiến đánh, người dân gọi nơi đó
là “Phja Đén” (Núi Đèn) Từ hậu cứ này có thể rút chạy về khu vực Thành Công –nơi người Dao sinh sống rất đông Hiện nay, dấu vết nhà Mạc còn rất rõ ở MinhTâm qua các địa danh như Nà Xả Keo, Phja Đén, Lũng Tàn, Tổng Ngần, NàTường, Nà Thiên Háng,…
Để chuẩn bị lực lượng, ngoài bộ phận binh lính từ xuôi lên, nhà Mạc đã chomột bộ phận người Dao, Ngạn… từ phía nam Trung Quốc sang sinh sống Ở khuvực cửa ngõ Tây Nam của Cao Bằng, người Dao đến sinh sống ở đây đã được
12 đời, họ được vua Mạc cho khai khẩn đất hoang canh tác, không cần nộp thuế,nhưng mỗi khi quân Lê – Trịnh tiến đến, phải đốt lửa báo cho triều đình Có khitriều đình còn lấy ruộng của người Tày bản địa cấp cho họ để họ đi lính và chếtạo vũ khí phục vụ nhà Mạc Người Dao xã Thành Công (huyện Nguyên Bình)hiện nay có khu ruộng Tày, là chân ruộng tốt, tương đối bằng phẳng Người Dao
ởNguyên Bình thuộc nhóm Dao Tiền, là những người biết làm thuốc súng, thuốc
nổ, biết rèn sắt và chế tạo vũ khí Khi quân Lê – Trịnh tiến đánh, triều đình gặp
Trang 40nguy, nhà Mạc đốt lửa báo hiệu, đội quân người Dao2 từ Thành Công (NguyênBình) lại kéo quân về giúp Một lần, đoàn quân đi đến xã Tam Kim thì dừng lạibên bờ suối nghỉ ngơi Quân lính xuống suối rửa chân tay đông đã làm vỡ phainước nên từ đó nhân dân gọi địa danh đó là Phaj Khát, lâu ngày biến âm thànhPhay Khắt Nhà Mạc cho tộc người Ngạn ở Quý Châu vào Cao Bằng, bố tríthành các làng nối tiếp nhau, tạo thành một vành đai bao bọc phía Đông Namkinh đô Nà Lữ - Cao Bình Đây là tộc người duy nhất ở Cao Bằng có “Lượnđánh giặc”, lấy chủ đề chiến tranh để bày tỏ tình yêu đôi lứa [108, tr.208-220].
Họ là những người lính chủ chốt, đóng ở vành đai bên ngoài để bảo vệ nhà Mạc.Với vai trò là kinh đô, trung tâm chính trị của một chính quyền nên Nà Lữkhông vượt ra khỏi cơn lốc chiến tranh giành quyền lực giữa hai tập đoàn phongkiến Mạc và Lê – Trịnh Khi nhà Mạc rút quân lên Cao Bằng, triều đình Lê - Trịnhluôn mong muốn đem quân lên tiêu diệt Trong khoảng thời gian đầu từ 1592 -
1623, nhà Lê – Trịnh đã nhiều lần đưa quân lên đánh nhà Mạc ở Cao Bằng nhưngkhông giành được thắng lợi Nhà Mạc đã nhờ vào sự ủng hộ của nhà Minh để buộctriều đình Lê – Trịnh cắt đất Cao Bằng cho mình Năm 1666, nghe tin Mạc Kính Vũbắt được phiên tướng Thái Nguyên là Thông Quận công Hà Sĩ Tứ, chúa Trịnh liềnsai “Thái phó Lý quận công Trịnh Đống làm thống lĩnh, Thiếu úy Hào quận công LêThì Hiến làm phó … đem các quân tiến đánh, Kính Vũ bèn giết Thông quận công
Hà Sĩ Tứ, bỏ sào huyệt trốn vào rừng núi Thế là quan quân phóng lửa đốt cháy chỗ
ở của Mạc Kính Vũ rồi về” [52, tr.273] Ngay tháng 9 năm sau (1667), Trịnh Tạc
“thân hành thống suất đại binh đi đường Lạng Sơn, hạ lệnh cho Tiết chế Trịnh Cănđốc suất các tướng đi đường Thái Nguyên, bọn Thái phó Trịnh Đống, Thiếu úyTrịnh Kiền, Lê [Thì] Hiến, Thiếu phó Trịnh Ốc, Đô đốc đồng tri Đinh Văn Tả và LêChâu làm thống lãnh, bọn Thị lang Nguyễn Năng Thiệu, Lê Sĩ Triệt, Dương Hạo,
Hồ Sĩ Dương, Nguyễn Văn Thực và Trương Luận Đạo làm Đốc thị, chia đườngcùng tiến thẳng đến Cao Bằng Hay tin đại binh tiến đến, Kính Vũ trốn sang châuTiểu trấn yên nhà Thanh Quan quân đuổi theo tróc nã, bắt được họ hàng, đồ đảng,ngựa và khí giới không sao kể xiết” [78, tr.318] Mạc Kính Vũ đã chạy sang cầu cứunhà Thanh Vua Khang Hy đã “hạ lệnh cho dời Kính Vũ đến ở tạm tại Nam Ninh,rồi ra đặc chỉ cho Nội viện thị độc Lý Tiên Căn và Binh bộ chủ sự Dương DoãnKiệt sang
2 Hiện nay, chúng tôi chưa khảo được tên vị tướng người Dao đứng đầu