¬¬ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TRIỆU MINH HIẾU Tên đề tài “NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH MẮC HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN F1 (ĐB x MC) GIAI ĐOẠN SƠ SINH 60 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI ĐỨC CHÍNH HÒA AN[.]
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2011 - 2015
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực tập và nghiên cứu khoa học tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cũng như 6 tháng trong quá trình thực tốt tại cơ sở, tôi đã hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám Hiệu trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm Khoa chăn nuôi - Thú y, các thầy giáo, cô giáo, gia đình, bạn bè đã tận tình dìu dắt, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian học tập ở trường
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành về những giúp đỡ quý báu đó, đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo: T.S Nguyễn Đức Hùng đã trực tiếp tận tình hướng dẫn để tôi hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ công nhân viên tại Trại lợn Đức Chính đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập tại Trại
Một lần nữa tôi xin trân trọng gửi tới các thầy, cô giáo, bạn bè đồng nghiệp lới cảm ơn chân thành, lời chúc sức khỏe, thành đạt và hạnh phúc
Tôi xin chân thành cảm ơn
Thái Nguyên, ngày 3 tháng 12 năm 2015
Sinh viên
Triệu Minh Hiếu
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn quan trọng trong quá trình học tập và rèn luyện của mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là khoảng thời gian để sinh viên củng cố, hệ thống hóa những kiến thức đã học, thực hiện phương châm “học đi đôi với hành”, “lý thuyết gắn liền với thực tiễn sản xuất”và vận dụng chúng một cách linh hoạt vào trong đời sống sản xuất
Thực tập tốt nghiệp là khoảng thời gian giúp sinh viên phát huy tính sáng tạo, dám nghĩ, giám làm, nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được phương pháp
tổ chức và tiễn hành công việc nghiên cứu, ứng dụng các tiễn bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, góp phần vào sự phát triển của ngành chăn nuôi
Xuất phát từ cơ sở trên, cùng với nguyện vọng của bản thân và sự đồng
ý của khoa Chăn nuôi Thú y - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được
sự nhất trí của thầy giáo hướng dẫn: T.S Nguyễn Đức Hùng và được sự tiếp
nhận của cơ sở nên tôi tiễn hành đề tài: “Nghiên cứu tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn F1 (ĐB x MC) giai đoạn sơ sinh - 60 ngày tuổi tại trại lợn Đức Chính - Hòa An - Cao Bằng và xác định hiệu lực điều trị của thuốc Oracin - 500”
Trong thời gian thực tập, được sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn, các cán bộ và nhân viên trại lợn Đức Chính cùng với sự nỗ lực của bản thân tôi đã thu được một số kết quả nhất định được trình bày trong khóa luận này Tuy nhiên, do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu nên bản khóa luận của tôi không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, kể cả phương pháp và
kết quả nghiên cứu
Vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp quý báu của các thầy giáo, cô
giáo và bạn bè đồng nghiệp để bản khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Thái Nguyên, ngày 3 tháng 12 năm 2015
Sinh viên
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Phác đồ điều trị hội chứng tiêu chảy lợn con 288
Bảng 4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 34
Bảng 4.2 Cơ cấu đàn lợn của Trại lợn Đức Chính - Hòa An - Cao Bằng 35
Bảng 4.3 Số lượng và tỷ lệ lợn mắc hội chứng tiêu chảy của lợn tại
Trại lợn Đức Chính 36
Bảng 4.4 Số lượng và tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy theo lứa tuổi của lợn nuôi tại Trại lợn Đức Chính 37
Bảng 4.5 Số lượng và tỷ lệ lợn con nhiễm hội tiêu chảy theo tính biệt 39
Bảng 4.6 Số lượng và tỷ lệ lợn mắc tiêu chảy theo tháng trong năm 40
Bảng 4.7 Kết quả điều trị hội chứng tiêu chảy bằng thuốc Oracin - 500 42
Bảng 4.8 Chi phí thuốc thú y cho 1 lợn con khỏi bệnh 44
Trang 7
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI NÓI ĐẦU ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học 3
2.1.1 Đặc điểm của lợn con bú sữa 3
2.1.1.1 Đặc điểm sinh trưởng phát dục 3
2.1.1.2 Đặc điểm của cơ quan tiêu hóa 4
2.1.1.3 Cơ năng điều tiết thân nhiệt 5
2.1.1.4 Khả năng hình thành kháng thể miễn dịch 6
2.1.2 Bệnh tiêu chảy ở lợn 7
2.1.2.1 Các nguyên nhân gây tiêu chảy 8
2.1.2.2 Cơ chế sinh bệnh của hội chứng tiêu chảy 12
2.1.2.3 Tình hình dịch tễ của bệnh 13
2.1.2.4 Đường lây truyền 14
2.1.2.5 Bệnh tích 15
2.1.2.6 Triệu chứng lâm sàng 16
Trang 82.1.3 Một số bệnh ở đường tiêu hóa thuộc hội chứng tiêu chảy theo dõi 17
2.1.3.1 Bệnh phân trắng lợn con 17
2.1.3.2 Bệnh phù mặt lợn con (Bệnh E coli dung huyết) 18
2.1.3.3 Bệnh phó thương hàn 18
2.1.3.4 Bệnh viêm ruột 19
2.1.3.5 Bệnh Enteroxemia (Clostridium perfringens type A,C) 19
2.1.3.6 Bệnh kiết lỵ ở lợn (bệnh tiêu chảy ra máu, lyvibiomic, tiêu chảy đen) 20
2.1.3.7 Bệnh tiêu chảy do Rotavirut 21
2.1.4 Chẩn đoán hội chứng tiêu chảy ở lợn 21
2.1.5 Phòng bệnh và điều trị 21
2.1.5.1 Phòng bệnh 21
2.1.5.2 Điều trị 22
2.1.6 Giới thiệu thuốc Oracin-500 23
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 24
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 24
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 25
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN
VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 27
3.1 Đối tượng nghiên cứu, địa điểm, thời gian tiến hành 27
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27
3.1.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 27
3.2 Nội dung nghiên cứu 27
3.3 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 27
3.3.1 Phương pháp nghiên cứu 27
3.3.1.1 Phương pháp phát hiện lợn mắc hội chứng tiêu chảy và điều trị bệnh 27
3.3.1.2 Phương pháp xác định cơ cấu đàn lợn 28
3.3.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi 28
Trang 93.3.2.1 Tỷ lệ lợn mắc hội chứng tiêu chảy được xác định bằng công thức 28
3.3.2.2 Tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy theo lứa tuổi được xác định bằng công thức 28
3.3.2.3 Tỷ lệ lợn mắc bệnh tiêu chảy theo tháng được xác định bằng
công thức 28
3.3.2.4 Hiệu lực điều trị bệnh tiêu chảy của thuốc Oracin - 500 được xác định bằng công thức 29
3.3.2.5 Tỷ lệ tái nhiễm được xác định bằng công thức 29
3.3.2.6 Tỷ lệ lợn chết được xác định bằng công thức 29
3.3.2.7 Chi phí thuốc thú y cho 1 lợn con khỏi bệnh được xác định bằng công thức 29
3.4 Phương pháp xử lý số liệu 29
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Kết quả phục vụ sản xuất 30
4.1.1 Công tác chăn sóc, nuôi dưỡng, vệ sinh, phòng bệnh 30
4.1.1.1 Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng 30
4.1.1.2 Công tác vệ sinh, phòng bệnh 30
4.1.2 Công tác chẩn đoán và điều trị 30
4.1.2.1 Bệnh tiêu chảy ở lợn con 31
4.1.2.2 Bệnh suyễn lợn 32
4.1.2.3 Bệnh viêm khớp 33
4.1.2.4 Bệnh viên nội mạc tử cung 33
4.1.3 Công tác khác 34
4.2 Kết quả thực hiện chuyên đề nghiên cứu 35
4.2.1 Cơ cấu đàn lợn của trại lợn Đức Chính - Hòa An - Cao Bằng 35
4.2.2 Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn F1 (ĐB x MC) giai đoạn sơ sinh - 60 ngày tuổi 36
Trang 104.2.3 Tình hình mắc bệnh tiêu chảy ở lợn F1 (ĐB x MC) của Trại lợn Đức
Chính theo lứa tuổi 37
4.2.4 Tỷ lệ lợn con mắc bệnh tiêu chảy theo tính biệt 39
4.2.5 Tình hình mắc bệnh tiêu chảy ở lợn F1 (ĐB x MC)
theo tháng trong năm 40
4.2.6 Hiệu lực điều trị bệnh tiêu chảy của thuốc Oracin - 500 41
4.2.7 Chi phí thuốc thú y cho 1 lợn con khỏi bệnh 43
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 45
5.1 Kết luận 45
5.2 Đề nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I Tài liệu tiếng Việt
II Tài liệu tiếng nước ngoài
Trang 11chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO) công bố năm 2010, Việt Nam “có
tên tuổi”trong ngành chăn nuôi khi đứng thứ 4 ở khu vực châu Á, chỉ xếp sau
Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn, đến tháng 10 năm 2014, tổng đàn lợn của Việt Nam gần 27 triệu con,
Hiện nay, theo kết quả điều tra sơ bộ tại thời điểm năm 2015 của Tổng cục tống kê, nước ta có 26,39 triệu con lợn, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm ước tính đạt 1963,3 nghìn tấn, tăng 1,65% so với cùng kỳ năm trước
Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển mạnh về số lượng và chất lượng, chăn nuôi lợn cũng đang đứng trước nhiều thử thách to lớn Một trong những trở ngại của chăn nuôi lợn hiện nay là tình hình dịch bệnh có nguy cơ ngày càng
có diễn biến phức tạp Bệnh tiêu chảy ở lợn, đặc biệt ở lợn con, là một trong các bệnh gây thiệt hại lớn trong chăn nuôi Bệnh có thể gây nhiễm tới 100% đàn lợn, có thể gây chết từ 70 - 100% lợn con Những lợn con mắc bệnh khi được chữa khỏi bệnh thường còi cọc, chậm lớn, xù lông, ảnh hưởng xấu tới phẩm chất con giống, làm chậm khả năng sinh trưởng ở giai đoạn tiếp theo
Để khắc phục những tác động có hại của bệnh tiêu chảy ở lợn con, các nhà nghiên cứu và các công ty dược thú y trong ngoài nước đã nghiên cứu và
đưa ra nhiều loại thuốc điều trị, như Nor-Coli, Enroflox, Coli-flox,
Trang 12Phar-D.O.C Thuốc Oracin - 500 là một loại thuốc uống do Công ty Pharmavet sản xuất có tác dụng điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp, tiêu hóa, da và
khớp như phó thương hàn, E coli, viêm phổi, viêm da, viêm khớp và các
nhiễm trùng kế phát trên lợn con
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn F1 (ĐB x MC) giai đoạn sơ sinh - 60 ngày tuổi tại trại lợn Đức Chính - Hòa An - Cao Bằng và xác định hiệu lực điều trị của thuốc Oracin -500”
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Đặc điểm của lợn con bú sữa
2.1.1.1 Đặc điểm sinh trưởng phát dục
Lợn con hay gia súc non nói chung, trong thời kỳ bào thai phát triển tốt
sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển về sau Tốc độ sinh của lợn con nhanh hơn so với các gia súc khác (khối lượng cai sữa của lợn con lúc 2 thánh tuổi gấp 10 -
15 lần so với khối lượng sơ sinh, trong khi đó bê nghé chỉ tăng 3 - 4 lần)
Trong giai đoạn bú sữa, lợn con có tốc độ sinh trưởng, phát dục rất nhanh So với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 -14 lần
Lợn con bú sữa có khả năng sinh trưởng phát triển nhanh nhưng không đều qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu, sau đó giảm, giai đoạn này còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con do mâu thuẫn giữa nhu cầu sinh trưởng, tăng trọng trong khi số lượng và chất lượng sữa lại có xu hướng giảm nhanh sau 21 ngày tuổi
Do lợn con sinh trưởng, phát dục nhanh nên khả năng thích lũy các chất dinh dưỡng rất mạnh Ví dụ: lợn con 3 tuần tuổi mỗi ngày tích lũy được 9 - 14
g protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi lợn trưởng thành chỉ tích lũy được 0,3 - 0,4 g pr/1kg khối lượng cơ thể (Trần Văn Phùng và Cs, 2004 [15]) Điều này cho thấy nhu cầu dinh dưỡng của lợn con cao hơn lợn trưởng thành đặc biệt là protein
Trang 142.1.1.2 Đặc điểm của cơ quan tiêu hóa
Cùng với sự tăng lên của khối lượng cơ thể, các cơ quan trong cơ thể dần phát triển, trong đó các cơ quan tiêu hóa của lợn con giai đoạn theo mẹ phát triển rất nhanh về cấu tạo và hoàn thiện dần về chức năng tiêu hóa, biểu hiện:
Dung tích của dạ dày lợn lúc 10 ngày tuổi có thể tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần Dung tích ruột non của lợn lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 6 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần so với lúc sơ sinh Dung tích ruột già của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 1,5 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 2,5 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích ruột già lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít) (Nguyễn Thị Thúy Mỵ, Trần Thanh Vân, 2014) [10], sự tăng chiều dài
và thể tích có quan hệ đến khả năng tiêu hóa xenlulozơ khá cao trong thức ăn
bổ sung Vì vậy, cho lợn con tập ăn sớm là một biện pháp tốt trong chăn nuôi
Mặc dù sinh trưởng nhanh, nhưng các cơ quan chưa thành thục về chức năng, đặc biệt là hệ thần kinh Vì vậy, lợn con có phản ứng rất chậm chạp đối với các yếu tố tác động lên chúng Do chưa thành thục cho nên các cơ quan tiêu hóa của lợn con rất dễ mắc bệnh, dễ rối loạn tiêu hóa và do một số men tiêu hóa thức ăn ở lợn con chưa có hoạt tính mạnh, nhất là ở 3 tuần đầu sau khi sinh như pepsin, amilaza, mantaza, saccaraza Nhìn chung lợn con bú sữa chỉ có khả năng tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong sữa mẹ, còn khả năng tiêu hóa thức ăn bổ sung kém (Trần Văn Phùng và Cs, 2004) [15]
Lợn con có một giai đoạn rất đặc biệt đó là giai đoạn không có HCl trong dạ dày Giai đoạn này được coi như một tình trạng thích ứng tự nhiên Nhờ vậy, nó tạo được khả năng thẩm thấu các kháng thể có trong sữa đầu của lợn mẹ Trong giai đoạn này dịch vị không có khả năng phân giải protein mà chỉ có khả năng vón sữa đầu và sữa
Trang 15Ở lợn từ 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu HCl ở dạ dày không còn ở trạng thái bình thường nữa Việc tập cho lợn con ăn sớm có tác dụng thúc đẩy
bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện, vì thế sẽ rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl, bởi vì chỉ khi được bổ sung thức ăn thì thức ăn
sẽ kích thích tế bào thành dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị (lợn con khác với lợn trưởng thành là chỉ tiết dịch vị khi thức ăn vào dạ dày)
Theo Từ Quang Hiển và Phan Đình Thắm (1995) [6], lợn con dưới 1 tháng tuổi trong dịch vị không có HCl, vì lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nhanh chóng kết hợp với niêm dịch Hiện tượng này gọi là Hypoclohydric là một đặc điểm quan trọng trong tiêu hóa dạ dày ở lợn con, vì thiếu HCl tự do nên dịch không có tính sát trùng, vi sinh vật xâm nhập vào dạ dày dễ sinh sôi, nảy nở và phát triển gây ra những bệnh tiêu hóa ở lợn con
Theo Đào Trọng Đạt và Cs (1995) [3] vi khuẩn đã sinh ra các chất kháng
ức chế sự phát triển của vi trùng gây bệnh như vi khuẩn phó thương hàn, vi khuẩn sinh thối rữa Ở lợn con mới sinh, hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển đầy đủ, số lượng vi sinh vật có lợi chưa có khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh, nhất là các bệnh đường tiêu hóa
2.1.1.3 Cơ năng điều tiết thân nhiệt
Lợn con dưới 3 tuần tuổi, cơ năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh
vì vỏ não của lợn chưa hoàn thiện, cho nên việc điều tiết thân nhiệt kém, năng lực phả ứng yếu, dễ bị ảnh hưởng bởi khí hậu nóng ẩm và lạnh từ môi trường bên ngoài Lợn con thời kỳ này, nếu như trong chuồng có nhiệt độ thấp, ẩm
độ tương đối cao, sẽ làm cho thân nhiệt lợn con hạ xuống nhanh Lợn con sơ sinh gặp môi trường sống hoàn toàn mới, cơ thể lợn con trực tiếp tiếp xúc với điều kiện ngoại cảnh Do đó chăm sóc, nuôi dưỡng không tốt, lợn con dễ mắc bệnh, còi cọc và chết Mùa đông ở miền Bắc nước ta thời tiết lạnh, đặc biệt là
Trang 16mưa phùn và sương muối, lợn con rất dễ bị tiêu chảy, cảm lạnh, tỷ lệ chết cao (40 - 80%)
Theo Nguyễn Thị Thúy Mỵ và Trần Thanh Vân (2014) [10] khả năng điều tiết nhiệt của lợn con còn kém do nhiều nguyên nhân:
- Lớp mỡ dưới da mỏng, lượng mỡ và glycozen dự trữ trên cơ thể lợn con còn thấp, trên thân lợn con lông còn thưa nên khả năng cung cấp nhiệt để chống rét bị hạn chế và khả năng giữ nhiệt kém
- Hệ thống thần kinh điều khiển cân bằng nhiệt chưa hoàn chỉnh Trung khu điều tiết thân nhiệt nằm ở vỏ não, mà não của gia súc là cơ quan phát triển muộn nhất ở cả hai giai đoạn trong thai và ngoài thai
- Diện tích bề mặt của lợn so với khối lượng chênh lệch tương đối cao nên lợn con bị mất nhiệt nhiều khi bị lạnh
Sau 3 tuần tuổi, cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con mới tương đối hoàn chỉnh và thân nhiệt của lợn được ổn định hơn (39 - 39,50
C)
Theo Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm (1995) [5], ở lợn con khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh, yêu cầu dinh dưỡng ngày càng cao, trong khi
đó sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần đến 3 tuần sau khi đẻ, sau đó giảm dần
cả về số lượng và chất lượng Đây là mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con và khả năng cung cấp sữa của lợn mẹ Nếu không kịp thời bổ sung thức
ăn cho lợn con thì lợn con sẽ bị thiếu dinh dưỡng, dẫn đến sức đề kháng yếu, lợn gầy còm, nhiều con mắc bệnh Do vậy, tiến hành cho lợn con tập ăn sớm sẽ khắc phục tình trạng khủng hoảng trong thời kỳ 3 tuần tuổi và sau khi cai sữa, đảm bảo dinh dưỡng nâng cao sức đề kháng
2.1.1.4 Khả năng hình thành kháng thể miễn dịch
Lợn con mới đẻ ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể Lượng kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ, tạo ra miễn dịch hoàn toàn thụ động Trong sữa đầu của lợn mẹ có hàm lượng protein
Trang 17rất cao chiếm tới 18 - 19 %, trong đó hàm lượng - globulin chiếm số lượng khá lớn (30 - 35%), chúng có tác dụng tạo đề kháng, cho nên sữa đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con
2.1.2 Hội chứng tiêu chảy ở lợn
Tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của hội chứng bệnh lý đặc thù của đương tiêu hóa Hiện tượng lâm sàng này xuất phát từ nguyên nhân, triệu chứng, đặc điểm và tính chất của bệnh, được gọi với nhiều tên khác nhau
Tên chung nhất: Hội chứng tiêu chảy (Dyspepsia), và được chia ra thành các loại sau:
- Bệnh tiêu chảy không nhiễm trùng (Non-Infectivediarrhoea)
- Bệnh phân sữa (Milk-Scours)
- Tiêu chảy do mắc các bệnh truyền nhiễm như: Phó thương hàn, E coli,
viêm dạ dày ruột truyền nhiễm, dịch tả, Rotavirus
Tiêu chảy gây thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi lợn Bệnh xuất hiện
ở 3 giai đoạn chính:
+ Giai đoạn I: ở lợn sơ sinh đến vài ngày tuổi
+ Giai đoạn II: ở lợn con theo mẹ
+ Giai đoạn III: ở lợn con sau cai sữa
Ở nước ta hội chứng tiêu chảy ở lợn xảy ra quanh năm, đặc biệt là vào
vụ đông - xuân khi thời tiết thay đổi đột ngột và vào những giai đoạn chuyển mùa trong năm (Lê Văn Tạo, 1996) [16]
Theo Nguyễn Bá Hiên và Cs (2012) [5], dịch tiêu chảy ở lợn có thể mắc
ở mọi lứa tuổi Trong nhiều ổ dịch, tỷ lệ ốm lên đến 100%; tỷ lệ chết trung bình ở lợn con là 50% nhưng có thể rất cao đến 100%
- Nếu lợn con mắc ở độ tuổi 0 - 5 ngày tuổi, tỷ lệ chết 100%
- Nếu lợn con mắc bệnh ở độ tuổi 6 - 7 ngày tuổi, tỷ lệ chết khoảng 50%
- Nếu lợn mắc bệnh ở độ tuổi lớn hơn 7 ngày tuổi, tỷ lệ chết khoảng 30%
Trang 182.1.2.1 Các nguyên nhân gây tiêu chảy
Trong lịch sử nghiên cứu tiêu chảy, nhiều tác giả đã có những công trình
nghiên cứu về nguyên nhân gây bệnh được đánh giá cao, làm cơ sở cho việc
phòng và điều trị Tuy nhiên, tiêu chảy là một hội chứng có liên quan rất nhiều đến các nguyên nhân khác nhau
Vì vậy, việc xác định nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy ở từng nơi và trong từng
giai đoạn khác nhau cũng thu được kết quả khác nhau Cho đến nay chưa có ai
xác định được nguyên nhân nào là nguyên nhân chính, nhưng căn nguyên chính là
các vi khuẩn đường ruột họ Enterro bacteriae, trong đó trực khuẩn E coli đóng
vai trò quan trọng
Đào Trọng Đạt và Cs (1995) [3] chia nguyên nhân tiêu chảy như sau:
Phùng Ứng Lân (1996) [8] cho rằng, 3 nguyên nhân chính gây hội chứng
tiêu chảy đó là các loại vi khuẩn đường ruột E coli có hại thuộc họ vi khuẩn
đường ruột Enterro bacteriae, chúng gồm nhiều chủng với những đặc tính
Trang 19Những nguyên chính gây hội chứng tiêu chảy ở lợn được nhiều tác giả khẳng định bao gồm:
a) Do vi khuẩn:
* Vi khuẩn E coli
Đây là một trong những nguyên nhân phổ biến và quan trọng nhất được nhiều nhà khoa học trong nước và trên thế giới công nhận
Lê Văn Tạo (1996) [16] nghiên cứu tình hình bệnh tiêu chảy ở lợn do E
coli trước và sau cai sữa tại 6 trại đồng bằng sông Cửu Long cho thấy, tỷ lệ lợn
mắc bệnh biến động từ 64,5% (Sóc Trăng) đến 70,73% (Kiên giang, Trà Vinh),
tỷ lệ chết so với mắc bệnh cao nhất là Sóc Trăng (75%), Trà Vinh (33,3%), Kiên Giang (32,2%)
Hồ Văn Nam (1997) [11], khi nghiên cứu về vi khuẩn trong đường ruột,
nhận thấy vi khuẩn E coli chỉ là vi khuẩn thường xuyên có trong ruột lợn con
đang bú sữa và bội nhiễm khi ỉa chảy mà còn được tìm thấy ở 100% mẫu phân
lợn ở những độ tuổi lớn hơn Ngay ở trong lợn khỏe mạnh, E coli cũng tăng theo lữa tuổi, trong 1g phân lợn từ 1-2 ngày tuổi, số lượng E coli là 55,4 triệu con, và
số lượng này tăng theo lứa tuổi Ở lợn từ 22 - 60 ngày tuổi, số lượng E coli là
90,9 triệu và 150 triệu vi khuẩn trong 1g phân lợn nái khi bị viêm ruột ỉa chảy
Kết quả cho thấy, E coli bội nhiễm không chỉ ở lợn dưới 2 tháng tuổi mà những lợn lớn hơn, cả lợn nái cũng có tình trạng tương tự Bệnh tiêu chảy ở lợn do E
coli gây ra đã và đang là đề tài thu hút nhiều sự quan tâm của các tác giả trên thế
giới Các chủng E coli thuộc nhóm ETEC (Entero toxigenic E coli) tham gia vào
quá trình gây bệnh nhờ 2 đặc tính:
+ Khả năng bám vào các tế bào biểu mô ruột nhờ các yếu tố bám dính ở bề
mặt vi khuẩn (finbrac) như F4 (k88), F5 (k99), F6 (9871), F41, F17 và F18
+ Khả năng sinh sản 1 hoặc nhiều loại độc tố đường ruột bao gồm nhiều độc tố không chịu nhiệt (LT1 và LT2) và độc tố chịu nhiệt (ST1, ST2) (Gaastra
và Degraaf, 1982; Fairbr Other, 1993)
Trang 20Ngoài ra các nhà chuyên môn nhân định đó là bệnh ghép, có thể do:
- Salmonella choleraresuis và sal Typhymurium là 2 tác nhân gây tiêu
chảy ở lợn con sau cai sữa và bắt đầu vỗ béo
- Clostridium perfringens type A và type C gây bệnh viêm ruột
- Erysipelothrix gây bệnh đóng dấu lợn
- Trepeoma gây bệnh hồng lỵ
- Cầu trực khuẩn amip gây các bệnh tiêu chảy, kiết lỵ
b) Do ký sinh trùng: các loại ký sinh trùng đường ruột gây bệnh tiêu chảy ở
lợn:
+ Emimeria sp: bệnh cầu trùng
+ Ascaris: Giun đũa
+ Fasciolopsis buski: sán lá ruột
c) Do virut:
Đã có nhiều công trình nghiên cứu khẳng định Rotavirut, Enteravirut,
Andenovirut, coronavirut, Pestivirut (dịch tả) là nguyên nhân chủ yếu gây viêm
ruột với triệu chứng tiêu chảy đặc trưng ở lợn Các virut này tác động gây viêm loét niêm mạc ruột ở nhiều mức độ khác nhau, chính từ quá trình tiêu hóa hấp thụ ở lợn bị rối loạn, cuối cùng là triệu chứng ỉa chảy
Theo Nguyễn Văn Thưởng và Cs (1996) [18], trong bệnh tiêu chảy do
Rotavirut có 3 vấn đề cơ sơ lập luận đơn giản được tiên lượng sẽ hữu ích
- Rotavirut lan truyền rộng rãi trong tự nhiên việc thực hành, quản lý và chăn sóc kém như việc sử dụng các thiết bị chăn nuôi không cọ rửa, sát trùng
và thời gian nghỉ giữa các nhóm lợn làm tăng lượng vi khuẩn ở trong môi
trường kể cả Rotavirut
- Phần lớn lợn nái có kháng thể bảo hộ ở trong sữa và sữa đầu (cái hậu bị
có ít hơn) Rotavirut (giống virut TGE) phát triển và phá hủy tế bào của ruột
Vì vậy, để bảo vệ các tế bào ruột lợn, phải có kháng thể ở ruột (kháng thể trong
Trang 21- Lợn càng nhỏ càng dễ bị tổn thương do mất nước, mất năng lượng và
trọng lượng do Rotavirut
d) Do những thiếu sót trong chăm sóc, nuôi dưỡng
Trong rất nhiều trường hợp tiêu chảy ở gia súc nói chung và ở lợn nói riêng là do phát sinh do hàng loạt những thiếu sót trong quá trì nuôi dưỡng chăm sóc như:
- Thức ăn kém chất lượng, ôi thiu, nấm mốc, tạp chất và các chất độc khác, thức ăn nhiều đạm, quá nhiều chất béo lợn ăn phải dễ bị tiêu chảy
- Nước bẩn, lượng sữa mẹ ít, lợn con đói phải ngậm mút lung tung trong
đó có các chất thải bị nhiễm E coli
- Thay đổi khẩu phần ăn đột ngột làm cho khả năng tiết men tiêu hóa của lợn không kịp thời
- Chế độ nghỉ ngơi, ăn uống không hợp lý, khai thác sử dụng quá mức
- Chuồng bẩn lợn con luôn bú lợn mẹ có bầu vú nhiễm E coli
- Lợn mẹ bị viêm vú, đặc biệt là do E coli gây ra Khi bú sữa lợn nái
viêm vú lợn con sẽ bị tiêu chảy ngay sau đó
- Lợn con không được bú sữa đầu, mà khả năng miễn dịch của lợn con phụ thuộc chủ yếu vào lượng kháng thể hấp thụ được từ sữa của lợn mẹ Do đó sức đề kháng của cơ thể lợn con còn yếu dễ mắc bệnh
Đào Trọng Đạt và Cs (1996) [4] cho thấy, ở lợn con không được bú sữa đầu kịp thời hoặc sữa mẹ kém phẩm chất do lợn mẹ không được nuôi dưỡng hợp lý cũng là nguyên nhân gây tiêu chảy
Trang 22- Do trữ lượng Fe của lợn con từ bào thai chưa đủ, khi sinh ra không được sữa mẹ cung cấp đầy đủ nhu cầu thiếu cả coban, B12 nên sinh bầm huyết,
cơ thể suy yếu nên không hấp thụ được đầy đủ chất dinh dưỡng, sinh hiện tượng không tiêu, ỉa chảy
f) Do điều kiện ngoại cảnh, môi trường sống bất lợi
Thời tiết không thuận lợi, thay đổi bất thường, gió mùa, thời tiết lạnh, mưa phùn, gió bấc, ẩm độ môi trường cao, chuồng nuôi ẩm thấp làm cho lợn dễ mắc bệnh tiêu chảy, chuồng trại không đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp
2.1.2.2 Cơ chế sinh bệnh của hội chứng tiêu chảy
Cơ chế sinh bệnh và đường sinh bệnh của E coli là đề tài thu hút nhiều
nghiên cứu khoa học của các nhà khoa học
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh bệnh và tiến triển của bệnh như:
những tổn thương của đường ruột, phủ tạng cho phép E coli xâm nhập Tuy nhiên, để gây bệnh số lượng E coli xâm nhập phải đủ lớn mới có thể gây bệnh
cho lợn
Đến nay người ta cho rằng cơ chế sinh bệnh của E coli của lợn con được
thể hiện thông qua:
- Trực tiếp xâm nhập đường hô hấp phía trên hoặc phía dưới ruột non của những lợn không có miễn dịch và không gây ra nhiễm khuẩn màu
- Tấn công và phá hủy hệ thống lông nhung của tế bào niêm mạc ruột gây
ỉa chảy mất nước dữ dội, giảm đáng kể diện tích bề mặt hấp thụ của ruột non
Trang 23- Sinh sản các độc tố ruột (Enterotoxin) Những E coli trong ruột bám
trên hệ thống lông nhung, tăng sinh và sản sinh độc tố Những độc tố này ảnh hưởng trực tiếp lên áp suất thẩm thấu màng tế bào niêm mạc ruột gây rối loạn chức năng trao đổi chất của tế bào này Đặc biệt ảnh hưởng lên quá trình trao đổi nước và các chất điện giải
Lê văn Năm và Cs (1998) [12] cho biết, E coli tiết ra độc tố gồm 2
nhóm độc tố chịu nhiệt (ST) và nhóm độc tố kém chịu nhiệt (LT)
Enterotoxin, thuộc nhóm LT, bám lên bề mặt tế bào làm nước và muối
tràn ra ngoài và nó ngăn cản không cho nước và muối hấp thu trở lại Bởi vậy, nước ngấm vào ruột và bị đẩy ra ngoài cho nên lợn bị tiêu chảy mất nước
Enterotoxin, thuộc nhóm ST, cũng làm cho nước ngấm ra nhưng không
ngăn nước hấp thu ngược vào tế bào nên lợn ít bị tiêu chảy hơn
- Sự sinh sôi của E coli trong ruột non, đặc biệt là ở ruột già làm chúng
xâm lấn, phá hủy tế bào niên mạc gây viêm ruột sau đó là bị ỉa chảy mất nước
2.1.2.3 Tình hình dịch tễ của bệnh
Cách phòng bệnh trong chăn nuôi ít tốn phí có hiệu lực nhất là dựa vào công tác vệ sinh, đó là làm cho gia súc và nguyên nhân gây bệnh cách xa nhau
Để có các biện pháp vệ sinh tốt cần hiểu biết tình hình dịch tễ của bệnh
Lê Văn Tạo (1996) [16], qua điều tra tình hình dịch bệnh và bệnh tiêu chảy ở lợn tại 1 trại lợn giống hướng mẹ trong 3 năm 1995, 1996, 1997 cho thấy:
- Tỷ lệ hao hụt do dịch bệnh ở lợn con theo mẹ (dưới 45 ngày tuổi) qua các năm là 25%, 12% và 15% Trong đó tỷ lệ chết do tiêu chảy chiếm 67-80% trong số lợn con chết
- Ở lợn sau cai sữa (45-65 ngày tuổi), tỷ lệ hao hụt do dịch bệnh là 15, 18
và 12% trong đó tỷ lệ chết do tiêu chảy chiếm 32; 12; 38% trong số lợn con chết
Trang 24Bệnh tiêu chảy ở lợn con theo mẹ xảy ra quanh năm nhưng cao nhất là tháng 5-8
Trương Năng, Xuân Giao (1999) [13] cho biết, ở nước ta lợn con mắc bệnh tiêu chảy rất phổ biến trong các cơ sở chăn nuôi Tỷ lệ mắc bệnh từ 25-100%, tỷ lệ tử vong trên 70% Bệnh có quanh năm nhiều nhất cuối đông sang xuân, cuối xuân sang hè Điều kiện phát bệnh thường thấy:
- Thời gian nào độ ẩm cao, bệnh phát triển nhiều
- Tỷ lệ mắc bệnh các cơ sở chăn nuôi miền trung du, miền núi ít hơn, thời gian mắc bệnh ngắn hơn so với đồng bằng
- Chuồng nền đất, sân chơi rộng rãi, hạn chế rất nhiều sự phát triển của bệnh
- Đất ở đồi núi, trung du (mà lợn con gặm ăn được) là một điều kiện ngăn ngừa được bệnh vì đất đồi có nhiều nguyên tố vi lượng bổ sung cho sự thiếu hụt của thức ăn
- Chuồng trại ở chỗ trũng, ướt tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển
- Bệnh có thể xảy ra quanh năm ở những nơi chăn nuôi tập trung, thường phát mạnh từ mùa đông sang hè (từ tháng 11 năm trước đến tháng 5 năm sau) Đặc biệt khi thời tiết thay đổi đột ngột (từ oi bức sang mưa rào, từ khô ẩm sang rét ẩm) bệnh phát hàng loạt
2.1.2.4 Đường lây truyền
Bệnh E coli xảy ra như một dịch bệnh điển hình ở phần lớn các đàn lợn nái
trong vụ đẻ Nguồn phát bệnh chính là từ nái mang mầm bệnh Theo các kết quả nghiên cứu thì thải mầm bệnh nhiều nhất là ở các nái chờ phối (96,9%) và ít nhất
ở nái chửa kỳ 2 (45,0%) Trong các trường hợp này lợn con bị nhiễm E coli từ
những ngày đầu tiên sau khi mới đẻ và đến giai đoạn cai sữa giảm xuống còn 67,5% Tất nhiên, sau cai sữa những lợn con ốm khỏi sẽ trở thành vật mang bệnh, bởi vậy người ta bố trí chuồng nái đẻ và lợn nuôi vỗ béo cách ly nhau
Trang 25Mầm bệnh cũng được truyền trực tiếp từ lợn mẹ bị nhiễm E coli sang lợn con khi con là bào thai Thực tế đã chứng minh, bệnh E coli không những
xuất hiện từ ngày đầu tiên mới đẻ mà thậm chí vào những giờ đầu tiên sau khi
đẻ Điều đó cho thấy đã có sự nhiễm bệnh của bào thai ngay từ khi còn trong bụng mẹ (Đào Trọng Đạt, Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ,
1995 [3])
Lợn con bị nhiễm E coli chủ yếu qua đường tiêu hóa, ít khi qua đường
hô hấp; qua niêm mạc mắt trong một vài trường hợp, có thể bị nhiễm E coli
qua đường bào thai
Ở các cơ sở chăn nuôi, E coli có thể lan truyền bằng con đường cơ học (do chuột, chó, mèo, côn trùng) do người đưa thức ăn, dụng cụ bị nhiễm E coli từ nơi
này qua nơi khác
2.1.2.5 Bệnh tích
a) Thể cấp tính: Niêm mạc dạ dày phủ đầy dịch nhớt, xung huyết và
xung huyết rất rõ, niêm mạc ruột non bị tổn thương mạnh, có vùng bị hoại tử, niêm mạc ruột già bị tổn thương rất rõ, hạch lâm ba ruột sưng màu đỏ sẫm Xét nghiệm vi thể hạch lâm ba cho thấy có tăng sinh đại thực bào Có trường hợp tế bào này tập trung thành một u, một số u bị hoại tử bên trong
+ Gan nhão, dễ vỡ, đôi khi có xuất huyết ở gan
+ Túi mật sưng, xuất huyết, dịch mật biến đổi màu
b) Thể mãn tính: Đặc trưng là tăng sinh tế bào, trong u tế bào tăng sinh
có các đại thực bào và các hạt nhân màu xám, đó là sản phẩm của biểu bì võng
mô, chúng có khả năng thực bào
+ Lách sưng to, màu đỏ xám hoặc đỏ sẫm, đôi khi có màu đen, rìa lách cong
+ Thận không có biến đổi đặc trưng
+ Trong phổi thấy có ổ mủ và hoại tử, bề mặt phổi xung huyết
Trang 26+ Xuất huyết tim, màng tim dễ bóc, chứa đầy nước và có những điểm xuất huyết rõ ràng
+ Dạ dày đều chứa hơi và chứa 1/2 chất lỏng gồm chất sữa không tiêu, nước màu vàng Xác lợn chết gầy hóp bụng Những lợn chết qua đêm phần bụng thường có màu đen do quá trình hoại tử gây nên
2.1.2.6 Triệu chứng lâm sàng
Dựa vào nguyên nhân và cơ chế gây bệnh, chúng ta có thể thấy các triệu chứng thể hiện khác nhau
Lợn bị nhiễm E coli có biểu hiện yếu, chậm chạp bỏ bú, thân nhiệt tăng
nhẹ, tiêu chảy nhiều, mất nước, biếng ăn, suy nhược, đôi khi có nôn mửa Phân lúc đầu có thể táo sau lỏng, có thể sền sệt ở các bệnh do giun sán, phân lỏng hoặc vọt cần câu, màu trắng, vàng, xanh nhạt, màu hạt đậu có lẫn bọt khí Vì mất nước nhiều nên lợn bị ốm bị mất nước dẫn đến sinh loạn dưỡng trong cơ thể Bụng hóp lại, da nhăn nheo, lông xù, phân dính xung quanh hậu môn, hai chân sau rúm lại
Nguyễn Hữu Vũ và Cs (1999) [17], cho biết lợn bị tiêu chảy có biểu hiện phân có màu trắng ngà đến vàng nhạt, mùi thối khắm, tạnh, lông sơ xác gầy tóp, chân đi lảo đảo không định hướng, đuôi và hậu môn luôn dính phân
Theo Lê Văn Tạo (1996) [16], khi lợn bị nhiễm E coli thì các triệu
chứng đặc trưng của bệnh là: đầu tiên trong một đàn lợn có 1-2 bị bệnh rồi lay sang các con khác có khi cả đàn bị bệnh, lợn bú ít, ít ăn hoặc bỏ bú, bỏ ăn, sốt nhẹ 39,5-400C Khi bệnh nặng lợn bỏ bú, bỏ ăn hoàn toàn thân nhiệt tăng dần
400C Bệnh tiễn triển theo 2 thể:
- Thể quá cấp tính: lợn chết nhanh, từ khi phát hiện triệu chứng ăn ít, bú
ít, đi lại siêu vẹo, loạng choạng thích nằm bẹp một chỗ, ho nhiều, nước mũi đặc nhầy như mủ Phần rìa tai, mõm tím tái, thở thể bụng rất khó khăn, phân lòng màu trắng lầy nhầy, có trường hợp hoàn toàn nước với máu tươi, có mùi hôi
Trang 27- Thể cấp tính: thường chết chậm hơn (2-4 ngày sau khi phát hiện triệu chứng đầu tiên) Triệu chứng tương đương như thể cấp tính: lợn bị sưng mắt, mắt phù thũng, phân lỏng màu vàng xám Trước khi chết cũng bị co giật rồi kiệt sức và chết
Bộ môn vi trùng - Viện Thú y Quốc gia đã nghiên cứu, tìm hiểu tình hình bệnh tiêu chảy và có những nhận xét như sau: Bệnh xảy ra ở các thời kỳ khác nhau, lợn 10 ngày tuổi, lợn choai mắc bệnh nhiều hơn lợn nái, bệnh mang tính lan truyền nhưng không mạnh Lợn được phát hiện thường có những triệu chứng phân có nhiều nước, màu vàng, có hiện tượng nôn ra như phân Do đó tiêu chảy dẫn đến hiện tượng mất nước nên lợn run rẩy, đi lại yếu, đôi khi có hiện tượng thần kinh
2.1.3 Một số bệnh ở đường tiêu hóa thuộc hội chứng tiêu chảy theo dõi
2.1.3.1 Bệnh phân trắng lợn con
a) Nguyên nhân: Bệnh phân trắng lợn con là một bệnh truyền nhiễm cấp
tính Nguyên nhân chính do trực khuẩn đường ruột E coli gây ra
b) Triệu chứng:
- Thể cấp tính: lợn sốt 40- 40,50C, sau 1-2 ngày chúng ỉa chảy, gầy sút nhanh, da nhăn, lông mất độ bóng, kém ăn có con bỏ ăn ủ rũ, đi siêu vẹo, niêm mặc mắt nhợt nhạt, nếu không điều trị lợn con suy kiệt rồi chết sau vài tuần
- Thể mãn tính: bệnh thường thấy ở lợn 20-30 ngày tuổi, phân lợn nát hoặc lỏng có màu trắng xám con vật, con vật đi lại bình thường, bệnh kéo dài, lợn còi cọc lông tối da nhợt nhạt
Trong trường hợp lợn con nhiễm ghép với các bệnh khác như vi khuẩn
Salmonella, Streptococus thì triệu chứng tiêu chảy rất nặng, phân lỏng như
nước và có mùi tanh, thối khắm màu trắng hoặc trắng vàng hơi xám, lợn sốt cao 41-420C chết nhanh sau 1-2 ngày, tỷ lệ chết 100%
Trang 28Bệnh xảy ra hàng loạt khi thời tiết lạnh, thức ăn của lợn mẹ thay đổi đột ngột bệnh lây từ lợn ốm đến lợn khỏe, do tiếp xúc ăn uống, bệnh xảy ra quanh năm nhưng tập trung vào mùa đông và mùa xuân
2.1.3.2 Bệnh phù mặt lợn con (Bệnh E coli dung huyết)
Bệnh ỉa chảy phù nề mặt thường gặp ở lợn trong giai đoạn 1 tháng tuổi, bệnh gây chết cao và có tính lây lan mạnh
a) Nguyên nhân: Nguyên nhân chính do chủng E coli gây dung huyết
(chủng 008, 0138, 0139, 0141) Ngoài nguyên nhân chính là do E coli, những
tác nhân khác như: stress, thay đổi thức ăn đột ngột, thiếu vitamin A, Fe,
chuồng trại ẩm thấp cũng là động lực làm cho E coli phát triển mạnh và có khả
năng gây bệnh nhanh
Do những yếu tố stress kể trên, E coli xâm nhập vào màng ruột gây độc
trong mạch màu, độc tố làm thay đổi tính thẩm thấu của màng mạch máu, gây phũ thũng xung quang Nếu vi khuẩn xâm nhập vào não, gây cho lợn triệu chứng thần kinh
b) Triệu chứng:
Những ngày đầu mới nhiễm, lợn con ỉa lỏng có màu vàng hay ghi, kém ăn,
đi lại không nhanh nhẹn, da nhợt nhạt Hậu môn, đuôi và 2 chân sau luôn bết phân vàng, da nhăn khô mất nước, lông xù dựng, nhiệt độ cơ thể 40 - 410C Ở giai đoạn sau lợn con có những biểu hiện thần kinh nhẹ như đâm đầu vào tường, đi lại
không định hướng do E coli dung huyết, mặt đầu phù nề, mí mắt sưng, lợn có
những biểu hiện co giật, 2 chân sau bại liệt, chết đột ngột, tỷ lệ chết cao từ 90% Mổ khám thấy xung huyết đường ruột, màng treo ruột, dạ dày chứa ít sữa đông đặc như chưa được tiêu hóa, hạch ruột sưng và xung huyết
40-2.1.3.3 Bệnh phó thương hàn
a) Nguyên nhân: Do vi khuẩn Salmonella gây ra Bệnh xảy ra chủ yếu ở
lợn con từ 30 ngày tuổi đến 4 tháng tuổi Biểu hiện đặc trưng của bệnh là
Trang 29nhiễm trùng huyết, sốt, rối loạn tiêu hóa và thường bị viêm phổi Bệnh xảy ra
bởi nhiều type vi khuẩn nhưng hay gặp nhất là Salmonella choleracsuis và
Sal.Typhysuis
b) Triệu chứng:
mùi thối khắm, có trường hợp dính chặt cả 2 bên mí mắt với nhau tạo thành vành đai trên mí mắt như đeo kính, da tụ máu có nốt đỏ ủng Sau tím xanh ở tai, ngực, bụng, chết nhanh sau 1-2 ngày, tỷ lệ chết cao 90%
- Thể thứ cấp tính: lợn sốt 40-410C, ủ rũ, kém ăn hoặc bỏ ăn, lợn ỉa chảy dai dẳng, khi đi táo, khi ỉa lỏng Con vật gầy yếu suy nhược và chết trong khoảng 10-15 ngày Lợn khi mắc bệnh chậm lớn, lông xù, da tái nhợt thường thấy bong vẩy, phân có màu xanh vàng đến màu cà phê, mùi tanh khắm
2.1.3.4 Bệnh viêm ruột
a) Nguyên nhân: Do không tuân thủ chế độ dinh dưỡng, cho lợn ăn nhiều
thức ăn thô xấu, chất lượng kém, nấm mốc, thức ăn lên men chua, thay đổi thức ăn đột ngột, thức ăn có chữa độc tố, hay lợn bị lạnh do thay đổi thời tiết,
vệ sinh chuồng trại không tốt, chuồng quá ẩm ướt, quá bẩn
b) Triệu chứng: Xuất huyết nhanh, thân nhiệt cao hơn bình thường
1-1,50C, lợn bỏ ăn hoặc giảm ăn, uống nhiều nước, một số con giai đoạn đầu
chảy nhiều nước bọt, nôn mửa hay nằm, ít đi lại
Trạng thái chung của lợn bệnh là ủ rũ, kém linh hoạt, xù lông, khi tiêu chảy sang dạng mãn tính niêm mạc nhợt nhạt, ỉa chảy phân có nhiều chất nhầy
có khi lẫn máu, phân có mùi hôi thối
2.1.3.5 Bệnh Enteroxemia (Clostridium perfringens type A,C)
a) Triệu chứng: Clostridium perfringens type A ít gây bệnh cho lợn con
cai sữa mà hay gây bệnh cho lợn con theo mẹ với triệu chứng tiêu chảy và ở
lợn nái gây chết đột ngột