1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài Chế độ quằng và đời sống văn hóa của người Tày ở Bảo Lạc (Cao Bằng) trước năm 1945

128 1,2K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài Chế độ quằng và đời sống văn hóa của người Tày ở Bảo Lạc (Cao Bằng) trước năm 1945 Đề tài Chế độ quằng và đời sống văn hóa của người Tày ở Bảo Lạc (Cao Bằng) trước năm 1945 Đề tài Chế độ quằng và đời sống văn hóa của người Tày ở Bảo Lạc (Cao Bằng) trước năm 1945 Đề tài Chế độ quằng và đời sống văn hóa của người Tày ở Bảo Lạc (Cao Bằng) trước năm 1945 Đề tài Chế độ quằng và đời sống văn hóa của người Tày ở Bảo Lạc (Cao Bằng) trước năm 1945 Đề tài Chế độ quằng và đời sống văn hóa của người Tày ở Bảo Lạc (Cao Bằng) trước năm 1945 Đề tài Chế độ quằng và đời sống văn hóa của người Tày ở Bảo Lạc (Cao Bằng) trước năm 1945 Đề tài Chế độ quằng và đời sống văn hóa của người Tày ở Bảo Lạc (Cao Bằng) trước năm 1945 Đề tài Chế độ quằng và đời sống văn hóa của người Tày ở Bảo Lạc (Cao Bằng) trước năm 1945

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Đào Tố Uyên, người đã tận tâm, tận tình chỉ bảo, động viên và hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này

Tác giả xin trân trọng cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong Khoa Lịch sử đặc biệt là Tổ bộ môn Lịch sử Việt Nam, Phòng sau đại học trường Đại học Sư Phạm

Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình lựa chọn

và hoàn thiện đề tài luận văn

Cuối cùng, xin gửi lời biết ơn chân thành đến gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp đã luôn ủng hộ, giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng10 năm 2014

Tác giả luận văn

Bùi Thị Nga

Trang 3

DANH MỤC BẢNG VIẾT TẮT

Nxb : Nhà xuất bản

QSQTN : Quốc sử quán triều Nguyễn KHXH : Khoa học xã hội

VHTT : Văn hóa thông tin

VHDT : Văn hóa dân tộc

CTQG : Chính trị quốc gia

ĐHSPHN : Đại học sư phạm Hà Nội TTLTQG I : Trung tâm lưu trữ quốc gia I UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích, đối tượng, nội dung và phạm vi nghiên cứu của đề tài 5

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 6

5 Đóng góp của Luận văn 7

6 Bố cục của Luận văn 8

NỘI DUNG 9

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN BẢO LẠC (CAO BẰNG) 9

1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 9

1.1.1 Vị trí địa lý 9

1.1.2 Điều kiện tự nhiên 10

1.2 Lịch sử hành chính 16

1.3 Các thành phần dân tộc 18

1.4 Kinh tế 21

1.4.1 Kinh tế nông nghiệp 21

1.4.2 Công - thương nghiệp 27

1.4.2.1 Thủ công nghiệp 27

1.4.2.2 Thương nghiệp 31

Tiểu kết chương 1 34

Chương 2 CHẾ ĐỘ QUẰNG CỦA NGƯỜI TÀY Ở BẢO LẠC (CAO BẰNG) TRƯỚC 1945 35

2.1 Khái quát chính sách của các triều đại phong kiến Việt Nam đối với các dân tộc ít người miền núi 35

2.2 Lịch sử chế độ Quằng và các dòng họ Quằng trong dân tộc Tày ở Bảo Lạc - Cao Bằng trước 1945 39

Trang 5

2.2.1 Lịch sử chế độ Quằng 39

2.2.2 Các dòng họ Quằng ở Bảo Lạc - Cao Bằng 41

2.2.2.1 Dòng họ Nông 41

2.2.2.2 Dòng họ Ma Sĩ 49

2.2.2.3 Dòng họ Dương Đình 50

2.3 Kết cấu kinh tế - xã hội của chế độ Quằng ở Bảo Lạc 51

2.3.1 Chế độ ruộng đất và các hình thức bóc lột của Quằng 51

2.3.1.1 Giai đoạn trước khi Thực dân Pháp xâm lược và thống trị 51

2.3.1.2 Giai đoạn Thực dân Pháp xâm lược và thống trị 66

2.3.2 Kết cấu xã hội trong chế độ Quằng 67

2.3.2.1 Giai cấp thống trị 68

2.3.2.2 Giai cấp bị trị 71

2.3.3 Bộ máy thống trị và phương thức thống trị 73

2.3.3.1 Thời kỳ trước khi Pháp thống trị 73

2.3.3.2 Thời kỳ Pháp thống trị 78

2.4 Một số nhận xét về chế độ Quằng đối với chính trị - xã hội của Bảo Lạc trước năm 1945 80

Tiểu kết chương 2 83

Chương 3: ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CỦA NGƯỜI TÀY Ở BẢO LẠC (CAO BẰNG) 84

3.1 Đời sống văn hoá vật chất 84

3.1.1 Làng bản và nhà cửa 84

3.1.1.1 Làng bản 84

3.1.1.2 Nhà cửa 85

3.1.2 Ăn uống 86

3.1.2.1 Các món ăn ngày thường 86

3.1.2.2 Các món ăn ngày lễ, tết 86

Trang 6

3.1.2.3 Cách chế biến một số món ăn 87

3.1.3 Y phục, trang sức 92

3.1.3 1 Y phục 92

3.1.3.2 Trang sức 92

3.2 Đời sống văn hoá tinh thần 92

3.2.1 Các tục lệ xã hội 92

3.2.1 1 Hôn nhân 92

3.2.1 2 Tang ma 97

3.2.1.3 Tục mừng thọ 99

3.2.1 4 Tục “Vàng rùng” 100

3.2.1 5 Đầy tháng (ma nhét) 101

3.2.1 6 Lễ tết 101

3.2.2 Tín ngƣỡng, tôn giáo 104

3.2.2.1 Tín ngưỡng 104

3.2.2.2 Tôn giáo 106

3.2.3 Lễ hội 106

3.2.3.1 Lễ hội Lồng tồng (Xuống đồng) 106

3.2.3.2 Hội “Háng Toán”(hội chợ) 108

3.2.3.3 Mừng cơm mới 109

3.2.4 Văn học dân gian 110

3.2.5 Tri thức dân gian 112

Tiểu kết chương 3 113

KẾT LUẬN 114

TÀI LIỆU THAM KHẢO 116

PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cao Bằng là một tỉnh miền núi, cao nguyên biên giới thuộc vùng đông bắc Tổ quốc, là địa bàn cư trú của hơn 20 dân tộc anh em Đại Nam nhất thống chí ghi:

Tỉnh Cao Bằng “đông tây cách nhau 165 dặm, nam bắc cách nhau 115 dặm, phía

đông giáp Long Châu phủ Thái Bình nước Thanh 133 dặm, phía tây giáp huyện Cảm Hoá tỉnh Thái Nguyên 32 dặm, phía nam giáp huyện Cảm Hoá và huyện Thất Khê tỉnh Lạng Sơn 60 dặm, phía bắc giáp châu Qui Thuận phủ Trấn Yên nước Thanh 55 dặm, phía đông nam giáp huyện Thất Khê tỉnh Lạng Sơn và châu Hạ Đống nước Thanh 45 dặm, phía tây nam giáp huyện Cảm Hoá tỉnh Thái Nguyên 45 dặm, phía đông bắc giáp châu An Bình thuộc phủ Thái Bình nước Thanh 152 dặm,…” [37, Tr 401]

Với vị trí địa lý như vậy, ngay từ buổi sơ khai, Cao Bằng chính là một mảnh đất “địa linh nhân kiệt” với bề dày truyền thống lịch sử và văn hoá rất đáng trân trọng và tự hào Từ xa xưa, nơi đây đã diễn ra sự cộng cư của nhiều dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Mông, Dao…Các dân tộc sống xen kẽ, phân bố không đồng đều nhưng cùng nhau đoàn kết lao động và sáng tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần của riêng mình Có thể nói, vị trí địa lý đã tạo nên một Cao Bằng vừa độc đáo, vừa gần gũi mang đậm đà bản sắc văn hoá các dân tộc miền núi phía Bắc nước ta Ngày nay,

Trang 8

luôn coi trọng gìn giữ vùng quan ải, phiên trấn của Tổ quốc ở biên giới phía bắc (đặc biệt là nơi đồng bào dân tộc sinh sống), để giữ yên bờ cõi bằng cách gả công

chúa, phong chức tước cho thổ tù địa phương,…như ở thời nhà Lý: “Thời bấy giờ

không đặt tiết trấn, các việc quân sự và dân sự đều giao cho các châu mục cai quản Các miền thượng du lại giao cho bọn tù trưởng địa phương cai quản Nhà vua sợ khó khống chế được họ nên mới kết mối giao hảo bằng các cuộc hôn nhân

để ràng buộc họ… từ đó, việc gả công chúa cho các châu mục trở thành lệ thường của nhà Lý” [12, Tr 33]

Như vậy, trước cách mạng tháng Tám 1945, dưới sự cai trị của các triều đại phong kiến trung ương tập quyền, ở một số vùng dân tộc miền núi đã tồn tại một chế độ xã hội mà trong đó quyền lực của các thổ tù địa phương là hết sức lớn – gọi chung là chế độ thổ ty với nhiều tên gọi và hình thức khác nhau như: Lang đạo (hay Nhà Lang) của người Mường, Phìa tạo của người Thái, hoặc Quằng trong tiếng gọi của người Tày

Chế độ Quằng của người Tày đã tồn tại dai dẳng đến cách mạng tháng Tám mới thực sự tan rã Những tàn dư của nó đã ảnh hưởng lớn đến đời sống của đồng bào Tày.Theo đó, đã hình thành nên một chế độ chính trị - xã hội hết sức độc đáo- chế độ Quằng Tìm hiểu về chế độ Quằng của người Tày sẽ góp phần dựng lại một bức tranh sống động về hiện thực quá khứ, từ đó, thấy được chính sách, biện pháp của triều đình trung ương đối với dân tộc thiểu số vùng biên viễn của Tổ quốc Trước năm 1945, chế độ Quằng trong dân tộc Tày tiêu biểu ở Hà Giang; ở Chiêm Hoá (Tuyên Quang); tiêu biểu là ở Bảo Lạc (Cao Bằng) với dòng họ Nông có thế lực lớn nhất

Mang đặc thù của vùng biên viễn xa xôi, Bảo Lạc cũng là nơi cộng cư của nhiều dân tộc khác nhau (như Tày, Nùng, Dao, Mông,…) Trong đó, dân tộc Tày với dân số đông nhất và cũng là tộc người còn bảo lưu được nhiều nét văn hóa độc đáo, tiêu biểu nhất ở Bảo Lạc giai đoạn trước cách mạng tháng Tám

Do yếu tố lịch sử và địa lý đã khiến không chỉ chế độ Quằng mà cả những nét văn hóa truyền thống của đồng bào Tày nơi đây mang những nét riêng hết sức độc

Trang 9

đáo Nghiên cứu về chế độ Quằng và văn hóa của người Tày ở Bảo Lạc (Cao Bằng) tuy đã có một vài tác giả quan tâm nghiên cứu ở các góc độ khác nhau, nhưng, chưa

có một công trình nào nghiên cứu vấn đề này một cách toàn diện và có hệ thống Tìm hiểu về chế độ Quằng và đời sống văn hóa của đồng bào Tày là cần thiết

để thấy rằng lịch sử phát triển của người Tày gắn liền với tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Trong đó, đồng bào Tày ở Bảo Lạc (Cao Bằng) cũng có vai trò và vị trí vô cùng quan trọng, là bộ phận hữu cơ trong cơ thể Việt Nam Mặt khác, tìm hiểu thấu đáo vấn đề này sẽ góp phần thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng, đồng thời, góp phần bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp tô thắm vườn hoa văn hóa của cộng đồng dân tộc Tày của Cao Bằng nói riêng và đồng bào Tày Việt Nam nói chung

Là một giáo viên Lịch sử, bản thân tôi có tâm nguyện được tìm hiểu về lịch sử của các dân tộc với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào công tác nghiên cứu khoa học về đồng bào miền núi để phục vụ cho công tác giảng dạy Lịch sử tại trường phổ thông

Với những lí do trên, chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Chế độ Quằng và

đời sống văn hoá của người Tày ở Bảo Lạc (Cao Bằng) trước năm 1945” làm đề

tài nghiên cứu của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Lĩnh vực nghiên cứu lịch sử và văn hóa của các dân tộc ít người ở miền núi phía Bắc nước ta từ trước đến nay đã có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau.Việc tìm hiểu về thiết chế Quằng của người Tày (hay chế độ Quằng) ở vùng Việt Bắc nói chung và của huyện Bảo Lạc (Cao Bằng) nói riêng đã có các công trình nghiên cứu đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp

- Nghiên cứu về vấn đề này trước hết phải kể đến các bài nghiên cứu của các nhà sử học, nhà nghiên cứu như Đặng Nghiêm Vạn, Cầm Trọng, Nguyễn Tuấn Liêu, Hoàng Hoa Toàn, … trên Tạp chí Dân tộc học, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử… + Nguyễn Tuấn Liêu trong Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 44 (1962) với bài

“Mấy nét tình hình và nhận xét về chế độ Quằng trong dân tộc Tày ở Hà Giang” đã

Trang 10

trình bày những nét chính về tình hình chế độ Quằng trong dân tộc Tày ở Hà Giang trước 1945 Từ đó, tác giả đã đưa ra một số nhận xét khá thuyết phục của bản thân

về đặc điểm chế độ Quằng nơi đây

+ Cầm Trọng (1968) với bài nghiên cứu “Khái niệm Quằng của người Tày có

liên quan gì đến khái niệm Quảng của người Thái”, Tạp chí Dân tộc học Trong đó,

tác giả đã có những phân tích, liên hệ và chứng minh hai khái niệm “quằng” của người Tày và “quảng” của người Thái về bản chất là một

+ Đặng Nghiêm Vạn (1977) với bài nghiên cứu“Người gia nô trong xã hội có chế độ thổ ty, lang đạo, phìa tạo”đã phản ánh khá chi tiết tình cảnh và số phận của

những người gia nô (nô lệ) trong xã hội còn tồn tại chế độ thổ ty, lang đạo, phìa tạo trước năm 1945

+ Hoàng Hoa Toàn (1983), với bài viết “Sở hữu tập thể của mường bản” và “sở

hữu của thổ ty” đối với ruộng đất ở vùng Tày” được đăng trên Tạp chí Dân tộc học đã

trình bày khá cụ thể về các loại hình sở hữu ruộng đất trong xã hội thổ ty ở vùng Tày trong đó có đề cập tới sở hữu của thổ ty về ruộng đất ở Bảo Lạc trước năm 1945

- Báo cáo điền dã “Vài nét khái quát về chế độ thổ ty ở Bảo Lạc - Cao Bằng”

(1973) của Sinh viên trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội, đã nêu lên một cách khái quát về chế độ Quằng tại địa phương

- Lã Văn Lô, “Về bảy dòng họ Thổ ty Lạng Sơn” (bản phục chế của Viện

Dân tộc học 2008) đã cung cấp những thông tin quý báu về nguồn gốc cũng như phả hệ của các dòng họ Quằng ở Lạng Sơn, trong đó có nhắc đến dòng họ Nông ở Bảo Lạc là một chi của dòng họ Nông

- Hoàng Bé (1985), Các quan hệ hôn nhân gia đình trong xã hội người Tày ở

Bảo Lạc”, tác giả có đề cập đến mối quan hệ hôn nhân trong các dòng họ Thổ ty

của địa phương

- Cuốn sách “Phong tục tập quán dân tộc Tày ở Việt Bắc” (1994) của tác giả

Hoàng Quyết - Tuấn Dũng Trong đó, tác giả đã trình bày khá chi tiết và sinh động những nét phong tục tục tâp quán truyền thống của đồng bào Tày ở Việt Bắc

Trang 11

- Luận án tiến sĩ “Huyện Quảng Hoà (tỉnh Cao Bằng) từ khi thành lập đến

giữa thế kỷ XIX” (2000) của tác giả Đàm Thị Uyên có phân tích về chế độ

Quằng và ảnh hưởng của nó đến đời sống của cư dân địa phương Quảng Hoà tỉnh Cao Bằng

- Cuốn “Địa chí các xã tỉnh Cao Bằng” (2002) trong đó có địa chí các xã

huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm đã trình bày những nét khái quát nhất về đặc điểm, vị trí địa lý, tự nhiên, dân cư, dân tộc, lịch sử và văn hóa truyền thống các xã trong toàn huyện

- Đề tài nghiên cứu khoa học: “Thiết chế chính trị - xã hội Quằng ở Hà

Giang trước năm 1945” của sinh viên Hoàng Diệu Thúy (2003) - Khoa Lịch sử -

ĐHSP Thái Nguyên, tác giả đã phân tích khá sâu sắc về tình hình và thiết chế chính trị xã hội Quằng ở Hà Giang Trong đó, có nhắc đến mối quan hệ gắn bó và

họ hàng giữa các dòng họ Quằng ở Hà Giang với các dòng họ Quằng ở Bảo Lạc tại thời điểm mà chế độ Quằng vẫn còn tồn tại ở đây

Những công trình nghiên cứu trên đã cung cấp cho tác giả những luận cứ khoa học quan trọng và cũng là những ý kiến gợi mở quý báu để tác giả có điều kiện thực hiện và hoàn thành đề tài của mình

3 Mục đích, đối tượng, nội dung và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Mục đích nghiên cứu: Thực hiện đề tài “Chế độ Quằng và đời sống văn

hoá của người Tày ở Bảo Lạc (Cao Bằng) trước năm 1945” trên cơ sở nguồn tư

liệu có được, tác giả đề tài mong muốn bước đầu khôi phục lại một cách chân thực, khoa học diện mạo của chế độ Quằng và đời sống văn hoá của đồng bào Tày

ở Bảo Lạc trước năm 1945 Từ đó, tác giả sẽ rút ra những nhận xét, đánh giá của bản thân về đặc điểm của chế độ Quằng - một chế độ chính trị - xã hội đã từng tồn tại dai dẳng, chi phối đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào địa phương Đồng thời làm nổi bật được những nét văn hoá truyền thống trong đời sống văn hóa của đồng bào Tày nơi đây

- Đối tượng nghiên cứu: Chế độ Quằng và đời sống văn hoá của người Tày ở Bảo Lạc (Cao Bằng) trước năm 1945

Trang 12

- Nội dung nghiên cứu: Tìm hiểu Chế độ Quằng) và đời sống văn hoá của đồng bào Tày ở Bảo Lạc (Cao Bằng) trước năm 1945 Từ đó, tác giả rút ra đặc điểm

và ảnh hưởng của chế độ Quằng tới đời sống người dân bản địa

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian: Đề tài nghiên cứu “Chế độ Quằng và đời sống văn hoá của người Tày ở Bảo Lạc (Cao Bằng) trước 1945” ở phạm vi không gian là một châu - châu Bảo Lạc (thuộc xứ Tuyên Quang cũ) nay là huyện Bảo Lạc tỉnh Cao Bằng (bao gồm hai huyện Bảo Lạc và Bảo Lâm ngày nay)

+ Về thời gian: Đề tài “Chế độ Quằng và đời sống văn hoá của người Tày ở Bảo Lạc(Cao Bằng) trước 1945”có giới hạn thời gian là trong phạm vi trước năm

1945

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

*Nguồn tài liệu:

Để nghiên cứu đề tài “Chế độ Quằng và đời sống văn hoá của người Tày ở Bảo Lạc (Cao Bằng) trước năm 1945” nguồn tài liệu được sử dụng gồm nhiều nguồn khác nhau Riêng nguồn tài liệu gốc chủ yếu tiếp cận với bộ sử như Đại Việt

sử kí toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí, Kiến văn tiểu lục, Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí và nguồn tư liệu địa bạ triều Nguyễn

Nguồn tài liệu chủ yếu là tài liệu tham khảo từ địa phương, Sở Văn hoá Cao Bằng, Phòng Văn hoá huyện Bảo Lạc, các bài viết, bài nghiên cứu của các nhà nghiên cứu và các thông tin thu thập được từ các cụ cao niên trong các chuyến đi điền dã tại địa phương Song, các tài liệu còn rất nhỏ lẻ, phân tán

*Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, tác giả đã sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên và liên ngành như: Phương pháp luận (gồm phương pháp biện chứng, phương pháp lịch sử và phương pháp logic) và phương pháp cụ thể (phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu, phương pháp khai thác tư liệu thành văn kết hợp với phương pháp điền dã dân tộc học)

Trang 13

- Phương pháp luận:

+ Phương pháp biện chứng: Nghiên cứu đề tài “Chế độ Quằng và đời sống văn hoá của người Tày ở Bảo Lạc (Cao Bằng) trước năm 1945” là tác giả đặt Chế độ Quằng và văn hoá của người Tày trong mối tương quan với tình hình chính trị xã hội Việt Nam tại thời điểm đó trong sự tác động qua lại của các sự vật hiện tượng + Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu đề tài, chúng tôi đặt đối tượng nghiên cứu (tức là đặt Chế độ Quằng và đời sống văn hoá của người Tày ở Bảo Lạc)trong một không gian, thời gian, bối cảnh và tiến trình lịch sử của nó để giải thích được và làm

rõ vấn đề

- Phương pháp cụ thể:

+ Phương pháp sưu tầm tư liệu, phân loại tư liệu và chỉnh lí tư liệu

+ Phương pháp điền dã dân tộc học

5 Đóng góp của Luận văn

Nghiên cứu về “Chế độ Quằng và đời sống văn hoá của người Tày ở Bảo Lạc (Cao Bằng) trước năm 1945” sẽ góp phần phục dựng lại chế độ Quằng của đồng bào Tày đã từng tồn tại dai dẳng trong lịch sử Qua đó, thấy được những đặc điểm riêng biệt của chế độ Quằng nơi đây so với các nơi khác

Thông qua tìm hiểu về Chế độ Quằng, đề tài cũng sẽ bước đầu dựng lại một cách chân thực bức tranh xã hội miền núi phía Bắc nước ta dưới sự tác động của chính sách dân tộc của các triều đại phong kiến Việt Nam Trên cơ sở đó, thấy được ý nghĩa quan trọng về quốc phòng và an ninh của những vùng dân tộc ít người miền núi biên giới của nước ta, từ đó có những chính sách dân tộc phù hợp

và kịp thời để thực hiện mục tiêu đưa miền núi và miền xuôi xích lại gần nhau Qua tìm hiểu về đời sống văn hoá của đồng bào Tày sẽ giúp ta thấy được những nét văn hoá truyền thống của đồng bào Tày ở Bảo Lạc mà cho đến ngày nay vẫn còn lưu giữ được Từ đó có những chính sách gìn giữ, bảo tồn và phát huy những nét văn hoá truyền thống trong công cuộc hội nhập hiện nay

Trang 14

Luận văn cũng là nguồn tài liệu bổ sung cho phần lịch sử cổ - trung đại

Việt Nam và đồng thời cũng là nguồn tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy

lịch sử địa phương ở trường phổ thông

6 Bố cục của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phục lục và tài liệu tham khảo, phần

nội dung của Luận văn được cấu trúc thành 3 chương:

Chương 1: Khái quát về huyện Bảo Lạc tỉnh Cao Bằng

Chương 2: Chế độ Quằng của người Tày ở Bảo Lạc (Cao Bằng) trước năm 1945

Chương 3: Đời sống văn hoá của người Tày ở Bảo Lạc (Cao Bằng)

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN BẢO LẠC (CAO BẰNG)

1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Các sách của nhà Nguyễn biên chép về địa giới của Bảo Lạc như sau:

Theo sách “Đại Nam nhất thống chí”: châu Bảo Lạc thế kỷ XIX: “Đông

tây cách nhau 93 dặm, nam bắc cách nhau 140 dặm, phía đông đến địa giới châu Chiêm Hoá 33 dặm, phía tây đến địa giới huyện Vị Xuyên và châu Chiêm Hoá 96 dặm, phía bắc đến địa giới huyện Để Định 18 dặm (phía bắc của huyện

Để Định đến địa giới huyện Trấn Yên nước Thanh 81 dặm, vậy phía bắc của châu Bảo Lạc khi chưa tách huyện có địa giới giáp huyện Trấn Yên nước Thanh

99 dặm - TG) [37, Tr 338]

Hoặc “Địa hạt hai huyện (huyện Vĩnh Điện và Để Định - tức châu Bảo Lạc)

phía đông giáp địa giới châu Bạch Thông tỉnh Thái Nguyên và huyện Thạch Lâm tỉnh Cao Bằng; phía tây giáp huyện Vị Xuyên; phía nam giáp châu Chiêm Hoá; phía bắc giáp hai phủ Khai Hoá, Trấn An nước Thanh…” [54, Tr 871]

Với vị trí địa lý như vậy, Bảo Lạc là một huyện biên giới, vùng cao,vùng sâu, nằm ở phía tây của tỉnh Cao Bằng Mặt khác, Bảo Lạc cũng có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng

Trang 16

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

Xét trong tổng thể địa hình Cao Bằng, địa hình Bảo Lạc thuộc Cao nguyên Lang Cá và Cao nguyên Bình Lạng, đây là cao nguyên đá vôi đồ sộ nằm ở phía tây của huyện Bảo Lạc và huyện Bảo Lâm Cao nguyên này bị cắt xẻ bởi nhiều thung lũng sâu với những vách đá dựng đứng, có nhiều vực thẳm có nhiều ngọn núi cao từ 1200m - 1800m, là một cao nguyên hiểm trở giao thông đi lại khó khăn, dân cư thưa thớt

Dãy Bảo Lạc - Tắp Ná chạy sang phía đông Bảo Lạc kéo dài qua Thông Nông, tây Hòa An đến đông bắc Nguyên Bình Đỉnh cao nhất có độ cao 1803m thuộc xã Khánh Xuân (Bảo Lạc) Dãy núi này cũng bị chia cắt thành nhiều hẻm vực sâu, nhiều thung lũng rộng, điển hình là thung lũng Đồng Mu, một thung lũng nổi tiếng

ở độ cao 893 m so với mặt nước biển

Trong cuốn Đồng Khánh Dư địa chí cũng đã ghi chép về núi sông của Bảo Lạc (bấy

giờ là hai huyện Vĩnh Điện và Để Định thuộc phủ Tương An - tỉnh Tuyên Quang):“Núi

đá núi đất liên tiếp, khó đếm được thực có bao nhiêu ngọn núi Duy có núi đất Cổ Long ở

xã Yên Phú là tương đối cao Núi đá Ngọc Nữ ở xã Mông Ân, núi đá ở trang Ngọc Mạo, núi đá Tam Phùng là những núi rất cao và hiểm trở…” [54, Tr 872]

Các ngọn núi của huyện Bảo Lạc thường cao dần về phía Đồng Văn Núi cao hùng vĩ, địa hình hiểm trở đã tạo nên một Bảo Lạc với nhiều sản vật quý từ

gỗ quý, thú vật quý, dược liệu quý, kim loại quý,… Trong “Non nước Cao

Bằng”, Hoàng Tuấn Nam đã chép về Bảo Lạc như sau: “Tại xã Mông Ân huyện

Bảo Lạc có đến 4 ngọn núi cao 1805 m đến 1244m so với mặt nước biển Đây là một vùng núi cao hùng vĩ, chứa nhiều gỗ quý, thú vật quý và còn là nơi có trữ

Trang 17

lượng dồi dào về cây dược liệu quý hiếm như trĩ, hổ, gấu, báo, sơn dương, hà thủ ô, ” [32, Tr 20] Đáng chú ý nhất là ngọn núi Phja Dạ cao tới 1980m so với

mặt biển, nằm giữa huyện Bảo Lạc và huyện Ba Bể (Bắc Cạn) Núi Phja Dạ có cấu tạo từ đá granit, quanh năm được mây mù bao phủ, núi rừng rậm rạp, âm u, về mùa đông, núi có tuyết và băng giá Dân bản địa thường gọi phja Dạ là “núi tiên”, có câu ca

“Phja Dạ chẳng bao giờ vắng mặt các nàng tiên”

Ngoài ra, còn phải kể đến các ngọn núi Ngọc Mạo; núi đá Tam Phùng; núi bản Miơng, cao 1200m; núi Phja Rạc, cao 1500m; núi Phja Khao, cao 1200m; núi Nạm

Phùm, cao 1800m,… Sử cũ chép về núi Ngọc Mạo: “Ở phía tây huyện Để Định,

khoảng đất bằng phẳng rộng hơn 2000 mẫu, ở giữa nổi vọt lên một quả núi, như hình cái mũ, nên tên gọi thế; phía trước núi có hồ tức hồ ngọc Mạo, rộng hơn một mẫu,

nước hồ trong trẻo đáng ưa” [37, Tr.347] Có thể nói, mang đặc trưng của một huyện

miền núi với nhiều ngọn núi cao đã khiến Bảo Lạc có một thiên nhiên hùng vĩ

- Về sông suối

Sông suối Bảo Lạc có độ dốc khá cao, hướng chảy tập trung và chảy về phía tây như sông Gâm và sông Neo

Thời Nguyễn, ghi chép châu Bảo Lạc có các con sông: “Một sông từ sông

Bách Nam ở phủ Trấn An nước Thanh đổ xuống cửa sông xã Ân Quang huyện Để Định, (đây có thể chính là sông Gâm ngày nay - TG), một sông từ sông phủ Khai Hoá đổ xuống cửa sông xã Yên Lãng huyện ấy Hai sông này hợp dòng ở xứ Nà Sài (tục gọi là ngã ba Nà Sài) chảy đến xứ Hạ Lam xã Lạc Nông, tiếp vào giang

phận châu Chiêm Hoá, làm thượng lưu sông Khâm Giang” [54, Tr 872]

Như vậy, nếu chiếu vào vị trí và địa hình ngày nay thì hai con sông mà sách Đồng Khánh Dư địa chí đã chép chính là hai con sông là sông Gâm và sông Neo, ngã ba Nà Sài rất có thể chính là ngã ba Kéo Cò Luồng (nơi còn gắn liền với câu chuyện truyền thuyết về chặt đầu rồng được các cụ già nơi đây kể lại liên quan tới

vị thủ lĩnh họ Nông - TG) ở địa phận thị trấn Bảo Lạc ngày nay (Xem thêm hình 21,

phụ lục C)

Trang 18

- Sông Gâm (tiếng địa phương gọi là Pác Miào) là con sông quan trọng nhất

chảy về phía tây của cánh cung sông Gâm “Sông này bắt nguồn từ Trung Quốc

chảy qua dãy núi đá vôi Bảo Lạc, Tắp Ná một đoạn đường dài hàng chục kilômét, rồi mới đi qua vùng đá phiến Đến tây nam Bảo Lạc sông lại cắt ngang qua khối núi đá vôi của cao nguyên Lang Cá để sang đất Hà Giang Lòng sông rộng trung bình khoảng 70m và thu lại rất hẹp khi đi qua các hẻm đá nên mùa lũ nước dâng lên rất nhanh, thuyền bè đi lại khó khăn.” [4, Tr.35]

Một số người dân địa phương sống dọc ven sông khi được hỏi đã cho biết, dân bản thường nói với nhau rằng dưới sông có thuồng luồng to ăn thịt người, hàng năm đều lấy người thì sông mới yên, nhất là khi mới lũ xong Họ còn cho biết, “thần sông” hay “thuồng luồng” thường “lấy” người lạ từ nơi khác đến Bởi vậy, những người lạ từ nơi khác đến thường không dám xuống vì sợ thuồng luồng kéo chân

Nước sông Gâm quanh năm xanh biếc, đoạn sông chạy qua thị trấn Bảo Lạc

ít thác ghềnh hơn Đấy là khi mùa cạn, còn khi mùa nước lũ về (từ tháng 6 đến tháng 7 âm lịch) hàng năm thường có lũ lớn, dòng nước cuồn cuộn đục ngầu làm

đổ và cuốn trôi cả cây to

Hai bên bờ sông Gâm thường có độ dốc cao, không sử dụng làm thủy lợi tưới tiêu được Tuy vậy, sông Gâm cũng có khá nhiều ưu điểm: Có nhiều loại cá

có giá trị kinh tế như cá anh vũ, cá chiên, cá lăng, cá trầm xanh, cá bống …

Trong đó, cá chiên chính là chúa tể của dòng sông này “Sông Gâm có nhiều cá

quý sinh sống: cá anh vũ (trước kia dùng để tiến vua), cá trầm xanh, cá chiên, cá lăng, cá bống Đây là năm loài cá quý mà người dân quanh dòng sông gọi là “ngũ quý hà thủy”” [32, Tr.16]

Như vậy, cá chiên là một giống cá nước ngọt quý hiếm trong “Ngũ quý hà thủy” của sông Gâm Theo lời kể của các cụ cao niên mà tác giả thu thập được trong quá trình điền dã thì trước kia các loại cá trên có rất nhiều ở sông Gâm Cá chiên có hình thù giống như một con “quái vật”, đầu cá nham nhở như một khúc gỗ mục, toàn thân trơn nhẵn không vảy, nhưng xù và có màu sắc loang lổ Bản tính loài

Trang 19

cá này dữ dằn và hung ác Giống cá này rất lớn nặng tới vài chục cân thường sinh sống tại các khu vực nước sâu có hang đá, khe đá và đặc biệt là vị trí nước chảy xiết Chúng nằm sát đáy sông, ẩn mình trong hốc đá khiến thân hình khổng lồ không bị dòng nước cuốn đi và tạo thành nơi ngụy trang, trú ẩn lý tưởng để đón lõng con mồi đi qua và tránh được sự giăng bẫy của các thợ săn

Trước năm 1945, cá chiên có rất nhiều ở đây Đồng bào thường đi săn loại cá này để cải thiện bữa ăn Thời kỳ trước, hễ có thợ săn nào bắt được loại cá này là đem về mổ thịt khao cả làng và coi như đó là “lộc trời” ban tặng và đầu cá Chiên thường được thợ săn đem làm lễ cúng thần linh để tỏ lòng thành kính của mình” Ông Lương Văn Vàng (65 tuổi) sống bên bờ sông Gâm là một thợ săn có thâm niên 30 năm săn cá chiên cho biết ông đã từng săn được một con cá chiên nặng tới

60 kg Ngày nay, do tình trạng đánh bắt bừa bãi nên các loại cá này ngày càng trở nên khan hiếm

- Sông Neo (người dân quen gọi là sông Reo, tiếng địa phương gọi là sông Tà Miào), con sông này bắt nguồn từ Nặm Pắt xã Đình Phùng và Huy Giáp chảy đến xã Hưng Đạo giáp với xã Hồng Trị tại bản Nà Tồng dọc theo quốc lộ 34 chảy qua các xóm Pác Luồng, Bản Piậy, Bản Khuông, Thang Buổng, Nà Chùa, Nà Phạ đến điểm tiếp giáp cuối tại Nà Cán khu 10 thị trấn Bảo Lạc rồi đổ ra sông Gâm tại Kéo Cò Luồng

với tổng chiều dài 12km “Sông Neo có độ sâu là 1m đến 4m, rộng 10 - 15m, nước

chảy siết, lúc lên lúc xuống không ổn định lưu lượng dòng chảy 2m/s.” [48, tr.71]

Ngoài sông Gâm và sông Neo, mật độ các con suối, hồ ở Bảo Lạc cũng khá dày như: cách thị trấn Bảo Lạc khoảng 15km theo đường chim bay về phía đông có

hồ Đồng Mu, mặt hồ cao gần 900m so với mặt nước biển có vài con suối từ trên núi

đổ xuống hồ Hồ Đồng Mu có tác dụng điều hoà thời tiết và tưới nước cho đồng ruộng Cho tới ngày nay, nhân dân sinh sống quanh hồ cũng chưa biết chính xác độ sâu của hồ là bao nhiêu và họ chỉ biết rằng mùa khô hồ cũng không bao giờ bị cạn

- Sinh vật

Là một huyện miền núi của tỉnh Cao Bằng, 90% diện tích Bảo Lạc là đồi núi Bảo Lạc cũng là huyện vẫn còn hệ thống rừng nguyên sinh như rừng Bản Bét, rừng

Trang 20

Lũng Lèng, Lũng Lô, Lũng Cắm,… Theo thống kê của Hoàng Tuấn Nam khi tìm hiểu

về non nước Cao Bằng, hiện nay, trong các khu rừng nguyên sinh của huyện còn có rất nhiều các loại lâm, thổ sản quý hiếm như: gỗ nghiến, thông đá, dổi, khảo, dẻ đỏ, dẻ trắng, cắng cò,… và các loại gỗ khác Hay những rừng cây Mạy Kẹo, Mạy Cáng Lò, Mạy Xả Cài, Mạy Khỉ Lếch cao vút và bạt ngàn cây lát - đây là một loại gỗ quý của huyện đem lại hiệu quả kinh tế cao Trước 1970, trong các rừng còn có nhiều cây sa nhân - thuốc quý, song, do chặt phá bừa bãi nên số lượng giảm dần

Nhân dân địa phương có nhắc tới một loại cây gọi là cây mác cai, là một loại cây đặc sản của thị trấn Bảo Lạc Loại cây này thường mọc nhiều ở ven bờ

sông Gâm Ở thị trấn Bảo Lạc “từ bến phà Pác Gào đến Pác Pẹt, dài 4km, có

đến 20 cây to, cứ vài chục mét lại có một gốc cây to đến hai, ba người ôm không xuể, cây cao, cành lá xum suê, từng chùm quả khi chưa chín có màu lá

mạ, khi chín màu vàng như quả xoài, to bằng quả trứng gà, hạt như hạt xoài,

ăn vừa thơm, vừa bùi, quả mác cai có thể ăn thay cơm.” [48, Tr.4]

Trong chuyến thực tế điền dã, tác giả có tiếp xúc với một số người dân sống dọc ven sông Gâm, sông Neo như: Bà Quan Thị Méo (63 tuổi) có kể rằng: Hồi bà còn nhỏ, cây mác cai mọc rất nhiều ven sông Gâm, sông Neo, cây to một người ôm,

ở trong bìa rừng còn có cây rất to, hai, ba người ôm không xuể, quả sai trĩu, lũ trẻ con những khi đi chăn bò, lấy củi thường trèo hái quả ăn Có năm, mác cai sai trĩu, dân trong bản còn đi lấy qua đựng vào giậu hàng gánh gánh về, ăn no mà không chán Cũng theo kinh nghiệm dân gian của dân bản rằng hễ năm nào mác cai trĩu quả thì năm đó lúa trên nương trên rẫy cũng thường bị mất mùa Mác cai thường mọc sát bờ nên cá sộp, cá chày hay tụ tập ăn quả chín rụng Ngày nay, cây mác cai còn rất ít do người dân chặt làm củi đun và do đã có quả xoài thay thế nên quả mác cai không còn được ưa chuộng như xưa nữa, nhưng, đồng bào vẫn lấy quả mác cai xanh để kho thịt, cá ăn rất ngon [88]

- Khí hậu

Khí hậu Bảo Lạc cũng chịu tác động lớn của yếu tố địa hình Do huyện

miền núi nên mùa hạ rất mát mẻ còn mùa đông lại rét buốt: “… hàng năm, đến

Trang 21

mùa đông giá rét, nước đóng băng (xã Mậu Duệ thuộc huyện Để Định…) giáp với nước Thanh mùa đông rét buốt, nước đóng lại thành băng, người ta lấy dao sắt đào từng khối bỏ vào sọt tre gánh về, dùng lửa đun cho chảy ra, mới có thể

thổi nấu được” [37, Tr.334]

Bảo Lạc “mùa hè và mùa thu thường mưa nhiều, mùa đông và mùa xuân

thường âm u, mỗi khi mưa lâu tiếp đến ngày nắng thì khí nóng khác thường; đến tiết sương giáng thường có gió rét, tháng ba và tháng chín khí nóng nung nấu, nhiều người bị cảm Ngạn ngữ có câu: tháng chín thì quýt đỏ trôn Tháng ba ngái

nở cái con cùng về” [37, Tr.334]

Như vậy, các sách đều chép và miêu tả về khí hậu của Bảo Lạc diễn biến phức tạp, là nơi “hang thâm cùng cốc”, âm u Điều đó chứng tỏ đây là một

miền xa xôi hẻo lánh với chính quyền trung ương “Đất giáp nước Thanh,

nhiều sương núi khí độc, đến giờ thìn, giờ tỵ trời mới hửng nắng Đến mùa xuân còn rét Mùa hè nhiều mưa lũ, đường thủy, đường bộ đều khó đi Mùa đông sương độc như mưa, đến giờ ngọ mới tan, rét buốt” [54, Tr 872]

Do đặc điểm địa hình chủ yếu là đồi núi, nhiều khe suối, địa hình bị cắt xẻ nên

giao thông Bảo Lạc đi lại hết sức khó khăn Trong “Gia phả họ Nông” do Nông

Hồng Loan (chắt đời thứ tư của Nông Văn Vân - thổ tù của bảo Lạc thời phong kiến

- TG) có ghi: “Bảo Lạc là một châu hẻo lánh thuộc Cao Bằng, cách tỉnh lỵ hơn trăm

cây số Ngày trước, … từ Nguyên Bình vào châu lỵ phải đi qua ba ngày ngựa qua trạm Nặm Pắt và Pác Lũng Đường xa hun hút, phong cảnh tiêu sơ… Châu Bảo Lạc là một thị trấn nhỏ nằm gọn trong thung lũng… có sông Reo (tức sông Neo - TG) trong vắt chảy qua ghềnh đá … đối diện là núi Vân Trung hiểm trở…” [83, Tr.3]

Trong những năm gần đây, được Đảng và Nhà nước quan tâm, với những chính sách 134, 135, 327, của Đảng và chính phủ, giao thông đi lại của đồng bào các dân tộc nơi đây đã có những bước cải thiện rõ rệt, đường huyện lỵ, tỉnh lỵ, thậm chí có cả đường liên xã

Như vậy, vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên như vậy đã mang lại cho Bảo Lạc khá nhiều thuận lợi xong cũng không ít những khó khăn Bảo Lạc là một huyện có

Trang 22

thế mạnh về lâm nghiệp, tài nguyên rừng khá phong phú đặc biệt là những rừng nguyên sinh với nhiều cây gỗ quý như trúc, trẩu, sở,… Do vậy, nếu được đầu tư cơ

sở vật chất hạ tầng, giao thông, thì Bảo Lạc có thể phát triển công nghiệp chế biến lâm thổ sản mang lại giá trị kinh tế cao Mặt khác, huyện cũng có điều kiện để phát triển chăn nuôi đại gia súc như trâu, bò Bên cạnh đó, khí hậu Bảo Lạc cũng có hạn chế gây khó khăn trong sản xuất và đời sống sinh hoạt của đồng bào nơi đây như hiện tượng băng giá, sương muối, lũ quét, hạn hán, mưa đá,…

Do giao thông khó khăn, cơ sở vật chất còn thiếu nên nhìn chung Bảo Lạc vẫn

là một huyện khó khăn của tỉnh Cao Bằng, kinh tế kém phát triển, chủ yếu là nông - lâm nghiệp, cuộc sống của đồng bào nơi đây phải phụ thuộc rất lớn vào thiên nhiên Tuy nhiên, với sự quan tâm một cách thiết thực thông qua các chính sách, dự án của Đảng và Nhà nước, nhân dân các dân tộc Bảo Lạc đã và đang thực hiện công cuộc xoá đói giảm nghèo, từng bước xây dựng đời sống văn hoá mới, tiên tiến và đậm đã bản sắc dân tộc

1.2 Lịch sử hành chính

Căn cứ vào những tài liệu gốc như: Lịch triều hiến chương loại chí, Đồng Khánh dư địa chí, … cho thấy Bảo Lạc ngày nay trong lịch sử có nhiều thay đổi, với những tên gọi khác nhau, trực thuộc những đơn vị hành chính khác nhau

Trong “Lịch triều hiến chương loại chí” Phan Huy Chú viết: Tuyên Quang

“đời cổ là nước Lạc Long, Tần là quận Nam Hải, thuộc Hán gọi là quận Giao Chỉ, Đường là Châu Thang Thời Trần thuộc lộ Quốc Oai Đầu thời Lê là trấn Tuyên Quang, giữa năm Quang Thuận (1466) đặt làm thừa tuyên Tuyên Quang, có 1 phủ,

1 huyện, 5 châu: Phủ Yên Bình, huyện Phúc Yên (Hàm Yên); 5 châu: Thu Vật, Lục Yên, Đại Man, Vị Xuyên, Bảo Lạc” [12, Tr 143]

Như vậy, chiếu theo Lịch triều hiến chương loại chí, Bảo Lạc là một châu thuộc trấn Tuyên Quang Trong tiến trình lịch sử dân tộc, Bảo Lạc đã có nhiều lần

thay đổi về tên gọi và địa giới hành chính Địa chí Cao Bằng cũng ghi rõ: “Châu

Bảo Lạc, từ thời Lý là huyện Bảo Lạc thuộc châu Quảng Nguyên Năm Quang

Trang 23

Thuận thứ 10 (1469) đổi làm huyện Định Châu, sau lại đổi thành châu Bảo Lạc Đầu thời Nguyễn vẫn giữ nguyên, thuộc xứ Tuyên Quang gồm 4 tổng 21 xã (tổng Vân Quang có 6 xã tổng Đông Quang có 4 xã, tổng Mông Ân có 5 xã, tổng Yên Phú

có 6 xã, Năm Minh Mệnh thứ 14 (1833) Nông Văn Vân khởi nghĩa chống lại triều đình Sau khi dẹp được Nông Văn Vân, năm 1835, vua Minh Mệnh đã chia đặt

2 huyện Vĩnh Điện và Để Định Đến cuối thế kỷ XIX, châu Bảo Lạc được lập lại thuộc tỉnh Hà Giang Đến những năm đầu thế kỷ XX, huyện mới được tách về địa phận của tỉnh Cao Bằng” [47, Tr 831 - 832] Sau khi sáp nhập vào tỉnh Cao Bằng,

Bảo Lạc có 2 tổng:

“- Tổng Nam Quang, có 7 xã:

+ Xã Ân Quang: Gồm các xã Phan Thanh, Khánh Xuân, Xuân Trường, Hồng

An và một phần đất của xã Huy giáp ngày nay

+ Xã Yên Lạc: Gồm các xã Hưng Đạo, Đình Phùng, Huy Giáp và xã Sơn Lộ ngày nay

+ Xã Thượng Yên: Gồm các xã Hồng Trị, Hưng Đạo, Vĩnh Phong và một phần xã Vĩnh Quang ngày nay

+ Xã Yên Lãng: Gồm các xã Thượng Hà và Bảo Toàn ngày nay

+ Xã Nặm Quét:Là xã Cô Ba ngày nay

+ Xã Cốc Pàng: Gồm các xã Cốc Pàng và Đức Hạnh ngày nay

+ Xã Yên Đức: Gồm xã Lý Bôn và xã Vĩnh Quang ngày nay

- Tổng Mông Ân có 5 xã:

+ Xã Nam Cao

+ Xã Quan Quang gồm xã Nam Quang và xã Tân Việt ngày nay

+ Xã Mông Ân: Gồm các xã Mông Ân, xã Quảng Lâm và một phần xã Thái Học ngày nay

+ Xã Mông Yên

+ Xã Lạc Thổ gồm xã Yên Thổ và một phần xã Thái Học ngày nay”

[47, Tr.832]

Trang 24

Như vậy, sau nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, đến thời điểm trước khi tách huyện (9/2000),Bảo Lạc có tổng diện tích tự nhiên là 1821,75km2

gồm một thị trấn - thị trấn Bảo Lạc và 23 xã: Cốc Pàng, Tân Việt, Hồng Trị, Vĩnh Quang, Hồng

An, Huy Giáp, Yên Thổ, Bảo Toàn, Đức Hạnh, Thượng Hà, Cô Ba, Khánh Xuân, Xuân Trường, Phan Thanh, Lý Bôn, Nam Quang, Quảng Lâm, Mông Ân, Vĩnh Phong, Hưng Đạo, Đình Phùng, Sơn Lộ và Thái Học

Tháng 9/2000, sau khi điều chỉnh địa giới hành chính Bảo Lạc để thành lập huyện Bảo Lâm, diện tích huyện là 918km2

với 1 thị trấn và 16 xã: Sơn Lộ, Đình Phùng, Hưng Đạo, Huy Giáp, Hồng An, Xuân Trường, Khánh Xuân, Phan Thanh, Hồng Trị,

Cô Ba, Bảo Toàn, Cốc Pàng, Thượng Hà, Hưng Thịnh, Sơn Lập, và Kim Cúc

1.3 Các thành phần dân tộc

Bảo Lạc là một huyện vùng cao biên giới, giao thông đi lại khó khăn, nên dân cư sinh sống trên địa bàn huyện khá thưa thớt Chiếu theo biên chép của triều Nguyễn

trong Đồng Khánh dư địa chí “huyện Vĩnh Điện: Theo sổ cũ 334 người Huyện Để

Định: theo sổ cũ là 467 người ” [54, Tr.873] Vậy, dân hai huyện, tương đương với

châu Bảo Lạc, là 801 người Ngoài ra, còn có dân số thuộc hộ, khách hộ, người Thanh, người Nùng, người Mán, … cũng theo biên chép trên thì huyện Vĩnh Điện có 140 người, huyện Để Định có 711 người

Đến nay, mặc dù giao thông có những bước cải thiện nhiều, song, vẫn còn nhiều khó khăn và vì thế dân cư sinh sống trên địa bàn huyện vẫn còn rất thưa thớt Theo số liệu thống kê dân số 31/12/2009 của phòng thống kê huyện Bảo Lạc, toàn huyện Bảo Lạc có 8905 hộ với tổng số dân là 48920 (bình quân 5,4 người/1 hộ) Mật độ dân số bình quân 53 người/km2 Có 7 dân tộc chính gồm:

- Tày: 13.580 người - Nùng: 11.550 người

- Mông: 7572 người - Dao: 11.722 người

- Sán chỉ: 2377 người - Lô Lô: 1301 người

- Kinh: 407 người - Dân tộc khác: 411 người

Về phong tục, sách Đồng Khánh dư địa chí đã chép về phong tục của người dân bản địa sinh sống trên địa bàn châu Bảo Lạc, khi đó là 2 huyện Vĩnh Điện và

Trang 25

Để Định như sau: “Dân hai huyện nguyên có người Thổ (Tày), Nùng, Mèo, Mán,

mỗi dân tộc có một hai tộc, gồm ba bốn hạng dân, phong tục tiếng nói đều khác nhau, không học hành, ít hiểu biết Trong đó, người Thổ (Tày) tương đối có văn lễ, biết điều sỉ nhục Các tục cưới xin, tang ma, cúng tế nửa xa xỉ, nửa tiết kiệm Người Nùng, người Anh Miêu,, người Mán La Quả thì ngu độn nhưng thật thà Người Bạch Miêu (Mèo trắng), người Mán sư tử, Đại Bản thì rất gian ác, hung hãn không biết văn lễ Cưới xin, tang ma, cúng tế đều sơ sài không có nghi lễ Người Nùng ở chân núi, người Mán ở sườn núi, người Mèo ở đỉnh núi, quần áo đơn giản, không trang sức hoa văn Họ đều ở chỗ rừng núi…” [54, Tr 871]

Như vậy, qua cách miêu tả trên về phong tục tập quán của các tộc người,

ta thấy họ phần lớn rất lạc hậu, sống trên núi cao, nhiều dân tộc phần lớn chưa

có nét văn hóa, văn lễ trong sinh hoạt Do sống sâu trong núi và thung lũng hiểm trở, nên họ gần như không giao tiếp với bên ngoài, sống phân tán, cục bộ Đây là nguyên nhân tạo nên tính chất riêng rẽ, cát cứ và khép kín cũng là nguyên nhân dẫn đến sự lạc hậu, đói nghèo của các tộc người nơi đây

Cuốn “Gia phả họ Nông”, phần “Nguồn gốc” có chép tóm tắt vài nét về dân tộc Tày như sau: “khi dân tộc Hán làm chủ trung nguyên vào thời Hoàng Đế, họ

không ngừng bành trướng thế lực, mở rộng bờ cõi, đẩy lùi những dân tộc nhỏ về phương Nam Dân tộc Tày do chữ Thái đọc theo thổ âm cư trú tại lưu vực sông Dương Tử phải di cư xuống Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam rồi vào miền Bắc Việt Nam bấy giờ, khoảng thế kỷ thứ IV TCN sau thời kỳ dân tộc Việt Nam ít lâu, người đến trước chiếm vùng châu thổ Di cư theo đường này, người Tày có bốn

họ chính: Nông, Hoàng, Chu, Vi và nhiều họ lẻ khác Trong các họ này, họ Nông đông hơn, ở tập trung hơn nên mạnh hơn… Phong kiến Trung Quốc gọi người Tày

là Phiên nhân nghĩa là phiên dân thần phục Tiếng phiên nhân đọc thành Cần Phén

ở vùng Hải Ninh Phong kiến Việt Nam mệnh danh bà con Tày là người Thổ, nghĩa

là dân bản thổ để phân biệt với dân tộc khác” [83, Tr.5]

Sử cũ còn ghi lại về nguồn gốc của người Tày Cao Bằng hiện nay là con cháu của người Tày cổ - một cư dân giỏi nghề trồng lúa nước Nơi cư trú của

Trang 26

đồng bào Tày là những mảnh đất thuận lợi gần sông suối cho phép khai phá thành những ruộng đồng lúa nước Trong quá trình lịch sử, một bộ phận người Kinh ở miền xuôi đã lên đây sinh sống và Tày hóa, trở thành dân bản địa Bên cạnh dân tộc Tày là cư dân di cư đến sớm nhất nên được gọi là người Thổ thì trong quá trình lịch sử, các dân tộc khác cũng di cư đến đây sinh sống xen kẽ với đồng bào Tày như người Nùng, người Dao, Mông, Lô Lô, Sán Chỉ Khi đến đây, mỗi tộc người mang những nét văn hóa đặc trưng của tộc người mình Song, về sau, cùng với sự giao lưu buôn bán, những nét văn hóa tộc người

có sự giao thoa, cộng hưởng, cộng cư, để họ xích lại gần nhau, cùng chung sống hòa bình, đồng thời, chính họ đã làm giàu thêm văn hóa Việt “đa tộc người” và

“đa dạng trong thống nhất” Nhưng trong quá trình ấy, trình độ nhận thức của các tộc người cũng được nâng lên Vì họ đến sau trong khoảng vài đời đầu chỉ được xếp vào dân ngụ cư thuộc hộ, khách hộ, và người Thanh, người Nùng,

người Mán Trong “Đồng Khánh Dư địa chí” có chép: “Dân ngụ cư thuộc hộ,

khách hộ và người Thanh, người Nùng, người Mán:

Huyện Vĩnh Điện: 140 người

Trang 27

Từ số liệu thống kê dân số 2 huyện của nhà Nguyễn ở trên thì dân số của châu Bảo Lạc bấy giờ là huyện Vĩnh Điện và Để Định là 851 người Rõ ràng, dân cư ở đây

vô cùng thưa thớt Và điều này thể hiện tình trạng chung của mật độ dân cư sinh sống trên địa bàn miền núi, nơi đồng bào các tộc người thiểu số sinh sống Ngay cả hiện nay, khi mà Đảng và Nhà nước có những chính sách di dân miền xuôi lên xây dựng vùng kinh tế mới, và tình hình dù đã được cải thiện nhiều nhưng mật độ dân số ở hầu khắp các tỉnh miền núi cũng vẫn rất thưa thớt Ví dụ, theo niên gián thống kê năm 2000, dân số toàn tỉnh Cao Bằng là 494.742 người với mật độ dân số 74 người/km2

là mức thấp so với mật độ trung bình của cả nước So với mật độ trung bình của tỉnh, do là một huyện miền núi biên giới, giao thông đi lại khó khăn nên mật độ dân số của Bảo Lạc thuộc mức thấp của tỉnh (49 người/ km2

) chỉ thấp sau 2 huyện Thạch An và Nguyên Bình (46 người/ km2)

Giống như nhiều địa phương khác, lịch sử phát triển của mỗi dân tộc trong cộng đồng các dân tộc ở huyện Bảo Lạc, bên cạnh những điểm tương đồng còn có những điểm khác biệt Mỗi dân tộc mang bản sắc văn hóa riêng làm phong phú thêm đặc tính và không gian văn hóa của từng dân tộc sống trên địa bàn huyện Mặc dù có nguồn gốc, lịch

sử khác nhau, nhưng đồng bào các dân tộc sinh sống trên địa bàn huyện trong quá trình lịch sử đã luôn đoàn kết, gắn bó và giúp đỡ tương trợ lẫn nhau trong lao động và sản xuất, hòa đồng cùng thiên nhiên, cùng nhau sáng tạo và thêu dệt lên bức tranh văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc

1.4 Kinh tế

Là huyện miền núi vùng cao, tổng diện tích tự nhiên của huyện là 91.897 ha Trong

đó, diện tích đất nông nghiệp chiếm khoảng 8% diện tích đất tự nhiên Do vậy, kinh tế của huyện kém phát triển, chủ yếu là nông - lâm nghiệp, phụ thuộc rất lớn vào thiên nhiên Các ngành tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ rất nhỏ bé, thu nhập và đời sống của nhân dân còn thấp kém

1.4.1 Kinh tế nông nghiệp

Đến nửađầu thế kỷ XIX, nền kinh tế của Bảo Lạc về căn bản là một nền nông nghiệp lạc hậu, phụ thuộc phần lớn vào thiên nhiên Theo số liệu thống kê 16 xã của

Trang 28

huyện Bảo Lạc có địa bạ triều Nguyễn, ruộng đất của Bảo Lạc chủ yếu là ruộng tam đẳng thu điền, đất xấu, xa nguồn nước, canh tác khó khăn Chỉ duy có xã Thanh Lương là ruộng nhịđẳng, nhưng chiếm tỷ lệ ruộng đất rất nhỏ của huyện (chỉ 46 mẫu 6 tấc) Hơn nữa, số lượng diện tích thực trưng của huyện chưa đến 30%, trong khi đó, hiện tượng hoang hoá ngày càng phổ biến (> 70%) khiến cho kinh tế nông nghiệp của Bảo Lạc hết sức lạc hậu, kém phát triển

Nguồn sống chính của họ là trồng trọt kết hợp với chăn nuôi nhằm bổ sung cho bữa ăn gia đình Mang đặc trưng của một huyện miền núi, cho nên, kinh tế nông nghiệp của Bảo Lạc vẫn tồn tại 3 loại hình chủ yếu là: Kinh tế hái lượm, loại hình canh tác nương rẫy và loại hình canh tác ruộng nước

- Kinh tế hái lượm: Đây là loại hình kinh tế phát triểnở trìnhđộ thấp thể hiện việc con ngườiđi kiếm những thứcăn rau quả, … có sẵn trong tự nhiên Loại hình có các hình thức như hái lượm, đánh cá hay săn bắt thú rừng Bảo Lạc là một huyện miền núi biên giới, địa hình khó khăn nên còn có những khu rừng nguyên sinh, rậm rạp Đây là điều kiện để loại hình kinh tế hái lượm có từ lâu đời và vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay Đồng bào sống ven các con sông Neo, sông Gâm, sông Nho Quế thường sử dụng chài hoặc dùng tre đan những chiếc lờ đặt trên những khúc sông để đánh cá Sông Gâm, sông Neo nổi tiếng có cá chiên, cá chày, cá sộp ăn rất ngon Người Mông, Dao, Lô Lô sống trên những miền núi cao thường đi lượm những loại rau rừng trên núi đá vôi đem về ăn hoặc đem đi chợ bán Như vậy, dù là hoạt động kinh tế ở trình độ thấp, nhưng, với một huyện miền núi khó khăn như Bảo Lạc thì kinh tế hái lượm cũng có vai trò quan trọng

- Sản xuất nông nghiệp: là loại hình kinh tế giữ vai trò hết sức quan trọng đối với đồng bào các dân tộc Bảo Lạc Sản suất nông nghiệp của đồng bào tồn tại hai hình thức canh tác là canh tác ruộng nước và canh tác nương rẫy

- Loại hình canh tác nương rẫy: Do đặc điểm địa hình chủ yếu là đồi núi khiến cho ruộng đất nông nghiệp của huyện chủ yếu là ruộng bậc thang với loại hình canh tác nương rẫy Đồng bào các dân tộc nơi đây vốn là những nông dân miền núi cần cù, chịu khó, đã bao đời đấu tranh chống trọi với thiên nhiên khắc nghiệt, phá

Trang 29

núi, dựng ngàn Trải qua quá trình bền bỉ lâu dài, đồng bào đã tạo nên những chân ruộng bậc thang chạy dài dọc theo các sườn núi bên cạnh những nương ngô, khoai, sắn,… hay những cánh đồng rộng lớn trên thượng lưu sông Gâm, sông Nho Quế, … Trên những nương ruộng đó, họ thường sử dụng những phương tiện hết

sức thô sơ như chiếc hái phát cỏ, chiếc gậy trọc lỗ bỏ hạt“đốt rừng làm nương,

moi đất gieo hạt” [37, Tr.342], trồng lúa một vụ hoặc trồng ngô Do phần lớn là

những nương cao nên khi ngô, lúa được thu hoạch, đồng bào sử dụng gùi, giậu để

đem nông sản về nhà

Loại hình canh tác ruộng nước: Địa hình Bảo Lạc rất phức tạp với độ cao và

độ dốc rất lớn nên so với nương rẫy, hình thức canh tác ruộng nước nơi đây rất ít Ruộng nước phân bố chủ yếuở vùng thấp - nơi sinh sống của người Nùng, người Tày ven các con sông Gâm, sông Neo Lúa là cây trồng chủ yếu Đồng bào dùng cày, bừa để cày ải, làm đất ngay từ trước tết, ra giêng khoảng tháng hai, tháng ba thì gieo mạ, sau khoảng hai tháng sẽ nhổ mạ để cấy (trước khi cấy phải cho nước vào

ruộng, dùng bừa làm nhũn đất) bốn tháng sau thì được thu hoạch: “làm ruộng nơi

sớm nơi muộn khác nhau (các châu huyện Để Định, Vĩnh Điện, …, hằng năm, cứ tháng 2, tháng 3 gieo mạ, tháng 4, tháng 5 cấy và gặt vào tháng 8, tháng 9)” [37,

Tr.344] Như vậy, Bảo Lạc “chỉ có lúa vụ thu” [54, Tr 871]

Ngoài lúa là cây trồng chính, đồng bào nơi đây còn trồng các loại cây khác:

“lúa, đậu, khoai, ngô, dưa, vải, nhãn … huyện châu nào cũng có” [37, Tr 363],

hay người Nùng sau khi cày cấy xong thì thì trồng khoai, lúa mạch ở chân núi

Người Mèo, Mán thì tìm chỗ hơi bằng phẳng trên đỉnh núi, sườn núi phát cây trồng khoai, lúa mạch, rải rác cũng gieo được lúa nương (lúa dẻo)” [54, Tr

871].Bên cạnh đó, người dân cũng trồng được một vài loại nông sản khác như

bông “thóc Thông Nông bông Bảo Lạc”, lê,… “tổng Đông Quang có giống quả

lê thơm mà ngon” [54, Tr 872] Hiện nay, ở Bảo Lạc lê Xuân Trường là nổi

tiếng nhất Về mùa lê, tại những phiên chợ, người dân xã Xuân Trường lạ gùi, thồ những sọt lê to, vàng sạm xuống chợ bán rất nhiều Xung quanh huyện Bảo Lạc, chỉ Xuân Trường mới trồng được lê, do khí hậu của xã rất lạnh, phù hợp với đặc tính sinh trưởng và phát triển của cây lê

Trang 30

Trong sản suất nông nghiệp, đồng bào các dân tộc ở Bảo Lạc cũng đúc rút được những kinh nghiệp để áp dụng vào sản suất nông nghiệp Nhà nông thường xem ngày 8 tháng 4 có mưa hay không, để sắp đặt công việc làm ruộng, có câu

ngạn ngữ rằng: “Ngày 8 tháng 4 không mưa, ruộng trũng đừng bừa, đi phát

ruộng cao” [37, Tr.341]

Hệ thống thuỷ lợi còn đơn giản, chủ yếu dựa vào nguồn nước của con sông Gâm, sông Neo, sông Nho Quế, và hệ thống các con suối Đồng bào Tày, Nùng biết sử dụng sức nước để phục vụ cho đời sống sinh hoạt cũng như trong sản xuất

nông nghiệp như: “cối giã gạo thì dùng sức nước, làm cọn để lấy nước vào

ruộng” [37, Tr.342]

Cọn nước“hoàn toàn được làm từ tre, nứa, gỗ, mây Đó là những bánh xe có

đường kính rộng hẹp khác nhau trên dưới chục mét tuỳ theo sự cao thấp của mặt ruộng so với mặt nước của sông hay suối Bánh có những cánh quạt cản nước vào các ống bương đựng nước buộc chếch ở ngoài vành bánh xe, nước chảy đẩy bánh

xe quay, đưa nước vào ống bương và khi ống bương quay lên phía trên tự đổ vào máng dẫn nước đặt ngang và nước theo ống máng nối liền với ruộng” [59, Tr.44] (Xem thêm hình 29 phụ lục C)

Các bản người Nùng, người Tày của xã Hồng Trị, Hưng Đạo, … sinh sống ven sông Neo, khi nước sông cạn, thường dùng đá đắp chắn ngang con sông để nước dồn vào khu vực có cọn nước, đảm bảo cho sức nước làm cọn quay, đưa nước lên ruộng đồng Ở các bản ven sông trên, hệ thống cọn nước khá dày, trung bình, 100 - 200 m lại xuất hiện một cọn nước

Do đặc trưng sản xuất nông nghiệp miền núi, đồng bào cácdân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn huyện Bảo Lạc phần lớn dựng nhà ngay trên những mảnh đất

bằng phẳng gần sông suối xung quanh chính là những thửa ruộng trồng trọt (Xem

thêm hình 28 phụ lục C)

Chăn nuôi truyền thống: Đây là một loại hình không thể thiếu trong kinh tế nông nghiệp nước ta Đối với một huyện miền núi biên giới như Bảo Lạc thì chăn nuôi gia súc lớn là một đặc trưng phổ biến đồng thời là thế mạnh của vùng Các

Trang 31

con vật nuôi phổ biến là bò, ngựa “trấn Tuyên Quang có nhiều ngựa tốt” [37, Tr

363] Người dân dùng ngựa làm phương tiện đi lại, chở, thồ hàng ra chợ trong những buổi chợ phiên Ngày nay, mặc dù phương tiện đi lại đã thuận tiện và phong phú hơn trước nhiều như xe máy, nhưng, dân các bản xa và cao như Lô

Lô, Mông thì vẫn còn dùng ngựa làm phương tiện vận chuyển Vì ở miền núi, có sẵn cỏ, có nhiều đồi bãi rộng nên đồng bào nuôi bò đàn Có những hộ gia đình có tới 5, 6 thậm chí hàng chục con bò, rất béo tốt Ban ngày, người ta đem bò đi thả

ra đồng cỏ để chăn, đến tối mới đuổi về nhốt dưới nhà sàn

Cùng với việc chăn nuôi đại gia súc, đồng bào còn nuôi gia súc nhỏ (lợn) và gia cầm (vịt, gà, ngan, …) Trước Cách mạng Tháng Tám, khi còn tồn tại chế độ Quằng, nhà Quằng còn phân những mảnh ruộng cho người chuyên nuôi lợn phục dịch cho nhà

Quằng khi tang ma giỗ chạp,… Chẳng hạn “Tên Lang Văn Quế, một chúa đất nhỏ ở

xã Cô Ba … buộc ba bản Nà Nèng (Dao), Lũng Nà (Hmông) nuôi trâu và bản Phiêng Môn (Tày) có khoảng 40 hộ, mỗi hộ nuôi hai, ba con lợn nặng hàng tạ nộp cho chúng”

[58, tr 494] Ta thấy, hoạt động chăn nuôi của họ chủ yếu là để phục vụ nhu cầu đi lại

và bữa ăn hàng ngày chứ rất ít khi đem ra chợ để trao đổi, mua bán

Đồng bào Bảo Lạc trong quá trình chăn nuôi đã quan sát vàđúc rútđược những kinh nghiệm (tri thức dân gian) trong việc lựa chọn giống vật nuôi Khi chọn trâu, đồng bào chọn trâu cày thân cao, chân dài cân đối, đuôi dài, toàn thân phải có bốn xoáy Trâu cáiđẻ phải chọn con to, khoẻ, bốn vú trònđều, lưng phẳng, đuôi dài, lông thưa sẽ sinh sản tốt Lợn con nuôi nên chọn con vai rộng, lông thưa ngắn, mõm tròn, mũiướt là giống lợn tốt, mau lớn Nuôi ngựa chọn ngựa cái phải chọn con to, khoẻ, màu lông đẹp, có dáng vóc thon, móngđứng, mông mảy, ngực nở, ăn khoẻ, khoáy tốt; …

Ở Bảo Lạc, nhất là vùng Nam Quang (thuộc Bảo Lâm ngày nay), đồng bào Tày còn có tập quán nuôi cá ruộng Mỗi gia đình thường có một chiếc ao nhỏ ở ngay sát nhà, có nước chảyđếnđể nuôi cá chép giống Cô Ngàn (Đon Sài - Nam Quang) cho biết: Cá chép giống nuôi từ trước đó trở thành cá bố mẹ, đến khoảng tháng giêng, tháng hai cáđẻ trứng Khi đó, mạ cấy trên những thửa ruộngđã mọc

Trang 32

xanh, người ta đêm cá con thả xuống ruộng lúa Người ta thường đào những chiếc giếng con, những hố nước sâu ở góc ruộng có lá che kín để cá trú Cô Ngàn còn cho biết thêm: Từ khi thả cá xuống ruộng, nước ruộng lúc nào cũng phải đầy, cá sinh sống ở đó ăn màu từ ruộng lúa nên không cần phải cho chúng thức ăn như khi nuôi cá ao Cá chép nuôi ruộng rất nhanh lớn, chỉ đến tháng bảy, tháng tám là cá nuôi có thể thu hoạch Do thức ăn là dong rêu, chất dinh dưỡng của ruộng lúa nên thịt cá chép nơi đây dù nhỏăn cũng rất thơm ngon, béo ngậy Người dân Nam Quang ngoài cốm còn có một món bánh nổi tiếng từ việc nuôi cá chép, đó là bánh

cá.Bác Ma Thế Quang (nguyên Bí thư huyện ủy Bảo Lạc) kể rằng: “trước kia, bánh

cá cùng với bánh cốm là loại bánh không thể thiếu trong các lễ vật mà nhà trai đem đến nhà gái hàng năm trước khi được làm lễ cưới chính thức.” [88] (Xin xem thêm hình 26 - 27 phụ lục C)

Với một châu huyện miền núi như Bảo Lạc, việc thu nhặt và khai thác lâm thổ sản là một nguồn lợi quan trọng Từ việc khai thác lâm thổ sản, đồng bào đã làm phong phú thêm các món ăn trong gia đình như măng, nấm, rau quả, củ rừng, … Bên cạnh đó, những lâm thổ sản khác có giá trị kinh tế cao như khai thác gỗ, hương liệu, dược liệu, chim chóc, ếch béo, ong rừng, … cũng khiến đồng bào nơi đây có thu nhập thêm về kinh tế

Theo thống kê của Hoàng Tuấn Nam khi tìm hiểu về non nước Cao Bằng, hiện nay, trong các khu rừng nguyên sinh của huyện còn có rất nhiều các loại lâm thổ sản quý hiếm như: gỗ nghiến, thông đá, dổi, khảo, dẻ đỏ, dẻ trắng, cắng cò,… và các loại gỗ khác Hay những rừng cây Mạy Kẹo, Mạy Cáng Lò, Mạy Xả Cài, Mạy Khỉ Lếch cao vút và bạt ngàn cây lát - đây là một loại gỗ quý của huyện đem lại hiệu quả kinh tế cao

Bảo Lạc là một huyện có nhiều cây dược liệu quý như: củ xa khương (dân địa phương gọi là củ xá kiáng), củ ú tầu, đơn quy, mạy cáng lò, kim tiền thảo, nấm hương, sâm đất, sa nhân, hoàng tinh, … Từ sớm, đồng bào nơi đây đã có kinh nghiệm về công dụng một số loại cây có sẵn trong tự nhiên và sử dụng những loại thảo dược để chữa bệnh Ngày nay, tại các thôn bản của huyện Bảo Lạc, đồng bào

Trang 33

còn lưu truyền những bài thuốc dân gian như: dùng củ xá kiáng (xa khương) và củ ú tầu để chữa sưng khớp, u khớp chân tay; dùng tam quy để chữa ngộ độc ú tầu; dùng

vỏ cây mạy cáng lò chữa đan răng; dùng rễ cây trẩu để bôi vào vết thương bị nhiễm trùng; lấy lá cây bảy đốt (co chất tỏ) chữa gãy xương,… Sâm đất và hoàng tinh là loại lâm sản quý, thường có ở những vùng gần núi đá, dùng để ngâm rượu Rượu sâm đất và rượu hoàng tinh có công dụng bồi bổ sức khoẻ rất tốt cho mọi lứa tuổi, nhất là người già

Nền kinh tế miền núi trước khi Pháp xâm lược nói chung là một nên kinh tế kém phát triển, chủ yếu là tự cấp, tự túc, phân tán và nhỏ lẻ Nguyên nhân kém phát triển của nền kinh tế đó là cơ sở hạ tầng, giao thông hết sức khó khăn Đây cũng là

lý do vì sao có sự tồn tại dai dẳng của chế độ thổ ty

1.4.2 Công - thương nghiệp

1.4.2.1 Thủ công nghiệp

Bên cạnh hoạt động trồng trọt và chăn nuôi, đồng bào Tày ở Bảo Lạc còn có một nền tiểu thủ công nghiệp tương đối phát triển Từ nửa đầu thế kỷ XIX, phố Vân Trung đã là vùng tập trung nhiều nghề thủ công của huyện với nhiều nghề thủ công truyền thống còn gìn giữ đến ngày nay như: nghề mộc, nghề rèn, trồng bông dệt vải,

nghề làm ngói máng, đan lát, làm nhà cửa, nấu mật mía, khâu giày vải,…“do có sự

trao đổi hàng hoá … từ việc phát triển các đoàn ngựa thồ, kéo theo nghề rèn chuyên sản xuất móng ngựa sắt cũng phát triển…nghề làm cương bằng da, nghề thuộc da bò cũng phát triển” [48, Tr.9]

+ Nghề khâu giày vải: Do yếu tố địa hình, đồng bào thường xuyên phảiđi

bộ trên những vách núi cheo leo, quanh co, bởi vậy, nghề khâu giày vải là một nghề phổ biến của Bảo Lạc bấy giờ Với đồ nghề là một dùi thép sắc to bằng gọng kính, một kim khâu, chỉ khâu giày phải tự tay người thợ se bằng sợi bông, mặt giày được làm bằng vải chàm rất bền, đế giày bằng, được khâu bằng nhiều lớp vải thổ rất công phu Người đi ngựa thồ rất ưa dùng giày vải, vừa bó chân, vừa mềm lại nhẹ, đi bộ cả ngày chạy theo ngựa mà chân không bị phồng rộp Theo lời kể của ông Lục Sính Nỷ - 80 tuổi là cháu rể của bà Nông Thị Dính (vợ

Trang 34

Nông Gia Lâm) hiện đang sinh sống gần khối dân vận - nhà họ Nông xưa thì bà Nông Thị Dính từng khâu giày vải cho Bác Hồ và được Bác đặt tên là Nông Nguyệt Anh [88] Hiện nay, do có các loại giày của Trung Quốc tràn sang nên nghề khâu giày vải đã bị mai một

+ Nghề rèn: Là nghề truyền thống lâu đời nối nghiệp của các gia đình chuyên sản xuất dụng cụ cầm tay như các loại dao, cuốc, búa, súng kíp, móng ngựa sắt, đúc lưỡi cày, khoan làm nòng súng… Trước đây, người thợ thường phải dùng tay đểkéo bễ.Hiện nay, do đời sống đã đi lên, những người thợ đã sử dụng quạt điện để thổi lửa, vẫn dùng than củi Nghề rèn là một nghề truyền thống lâu đời và rất phổ biến Ngày nay, hầu như xã nào của huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm cũng có lò rèn như thị trấn Bảo Lạc, Hồng Trị, Khánh Toàn, Cô Ba, Thượng Hà, Tân Việt, Mông Ân, Nam Quang, Quảng Lâm,…

+ Nghề trồng bông dệt vải: Là nghề truyền thống có từ lâu đời Bảo Lạc nổi

tiếng có thứ bông tốt Dân gian còn có câu “thóc Thông Nông bông Bảo Lạc”

Đồng bào thường trồng bông ở ngay cạnh nhà, thành từng luống và chăm sóc hết sức cẩn thận Đến mùa thu hoạch bông, họ thu lượm từng quả bông trắng phau về

nhà “Bông thu hái về lượm hết hạt, sau đó đem bật thành bông mịn, cuộn thành

từng thanh nhỏ bằng ngón tay rồi kéo bông thành sợi đưa vào guồng quay, quay thành cuộn to, giặt sạch cho vào nồi luộc sau đó đem phơi khô rồi đưa vào khuôn đặt lên khung cởi dệt, dệt thành vải khổ hẹp gọi là vải thổ Nghề dệt vải ở địa phương là nghề truyền thống của các dân tộc Tày, Nùng, Lô Lô” [48, Tr.173]

Dệt vải hay dệt thổ cẩm là một công việc đòi hỏi sự công phu và lao động cần mẫn của người thợ Giống như đồng bào vùng dân tộc thiểu số, nghề trồng bông dệt vải chỉ tồn tại chủ yếu trong thủ công nghiệp gia đình, được truyền từ đời này sang đời khác và gắn liền với bàn tay khéo léo, chăm chỉ và óc sáng tạo của người phụ nữ Trải qua tự ngàn đời, những người bà, người mẹ đã truyền lại cho lớp lớp người sau Theo phong tục địa phương, những thiếu nữ được học từ những người bà, người mẹ của mình cách dệt vải, rồi tự tay dệt cho mình những tấm vải thổ cẩm, chăn, … chuẩn

bị cho ngày cưới Đây là một nét đẹp và hết sức độc đáo của đồng bào ta

Trang 35

Cùng với nghề thủ công trồng bông dệt vải, ở Bảo Lạc, người dân còn biết nhuộm vải với nhiều màu sắc khác nhau Đối với đồng bào Tày - Nùng, màu nhuộm thường là màu chàm, màu nâu Ngày nay, ở mỗi địa phương còn gìn giữ những cách nhuộm vải khác nhau như: Ở xã Đình Phùng của huyện Bảo Lạc

ngày nay, nhân dân còn lưu truyền cách nhuộm vải chàm: “cây chàm ngâm độ

hai, ba ngày, thấy là chàm úa thì vớt ra, sau đó cho thêm ít vôi vào, đánh liên tục thấy nổi bọt xanh tím thì vớt bọt cho vào chậu, để độ một hai ngày cho khô Khi nhuộm vải thì bỏ bột chàm vào thùng đánh lên và nấu nước lá cây nhân trần pha, khi nào thấy nước chàm thơm thì bắt đầu bỏ vải xuống nhuộm, mỗi ngày nhuộm hai lần, bao giờ thấy nước chàm ăn hết vào vải thì đem vải đi giặt cho sạch nước chàm, phơi khô là được” [48, Tr.58]

Tuy nhiên, ở Bảo Lạc, do có buôn bán giao thương, các loại vải tràn ngập nhiều nên nghề dệt vải, dệt thổ cẩm chỉ còn tồn tại trong bộ phận những người cao tuổi, nghề dệt vải đã bị mai một dần

+ Nghề làm giấy bản: Đây là nghề còn lưu lại cho đến ngày nay ở hai xã Đình Phùng và Huy Giáp của huyện Bảo Lạc Quy trình làm giấy bản của người dân Đình Phùng và Huy Giáp có thế khái quát như sau: Lấy hai loại cây măng non mọc trong năm (măng trúc và măng vầu), cắt ra mỗi đoạn dài 1 m, rồi bổ đôi, buộc thành bó, bỏ xuống hố sâu (khoảng 1,5 m), cứ “bỏ một lượt măng rải một lượt vôi ở trên, ngâm từ tháng 4 đến tháng 7, thấy măng mềm hết mang lên rửa sạch, tiếp tục ngâm thêm 3 tháng nữa, lấy lá chuối che kín ở trên Vào khoảng tháng 11 âm lịch thì lấy ván về đóng thành hình như cái thuyền, lấy cây măng lên, giã nát rồi bỏ vào thùng, cho thật nhiều nước Sau đó, lấy một loại cây có rất nhiều nhựa giã nát, lấy nước đó cho vào thùng trộn rồi dùng một tấm khuôn (gọi là phùm chỉa) vớt mỗi lần được một tờ, xếp chồng lên nhau, sau đó ép khô, rồi lại thiếp tục tước ra từng tờ một Cứ 5 từ là một thếp đưa lên sào phơi, khi nào khô mới xếp lại thành đống” [48, Tr.58 - 59]

+ Nghề làmđường mật: Đây là một nghề thủ công lâu đời ở một số xã thuộc huyện Bảo Lạc và Bảo Lâm ngày nay như Cô Ba, Bảo Toàn (Bảo Lạc),

Trang 36

Vĩnh Phong, Vĩnh Quang (Bảo Lâm) Nhữngđịa phương này trồngđược khá nhiều mía, là điều kiện cho nghề làm đường mật từ cây mía ra đời và lưu truyền cho đến ngày nay

Cách làm đường mật của người dân nơi đây trải qua các công đoạn sau: “cây

mía được trồng vào khoảng tháng 1 - 2 âm lịch, đến tháng 11 - 12 bắt đầu chặt mía Mía bóc vỏ bọc thân cây, sau đó đưa vào khuôn ép thủ công, lấy nước mía vào chảo to đun, khi nào nước mía tương đối đặc, dùng đoạn cây to đường kính 4

cm dài 1 m khoắng đều không cho đường bị khê, lấy bát nước nguội để thử Cách thử: cho một que nhỏ nhúng xuống chảo đường nhấc lên cho vào bát nước lạnh vòng quanh sợi tròn và lấy tay bể, thấy không gãy là được, nhấc đổ ra tấm cót phên, san cho đều, dày khoảng 1 -2 cm, để nguội, cắt thành từng miếng dài 15 –

20 cm, rộng 10 cm theo ý thích từng người” [48, Tr.39]

Ngoài những nghề thủ công truyền thống trên, ở các địa phương thuộc huyện Bảo Lạc và Bảo Lâm ngày nay còn xuất hiện một số nghề thủ công mới như say sát, làm đậu phụ, làm nghề mộc, nấu rượu, đẽo đá làm cối giã, cối xay,… Những nghề thủ công trên đã góp phần phục vụ cho cuộc sống sinh hoạt của đồng bào ta

Song song với hoạt động thủ công nghiệp truyền thống, Bảo Lạc nửa đầu thế kỷ XIX cũng xuất hiện hoạt động khai mỏ Theo một số sách sử của nhà Nguyễn còn biên chép lại, xứ Tuyên Quang có nhiều mỏ khoáng sản:

“Mỏ vàng Vũ Kiều ở huyện Vĩnh Tuy Mỏ vàng Niêm Sơn ở huyện Để Định

Mỏ vàng Linh Hồ ở huyện Vị Xuyên Các mỏ vàng kể trên đều sản xuất ra kim sa (cát vàng)” [37, Tr.362] Hoặc “Mỏ cát có vàng: 3 mỏ, các huyện Vĩnh Tuy, Để Định, Vị Xuyên mỗi châu huyện một mỏ” Từ sớm, các công

trường khai thác mỏ đã được mở và được biên vào ngạch thuế của nhà

nước “Thuế vàng cả năm của hai mỏ cộng là 3 lạng, 1 do chi quan tiền

(tiền công) sai người đi khai thác, mỗi năm nộp trên dưới 18 lạng … Còn

có 5 mỏ vàng khác đã đóng cửa từ trước: … huyện Để Định 3 mỏ … cả năm nộp vàng cộng 25 lạng” [54, Tr 856]

Trang 37

Các mỏ đó là “Mỏ Mậu Duệ ở xã Mậu Duệ huyện Để Định Cả năm nộp vàng

cát 2 lạng Một mỏ đã đóng cửa: ở 2 xã Niêm Sơn và Quan Quang, cả năm nộp

vàng cát 10 lạng” [54, Tr 856]

Như vậy, tình hình thủ công nghiệp của Bảo Lạc nửa đầu thế kỷ XIX chủ yếu là hoạt động khai mỏ và những nghề thủ công truyền thống trong gia đình, với kỹ thuật thô sơ Ở địa phận miền tây Bảo Lạc (huyện Bảo Lâm ngày nay) như xã Nam Cao, Tân Việt, vẫn còn những mỏ vàng được tiến hành khai thác

1.4.2.2 Thương nghiệp

Nhưđã trình bày ởmục 1.1, địa hình Bảo Lạc rất phức tạp, bị cắt xẻ bởi nhiều khe núi và thung lũng hẹp, do đó, giao thông đi lại hết sức khó khăn Nửa đầu thế

kỷ XIX, theo “Đồng Khánh dưđịa chí”, từ Bảo Lạc có các con đường đi như sau:

“- Mộtđườngđi về phía tây nam, từ xã Lạc Nông huyện VĩnhĐiện giáp xã Yên Minh huyện Vị Xuyên, có đoạn đi xuyên núi (theo đường trên đỉnh núi đá xã Lạc Nông màđi, khá vất vả), hoặc theo đường ruộng ở chân núi, qua phố Thượng Lãm xãấy rồi theo hữu ngạn sông Khâm đi đến xứ Nà Niên xã Yên Phú rồi qua sông sang phía tả ngạn đến xứ Hiểm Thiển xã Yên Đức (hai bên tả hữu ngạnđường nàyđều gần bờ sông, núi đá chỉ xứ Hiểm Thiển là có thể đi được, nhưng tay phải vin vào các vú đá, chân giẫm lên đá tai mèo mà đi rất gian nan) Qua xứ Nà Sài xã Yên Lãng đến phố Vân Trung xã Ân Quang, đi khoảng 4 ngày đường

- Một đường từ phố Vân Trung đi về phía bắc, qua trang Ngọc Mạo cùng xã, đến xứ Lũng Mật giáp huyện Thạch Lâm tỉnh Cao Bằng, đi khoảng 2 ngày rưỡi (Hai bên trái trang này núi đá dựng đứng, phải theo những chỗ thấp lên đỉnh núi mà đi, nhưng cũng chỉ một người qua lọt, ngồi cáng hoặc cưỡi ngựa thì không thể qua được Bên phải trang núi đá khá cao, cũng phải theo đường lên đỉnh núi mà đi, ngồi cáng hoặc cưỡi ngựa thì rất khó đi)

- Mộtđường từ phố Vân Trung đi về phíađông đến xãÂn Quang giáp chợ BáchNam phủ Trấn Yên, đi khoảng 2 ngàyđường

- Một đường từ xã Yên Lãng đi về phía đông, có 3 lối nhỏ: một lối đi qua sông Lãng Giang cùng xã ấy, đi khoảng 2 ngày; một lối đi đến xã Yên Lãng tổng Đông

Trang 38

Quang, đi khoảng 4 ngày; một lối đi đến xã Bách Đích cùng tổng ấy, đi khoảng 6 ngày

Ba lối ấy đều giáp phủ Khai Hoá (nước Thanh)

- Mộtđườngđi về phía nam, từ xã Yên Phú qua xứ Lưỡng Cá xã Mông Ân đến xã Thanh Lương, giáp xã Yên Viễn thì chỉ ngườiđi qua được rất hiểm trở

- Mộtđườngđi về phía bắc, từ xã Vân Trung đếnđầuđịa giới xã Giai Lạc, giápđịa phận tỉnh Thái Nguyên, gọi là xứ CổĐạo Bình thành (đường Cổ thành Bằng), đi khoảng hai ngàyđường”

[54, Tr.872 - 873]

Như vậy, đường đi của huyện rất khó khăn, hiểm trở Do đó, việc đi lại của đồng bào các dân tộc Bảo Lạc chủ yếu là đi bộ trên những vách đá treo leo, hiểm trở và nguy hiểm Những ngày chợ phiên, người Mông, người Dao, người Lô Lô, … đi bộ hàng chục cây số từ trên núi cao xuống chợ Do đặc thù của địa hình khiến ngựa thồ trở thành phương tiện đắc lực và chủ yếu cho việc

đi lại và thồ hàng xuống chợ bán Ngày nay, dù đã có xe máy, nhưng, tại những bản người Mông, người Dao, đồng bào nơi đây vẫn sử dụng ngựa làm người bạn đồng hành của mình trên các nẻo đường núi uốn khúc trập trùng

(Xem thêm hình 30, 31 phụ lục C)

Ngoàiđường bộ, đồng bào còn biết đi mảng trên sông Gâm ở những khúc sông ít thác ghềnh Tuy nhiên, do có nhiều đá ngầm nên việc đi lại bằng mảng

trên sông không phổ biến Sách Đại Nam nhất thống chí chép: Sông Gâm“hàng

năm về mùa hạ và mùa thu nước đục, về mùa đông và mùa xuân nước trong, lòng sông nhỏ hẹp lại nhiềuđá ngầm, thuyền đi qua người tất phải bò lên đi bộ, theo ven núi ước chừng một hai khắc canh rồi lại xuống đi thuyền” [37, Tr.351]

Trước cách mạng tháng Tám, do địa hình núi non hiểm trở giao thông đi lại khó khăn cộng với sự thống trị của các dòng họ Quằng làm cho hoạt động thương

nghiệp của Bảo Lạc kém phát triển “hai xã Yên Lãng, Ân Quang tổng Nam Quang

nhiều gỗ sến, nhưng không có sông suối để vận chuyển, … khi mưa lũ nếu có cây tre cây gỗ nào trôi xuống cũng đều bị va vào đá mà vỡ nát cả … việc buôn bán không thông suốt, dân không được lợi” [54, Tr 872]

Trang 39

Cả huyện Bảo Lạc duy có phố Vân Trung (thị trấn Bảo Lạc ngày nay) là buôn

bán có phần phát triển: “Phố Ân Quang ở huyện Để Định, tục gọi phố Vân Trung, do

thổ ty họ Nông mở từ lâu đường thuỷ đường bộ thuận tiện, buôn bán tấp lập, nhà ngói như bát úp, xe thuyền như mắc cửi, cũng là nơi đô hội biên giới” Đồng Khánh

dư địa chí cũng viết “Phố Vân Trung xã Ân Quang huyện Để Định trước đây nhiều

người Thanh ở buôn bán tấp nập” [54, Tr 872] Theo sử sách triều Nguyễn, huyện

Bảo Lạc nửa đầu thế kỷ XIX có ải Bình Môn giáp với nước Thanh, là nơi giúp cho

dân bản địa và người Thanh thông thương buôn bán: “Ải Bình Môn ở xã Ân Quang

huyện Để Định, cách tỉnh thành 12 ngày đường, giáp địa giới phủ Thái Bình nước Thanh” [37, Tr.355] Bấy giờ, “nhân dân quần cư tại hai đường phố: Phố ngoài chó chợ, nơi hoạt động kinh tế nhỏ Phố trong là Hàng Khoang dành cho bà con làm nghề thủ công, năm ngày một phiên chợ Người Dao về, người Miêu đến, người Kinh họp mặt Tháng giêng có chợ vui xuân Tháng 8 có chợ phong lưu Tháng chạp có chợ sắm tết, đủ vải vóc hương hoa Thanh niên đọc thơ, các cụ già mua quà bánh cho cháu chắt Đêm đến có hát trao duyên, có mộc đầu hý, có đàn then dìu dặt, có nhạc bụt chơi vơi Ngoại thị có bà con nông dân cần cù Bản làng có tục “Vàng rùng” làm đổi công giúp đỡ nhau Tất cả sống trong công xã nhân dân tốt lành” [83, Tr.4] Tuy

nhiên, từ khi khởi nghĩa Nông Văn Vân bùng nổ (1833 - 1835) khiến cho việc giao

lưu buôn bán ở đây giảm sút: “từ ngày… Vân nổi dậy, phong cảnh tiêu điều khác hẳn

khi trước” [54, Tr 872]

Ngày nay, để phục vụ nhu cầu buôn bán của người dân, nhiều chợđã mọc lên tại các xã, nhưng, thị trấn Bảo Lạc vẫn là nơi buôn bán phát triển nhất của toàn huyện, họp theo phiên, cứ đến ngày chợ phiên dân bản người Mông, Dao, Lô Lô,

Sán Chỉ, … từ khắp nơi quy tụ về đây buôn bán trao đổi hàng hoá (Xin xem

thêmhình 30 - 31 phụ lục C)

Dưới sự thống trị của chế độ Quằng, kinh tế Bảo Lạc đến thế kỷ XIX vẫn là một nền kinh tế khép kín, nặng về tính chất tự cấp tự túc

Trang 40

Tiểu kết chương 1

Tóm lại, thông qua việc tìm hiểu về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, lịch

sử hành chính cũng như dân cư và thành phần dân tộc của châu Bảo Lạc xứ Tuyên Quang cũ nay là huyện Bảo Lạc tỉnh Cao Bằng, ta thấy, Bảo Lạc là một huyện vùng cao biên giới còn nhiều khó khăn, lạc hậu, dân cư thưa thớt, nhưng hết sức giản dị và chất phác

Mang đặc trưng của một huyện miền núi, Bảo Lạc là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc thiểu số anh em sống vừa phân tán vừa xen kẽ với nhau, dẫn đến

sự cộng cư, giao thoa văn hóa trong quá trình lao động sản xuất Trong đó, dân tộc Tày là cư dân có lịch sử lâu đời và đến sinh sống sớm nhất

Chính vị trí địa lý, dân cư và thành phần dân tộc như vậy đã khiến cho Bảo Lạc trở thành một vùng có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng và

an ninh Đây chính là nhân tố quan trọng để khiến cho ngay từ thời kỳ đầu của nhà nước phong kiến độc lập, cũng như những vùng biên viễn khác, Bảo Lạc nhận được sự quan tâm của triều đình phong kiến trong việc lựa chọn chính sách dân tộc phù hợp nhằm mục đích đoàn kết dân tộc, giữ yên vùng phiên trấn của tổ quốc

Ngày đăng: 20/06/2016, 21:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1992), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Thuận Hoá, Huế 2. Triệu Ân (1994), Ca dao Tày - Nùng, Nxb VHDT, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời," Nxb Thuận Hoá, Huế 2. Triệu Ân (1994), "Ca dao Tày - Nùng
Tác giả: Đào Duy Anh (1992), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Thuận Hoá, Huế 2. Triệu Ân
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
Năm: 1994
5. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cao Bằng, Thông tin sinh hoạt chi bộ, số 4 (7/2009) và số 5 (8/2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin sinh hoạt chi bộ
6. Vũ Xuân Bân (1972), Tìm hiểu vài nét chế độ Quằng ở vùng Mường Giàng thuộc Chiêm Hóa (Tuyên Quang) trước 1945. Phòng tƣ liệu khoa Lịch sử, Đại Học Tổng Hợp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu vài nét chế độ Quằng ở vùng Mường Giàng thuộc Chiêm Hóa (Tuyên Quang) trước 1945
Tác giả: Vũ Xuân Bân
Năm: 1972
7. Đỗ Thúy Bình (1994), Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày - Nùng - Thái ở Việt Nam, Nxb KHXH, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày - Nùng - Thái ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thúy Bình
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1994
8. Bộ Văn hóa (1981), Một số vấn đề lịch sử văn hóa các dân tộc ở Việt Bắc, Tài liệu bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam, Thành phố Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lịch sử văn hóa các dân tộc ở Việt Bắc
Tác giả: Bộ Văn hóa
Năm: 1981
9. Các dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam (1992), Viện KHXH và Viện Dân tộc học xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam (1992
Tác giả: Các dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam
Năm: 1992
10. Nùng Trí Cao, Kỷ yếu hội thảo khoa học (1995), Tỉnh ủy Cao Bằng - Viện Sử học Việt Nam, Nxb HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo khoa học (1995)
Tác giả: Nùng Trí Cao, Kỷ yếu hội thảo khoa học
Nhà XB: Nxb HN
Năm: 1995
11. Nông Minh Châu - Vi Quốc Bảo (1973), Dân ca đám cưới Tày - Nùng, Nxb Việt Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca đám cưới Tày - Nùng
Tác giả: Nông Minh Châu - Vi Quốc Bảo
Nhà XB: Nxb Việt Bắc
Năm: 1973
12. Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập III, Nxb KHXH, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí, Tập III
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1992
14. Đảng bộ tỉnh Cao Bằng - BCH Đảng bộ huyện Bảo Lạc, Lịch sử Đảng bộ huyện Bảo Lạc (1930 – 2005), NXB Lao Động, HN, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Bảo Lạc (1930 – 2005)
Nhà XB: NXB Lao Động
18. Huyện ủy Bảo Lạc, Thổ ty ở Bảo Lạc (Cao Bằng), Báo cáo điền dã của đoàn sinh viên dân tộc học, Khoa Lịch sử trường ĐH Tổng Hợp Hà Nội, 1993 (Tài liệu đánh máy lưu ở phòng lưu trữ của huyện ủy Bảo Lạc) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thổ ty ở Bảo Lạc (Cao Bằng)
19. Phan Huy Lê - Nguyễn Phan Quang (1980), Các dân tộc miền núi phía Bắc trong cuộc đấu tranh bảo vệ biên cương tổ quốc ở thế kỉ XVII – XVIII, Tạp chí Dân tộc học số 1/1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc miền núi phía Bắc trong cuộc đấu tranh bảo vệ biên cương tổ quốc ở thế kỉ XVII – XVIII
Tác giả: Phan Huy Lê - Nguyễn Phan Quang
Năm: 1980
25. Lã Văn Lô, “Cẩu chúa cheng vùa” của đồng bào Tày, Tạp chí nghiên cứu Lịch sử số 50 (5/1963) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cẩu chúa cheng vùa” của đồng bào Tày
26. Lã Văn Lô, “Cẩu chúa cheng vùa” của đồng bào Tày, Tạp chí nghiên cứu Lịch sử số 51 (6/1963) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cẩu chúa cheng vùa” của đồng bào Tày
27. Lã Văn Lô, Về bảy dòng họ thổ ty Lạng Sơn, Viện Dân tộc học, Bản phục chế năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về bảy dòng họ thổ ty Lạng Sơn
28. Lã Văn Lô, Chế độ thổ ty Việt Nam, tài liệu Viện Dân tộc học, ký hiệu D.275 29. Lã Văn Lô, Bảy dòng họ thổ ty Lạng Sơn, tài liệu Viện Dân tộc học, ký hiệuD.276 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ thổ ty Việt Nam, "tài liệu Viện Dân tộc học, ký hiệu D.275 29. Lã Văn Lô, "Bảy dòng họ thổ ty Lạng Sơn
30. Lã Văn Lô - Đặng Nghiêm Vạn (1968), Sơ lược các nhóm Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam, Nxb KHXH, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ lược các nhóm Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam
Tác giả: Lã Văn Lô - Đặng Nghiêm Vạn
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1968
33. Nguyễn Danh Phiệt (1998), Suy nghĩ thêm về phong trào nông dân thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 6 (Tr.3 – 8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ thêm về phong trào nông dân thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX
Tác giả: Nguyễn Danh Phiệt
Năm: 1998
34. Vũ Huy Phúc (1979), Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX, Nxb KHXH, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX
Tác giả: Vũ Huy Phúc
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1979
35. Nguyễn Phan Quang (1986), Phong trào nông dân Việt nam nửa đầu thế kỉ XIX, Nxb KHXH, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào nông dân Việt nam nửa đầu thế kỉ XIX
Tác giả: Nguyễn Phan Quang
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1986

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Tình hình sở hữu ruộng đất của họ Nông sau năm 1835 - Đề tài Chế độ quằng và đời sống văn hóa của người Tày ở Bảo Lạc (Cao Bằng) trước năm 1945
Bảng 3 Tình hình sở hữu ruộng đất của họ Nông sau năm 1835 (Trang 62)
SƠ ĐỒ BỘ MÁY HÀNH CHÍNH CỦA CHÚA QUẰNG HỌ NÔNG - Đề tài Chế độ quằng và đời sống văn hóa của người Tày ở Bảo Lạc (Cao Bằng) trước năm 1945
SƠ ĐỒ BỘ MÁY HÀNH CHÍNH CỦA CHÚA QUẰNG HỌ NÔNG (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w