--- BÙI THỊ PHƯƠNG THÙY Tên chuyên đề: THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG, CHẨN ĐOÁN VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHĂN NUÔI ÁNH DƯƠNG, HÒA AN, CAO B
Trang 1-
BÙI THỊ PHƯƠNG THÙY
Tên chuyên đề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG, CHẨN ĐOÁN
VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN CHĂN NUÔI ÁNH DƯƠNG, HÒA AN, CAO BẰNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2016 - 2021
Trang 2-
BÙI THỊ PHƯƠNG THÙY
Tên chuyên đề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG, CHẨN ĐOÁN
VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN CHĂN NUÔI ÁNH DƯƠNG, HÒA AN, CAO BẰNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2016 - 2021 Giảng viên hướng dẫn: TS Phạm Diệu Thùy
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chuyên đề thực tập này trước hết em xin gửi đến quý thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên lời cảm ơn chân thành
Đặc biệt, em xin gửi đến TS Phạm Diệu Thùy, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này lời cảm ơn sâu sắc nhất
Em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, các anh chị kỹ sư, công nhân tại Công ty cổ phần chăn nuôi Ánh Dương, Hòa An, Cao Bằng đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành đề tài trong suốt quá trình thực tập tại trại
Đồng thời nhà trường đã tạo cho em có cơ hội được thực tập nơi mà em yêu thích, cho em bước ra đời sống thực tế để áp dụng những kiến thức mà các thầy cô giáo đã giảng dạy Qua công việc thực tập này em nhận ra nhiều điều mới mẻ và bổ ích trong chuyên môn để giúp ích cho công việc sau này của bản thân
Vì kiến thức bản thân còn hạn chế, trong quá trình thực tập, hoàn thiện chuyên đề này em không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được những ý kiến đóng góp từ thầy cô và các bạn
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2020
Sinh viên
Bùi Thị Phương Thùy
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tỷ lệ axit amin thích hợp cho lợn nái nuôi con 12
Bảng 3.1 Lịch sát trùng trại lợn nái 32
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại Công ty cổ phần chăn nuôi Ánh Dương, Hòa An, Cao Bằng 34
Bảng 4.2 Số lượng lợn nái trực tiếp theo dõi tại trại qua 6 tháng thực tập 35
Bảng 4.3 Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại trại 37
Bảng 4.4 Kết quả tiêm vacxin, thuốc phòng bệnh cho đàn lợn con 40
Bảng 4.5 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại 42
Bảng 4.6 Kết quả trực tiếp điều trị bệnh trên đàn nái sinh sản tại trại 43
Bảng 4.7 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn con nuôi tại trại 44
Bảng 4.8 Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn con 45
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Cs: Cộng sự NLTĐ: Năng lượng trao đổi Nxb: Nhà xuất bản
TT: Thể trọng ATSH : An toàn sinh học UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục tiêu của chuyên đề 2
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện Vị trí địa lý 3
2.1.1 Cơ cấu tổ chức của trại 4
2.1.2 Cơ sở vật chất của trại 4
2.1.3 Thuận lợi, khó khăn 8
2.2.1 Những hiểu biết về quá trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái sinh sản 9
2.2.2 Một số bệnh thường gặp trên lợn nái sinh sản 16
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong nước và ngoài nước 27
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 27
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 28
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 31
3.1 Đối tượng 31
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 31
3.3 Nội dung thực hiện 31
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 31
3.4.1 Các chỉ tiêu thực hiện 31
3.4.2 Phương pháp thực hiện 31
Trang 73.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 33
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại Công ty cổ phần chăn nuôi Ánh Dương, Hòa An, Cao Bằng 34
4.2 Thực hiện biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản 34
4.2.1 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc theo dõi tại trại qua 6 tháng thực tập 34 4.2.2 Thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con 35
4.3 Tình hình sinh sản của lợn nái trực tiếp theo dõi tại trại công ty cổ phần chăn nuôi Ánh Dương, Hòa An, Cao Bằng 37
4.4 Kết quả thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại Công ty cổ phần chăn nuôi Ánh Dương, Hòa An, Cao Bằng 39
4.4.1 Thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh 39
4.4.2 Kết quả tiêm vắc xin, thuốc phòng bệnh cho lợn con 40
4.5 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con tại trại Công ty cổ phần chăn nuôi Ánh Dương, Hòa An, Cao Bằng 41
4.5.1 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại Công ty cổ phần chăn nuôi Ánh Dương, Hòa An, Cao Bằng 41
4.5.2 Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại Công ty cổ phần chăn nuôi Ánh Dương, Hòa An, Cao Bằng 43
4.5.3.Kết quả chẩn đoán cho đàn lợn con tại tại trại 44
4.5.4 Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn con 45
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Đề nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49 MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA ĐỀ TÀI
Trang 8hộ gia đình đồng thời thúc đẩy sự phát triển của một số ngành công nghiệp liên quan như chế biến thực phẩm, sản xuất thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y…Sản xuất thịt lợn vẫn luôn là ngành hàng thịt chủ lực và truyền thống lâu đời tại Việt Nam, là thế mạnh của ngành chăn nuôi nước ta
Đầu năm 2020 tình hình chăn nuôi trong nước và trên thế giới có nhiều khởi sắc, nhất là giá thị trường đạt mốc kỉ lục trong nhiều năm qua và còn có
xu hướng tăng Dự báo thời gian tới, nguồn thịt lợn sẽ thiếu hụt không chỉ xảy
ra ở thị trường nội địa mà còn ở nhiều nước khác Thách thức đặt ra cho ngành chăn nuôi lợn bên cạnh việc kiểm soát dịch bệnh còn cần đảm bảo cung cấp đủ nhu cầu tiêu thụ thịt lợn trong nước cũng như xuất khẩu ra thị trường ngoài nước
Để phát triển hơn nữa ngành chăn nuôi lợn ở nước ta, chăn nuôi lợn nái
là một trong những khâu quan trọng góp phần quyết định đến sự thành công trong ngành chăn nuôi lợn Đặc biệt là trong việc chăn nuôi lợn nái ở nước ta
để có đàn con nuôi thịt sinh trưởng và phát triển tốt, cho tỷ lệ nạc cao và đây cũng chính là mắt xích quan trọng để tăng nhanh đàn lợn cả về số lượng và chất lượng
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa CNTY - Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên, cùng với sự giúp đỡ của
giáo viên hướng dẫn và cơ sở nơi thực tập em thực hiện chuyên đề: “Thực
Trang 9hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, chẩn đoán và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại Công ty cổ phần chăn nuôi Ánh Dương, Hòa An, Cao Bằng”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục tiêu của chuyên đề
Thực hiện được quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản
Biết được các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, chế độ ăn và cách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn mang thai
Chẩn đoán được các bệnh thường xảy ra đối với lợn nái sinh sản và phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề
- Nắm được quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi tại trại
- Nắm được quy trình phòng, trị bệnh trên đàn lợn nái tại trại
-Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở đề ra Chăm chỉ, học hỏi
để nâng cao kỹ thuật, tay nghề cá nhân
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện Vị trí địa lý
Trại lợn của công ty cổ phần chăn nuôi Ánh Dương, Hòa An, Cao Bằng thuộc địa phận của xóm Khuổi Quân, xã Ngũ Lão, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng Trại được thành lập và đi vào sản xuất năm 2018
Trại nằm trên địa bàn xóm Khuổi Quân, xã Ngũ Lão, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng với tổng diện tích là 7 ha, bao quanh là núi, rừng và suối Khu vực trại cách xa khu vực dân cư, muốn di chuyển được vào trại thì bắt buộc phải đi qua cầu do trại xây dựng bắc qua con suối khá lớn Trại cách thành phố Cao Bằng 16 km, cách cửa khẩu Trà Lĩnh 60 km, đây là điều kiện lý tưởng để đảm bảo ATSH trong chăn nuôi
Vị trí địa lý của trại là trại nằm ở phía đông huyện Hòa An, có vị trí địa lý: phía Đông giáp xã Nguyễn Huệ, phía Tây giáp xã Đại Tiến, phía Nam giáp thành phố Cao Bằng và xã Quang Trung, phía Bắc giáp các huyện Quảng
95,4 km², mật độ dân số năm 2019 là 79 người/km²
* Điều kiện khí hậu:
Trại lợn nằm trong vùng khí hậu đặc trưng riêng so với các tỉnh miền núi khác thuộc vùng Đông Bắc, hàng năm có 2 mùa rõ rệt mùa mưa và mùa khô.Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 9 hàng năm Vào mùa này thường có gió mùa Đông Nam và chịu ảnh hưởng một phần nhỏ của gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc Nhiệt độ trung bình những tháng giữa các mùa dao động khoảng 50°C - 60°C Lượng mưa trung bình mùa mưa là
200 - 250mm Nhiệt độ trung bình mùa mưa là 20°C - 24°C và độ ẩm không khí trung bình là 80% - 90% Mùa khô kéo dài từ tháng 10 năm trước đến
Trang 11có vùng còn xuất hiện sương muối Gió mùa đông bắc thường xuyên thổi đến gây khô và rét Các tháng giá rét thường kéo dài từ tháng 12 đến tháng 2 Lượng mưa trung bình mùa khô là 20 - 40mm; thấp nhất: 10 - 20mm Nhiệt độ trung bình mùa khô là 8 - 15°C và độ ẩm trung bình hàng tháng là 70% - 80%
2.1.1 Cơ cấu tổ chức của trại
Cơ cấu tổ chức của trại gồm :
+ Tổng giám đốc công ty: 2 người
+ Kế toán: 1 người
+ Làm vườn, cấp dưỡng: 1 người
+ Cơ điện: 1 người
+ Trưởng trại: 1 người
+ Kỹ sư chăn nuôi: 3 người
+ Công nhân: 6 người
+ Sinh viên thực tập: 2 sinh viên
2.1.2 Cơ sở vật chất của trại
Trại lợn của công ty được xây dựng trên diện tích 7 ha, trong đó chuồng trại chăn nuôi, nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn và các công trình phụ phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại và khu vực ngoài trại là hơn 3 ha Diện tích còn lại là hệ thống các hạng mục đường giao thông nội bộ, cây xanh và hệ thống các công trình phụ trợ như hệ thống thoát nước,
hệ thống xử lý nước thải, phòng cháy chữa cháy
Hệ thống các công trình chuồng trại và các công trình phụ trợ được phân
bổ thành từng khu vực chuyên biệt trên khu đất Giao thông trong khu vực dự
án được bố trí liên hoàn đảm bảo thuận tiện cho quá trình hoạt động Ngoài
ra, còn hệ thống cây xanh giúp tăng yếu tố cảnh quan và cải thiện điều kiện khí hậu cho khu vực dự án
Trang 12Hệ thống cấp nước được bố trí đến từng chuồng, đảm bảo việc cấp nước đầy đủ cho công tác chăm sóc lợn Đồng thời, để đảm bảo yếu tố môi trường chủ dự án xây dựng hệ thống xử lý nước thải đảm bảo nước thải sau khi xử lý đạt quy chuẩn Việt Nam trước khi thải ra nguồn tiếp nhận
Trại bố trí thành các khu riêng biệt đảm bảo an toàn sinh học trong chăn nuôi
- Khu cách ly: Cách ly người vào trại trước khi vào khu sản xuất
- Khu sinh hoạt: Gồm nhà điều hành, nhà ở, nhà ăn và khu sinh hoạt chung
- Chuồng nuôi được xây dựng đảm bảo đủ cho 300 nái cơ bản, gồm các khu chuồng: Chuồng cách ly, chuồng phối, mang thai, chuồng đẻ, chuồng cai sữa, chuồng thịt, trong đó có:
+ Chuồng cách ly: 1 chuồng
+ Khu chuồng phối và mang thai có: 1 chuồng phối, 1 chuồng mang thai + Khu chuồng đẻ có: 2 chuồng đẻ mỗi chuồng có 40 ô chuồng
+ Khu chuồng cai sữa: 1 chuồng cai sữa có 33 ô chuồng
+ Khu thịt: 6 dãy chuồng thịt
+ Các chuồng đẻ và chuồng cai sữa có sàn đan bằng nhựa cứng để tiện cho việc rửa chuồng và sát trùng Còn chuồng phối và mang thai, nền được đổ
bê tông và thiết kế bán hầm Trại phân ra nhiều khu chuồng trại liên hoàn nhau để nuôi lợn theo từng giai đoạn riêng và áp dụng chế độ dinh dưỡng phù hợp cho từng loại lợn Lợn được nuôi trong chuồng kín có hệ thống quạt thông gió, giàn mát, hệ thống sưởi ấm đủ về yêu cầu nhiệt độ
- Trang trại hiện có 242 lợn nái và 3 lợn đực Giống lợn nái là (Landrace
x Yorshire) và giống lợn đực là Duroc Trại nhập nái từ công ty cổ phần Greenfeed Việt Nam và lợn đực giống được mua tại Công ty cổ phần Tập đoàn Dabaco Việt Nam Trại thường xuyên chọn lọc những con nái có khả năng sinh sản tốt, có kế hoạch loại thải những nái sinh sản kém hay sảy thai hoặc khô thai trong thời gian chăm sóc và nuôi dưỡng nhằm giữ ổn định và tăng chất lượng đàn nái sinh sản của trại
Trang 13- Trại áp dụng theo quy trình kỹ thuật cao từ khâu chọn giống, khẩu phần
ăn và các quy trình chăm sóc lợn nái, lợn con do công ty đề ra
- Thức ăn cho mọi giai đoạn lợn là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao do công ty cổ phần Greenfeed Hưng Yên sản xuất
- Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng, hệ thống mương luôn được thông ra
bể biogas để xử lý
- Hệ thống nước trong trại chăn nuôi cho lợn uống là nước lấy từ đầu nguồn Nước tắm cho lợn, nước xả gầm, rửa chuồng được bơm từ ao chứa nước trong trang trại lên bể chứa và theo hệ thống ống nước dẫn tới các chuồng khác nhau
- Các công trình khác:
+ Khu cổng trại có nhà sát trùng xung quanh trại là hệ thống tường rào bằng bê tông và thép
+ Gần khu chăn nuôi trại xây dựng 1 nhà cách ly có hệ thống sát trùng, 1 nhà
ăn, nhà ở, nhà vệ sinh cho cán bộ, công nhân trong trại, 1 nhà kho UV, 1 kho thuốc, 1 kho cám, 2 nhà sát trùng thay đồ và tắm giặt cho công nhân
+ Bể chứa để cung cấp nước sạch cho sinh hoạt của cán bộ công nhân viên trong trại
Trang trại đã góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong vùng còn nhiều khó khăn này Với việc chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp, các biện pháp phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi của trại được thực hiện chủ động và tích cực Kỹ sư của trại đã chủ động tổ chức tiêm phòng đầy đủ cho đàn lợn Mỗi con lợn đều có một hồ sơ riêng cho việc phối tinh, đẻ, xuất chuồng, nhập chuồng, chính xác tới từng ngày Để phòng tránh dịch bệnh, khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt Mọi nhân viên trong trại cho đến khách, muốn vào chuồng lợn đều phải đi qua hệ thống sát trùng,
Trang 14tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo và đi ủng chuyên dụng Trong các chuồng lợn, ngày vài lần, công nhân làm vệ sinh cũng như phun thuốc sát trùng xuống nền chuồng Xung quanh trạng trại được trồng cây xanh để tạo môi trường tự nhiên thông thoáng cho lợn sinh trưởng và phát triển tốt nhất Hàng ngày, toàn bộ phân mà đàn lợn nái thải ra đều được đóng bao, chuyển ra khu tập trung xa khu sản xuất để bán ra cho người dân trồng rau, lúa quanh vùng Nhau thai và lợn bệnh chết được đem đi chôn tại các hố đã được chuẩn bị sẵn Nguồn nước thải được xử lý tại các khu dành riêng cho chất thải và thải xuống hầm biogas
* Công tác vệ sinh thú y của trại
Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất lợn luôn thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên Công ty
- Công tác vệ sinh:
Chuồng trại được xây dựng thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, xung quanh các chuồng nuôi được trồng cây xanh tạo sự thoáng mát tự nhiên Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn, phun thuốc sát trùng, hành lang đi lại được quét dọn và rắc vôi theo quy định Công nhân, kỹ sư, khách tham quan trước khi vào khu chăn nuôi đều phải sát trùng tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo bảo hộ lao động
- Công tác phòng bệnh:
Trong khu vực chăn nuôi, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại được sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào
Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trang trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, cho đến lợn con Lợn được tiêm vắc xin
ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh
Trang 15truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn
- Công tác trị bệnh: cán bộ kỹ thuật có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trại luôn được kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách ly, điều trị ở ngay giai đoạn đầu, nên điều trị đạt hiệu quả cao (80 - 90%) trong một thời gian ngắn Vì vậy, không gây thiệt hại lớn về
đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trang trại
Trang 162.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề
2.2.1 Những hiểu biết về quá trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái sinh sản
2.2.1.1 Kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ
- Kỹ thuật đỡ đẻ cho lợn:
Công tác chuẩn bị trước khi đỡ đẻ cho lợn:
Căn cứ vào lịch phối giống để dự kiến ngày đẻ của lợn một cách chính xác, để phân công người trực đẻ, theo dõi đỡ đẻ cho lợn và can thiệp kịp thời khi cần thiết, tránh những trường hợp đáng tiếc có thể xảy ra
+ Chuẩn bị chuồng cho lợn nái đẻ:
Trước khi lợn đẻ 10 - 15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ, tẩy rửa
vệ sinh khử trùng toàn bộ chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con
và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, thoáng mát sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh và tiêu độc để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi cho lợn nái vào đẻ
Trước khi đẻ một tuần cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ Lợn nái được lau rửa đất hoặc phân dính trên người, dùng khăn thấm nước, xà phòng lau sạch bầu vú
và âm hộ Làm như vậy tránh nguy cơ lợn con mới sinh nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có chứa vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh cho lợn nái chúng ta chuyển lợn nái sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới
+ Chuẩn bị ô úm lợn con: ô úm có ý nghĩa rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng nâng cao sức đề kháng, tăng khả năng hấp thụ sữa mẹ và hạn chế các bệnh, phòng ngừa lợn mẹ đè chết con, đặc biệt là những ngày mới sinh lợn con còn yếu, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt thích hợp
Vào những ngày dự kiến đẻ cần chuẩn bị xong ô úm của lợn con Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng và để trống từ 3 - 5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh
Trang 17+ Chuẩn bị dụng cụ
Cần chuẩn bị đầy đủ các loại dụng cụ sau: bột lăn, dao, kéo, cồn sát trùng, máy mài nanh, cân để cân khối lượng sơ sinh, khăn mặt hoặc vải màn, đèn thắp sáng, khay đựng dụng cụ, xô chậu đựng nước, sổ sách, các loại thuốc như thuốc trợ đẻ, thuốc trợ sức, thuốc kháng sinh
- Trực và đỡ đẻ cho lợn
Đây là công việc rất quan trọng để đảm bảo tỷ lệ sống của lợn con và kịp thời can thiệp hỗ trợ lợn nái trong những trường hợp bất thường Công tác trực, đỡ đẻ dựa vào việc theo dõi ngày đẻ dự kiến để có kế hoạch trực đẻ và
đỡ đẻ cho lợn nái
Những biểu hiện khi lợn nái sắp đẻ:
Khi lợn nái sắp đẻ bụng đặc biệt to, khi lợn nằm thai cử động nhiều Trước khi đẻ 20 ngày, bầu vú to dần, đến lúc sắp đẻ thì bầu vú căng và hướng
ra ngoài có màu đỏ hồng Trước khi đẻ 3 - 5 ngày bầu vú bắt đầu cứng Trước khi đẻ 1 - 2 ngày nếu vắt thấy có sữa, bộ phận sinh dục bên ngoài dãn lỏng, 2 bên gốc đuôi lõm xuống Khi thấy lợn có biểu hiện bắt đầu cắn ổ, đi lại không yên, có hiện tượng đái són là lúc lợn sắp đẻ: 10 giờ (đối với lợn chửa lứa đầu)
và 5 - 6 giờ đối với lợn đẻ nhiều lứa Khi lợn tìm chỗ nằm, âm hộ chảy nước nhờn là lợn bắt đầu đẻ, cần bố trí theo dõi đỡ đẻ kịp thời
Những biểu hiện khi lợn đẻ:
Khi lợn đẻ toàn thân co bóp, lúc này áp lực bên trong tăng cao đẩy thai
ra ngoài Khi thai ra rốn tự đứt, lợn là loài đa thai nhưng lợn đẻ từng con một, cách khoảng 10 - 15 hoặc 20 phút đẻ 1 con Thời gian đẻ của lợn trung bình kéo dài từ 1 - 6 giờ, nếu quá 6 giờ mà thai chưa ra thì xem xét tác động ngay
Khi lợn đẻ, lợn con tự làm rách nhau thai để ra, nhưng cũng có khi cả màng thai và lợn con ra cùng một lúc, gọi là hiện tượng đẻ bọc, lúc này cần nhanh chóng xé bọc tách màng thai ra tránh hiện tượng lợn con bị ngạt Lợn
Trang 18đẻ ở trạng thái bình thường là đầu ra trước cùng với 2 chân trước úp xuống hoặc ngửa lên
Khi lợn nái đẻ hay nằm, nhưng cá biệt có con đứng và đi lại, trong trường hợp này cần tác động cho lợn nằm xuống như có thể xoa nhẹ vào mông, bụng để lợn nằm xuống đẻ
- Kỹ thuật đỡ đẻ và chăm sóc lợn con khi sinh ra:
Sau khi đẻ lợn sơ sinh được xách dốc ngược đầu cho nước nhờn trong xoang miệng và mũi chảy ra ngoài, không chảy ngược vào khí quản gây nghẽn đường thở Việc xách dốc ngược cũng giúp máu dồn về não nhờ đó não không bị liệt Nên nắm chặt cuống rốn, tránh chảy máu khi cuống rốn đứt rời cuống nhau, nên quan sát kỹ để phát hiện lợn con bị ngạt như da tím tái, dãn
cơ, lợn mềm nhũn không cử động Gặp trường hợp này nhanh chóng dùng khăn lau móc nhớt trong xoang miệng, mở rộng miệng và dùng tay bóp lồng ngực 60 lần/phút để tạo sự thông phổi Có thể tác động như thế trong vòng 15
- 20 phút kết hợp với việc lau Trong nhiều trường hợp người ta dùng bột lăn
để lăn cho lợn con Nó có tác dụng làm sạch, ngoài ra còn giúp lợn con giữ
ấm và chống lại một số mầm bệnh từ bên ngoài.Trước đây kĩ thuật đỡ đẻ lợn
sử dụng phương pháp buộc rốn và cắt, tuy nhiên phương pháp này gây nguy
cơ hernia rốn và viêm rốn cao Nên khuyến cáo để tự nhiên, cố định xung quanh bụng đợi rốn khô để cắt bớt
Nên úm lợn con nếu nhiệt độ bên ngoài lạnh để tránh tình trạng lợn con tiêu hao năng lượng để chống lạnh, nhiệt độ úm khoảng 30 - 33oC, nên cho lợn con bú khoảng 1 giờ sau đẻ
Lau sạch vú bằng cồn Iod sát trùng trước khi cho lợn con bú Làm vệ sinh chuồng trại kỹ lưỡng khi lợn nái đẻ xong, cần giữ cho chuồng trại thoáng mát, tránh nóng, tránh lạnh, tránh gió lùa mưa tạt
Trang 19Phải cho tất cả lợn con được bú sữa đầu vì sữa đầu chỉ sản xuất trong khoảng 24 giờ sau khi đẻ và lợn con chỉ hấp thu sữa đầu tốt nhất trong 24 giờ sau sinh
Cắt đuôi cho lợn con trong vòng 24 giờ sau sinh để giảm stress cho lợn con Sử dụng kìm bấm điện để cắt đuôi cho lợn con cách khớp nối với cơ thể 2,5- 3 cm, bôi thuốc sát trùng vào vết thương Đuôi sẽ lành trong vòng 7 - 10 ngày, cắt đuôi quá ngắn hay quá đài đều không tốt
Xử lý những trường hợp bất thường khi lợn nái đẻ:
- Các biện pháp can thiệp khi lợn đẻ khó
Các nguyên nhân đẻ khó có thể do: chuồng chật, lợn mẹ thiếu vận động hoặc xương chậu của lợn hẹp, lợn mẹ quá béo do ăn quá nhiều tinh bột, thiếu
Ca, P, lợn nái già nên khi đẻ co bóp của cơ yếu, không đủ sức đẩy thai ra Cũng có thể là thai quá to, ngôi thai không thuận, hoặc thai chết
Những trường hợp này thường có biểu hiện: nước ối có màu đỏ, sau 2 -
3 giờ rặn đẻ mà thai không ra, thai ra nửa chừng không ra hết vì con to, thai ra
1 - 2 con sau đó không ra được vì lợn mẹ yếu, trong trường hợp lợn đẻ lâu tức
là thời gian đẻ dài nên cho lợn mẹ uống nước ấm pha với muối, đồng thời dùng tay hỗ trợ các động tác đỡ đẻ Hoặc có thể dùng lợn con đẻ trước cho vào bú lợn mẹ để kích thích lợn mẹ đẻ
Nếu can thiệp bằng các biện pháp trên không được thì ta có thể tiêm Oxytocin cho lợn nái, chú ý không tiêm Oxytocin khi cổ tử cung chưa mở Trong trường hợp quan sát thấy lợn nái rặn nhiều lần kèm theo co chân mà không đẻ được thì phải can thiệp bằng tay, chú ý phải vệ sinh cẩn thận khi thao tác
2.2.2.3 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái nuôi con
Mục đích của chăn nuôi lợn nái nuôi con là áp dụng các biện pháp khoa học để tăng sản lượng sữa mẹ, đảm bảo cho lợn mẹ có sức khỏe tốt Lợn con
Trang 20sinh trưởng phát triển nhanh, đạt số con sau cai sữa và khối lượng cai sữa cao Lợn nái chóng được phối giống trở lại sau khi tách con
Bảng 2.1 Tỷ lệ axit amin thích hợp cho lợn nái nuôi con
Loại axit amin Lợn nái chửa Lợn nái nuôi con
Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng chất theo đúng quy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal, protein 15%, canxi từ 0,9 - 1,0%, photpho 0,7%
- Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con
Trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:
Đối với lợn nái ngoại:
+ Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh 1kg đối
Trang 21+ Sau ngày đẻ thứ 1 cho ăn 2,5kg/ngày đối với nái lứa 1, 3kg/ngày đối với nái lứa 2 và 3,5kg đối với lứa 3 trở đi Sau đó mỗi ngày tăng lên 0,5kg + Từ ngày thứ 8 đến ngày cai sữa cho lợn mẹ ăn theo công thức tính Lứa 1: 1,5 + 0,45 x số con nuôi
Lứa 2, 3, 4…: 2 + 0,5 x số con nuôi
+ Số bữa ăn trên ngày: 2 bữa/ngày sáng và chiều, sau đó tăng lên 3 bữa (sáng, trưa, chiều) Sau khi chốt chuồng được 4 ngày thì cho ăn 4 bữa (sáng, trưa, chiều, đêm)
+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì bớt đi 0,5 kg thức ăn/ngày
+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2 kg rau xanh/ngày sau bữa ăn tinh, nếu
có rau xanh
+ Một ngày trước khi cai sữa, cho lợn mẹ ăn giảm đi 20 - 30%
+ Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn
+ Đối với những lợn nái có số con lớn hơn 10, đàn con mập, lợn mẹ gầy thì cho lợn mẹ ăn theo khả năng (không hạn chế) bằng cách tăng số bữa ăn/ ngày cho lợn mẹ
Đối với lợn nái nội:
Công thức tính nhu cầu thức ăn cho lợn nái nội nuôi con/ngày đêm:
Lợn nái nội có khối lượng cơ thể dưới 100 kg, mức ăn trong 1 ngày đêm được tính như sau:
Thức ăn tinh = 1,2 kg + (số lợn con theo mẹ x 0,18 kg)
Thức ăn thô xanh: 0,3 kg
Lợn nái nội có khối lượng 100 kg trở lên, mức ăn cho 1 ngày đêm giai đoạn nuôi con được tính như sau:
Thức ăn tinh = 1,4 kg + (số lợn con theo mẹ x 0,18 kg)
Thức ăn thô: 0,4 kg
Trang 22Định mức ăn cho một lợn nái nội nuôi con/1 ngày đêm
Kỹ thuật cho ăn
+ Lợn nái nuôi con trong thời gian mới đẻ mỗi bữa cho ăn một ít một, nhưng cho ăn làm nhiều lần, thường một ngày cho ăn 3 - 4 bữa Khoảng cách giữa các bữa nên chia đều nhau
+ Cho ăn đúng giờ, đúng tiêu chuẩn quy định
+ Cung cấp đủ nước uống cho lợn nái nuôi con
+ Khi chuyển sang dùng thức ăn cho giai đoạn nuôi con, để tránh gây ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa do thay đổi thức ăn, ta phải thay dần dần + Chú ý theo dõi khả năng ăn và tình trạng sức khỏe của lợn nái để có biện pháp can thiệp kịp thời
Kỹ thuật chăm sóc và quản lý
+ Vận động: là điều kiện tốt giúp cho lợn nái nhanh chóng hồi phục sức khỏe và nâng cao sản lượng sữa mẹ Do vậy sau khi lợn đẻ được từ 3 - 7 ngày, trong điều kiện chăn nuôi có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì cho lợn nái vận động, thời gian vận động lúc đầu là 30 phút/ngày, về sau tăng số giờ vận động lên Khi thời tiết xấu thì không cho vận động, khi cho vận động chú
ý đề phòng cảm lạnh, bẩn vú, những lợn nái có vú quá sệ thì chỉ cho vận động trong sân chơi Trong chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong các khung đẻ, không được vận động, vì vậy phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt là các khoáng và vitamin
+ Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt Vì vậy hằng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn sạch sẽ Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 - 24ºC, ẩm độ là
70 - 75% Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con
Trang 23Diện tích chuồng cho lợn nái nuôi trên nền cứng là: 4 - 5 m chuồng ở/1 lợn nái và 15 m sân chơi/1 lợn nái Còn đối với lợn công nghiệp nuôi trên chuồng sàn thì kích thước 2,4 m x 1,6 m, với mỗi khung cho lợn mẹ trong chuồng có kích thước từ 2,2 - 2,4 m x 0,7 m
2.2.2 Một số bệnh thường gặp trên lợn nái sinh sản
* Bệnh viêm tử cung
Bệnh viêm tử cung xảy ra trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau Lợn nái đẻ ít lứa, nhiều lứa hay đang nuôi con đều có thể mắc bệnh song tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào yếu tố vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng Khi gia súc sinh đẻ nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây xát, bị tổn thương, vi khuẩn xâm nhập và phát triển gây viêm Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao… thường gây viêm tử cung
Nguyên nhân bệnh viêm tử cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5], viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [2], Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [10], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:
Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm
Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ
Trang 24Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc
tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát
Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung
Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao… gây viêm
Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm
Theo Đoàn Kim Dung và Lê Thị Tài (2002) [4], nguyên nhân gây viêm
tử cung là do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella,
E.coli…
Theo Lê Văn Năm (1999) [13], có rất nhiều nguyên nhân từ ngoại cảnh gây bệnh như: do thức ăn nghèo dinh dưỡng, do can thiệp đỡ đẻ bằng dụng cụ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuật dẫn đến các cơ quan sinh dục bị phá hủy hoặc kết tủa, kết hợp với việc chăm sóc nuôi dưỡng bất hợp lý và thiếu vận động đã làm chậm quá trình thu teo sinh lý của dạ con (trong điều kiện cai sữa bình thường dạ con trở về khối lượng kích thước ban đầu khoảng 3 tuần sau đẻ) Đây là điều kiện tốt để vi khuẩn xâm nhập vào tử cung gây bệnh Biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gian động dục (vì lúc đó tử cung mở) và do thụ tinh nhân tạo sai kỹ thuật
Bệnh còn xảy ra do thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý: khẩu phần thiếu hay thừa protein, trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm tử cung Lợn nái sử dụng quá nhiều tinh bột gây đẻ khó, viêm tử cung do xây xát Khoáng chất, vitamin cũng ảnh hưởng đến viêm tử cung
Trang 25 Triệu chứng
Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4 - 5 ngày cá biệt tới 6 - 7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sang vàng hay trắng và trong Trong trường hợp viêm thì sản dịch có thể có màu đen hôi thối, mùi tanh rất khó chịu
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:
+ Thể cấp tính: con vật sốt 41 - 420C trong vài ngày đầu âm môn sưng tấy đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra trắng đục đôi khi có máu lờ lờ + Thể mạn tính: không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch nhầy trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy thường không liên tục mà chỉ chảy
ra từng đợt từ vài ngày đến 1 tuần Lợn nái thường thụ tinh không có kết quả hoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo
tử cung lan sang thai làm chết thai
Hậu quả của bệnh viêm tử cung
Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5], Trần Thị Dân (2004) [7], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:
- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai
Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của progesterone, nhờ vậy phôi có thể bám chặt vào tử cung
Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiều prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co
Trang 26mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết progesterone nữa, do đó hàm lượng progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cung tăng, nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai
- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ
mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu
- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy
Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có mặt
của vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết
kích thích tố tạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc
- Lợn nái bị viêm tử cung mạn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại Nếu tử cung bị viêm mạn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thể vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết progesterone
Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại được và không thải trứng được
- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau
là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống
Trang 27thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng
Chẩn đoán lâm sàng bệnh viêm tử cung
Xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động dục, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định, từ vài ml cho tới
200 ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màu máu cá Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính, viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kì cho sữa Hiện tượng chảy mủ
ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung
Theo Nguyễn Tài Năng và cs (2016) [14]: vệ sinh chuồng trại sạch sẽ một tuần trước khi lợn đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20% sau đó rửa sạch bằng nước thường, tắm cho lợn trước khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục
và bầu vú
Nguyễn Văn Thanh và cs (2015) [17] cho biết: khi lợn nái mang thai, cổ
tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ chảy ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động đực thì có thể bị nhầm lẫn
Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủ nên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặt khác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán cho chính xác
Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm từ
Trang 28đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất
* Bệnh viêm vú
Nguyên nhân gây bệnh viêm vú
- Theo Trần Minh Châu (1996) [3], khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng
cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn
đường ruột xâm nhập gây viêm vú Một trong những nguyên nhân chính gây
ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần thức ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập và gây viêm
+ Do kế phát từ một số bệnh: Sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau đẻ, viêm bàng quang… khi lợn nái bị những bệnh này vi khuẩn theo máu về tuyến vú cư trú tại đây và gây bệnh
+ Lợn nái tốt sữa, lợn con bú không hết hoặc lợn nái cho con bú một hàng vú, hàng vú còn lại căng sữa Lợn con bú làm xây xát bầu vú hoặc lợn con bị bệnh không bú, sữa xuống nhiều bầu vú căng dễ dẫn đến viêm (Trương Lăng 2000 [9])
+ Do quá trình chăm sóc nuôi dưỡng kém, chất độn chuồng và ổ đẻ bẩn, sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch, hàng ngày không vệ sinh bầu vú, thời tiết quá ẩm kéo dài, nhiệt độ thay đổi đột ngột dẫn đến viêm
Triệu chứng
Bình thường bệnh viêm vú xảy ra ngay sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 5 - 7 ngày có khi đến một tháng Theo Ngô Nhật Thắng (2006) [18], viêm vú thường xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vú
có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có phản ứng đau Lợn nái giảm ăn, trường hợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42oC kéo dài
Trang 29trong suốt thời gian viêm, sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú Lợn con thiếu sữa kêu la chạy vòng quanh lợn mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy tọp, tỷ lệ chết cao 30 - 100% (Lê Hồng Mận, 2007 [12]) Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có những cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện những mảnh casein màu vàng, xanh lợn cợn, đôi khi có máu
Hậu quả của bệnh viêm vú
Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa, từ đó
sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ
Theo Nguyễn Đức Lưu và cs (2004) [11], bệnh viêm tử cung và viêm vú
là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợn nái nuôi con Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [2], mất sữa sau khi đẻ là do kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm cơ thể thường sốt cao liên tục
2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa
bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phục hồi chức năng tiết sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo
Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa có nhiều chất độc, sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn con
bú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh và trọng lượng cai sữa thấp
Nếu viêm vú nặng dẫn đến nhiễm trùng huyết, huyết nhiễm mủ thì khó chữa, lợn nái có thể chết
Viêm vú kéo dài dẫn đến teo đầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa đẻ sau