1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ từ ngữ về nghệ thuật rối cạn của người tày ở định hóa, thái nguyên

116 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 3,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong công trình nghiên cứu“Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” nhận định: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ, được vận

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

VI THỊ THUẬN

TỪ NGỮ VỀ NGHỆ THUẬT RỐI CẠN

CỦA NGƯỜI TÀY Ở ĐỊNH HÓA, THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ

VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

VI THỊ THUẬN

TỪ NGỮ VỀ NGHỆ THUẬT RỐI CẠN

CỦA NGƯỜI TÀY Ở ĐỊNH HÓA, THÁI NGUYÊN

Ngành: Ngôn ngữ Việt Nam

Mã số: 8 22 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ

VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Lê Văn Trường

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được aicông bố trong bất kì một công trình nào khác

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 6 năm 2019

Tác giả

Vi Thị Thuận

Trang 4

bè đã tận tình giúp đỡ trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.

Em xin chân thành cảm ơn !

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2019

Tác giả luận văn

Vi Thị Thuận

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài 6

7 Cấu trúc của luận văn 7

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8

1.1 Khái niệm hình vị, từ, ngữ, nghĩa 8

1.1.1 Hình vị 8

1.1.2 Từ 10

1.1.3 Ngữ 13

1.1.4 Nghĩa 15

1.2 Khái niệm về trường nghĩa 18

1.3 Khái niệm từ nghề nghiệp 21

1.3.1 Vị trí của từ nghề nghiệp trong lớp từ vựng của một ngôn ngữ 21

1.3.2 Phân biệt từ nghề nghiệp với các từ khác 22

1.4 Khái niệm định danh và các phương thức định danh 24

1.4.1 Khái niệm định danh 24

1.4.2 Các phương thức định danh 25

1.5 Khái niệm ngôn ngữ sân khấu và sân khấu rối cạn 25

Trang 6

1.6 Khái niệm văn hóa, biểu tượng văn hóa và mối quan hệ giữa ngôn ngữ

và văn hóa 27

1.6.1 Khái niệm văn hóa 27

1.6.2 Biểu tượng văn hóa 28

1.6.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 29

1.7 Khái quát chung về dân tộc Tày, tiếng Tày và nghệ thuật múa rối cạn tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên 30

1.7.1 Khái quát chung về người Tày tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên 30

1.7.2 Sơ lược về tiếng Tày 31

1.7.3 Nghệ thuật múa rối cạn tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên 35

Tiểu kết chương 1 38

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ PHƯƠNG THỨC ĐỊNH DANH CỦA TỪ NGỮ MÚA RỐI CẠN CỦA NGƯỜI TÀY Ở ĐỊNH HÓA, THÁI NGUYÊN 39

2.1 Dẫn nhập 39

2.2 Tình hình tư liệu 39

2.3 Đặc điểm từ ngữ múa rối cạn về cấu tạo 40

2.3.1 Thống kê từ ngữ múa rối cạn 40

2.3.2 Đặc điểm cấu tạo 41

2.4 Đặc điểm từ ngữ múa rối cạn về phương thức định danh 44

2.4.1 Phương thức định danh dựa vào hình thức 45

2.4.2 Phương thức định danh dựa vào chức năng 46

2.4.3 Phương thức định danh dựa vào đặc điểm, tính chất 47

Tiểu kết chương 2 48

Chương 3: MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA TIÊU BIỂU CỦA NGƯỜI TÀY QUA TỪ NGỮ MÚA RỐI CẠN Ở ĐỊNH HÓA, THÁI NGUYÊN 50

3.1 Dẫn nhập 50

Trang 7

3.2 Đặc trưng văn hóa của người Tày phản ánh qua công cụ chế tác và tạo

hình con rối trong múa rối cạn 51

3.3 Đặc trưng văn hóa của người Tày phản ánh qua tên gọi nhân vật và công cụ biểu diễn trong múa rối cạn 54

3.4 Đặc trưng văn hóa của người Tày phản ánh qua hoạt động diễn xướng và biểu diễn trong múa rối cạn 55

KẾT LUẬN 73

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

PHỤ LỤC 80

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

TrangHình ảnh 3.1 Cây thừng mực 51

Hình ảnh 3.2: Các quân rối cổ truyền của phường Thẩm Rộc 53

Hình ảnh 3.3: Cách điều khiển rối của phường Thẩm Rộc 54

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Sự phát triển của ngôn ngữ diễn ra liên tục và không đồng đều giữacác vùng miền, tầng lớp dân cư, các ngành nghề trong xã hội và tạo nên sự đadạng trong vốn từ Những biểu hiện này được phản ánh qua ngôn ngữ Hệ quảcủa quá trình này là bên cạnh ngôn ngữ chung của toàn dân thì có rất nhiềunhững biến thể ngôn ngữ Trong những biến thể ngôn ngữ đó, có vốn từ củanhững người làm nghề gắn với một nghề nào đó - từ nghề nghiệp Vì vậy, việcxem xét lớp từ này sẽ giúp cho làm rõ bức tranh ngôn ngữ của dân tộc nóichung và đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của một nhóm người nói riêng

1.2 Trong hệ thống từ vựng tiếng Việt, từ ngữ nghề nghiệp là một tiểu

hệ thống và là một trong những bộ phận quan trọng góp phần bổ sung và làmphong phú vốn từ Đặc trưng cơ bản của từ nghề nghiệp là gắn với sự ra đời củamột ngành nghề nhất định Múa rối là một ngành nghệ thuật sân khấu biểu diễnđộc đáo, là bộ môn nghệ thuật có nguồn gốc bản địa và truyền thống lâu đờicủa dân tộc Việt Nam, mang đậm bản sắc văn hóa, nếp sống của dân tộc Vìvậy, múa rối là một trong những lĩnh vực góp phần lưu giữ rõ nét về tiến trìnhlịch sử văn hóa của xã hội Đồng thời, từ ngữ trong nghề múa rối mang trong

nó nét văn hóa, tư duy của người sáng tạo ra nó

1.3 Nghiên cứu về từ nghề nghiệp là lĩnh vực đã có nhiều nhà nghiên cứuquan tâm tìm hiểu Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chỉ khai thác ở tầng bề mặt của

từ nghề nghiệp Tức là, mới chỉ khảo sát, sưu tầm tư liệu, phân tích cấu tạo, phạm

vi sử dụng… để phân biệt với các nhóm từ khác như: từ địa phương, tiếng lóng,thuật ngữ… mà chưa đi sâu tìm hiểu lớp nghĩa ẩn sâu mang đặc trưng tư duy - vănhóa trong việc định danh Vì vậy, những đóng góp của lớp từ này vào hệ thốngngôn ngữ toàn dân thể hiện tư duy, văn hóa dân tộc chưa được làm rõ Đặc biệtlĩnh vực từ ngữ trong nghề múa rối cạn thì sự quan tâm còn rất mờ nhạt

1.4 Múa rối là một loại hình nghệ thuật dân gian có từ bao đời nay Ở Việt

Trang 10

Nam, có hai loại hình chính là múa rối nước và múa rối cạn Tùy theo cách điều khiển con rối mà người ta chia rối cạn thành: rối que, rối dây, rối tay (lồng

con rối vào bàn tay, biểu diễn bằng cách di chuyển bàn tay và cử động các ngóntay) Nghệ thuật múa rối được coi là tiêu biểu cho múa rối truyền thống ViệtNam, đã được lưu diễn nhiều nước trên thế giới

Múa rối cạn là một nét nghệ thuật độc đáo của văn hóa dân tộc Tày nóiriêng và cộng đồng văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung Rối Tàythuộc loại hình rối que, được coi là ra đời từ 200 năm trước và thường đượcbiểu diễn vào dịp đầu năm, trong ngày lễ Lồng tồng (lễ Xuống đồng), nhằmmục đích mua vui cho công chúng, cùng với đó là thể hiện ước vọng cầu mongmưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, cuộc sống no đủ, ước nguyện về sự đỗđạt vinh danh bảng vàng của người dân

Nét độc đáo của nghệ thuật rối cạn xuất phát từ cách thức làm ra con rối.Vật liệu làm rối thường bằng gỗ thừng mực, một loại cây thân gỗ phổ biến ởmiền núi, mềm, nhẹ dễ chế tác lại không bị mối mọt Các con rối chủ yếu môphỏng hình ảnh vua quan, lão nông, muông thú

Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần,vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Mọi hoạtđộng văn hóa nghệ thuật phải nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa ViệtNam tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc Đó là trở về cội nguồn truyền thốngdân tộc, tiếp thu di sản tinh hoa dân tộc và không ngừng học tập kinh nghiệmtiên tiến của bạn bè khắp năm châu.Trên tinh thần đó huyện Định Hóa, tỉnh

Thái Nguyên đã chủ trương thực hiện đề án “Khôi phục, bảo tồn và phát huy tinh hoa văn hóa truyền thống các dân tộc huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên” Hiện nay huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên còn bảo lưu hai phường

rối cạn Ru Nghệ và Thẩm Rộc tiêu biểu của dân tộc Tày Đây là một trongnhững giá trị văn hóa dân tộc cần được bảo tồn và phát triển

Thực hiện đề tài, chúng tôi hi vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ bé vào việc

Trang 11

lưu giữ, bảo tồn và phát huy vốn từ ngữ một nghề cổ truyền, cụ thể là từ ngữ trong nghề múa rối cạn dưới góc độ như một thành tố văn hóa.

Vì những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề: “Từ ngữ về nghệ thuật rối cạn

của người Tày ở Định Hóa - Thái Nguyên” làm đề tài nghiên cứu của mình.

2 Lịch sử vấn đề

Qua tìm hiểu của chúng tôi, có thể nói hiện tại việc nghiên cứu về múarối cạn tại Định Hóa mới chỉ dừng lại ở phạm vi nghiên cứu chung nhằm bảo

tồn một hoạt động văn hóa nghệ thuật Việc nghiên cứu từ ngữ nghề múa rối

cạn ở địa phương này chưa được tìm hiểu Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng trongcông trình của mình vẫn rất cần thiết kế thừa những kết quả nghiên cứu của tácgiả đi trước này

Có thể điểm qua một số công trình tiêu biểu như: Nhà nghiên cứu vềmúa rối - Nguyễn Huy Hồng đã tìm hiểu về múa rối cạn Tày - Nùng từ nhữngnăm 60 của thế kỷ trước Các tư liệu của ông sưu tầm được về múa rối cạn cógiá trị lịch sử và là tư liệu quý cho các thế hệ sau làm căn cứ để khôi phục, bảotồn và phát triển múa rối cạn truyền thống theo đúng nguyên bản mà nó vốn có

Với hai cuốn sách có tên: “nghệ thuật múa rối Việt Nam” (xuất bản năm 1974)

và “Nghệ thuật múa rối Tày - Nùng” (xuất bản năm 2003) [29, tr.13], tác giả đã giới thiệu về múa rối cạn của dân tộc Tày ở huyện Định Hóa.

Cuốn sách “Múa rối Việt Nam những điều nên biết” của tác giả Hoàng

Kim Dung (xuất bản năm 1997) [18, tr.28] cũng đề cập chung đến múa rối cạntruyền thống và tác giả đưa ra một số giải pháp (03 giải pháp) chung cho việcbảo tồn loại hình nghệ thuật biểu diễn này

“Nghệ thuật múa rối với công tác giáo dục thiếu nhi ở Việt Nam hiện nay”

- Luận văn tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Hữu Hoa, khoa Văn hóa quầnchúng trường Đại học văn hóa Hà Nội năm 1998 có đề cập đến múa rối cạn truyềnthống dân tộc Tày - Nùng ở miền núi

Ngoài ra còn có một số bài viết đáng chú ý đề cập đến múa rối truyền

Trang 12

thống ở một số tạp chí của các tác giả như: Thảo Dung với bài viết “Phải có một chiến lược đào tạo dài hơi cho múa rối” (đăng trên tạp chí “Toàn cảnh sự kiện - dư luận” số 189 năm 2006) Và bài viết của tác giả Đỗ Trọng Quang

“Nghệ thuật múa rối Việt Nam và các nước Châu Á” (đăng trên tạp chí “Dân tộc và thời đại” số 85 năm 2005)…

Như vậy, xuất phát từ việc tổng quan tài liệu, chúng tôi nhận thấy: chưa

có công trình nghiên cứu nào đề cập đến việc nghiên cứu về từ ngữ trong múarối cạn tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên Đề tài chúng tôi lựa chọn khôngtrùng lặp với các công trình, bài viết đã được công bố

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là toàn bộ từ ngữ trong múa rối cạncủa người Tày ở Định Hóa, Thái Nguyên, bao gồm: công đoạn chế tác và quátrình biểu diễn

Ngoài ra, chúng tôi coi việc sưu tầm, lưu giữ những từ ngữ về nghệ thuật

Trang 13

rối cạn của người Tày ở Định Hóa - Thái Nguyên cũng là một mục đích hết sứcquan trọng của đề tài.

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, luận văn đề ra những nhiệm vụsau:

- Trình bày một số vấn đề lý thuyết về cấu tạo từ (hình vị, từ, ngữ nghĩa…)

- Trình bày một số vấn đề lý thuyết về định danh

- Trình bày về khái niệm ngôn ngữ sân khấu

- Trình bày về một số vấn đề lý thuyết về khái niệm văn hóa, biểu tượngvăn hóa và mối quan hệ ngôn ngữ và văn hóa

- Trình bày khái quát về người Tày, tiếng Tày ở Việt Nam nói chung và người Tày ở Định Hóa, Thái Nguyên nói riêng

- Nhận diện và xác lập danh sách từ ngữ trong múa rối cạn, bao gồm từ ngữ chỉ công đoạn chế tác và từ ngữ quá trình biểu diễn của múa rối cạn

- Định nghĩa danh sách từ ngữ trong múa rối cạn cho phần phụ lục

- Miêu tả đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa và phương thức định danh lớp từngữ chỉ công đoạn chế tác và quá trình biểu diễn của múa rối cạn

- Trình bày một số đặc trưng văn hóa của người Tày được phản ánh quacông đoạn chế tác và quá trình biểu diễn của múa rối cạn

5 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Tư liệu nghiên cứu

Tư liệu nghiên cứu của luận văn là lớp từ ngữ trong múa rối cạn củangười Tày ở thôn Thẩm Rộc, xã Bình Yên và thôn Ru Nghệ, xã Đồng Thịnh,huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên bao gồm từ ngữ ở công đoạn chế tác và từngữ của quá trình biểu diễn, được người viết trực tiếp thu thập qua điều tra điền

dã và phỏng vấn

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trang 14

Để thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

5.2.1 Phương pháp điều tra điền dã

Phương pháp này được chúng tôi xác định là phương pháp chính và quantrọng trong việc thu thập danh sách từ chỉ công đoạn chế tác cũng như quá trìnhbiểu diễn của múa rối cạn Việc áp dụng triệt để phương pháp này sẽ cho mộtdanh sách từ có độ tin cậy cao Trong nghiên cứu điền dã, chúng tôi chú trọngcác thao tác quan sát, phỏng vấn nhằm làm rõ các đặc điểm về hình thức vàchức năng của các công đoạn chế tác và biểu diễn múa rối cạn để có những cơ

sở tin cậy trong nghiên cứu tiếp theo

5.2.2 Phương pháp miêu tả

Phương pháp này được chúng tôi áp dụng với các thủ pháp bên trongnhư: thủ pháp phân loại và hệ thống hóa; thủ pháp phân tích thành tố trực tiếp;thủ pháp phân tích nghĩa từ nhằm tìm hiểu những đặc điểm về cấu trúc, ngữnghĩa và phương thức định danh lớp từ ngữ đang xét

5.2.3 Phương pháp so sánh - đối chiếu

Phương pháp này được chúng tôi sử dụng trong những trường hợp cần có

sự so sánh - đối chiếu giữa vấn đề đang xem xét với những vấn đề tương ứngtrong những ngôn ngữ khác như tiếng Việt, tiếng Nùng…

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài

- Danh sách lớp từ ngữ múa rồi cạn ở Định Hóa, Thái Nguyên (được thu thập

Trang 15

theo hướng bách khoa) có thể làm tư liệu cho việc biên soạn Bách khoa thư nghề truyền thống các dân tộc Việt Nam hoặc Từ điển từ nghề nghiệp nói riêng.

- Làm tài liệu cho việc học tập, giảng dạy bộ môn múa rối cạn trong cáctrường nghệ thuật nói riêng và giảng dạy tiếng Tày nói chung

- Thông qua nội dung nghiên cứu của luận văn giúp cho nghệ nhân nghềmúa rối, người dân huyện Định Hóa và cộng đồng có cái nhìn sâu sắc và toàndiện hơn về một nghề - một hoạt động nghệ thuật đặc sắc của người Tày tạiĐịnh Hóa nói riêng và cộng đồng người Việt nói chung

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ

lục, luận văn dự kiến gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

- Chương 2: Đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và phương thức định danh trong múa rối cạn của người Tày ở Định Hóa, Thái Nguyên

- Chương 3: Một số đặc trưng văn hóa tiêu biểu của người Tày qua từ ngữ

múa rối cạn ở Định Hóa, Thái Nguyên.

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Khái niệm hình vị, từ, ngữ, nghĩa

1.1.1 Hình vị

Trong ngôn ngữ học đại cương, hình vị (“morpheme” mooc- phem/ từ tố/ nguyên vị/ hình tố…) và từ tố được coi là những dạng thức cụ thể của hình

vị trong những hoàn cảnh nhất dịnh với vai trò cấu tạo nên các đơn vị lớn hơn

(từ) Hình vị là một trong những nội dung thu hút được sự quan tâm của cácnhà nghiên cứu Khi tìm hiểu về vấn đề này, chúng tôi nhận thấy có một sốquan niệm của các tác giả trên thế giới về hình vị như sau:

Quan niệm thứ nhất, coi hình vị là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của từ Tiêu

biểu cho quan niệm này là phát biểu của Baudouin de Courtnay: “Chuỗi lời nói chia ra câu hay mệnh đề, câu chia ra thực từ, từ chưa ra hình vị Như vậy, hình

vị là bộ phận của từ và là bộ phận có nghĩa nhỏ nhất”.

Quan niệm thứ hai, coi hình vị là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ Tiêu biểu

cho quan niệm này là phát biểu của L Bloomfield: “Hình vị là một nhát cắt âm thanh nhỏ nhất có sự tương ứng giữa âm và nghĩa, phân biệt được với nhát cắt khác cũng là hình vị; hình vị là hình thức đơn vị nhỏ nhất có nghĩa” Theo quan

niệm này, hình vị được xem là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ và ngôn ngữ gồm

ba bậc cơ bản là: âm vị, hình vị và kết cấu

Quan niệm thứ ba, coi hình vị có nội dung rộng hơn cách hiểu của quanniệm thứ nhất nhưng hẹp hơn cách hiểu của quan niệm thứ hai Theo đó, hình

vị là đơn vị có nghĩa nhỏ nhất của ngôn ngữ không được sử dụng độc lập vềmặt cú pháp Những nhà nghiên cứu theo quan điểm này coi từ là đơn vị cơ bảncủa ngôn ngữ

Đi sâu tìm hiểu các quan niệm về hình vị của các nhà Việt ngữ học, chúngtôi nhận thấy một số tác giả với các quan niệm có tính khuynh hướng như:

Trang 17

Tác giả Nguyễn Tài Cẩn trong công trình “Ngữ pháp tiếng Việt: Tiếng

- từ ghép - đoản ngữ” đã cho rằng: “Hình vị là đơn vị nhỏ nhất, đơn giản nhất

về mặt tổ chức mà lại có giá trị về mặt ngữ pháp” [11] Như vậy hình vị được coi

là tiếng và là đơn vị gốc của ngữ pháp tiếng Việt Tuy nhiên, tác giả không

đồng nhất tiếng là từ mà có sự phân biệt: tiếng độc lập và tiếng không độc lập.Các tiếng độc lập được coi là từ còn các tiếng không độc lập được coi là cáchình vị tự do Như vậy, Nguyễn Tài Cẩn đã lấy tính độc lập/ không độc lập làtiêu chuẩn để phân biệt từ và hình vị Rất rõ ràng để thấy các lí giải về hình vịtiếng Việt của Nguyễn Tài Cẩn thuộc vào quan niệm thứ hai

Tác giả Cao Xuân Hạo khi bàn về hình vị, một mặt tán đồng quan điểmhình vị trùng với âm tiết của Nguyễn Tài Cẩn, mặt khác ông đi sâu tìm hiểucách tổ chức tôn tin của các đơn vị mang nghĩa và các quy tắc cú pháp củatiếng Việt Trong các công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã chứng mình:trong tiếng Việt, đơn vị có cương vị ngôn ngữ học của âm vị là tiếng chứ khôngphải là âm tố như trong các ngôn ngữ Châu Âu Từ những phân tích cụ thể, tác

giả đi đến kết luận: “Trong tiếng Việt, tiếng vừa là âm vị, vừa là hình vị, vừa là

từ, và nếu có thể hình dung một ngôn ngữ Âu châu như một cơ chế hoạt động trên ba cái trục chính: âm vị - hình vị và từ, tiếng Việt dường như gộp ba cái trục ấy lại làm một: cái trục hợp nhất ấy là tiếng” [26] Chính điều này đã tạo

ra hiện tượng “một thể ba ngôi” trong tiếng Việt.

Tiếp thu các quan điểm đi trước, các tác giả Nguyễn Thiện Giáp, NguyễnKim Thản, Đỗ Hữu Châu,… cho rằng: từ mới là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ.Nếu quan niệm hình vị là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ thì từ tiếng Việt trùngvới hình vị Điều này dẫn đến nhận định có thể coi từ tiếng Việt trùng với hình

vị và âm tiết Tuy nhiên, không phải âm tiết nào cũng là hình vị và từ bởi cónhững âm tiết vô nghĩa và không thể coi là hình vị

Từ việc tìm hiểu các quan niệm trên, chúng tôi nhận thấy có thể coi “hình

Trang 18

vị” là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ Theo đó, hình vị có 2 đặc điểm chính:

nghĩa về từ đã được đưa ra những chưa có định nghĩa nào thỏa mãn được các nhànghiên cứu Nhận định này là hoàn toàn dễ hiểu, bởi vì hiện nay trên thế giới cókhoảng hơn 6000 ngôn ngữ đang được sử dụng và ở mỗi ngôn ngữ từ lại đượcbiểu hiện ở những hình thái khác nhau Để thấy được sự đa dạng trong định nghĩa

về từ, chúng tôi dẫn ra một số định nghĩa thường được nhắc đến như sau:

F de Saussure cho rằng: “Từ là một đơn vị luôn luôn ám ảnh tư tưởng của chúng ta như một cái gì đó trung tâm trong toàn bộ cơ cấu ngôn ngữ…” [36, tr.111] Trong định nghĩa về từ, K Bukher chú ý đến mặt ngữ âm của từ và cho rằng: “Các từ là kí hiệu âm thanh của một ngôn ngữ được cấu tạo từ các âm vị và

có thể tạo thành trường” Nhìn nhận từ góc độ thuộc tính phổ quát của từ.

M.Solnxev nhận định: “a) Từ là đơn vị ngôn ngữ có tính hai mặt: âm và nghĩa; b) Có khả năng độc lập về cú pháp khi sử dụng trong lời” Theo tác giả, khi nói từ là đơn vị ngôn ngữ là đã có hàm ý phân biệt từ với hình vị, với câu; nói tính hai mặt (âm và nghĩa) là muốn khẳng định tính hoàn chỉnh của từ Tức là từ có cả hình thái và ngữ nghĩa Vì vậy, trong lời nói từ có khả năng hoạt

động độc lập về cú pháp

Tiếp thu các nghiên cứu của các tác giả trên thế giới, ở Việt Nam, các nhànghiên cứu cũng đã dành sự quan tâm cho vấn đề này Có thể kể đến các tác giả

Trang 19

với các nhận định về từ được nhiều người đồng thuận như: Tác giả NguyễnThiện Giáp khi nghiên cứu về từ đã so sánh từ của các ngôn ngữ Ấn Âu và từcủa tiếng Việt [24, tr.76-77] Tác giả chỉ ra:

1) Từ tiếng Việt là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa Trong các ngôn ngữ Ấn Âu, từ

có thể là đơn tiết, có thể là đa tiết Trong Việt ngữ, mỗi từ là một âm tiết, nếuphân tích từ thành những bộ phận nhỏ hơn nữa thì chỉ có thể thu được những

âm vô nghĩa Như vậy, từ của tiếng Việt là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa Đây làmột đặc điểm khác hẳn với các ngôn ngữ Ấn Âu

2) Từ tiếng Việt có thể có biến thể ngữ âm (ví dụ: lời và nhời, trăng và giăng, nhăn và dăn), biến thể từ vựng - ngữ nghĩa (ví dụ: các ý nghĩa khác nhau của từ ăn…) nhưng không thể có biến thể hình thái học Dù đứng trong câu hay đứng lẻ

một mình, bao giờ chúng cũng giữ nguyên một hình thức

3) Ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp gắn bó chặt chẽ với nhau ở từ trongtiếng Việt Vì vậy, ý nghĩa của từ tiếng Việt thường có tính chất trừu tượng, khái quát.Chỉ khi kết hợp với các từ khác ý nghĩa của nó mới được cụ thể hóa

Từ những phân tích trên, tác giả tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong công đưa

ra định nghĩa về từ như sau: “Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý

nghĩa dùng để tạo câu nói; nó có hình thức của một ấm tiết, một khối viết liền”

[24, tr.61]

Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong

công trình nghiên cứu“Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” nhận định: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu” [17, tr 136].

Khi nghiên cứu đối tượng là từ, tác giả Đỗ Hữu Châu đưa ra định nghĩa về

từ như: “Từ tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất trong cấu tạo câu [12, tr.16] Đây được coi là định nghĩa về từ được nhiều nhiều chấp

Trang 20

nhận nhất bởi: định nghĩa này đã chỉ ra được những đặc điểm khái quát cơ bản nhất của từ như sau:

1) Từ là đơn vị hoàn chỉnh có cả hình thức (vỏ âm thanh) và nghĩa

2) Từ có khả năng hoạt động độc lập và tạo ra câu trong lời nói

Trong phạm vi luận văn, chúng tôi sử dụng quan niệm của Đỗ Hữu Châu đểnghiên cứu từ ngữ trong múa rối cạn của người Tày ở Định Hóa, Thái Nguyên

Xét về mặt cấu tạo, từ tiếng Việt được chia thành: từ đơn, từ ghép và từláy

Từ đơn là “từ chỉ chứa một từ tố”[6, tr.40] Các từ đơn như: nhà, bàn, lớp, lúa, ngô, chạy, nhảy, cười, khóc, vui, buồn,…

Từ ghép là “Từ chứa hai (hoặc hơn hai) từ tố và trong đó nhìn chung không có hiện tượng “hòa phối ngữ âm tạo nghĩa” [6, tr 43] Căn cứ theo cấu

tạo, từ ghép chia thành: từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ

Từ ghép đẳng lập là từ ghép mà “quan hệ ngữ pháp giữa các từ tố trong

nó là quan hệ bình đẳng; ý nghĩa ngữ pháp do cơ chế ghép đẳng lập tạo ra nó

là ý nghĩa tổng hợp, ý nghĩa chỉ loại sự vật, đặc trưng (hành động, trạng thái, tính chất, quan hệ) chung” [6, tr 43] Ví dụ: điện nước, xăng dầu, sống chết, nghe nhìn, tốt đẹp, núi non, tìm kiếm,…

Từ ghép chính phụ là từ ghép mà “quan hệ ngữ pháp giữa các từ tố trong nó là quan hệ bất bình đẳng; kiểu ý nghĩa của từ ghép chính phụ là kiểu

ý nghĩa không tổng hợp và khi cần cụ thể hóa thì có thể phân biệt trong đó ý nghĩa dị biệt và ý nghĩa sắc thái hóa” [6, tr.47] Ví dụ: xe đạp, dưa hấu, ngủ gật, vui miệng, nhiệt kế, xã viên, dưa bở, làm việc, cốt bông, xã tít, sung mọng,

Từ láy là “từ phức được tạo ra bằng phương thức láy âm có tác dụng tạo nghĩa” [6, tr 51] Ví dụ: đu đủ, đo đỏ, đèm đẹp, người người, đâu đâu, lơ thơ, khấn khứa, ấp úng, kề cà,…

Các phương thức cấu tạo từ: Khi bàn về phương thức cấu tạo từ, các tác

giả Hoàng Văn Hành, Hà Quang Năng, Nguyễn Văn Khang nhận định: “Cấu tạo

Trang 21

từ là một cơ trình diễn ra trong những điều kiện, theo những quy tắc nhất định trong đó với những điều kiện cần và đủ Nói cách khác, cấu tạo từ là một cơ chế” [25, tr.65].

Nhận định trên đã nhắc tới 3 thành tố cơ bản để tạo nên từ: 1 Có một hệthống những đơn vị có khả năng làm thành tố của từ (hình vị); 2 Có một hệnhững yếu tố có giá trị hình thái (đó là những yếu tố thuần túy hình thức, dùnglàm phương tiện để nối kết các thành tố, trong quá trình tạo lập từ hoặc dùnglàm tiêu chí để xác định tính độc lập của từ); 3 Có một hệ quy tắc cấu tạo từ.Trong tiếng Việt, hệ quy tắc cấu tạo từ bao gồm những tiểu hệ thống là: hệ quitắc cấu tạo từ suy phỏng, hệ qui tắc cấu tạo từ láy, hệ qui tắc cấu tạo là từ ghép,

hệ qui tắc cấu tạo từ phái sinh [25, tr.66-67]

Từ cơ chế sản sinh trên, chúng tôi nhận thấy phương thức cấu tạo từ có

ba con đường: từ hóa hình vị, ghép và láy

- Từ đơn là những từ được cấu tạo theo phương thức giữ nguyên hình vị

gốc Cấu tạo của từ đơn chỉ có một hình vị Ví dụ: tre, trúc, gậy, rối, đèn, mèn, sênh, sáo, phách,…

- Từ ghép là những từ được tạo ra từ việc ghép các hình vị độc lập với nhau Ví

dụ: cày bừa, săn bắt, leo trèo, hát múa, ăn uống, cúng lễ, nghệ nhân, uốn éo,…

- Từ láy là những từ được tạo ra thêm một hình vị láy từ một hình vị gốc

Ví dụ: nhún nhảy, nhịp nhàng, đo đỏ, thập thò, leng keng,…,

1.1.3 Ngữ

Khi sự vật, hiện tượng mới trong xã hội xuất hiện ngày càng nhiều vànhu cầu được gọi tên ngày càng trở nên cấp thiết mà vốn từ vựng không đủ đểbiểu thị thì xuất hiện những đơn vị được cấu tạo trên cơ sở những đơn vị từvựng đã có Những đơn vị được cấu tạo đó có giá trị tương đương với từ vàđược gọi là ngữ

Theo “Từ điển khái niệm ngôn ngữ học” thì: Ngữ (phrasal lexeme) là “Cụm

từ có sẵn trong ngôn ngữ, có giá trị tương đương với từ, có nhiều đặc điểm

Trang 22

giống với từ:

- Chúng có thể tái hiện trong lời nói như các từ,

- Về mặt ngữ pháp, chúng cũng có thể làm thành phần câu, cũng có thể

là cơ sở để cấu tạo từ mới,

- Về mặt ngữ nghĩa, chúng cũng biểu hiện những hiện tượng của thực tế khách quan, gắn liền với những kiểu hoạt động khác nhau của con người.

Tính cố định và tình thành ngữ là hai đặc trưng cơ bản của ngữ Có nhiều kiểu ngữ khác nhau như đặc ngữ, thành ngữ, quán ngữ” [23, tr.316].

Như vậy, ngữ được hiểu đơn giản là sự kết hợp của hai từ hoặc nhiềuthực từ (không hoặc có cùng với các hư từ có quan hệ với chúng gắn bó về ýnghĩa và ngữ pháp) Ngữ diễn đạt một khái niệm thống nhất và là tên gọi biểuthị các hiện tượng của thực tại khách quan

Ngữ là một kết cấu cú pháp được tạo thành bởi hai hoặc nhiều thực từtrên cơ sở liên hệ ngữ pháp phụ thuộc - theo quan hệ phù hợp, chi phối hay liênhợp Trong một số ngữ có từ đóng vai trò chủ yếu về mặt ngữ nghĩa và ngữpháp gọi là thành tố chính, các từ phụ thuộc vào thành tố chính gọi là thành tốphụ Thành tố chính của ngữ có thể là danh từ (tạo nên danh ngữ), động từ (tạonên động ngữ), tính từ (tạo nên tính ngữ), ngữ còn được gọi là cụm từ, từ tổ

Ngữ được chia thành 4 nhóm: ngữ định danh, thành ngữ, ngữ láy âm vàquán ngữ Trong phạm vi đề tài, chúng tôi đi sâu vào ngữ định danh

1.1.3.1 Ngữ định danh

Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp thì: “ngữ định danh là những cụm từ biểu thị các sự vật, hiện tượng hay khái niệm nào đó của thực tế Nó bao gồm những cụm từ thường được gọi là từ ghép như: xe đạp, máy tiện, cá vàng, cà chua, áo dài,… và những cụm từ thường được gọi là ngữ cố định như: đường đồng mức, phương nằm ngang, máy hơi nước…” [24, tr.77-78].

Ngữ định danh chia thành các loại: ngữ định danh kết hợp: quân rối, giáo trống, đàn đáy, trống bản, trống cơm,…; Ngữ định danh hòa kết: ngây thơ, chân

Trang 23

thực, sân khấu, khấn cầu, thờ cúng,…

1.1.3.2 Thành ngữ

“Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa vừa có tính gợi cảm Ví dụ: chó ngáp phải ruồi, hồn siêu phách lạc, nói thánh nói tướng, thắt lung buộc bụng, giật gấu vá vai, lanh chanh như hành không muối, lừ lừ như ông từ vào đền” [24, tr 83].

Thành ngữ được chia thành 2 loại: thành ngữ hợp kết như áo mảnh quần manh, mẹ góa con côi, mèo mả gà đồng,…; thành ngữ hòa kết như nuôi ong tay

áo, cõng rắn cắn gà nhà, chó có váy lĩnh, nước đổ lá khoai, nước đổ đầu vịt,…

Thành ngữ khác với ngữ định danh ở các điểm sau: 1 Về nội dung: ngữđịnh danh là tên gọi thuần túy của sự vật, còn thành ngữ là tên gọi gợi cảm củahiện tượng nào đó; Do tính tượng trưng nên ý nghĩa của thành ngữ luôn luôn cótính cụ thể Nó không có khả năng diễn đạt đồng thời quan hệ chủng và loại,không có cả diện chung lẫn diện riêng của ý nghĩa như ngữ định danh; Thànhngữ chỉ hình thành ở những phạm vi mà sự phản ánh đòi hỏi cần có sự bình giá

và biểu cảm 2 Về cấu trúc ngữ pháp: ngữ định danh hầu như rất ít gặp quan hệtường thuật, ở thành ngữ thì quan hệ này chiếm tới 7%; thành ngữ có cấu trúcđẳng lập khác với ngữ định danh cùng kiểu cấu trúc về cả lượng lẫn chất

1.1.3.3 Ngữ láy âm

“Ngữ láy âm là những đơn vị được hình thành do sự lặp lại hoàn toàn hay lặp lại có kèm theo sự biến đổi ngữ âm nào đó của từ đã có Chúng vừa có

sự hài hòa về ngữ âm, vừa có sự gợi cảm, gợi tả” [24, tr.92].

Các hình thức láy của ngữ láy âm: 1 Láy đôi với các kiểu láy như: láy hoàn toàn như xinh xinh, oang oang, rầm rầm, đùng đùng, ; láy bộ phận như lác đác, lưa thưa, co ro, xập xình, lênh khênh, thiêm thiếp, ; 2 láy ba như khít khìn khịt, tẻo tèo teo, tí tì ti, sạch sành sanh, ; 3 Láy tư như: hớt ha hớt hải, lủng cà lủng củng, hấp ta hấp tấp, bù lu bù loa,

1.1.4 Nghĩa

Nghĩa của từ là một trong những khái niệm quan trọng của ngôn ngữ học

Trang 24

Liên quan đến vấn đề này có rất nhiều các quan điểm được đưa ra:

Quan điểm thứ nhất, một số số người cho rằng nghĩa của từ là “sự vật hay hiện tượng do từ biểu thị” [24, tr 125] Ví dụ: bàn là bản thân cái bàn đã tồn tại trong thực tế,

Quan điểm thứ hai, là quan điểm được rất nhiều người chấp nhận khi họ

cho rằng: “nghĩa của từ là đồng nhất nghĩa với khái niệm logic hay biểu tượng tâm lí có liên hệ với từ ấy” [24, tr.125].

Quan điểm thứ ba là quan niệm do F.de Saussure nêu ra: “Dấu hiệu ngôn ngữ kết liền thành một không phải một sự vật với một tên gọi, mà là một khái niệm với một hình ảnh âm thanh” [24, tr 125] Theo đó, ông cũng đề xuất thay đổi: khái niệm thay bằng sở biểu, hình ảnh âm thanh bằng năng biểu, ý

nghĩa bằng sở biểu

Quan điểm thứ tư lại cho rằng nghĩa của từ ““là sự lệ thuộc của nó với

sự vật, hiện tượng của thế giới hiện thực”, “nghĩa của từ là mối liên hệ của từ với sự vật của thực tế” [24, tr 127-128].

Quan điểm thứ năm cũng xem xét nghĩa của từ là “quan hệ, nhưng không phải quan hệ giữa từ với đối tượng mà là quan hệ giữa từ và khái niệm, biểu tượng” [24, tr.128].

Có thể nhận thấy, các quan điểm trên hướng đến hai khuynh hướng:

- Cho nghĩa của từ là một bản thể nào đó (đối tượng, khái niệm, sự phảnánh,

- Cho nghĩa của từ là một quan hệ nào đó (quan hệ của từ với đối tượng, hoặc quan hệ của từ với khái niệm, )

Cùng với các quan điểm đã nêu thì có không ít định nghĩa về nghĩa, đặcbiệt về nghĩa của từ Sở dĩ như vậy là vì khái niệm nghĩa rất trừu tượng (so với

từ và các đơn vị ngôn ngữ khác) Về mặt lý thuyết, căn cứ để hiểu nghĩa là: cácđơn vị đang xét (từ và hình vị) được sử dụng trong sự quy chiếu về một sự vậthiện tượng nào đó, với yêu cầu người nói, người nghe phải cùng nghĩ về sự vật

Trang 25

hiện tượng ấy Nhờ sự quy chiếu như vậy, sự sử dụng các đơn vị này trong cấu

tạo nên các đơn vị lớn hơn nó mới không gây nên sự lẫn lộn

Nghĩa các đơn vị đang xét mang tính quy ước là nhờ người nói và người

nghe (sử dụng cùng một ngôn ngữ) ước định với nhau: âm thanh này biểu thị

sự vật hiện tượng này, âm thanh kia biểu thị sự vật hiện tượng kia v.v… Như

vậy, mặt vật chất và ý nghĩa có liên hệ mật thiết, quy định ràng buộc và là điều

kiện tồn tại của nhau Đồng thời, cũng như các đơn vị ngôn ngữ, nghĩa của các

đơn vị này (từ và hình vị) cũng chỉ tồn tại trong hệ thống ngôn ngữ Tách ra

khỏi hệ thống, chúng không tồn tại

Từ sự phân tích trên có thể chấp nhận một quan niệm chung: Hiện thực

được phản ánh vào nhận thức, tạo nên mối quan hệ liên tưởng thường trực liên

tục với một hình thức âm thanh nhất định, nhờ đó sự phản ánh này được hiện

thực hoá bằng ngôn ngữ Mối liên hệ này được hiểu là nghĩa

Khi xem xét các đơn vị ngôn ngữ thì các đơn vị ngôn ngữ bao gồm hai

mặt: cái biểu hiện và cái được biểu hiện, hay hình thức và nội dung, nghĩa

thuộc mặt thứ hai, tức nội dung

Mô hình tín hiệu ngôn ngữ:

Từ ngữ

Khi nói về nghĩa của từ (và hình vị), người ta phân biệt các thành phần

như: nghĩa biểu vật (là liên hệ giữa “hình thức âm thanh” với sự vật hiện tượng

cụ thể mà nó chỉ ra); nghĩa biểu niệm (là liên hệ giữa “hình thức âm thanh” với

ý niệm - cái biểu niệm, bao gồm các thuộc tính của sự vật hiện tượng được phản

Trang 26

ánh vào ý thức con người)… Ngoài ra, người ta còn phân biệt nghĩa cấu trúc

-là mối liên hệ giữa các đơn vị khác nhau trong hệ thống; nghĩa ngữ dụng - -là

mối liên hệ giữa các đơn vị đang xét với tình cảm, thái độ của người sử dụng

Khi phân tích nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ trên, người ta đề xuất nhiềucách, trong đó cách thường được sử dụng hơn cả là làm cho các đơn vị này bộc

lộ ý nghĩa của mình qua ngữ cảnh Ngữ cảnh được hiểu là chuỗi các đơn vịngôn ngữ kết hợp với đơn vị đang xét hoặc bao xung quanh nó, làm cho nóđược cụ thể hóa hơn và được xác định về nghĩa Ngữ cảnh, có thể là tối thiểu(đơn giản nhất) và tối đa (mở rộng đến mức có thể)

Mặt khác, khi tìm hiểu nghĩa của hình vị, phải xem xét trong quá trìnhhành chức của nó (tham gia cấu tạo từ và thể hiện ở cơ cấu nghĩa của từ) Đốivới từ cũng vậy, không thể tách rời nó khỏi hoạt động ngôn ngữ, trong đó nó cóvai trò tái hiện tự do tạo thành câu Như vậy, chỉ trong sự hành chức, nghĩa mớiđược hiện thực hóa và xác định Hơn thế, trong thực tế hoạt động của ngônngữ, nghĩa của đơn vị ngôn ngữ có thể bị giảm thiểu hoặc gia tăng so với cácyếu tố cấu thành nó (các nét nghĩa), đồng thời người nói cũng có thể tạo nênhàng loạt các quan hệ về nghĩa khác trong hệ thống ngôn ngữ của mình: đồng

âm, đồng nghĩa và trái nghĩa, nghĩa phái sinh

Nghĩa của từ còn được hiểu là nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp Xét vềnghĩa thì từ và hình vị không khác nhau (đều là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa) sựkhác nhau ở chúng chỉ là chức phận của chúng Tuy nhiên vì từ là đơn vị trựctiếp cấu thành lời nói và là sự kiện tâm lý ngôn ngữ tương đối hiển nhiênthường trực đối với nguời bản ngũ.Vì vậy trong tài liệu nghiên cứư về ngônngữ học, người ta thường chú ý đến ý nghĩa của từ Điều đó lý giải vì sao từđược chú ý hơn so với hình vị

1.2 Khái niệm về trường nghĩa

Trên thế giới, khái niệm về trường và lí thuyết trường ngữ nghĩa xuất hiện

từ rất sớm nhưng chỉ thực sự được quan tâm nghiên cứu từ những năm 20 của

Trang 27

thế kỉ XX từ những lí thuyết ngôn ngữ học của W Humboldt và F de Saussure.Các nhà nghiên cứu như G Ipsen (1924), A Jolles (1934), W Porzig (1934)…Đặc biệt là J Trier (1934) được coi như đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch

sử ngữ nghĩa học

Tác giả J Trier là nhà nghiên cứu đầu tiên nêu ra thuật ngữ “trường”

trong ngôn ngữ học Tác giả không dùng khái niệm trường ngữ nghĩa mà chỉnói tới trường khái niệm và trường từ vựng Trường khái niệm là một hệ thốngrộng gồm những khái niệm có quan hệ với nhau, được tổ chức lại xung quanhmột khái niệm trung tâm Trường từ vựng là tập hợp các từ phủ lên trên mộttrường khái niệm

Khi bàn về giá trị của lí thuyết trường cuar J.Trier, tác giả Đỗ Hữu Châu

đã cho rằng: những giá trị lí thuyết “trường” của Trier cũng chỉ dừng ở mức là

những gợi ý Lí giải điều này, tác giả đã chỉ ra: sự không phân biệt ý nghĩa vớikhái niệm, các lớp ý nghĩa, từ với khái niệm và quan niệm quá dứt khoát về

ranh giới giữa các trường khái niệm và các “vùng” khái niệm của từ với nhau

đặc biệt là cách sử dụng thiếu thận trọng tư liệu cổ để đối chiếu hai trạng tháikhác nhau của cùng một trường khiến cho những kết luận của Trier dễ bị phảnbác và phương pháp của ông không được vận dụng một cách có hiệu quả Mặc

dù vậy, quan điểm của Trier về trường là những gợi ý ban đầu cho việc nghiêncứu ngôn ngữ nói chung và trường từ vựng nói riêng

Kế thừa các kết quả nghiên cứu của J Trier, các nhà nghiên cứu như:

Weisgerber, J Lyons,… trong công trình “Nhập môn ngôn ngữ học lí thuyết” đã đưa

ra những nội dung quan trọng bổ sung cho lí thuyết trường Cụ thể, tác giả J.Lyons đã

đưa ra được một định nghĩa về ý nghĩa của từ (sense) có phần khoa học hơn: “Cái mà

ta cho là ý nghĩa của một đơn vị từ vựng là toàn bộ tập hợp các quan hệ ý nghĩa giữa

nó với các đơn vị khác trong từ vựng”[12, tr 244] Đặc biệt, một số nhà ngôn ngữ

học sau này đã chia hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ thành trường nghĩa ở nhiều cấp độ lớn nhỏ khác nhau dựa vào nét nghĩa phạm trù chung nhất đến các nét nghĩa phạm trù nhỏ hơn rồi các nét nghĩa loại, hạng và nét nghĩa riêng biệt Như vậy, các nghà nghiên cứu vừa nêu đã xem xét trường nghĩa theo

Trang 28

quan hệ dọc của ngôn ngữ, tức là xem xét các trường nghĩa theo tính hệ thốngcủa ngôn ngữ.

Khác với các tác giả trên, W Porig lại tìm hiểu trường từ dựa trên quan

hệ ngang giữa các tín hiệu ngôn ngữ để đề xuất lí thuyết về trường nghĩa Theo

đó, ông xem xét các trường nghĩa dựa trên cơ sở các mối quan hệ về nghĩa giữacác cặp từ có quan hệ ngữ đoạn với nhau (quan hệ ngang) Với Porzig, ý nghĩacủa từ có thể được chỉ ra một cách độc lập trong những trường hợp sử dụng cúpháp khác biệt Với cách nhìn nhận như vậy, Porzig xác định sự sắp xếp củanhững từ có đặc điểm ngữ pháp giống nhau (có khả năng kết hợp giống nhauvới các từ khác) tạo thành trường từ vựng - cú pháp

Kế thừa các kết quả nghiên cứu của các tác giả trên thế giới, ở Việt Nam,

từ những năm 70 của thế kỉ XX, có rất nhiều các nhà nghiên cứu đã dành sựquan tâm nhất định về vấn để này như:

Tác giả Đỗ Hữu Châu trong một loạt công trình nghiên cứu đã đưa ranhững phân tích, nhận định, đánh giá về các quan niệm về trường nghĩa của các

tác giả trên thế giới và nêu ra quan niệm riêng của mình về trường nghĩa: “Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa Đó là tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa” [12, tr.159].

Các tác giả của cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học cho rằng: “Một loạt các từ được liên kết lại nhờ sự đồng nhất của một nét nghĩa còn gọi là xêri từ vựng, dãy từ vựng” [51, tr.327].

Nhìn chung các nhà nghiên cứu nói trên đều dựa trên cơ sở quan điểmcủa các nhà ngôn ngữ học nước ngoài đi trước và căn cứ vào thực tế tiếng Việt

để đưa ra cách nhìn của mình về trường nghĩa

Phân loại trường nghĩa: mỗi nhà nghiên cứu khi đưa ra quan niệm riêng

về trường nghĩa cũng đồng thời có cách phân loại riêng Trong phạm vi luận

án, chúng tôi nêu ra cách phân loại trường nghĩa của tác giả Đỗ Hữu Châu vàcoi đây là căn cứ để phân loại tư liệu của đề tài Theo đó, trường nghĩa đượcchia thành các loại: trường nghĩa dọc, trường nghĩa ngang và trường liên tưởng

Trang 29

Trường nghĩa dọc được chia thành hai tiểu trường nhỏ là: trường nghĩa biểuvật và trường nghĩa biểu niệm Trường biểu vật là những tập hợp từ đồng nhất về

ý nghĩa biểu vật Muốn đưa các nghĩa biểu vật của từ về trường thích hợp chúng taphải chọn các danh từ làm gốc Các danh từ này phải có tính khái quát cao, gần

như tên gọi của các phạm trù biểu vật như: người, động vật, thực vật, vật thể, chất liệu….; trường nghĩa biểu niệm là tập hợp các từ có chung một cấu

trúc biểu niệm Các trường biểu niệm có thể giao thoa với nhau và cũng có lõitrung tâm với các từ điển hình và những từ ở lớp kế cận trung tâm, những từ ởlớp ngoại vi

Trường nghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính) là những trường nghĩaxuất phát từ một từ làm gốc rồi tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thànhnhững chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ Các từtrong một trường tuyến tính là những từ thường xuất hiện với từ trung tâmtrong các loại ngôn bản

Trường liên tưởng là trường nghĩa xuất phát mỗi từ là trung tâm có thểxây dựng các lớp từ liên quan có mối quan hệ nhất định với từ gốc Các từtrong một trường liên tưởng là sự hiện thực hóa, sự cố định bằng từ các ý nghĩa

có thể có của từ trung tâm Trước hết đó phải là các từ cùng nằm trong trườngbiểu vật, trường biểu niệm và trường tuyến tính, tức là những từ có quan hệ cấutrúc đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa với từ trung tâm

1.3 Khái niệm từ nghề nghiệp

1.3.1 Vị trí của từ nghề nghiệp trong lớp từ vựng của một ngôn ngữ

Từ vựng tiếng Việt bao gồm nhiều lớp hạng khác nhau Nếu căn cứ vàophạm vi sử dụng của các từ có thể chia từ vựng tiếng Việt thành: từ vựng toàndân và từ vựng hạn chế về mặt xã hội và lãnh thổ

Từ vựng toàn dân là những từ được toàn dân hiểu và sử dụng Hay, đó lànhững từ thuộc vốn từ chung của tất cả những ai nói và sử dụng tiếng Việt Lớp

từ vựng cơ bản và quan trọng nhất của mỗi ngôn ngữ

Trang 30

Từ vựng hạn chế về mặt xã hội và lãnh thổ là những từ chỉ được dùng ởmột hoặc một vài địa phương Các từ vựng hạn chế không đối lập với các từvựng toàn dân mà có sự tương tác qua lại trong việc sử dụng ngôn ngữ củacộng đồng Cụ thể, các từ địa phương tồn tại bên cạnh từ vựng toàn dân nhằmgóp phần đáp ứng sự đa dạng của sự vật tồn tại trong cộng đồng Các nhóm từvựng hạn chế về mặt xã hội và lãnh thổ như: từ địa phương, từ nghề nghiệp,tiếng lóng, thuật ngữ.

Từ nghề nghiệp là một trong những bộ phận của từ vựng tiếng Việt.Chính vì vậy, từ nghề nghiệp cũng được nhiều nhà nghiên cứu tại Việt Namquan tâm tìm hiểu

Trước tiên, để hiểu có cái nhìn chung về từ nghề nghiệp, chúng tôi xin

dẫn ra quan niệm của Nguyễn Thiện Giáp về từ nghề nghiệp “Từ ngữ nghề nghiệp là những từ ngữ biểu thị những công cụ, sản phẩm lao động và quá trình sản xuất của một nghề nào đó trong xã hội Những từ ngữ này thường được những người cùng trong ngành nghề đó biết và sử dụng Những người không làm nghề ấy tuy ít nhiều cũng có thể biết những từ ngữ nghề nghiệp nhưng ít hoặc hầu như không sử dụng chúng Do đó, từ ngữ nghề nghiệp cũng

là lớp từ vựng được dùng hạn chế về mặt xã hội” [24, tr 309].

Từ việc phân tích trên có thể thấy vị trí của từ nghề nghiệp trong lớp từvựng của một ngôn ngữ như:

- Từ nghề nghiệp là một lớp từ trong từ vựng tiếng Việt

- Từ nghề nghiệp được những người cũng trong một ngành nghề sử dụng Vì vậy, nó hạn chế về mặt xã hội

- Tuy hạn chế về mặt xã hội nhưng từ nghề nghiệp là những tên gọi duynhất của hiện tượng thực tế Nó không có từ đồng nghĩa trong ngôn ngữ toàn dân

Vì vậy, từ nghề nghiệp dễ dàng trở thành từ vựng toàn dân khi những khái niệmriêng của nghề nào đó trở thành phổ biến rộng rãi trong toàn xã hội

1.3.2 Phân biệt từ nghề nghiệp với các từ khác

Trang 31

Từ nghề nghiệp là một lớp từ nằm trong hệ thống từ vựng tiếng Việt và

nó những điểm tương đồng và khác biệt so với các lớp từ khác trong tiếng Việt

Để thấy rõ đặc điểm của từ nghề nghiệp thì cần phân biệt nó với các lớp từvựng khác như: từ vựng toàn dân, từ địa phương, tiếng lóng và thuật ngữ

- Từ vựng toàn dân và từ nghề nghiệp: nếu từ toàn dân là vốn từ chung củatoàn dân hiểu và sử dụng còn thì từ nghề nghiệp lại thường được những người cùnglàm trong một ngành nghề đó sử dụng Như vậy, phạm vi sử dụng của từ

vựng toàn dân lớn hơn từ nghề nghiệp Đồng thời, từ nghề nghiệp sẵn sàng bổsung lượng từ nhất định trong vốn từ của mình cho từ toàn dân trong trườnghợp không có từ đồng nghĩa

- Từ địa phương và từ nghề nghiệp: điểm giống nhau là cả hai đều thuộclớp từ vựng dùng hạn chế Cụ thể, các lớp từ này chỉ được dùng trong một phạm vi,một vùng ngôn ngữ nhất định và chúng có khả năng bổ sung vốn từ của mình cho từtoàn dân khi cần Điểm khác nhau, nếu từ địa phương được dùng ở phạm

vi rộng (vùng dân cư) thì từ nghề nghiệp lại có phạm vi nhỏ hơn bởi trong mộtvùng dân cư có rất nhiều ngành nghề khác nhau cùng tồn tại

- Tiếng lóng và từ nghề nghiệp: điểm giống nhau là cả hai đều thuộc lớp từvựng dùng hạn chế Nếu từ nghề nghiệp là từ được dùng trong phạm vi một nhóm đốitượng cùng một ngành nghề sử dụng thì tiếng lóng lại là bộ phận từ vựng tồn tại trongtất cả các nhóm đối tượng Điểm khác nhau: tiếng lóng ra đời do mục đích của một bộphận người tạo ra để chỉ những sự vật, hiện tượng bên cạnh các từ toàn dân đã có.Tiếng lóng tồn tại phụ thuộc vào môi trường, hoàn cảnh và bản thân những tầng lớp

xã hội tạo ra nó và nội hàm ý nghĩa biểu hiện của tiếng lóng là để giữ bí mật Từ nghềnghiệp là tên gọi duy nhất của hiện tượng thực tế và vì thế nó không có từ đồng nghĩatrong ngôn ngữ toàn dân

- Thuật ngữ và từ nghề nghiệp: điểm giống nhau là cả hai đều thuộc lớp từvựng hạn chế và được dùng trong một ngành nhất định Điểm khác nhau: nếu

Trang 32

như từ nghề nghiệp có tính cụ thể và gợi hình cao hơn bởi nó gắn với hoạt độngsản xuất trực tiếp thì thuật ngữ lại chỉ mang ý nghĩa khái quát Tuy nhiên, từnghề nghiệp do mức độ mang ý nghĩa khái quát thấp nên không mang tính quốc

tế còn thuật ngữ có khả năng biểu thị khái niệm cho một ngành khoa học, kĩthuật,… nên mang tính quốc tế Đồng thời, từ nghề nghiệp mang tính khẩu ngữ,hội thoại thì thuật ngữ lại mang tính khoa học, phong cách nói

1.4 Khái niệm định danh và các phương thức định danh

1.4.1 Khái niệm định danh

Định danh là chức năng gọi tên sự vật, hiện tượng của đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, đó là từ Chức năng định danh được coi là một trong các tiêu chí để xác định từ.

Sự hình thành những đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh nghĩa là dùng để gọi tên sự vật và chia tách những khúc đoạn của thực tại khách quan để tạo nên những khái niệm tương ứng về sự vật, hiện tượng dưới hình thức là các từ, tổ hợp từ, thành ngữ, câu Thuật ngữ “định danh” có nguồn gốc từ tiếng la tinh có nghĩa là “tên gọi” Thuật ngữ này biểu thị kết quả của quá trình gọi tên Đó là chức năng của đơn vị có nghĩa của ngôn ngữ Đối tượng của lý thuyết định danh là nghiên cứu mô tả những quy luật về cách cấu tạo những đơn vị ngữ nghĩa, về tác động qua lại giữa tư duy - ngôn ngữ - hiện thực khách quan trong quá trình định danh Tìm hiểu vai trò của nhân

tố con người trong việc lựa chọn các dấu hiệu làm cơ sở cho sự định danh xuất phát

từ mối quan hệ hiện thực - khái niệm - tên gọi Lý thuyết định danh phải nghiên cứu,

mô tả cấu trúc của đơn vị định danh, từ đó xác định những tiêu chí hoặc những đặc trưng cần và đủ để phân biệt đơn vị định danh này với đơn vị định danh khác Hiện thực khách quan được hình dung như là cái biểu vật của tên gọi, nghĩa là như toàn bộ các thuộc tính được chia tách ra trong các hành vi định danh ở tất cả các lớp sự vật do tên gọi đó biểu thị khái niệm, khi lựa chọn những thuộc tính có tính chất phạm trù tham gia như là cái biểu nghĩa của tên gọi Còn tên gọi được nhận thức như là một dãy âm thanh được phân đoạn trong nhận thức tương ứng với một cấu trúc cụ thể của ngôn ngữ đó Chính mối

Trang 33

tương quan giữa cái biểu nghĩa, cái biểu vật và xu hướng của mối quan hệ nàytrong những hành vi định danh cụ thể sẽ tạo nên cấu trúc cơ sở của sự định danh.

to, nhỏ, lớn, bé, dài, ngắn, cong, thẳng và màu sắc.

Định danh dựa trên nội dung phản ánh đặc điểm về chức năng của công

cụ được con người nhận biết

Từ ngữ có thể được định danh theo phương thức hình thức, có thể đượcđịnh danh theo phương thức nội dung và cũng có thể được định danh theo sựkết hợp của cả hình thức và nội dung

1.5 Khái niệm ngôn ngữ sân khấu và sân khấu rối cạn

Sân khấu là nghệ thuật mang tính tổng hợp cao Trong một tác phẩm sânkhấu hội tụ giá trị văn học, diễn xuất, hội họa, âm nhạc, múa Nói một cáchhình tượng, sân khấu như một cái lò luyện nên hợp kim, từ những nguyên liệukhác nhau song liên kết với nhau bởi một số thuộc tính cần

Thuộc tính sân khấu là một từ trường mạnh để chi phối, hút những thành

tố nghệ thuật cần để tạo nên ngôn ngữ sân khấu Vũ đạo trong một tác phẩmsân khấu là vũ đạo sân khấu; hội họa, kiến trúc trên sân khấu trở thành nghệthuật của không gian sân khấu - không phải không gian thuần túy; nghệ thuậtbiểu diễn không còn mang nghĩa chung của sự trình diễn, biểu diễn, mà sẽ phải

là nghệ thuật diễn xuất sân khấu của diễn viên trong sự thể hiện nhân vật; kịchbản văn học phải trở thành kịch bản sân khấu

Mỗi nghệ thuật đều có phương tiện ngôn ngữ biểu đạt riêng của mình.Phương tiện nghệ thuật loại hình luôn là điểm tựa để người tiếp nhận, hay nghiêncứu nghệ thuật nhận thức được bản chất vấn đề đang tiếp cận Phương tiện nghệ

Trang 34

thuật quyết định đặc tính loại hình nghệ thuật.

Với sân khấu, hành động là phương tiện nghệ thuật Hành động làphương tiện nghệ thuật của sân khấu nói chung Nghệ thuật sân khấu tồn tạidưới hai dạng: kịch bản văn học và vở diễn trên sân khấu

Xét về mặt nội dung: múa rối cạn là nghệ thuật hành động điều khiển.Xét về mặt biểu hiện thì hành động điều khiển là nghệ thuật của hành động sânkhấu Hành động điều khiển vừa là đối tượng mô tả, vừa là phương tiện miêu

tả Hành động toàn vở diễn được hình thành từ hàng loạt hành động nhỏ Làngôn ngữ nghệ thuật của sân khấu, hành động sân khấu được chuyển tải bằng

hệ thống động tác điều khiển của nghệ nhân con rối như một hệ thống tín hiệutrong một không gian - thời gian sân khấu Vì vậy, nghệ thuật điều khiển làthành phần trung tâm sự biểu đạt của sân khấu

Một kịch bản trở nên sống động, được khắc họa vào không gian - thờigian bằng đời sống tâm hồn, bằng trái tim nóng với nhịp đập đời sống tươi mớicủa những con người chỉ có thể dựa vào nghệ thuật điều khiển con rối của nghệnhân trên sân khấu Một ý tưởng, một hình tượng nghệ thuật trong cấu tứ củatác giả và đạo diễn cũng chỉ có thể được thể hiện và biểu đạt bằng nghệ thuậtđiều khiển của người nghệ nhân

Trên sân khấu, người nghệ nhân thể hiện được nhân vật của mình thôngqua điều khiển con rối và hát Hành động điều khiển và lời hát có mối quan hệchặt chẽ với nhau: hành động chi phối, điều hành động tác, động tác biểu hiệnđiều khiển con rối và khớp với lời hát Sân khấu là nghệ thuật miêu tả hànhđộng của con người bằng động tác

Hệ thống hành động sân khấu được coi là hệ thống ngôn ngữ nghệ thuậtdiễn xuất (điều khiển), biểu hiện ngữ nghĩa của sân khấu Hệ thống hành độngbao gồm hành động điều khiển, hành động ngôn ngữ của người nghệ nhân.Hành động điều khiển gồm những động tác tạo nên dáng vẻ cho con rối Hànhđộng ngôn ngữ là đối thoại, độc thọai, lời nói riêng

Nếu sân khấu là sự phản ánh đời sống bằng hành động sân khấu qua ngôn

Trang 35

ngữ - người diễn viên, thì nghệ thuật điều khiển con rối của diễn viên chính là

sự khám phá, nghiên cứu, tìm tòi và sáng tạo nên những hình thức hành động,những động tác cụ thể, tạo nên hệ thống ngôn ngữ biểu đạt, tạo nên ngữ nghĩacho một tác phẩm sân khấu

1.6 Khái niệm văn hóa, biểu tượng văn hóa và mối quan hệ giữa ngôn ngữ

và văn hóa

1.6.1 Khái niệm văn hóa

Trước tiên, văn hóa xuất hiện phổ quát cả ở phương Đông lẫn phương Tây

Ở phương Đông, theo lịch sử cổ đại Trung Quốc, văn hóa được cho là cách hành

xử trong xã hội của tầng lớp thống trị Ở phương Tây, văn hóa có nguồn gốc từ

chữ Cultus (gieo trồng) và sau này phát triển theo nhiều nghĩa khác nhau tạo ra

sự phong phú về nội dung cho từ văn hóa

Theo đó, thuật ngữ văn hóa là một phạm trù rộng và hiện nay có trên 500cách định nghĩa khác nhau về văn hóa Tiếp cận từ các góc độ khác nhau nênmỗi định nghĩa lại có cách nhìn nhận và đánh giá văn hóa khác nhau

Để có cái nhìn chung và bao quát về khái niệm văn hóa, trong phạm viluận văn, chúng tôi trình bày một số khái niệm văn hóa được cộng đồng thếgiới cũng như người Việt chấp nhận như:

Ở phạm vi thế giới, khái niệm về văn hóa của UNESCO đưa ra trong

“Tuyên bố chung của Unesco về tính đa dạng của văn hóa” được công đồng thế giới đồng thuận: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin".

Ở Việt Nam, khái niệm văn hóa cũng được rất nhiều các nhà nghiên cứu

quan tâm Tác giả Trần Ngọc Thêm định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa là một

hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người và

Trang 36

môi trường tự nhiên và xã hội của mình" [38, tr.10] Từ việc nhận định, tác giả

đã đi sâu phân tích ba đặc trưng của văn hóa là: tính hệ thống, tính giá trị, tínhnhân sinh để khẳng định chức năng và vai trò của văn hóa trong đời sống cộngđồng

Cùng bàn về vấn đề này nhưng tác giả Nguyễn Văn Chiến không đưa ramột định nghĩa về văn hóa của riêng mình và chỉ tập trung lí giải khái niệmbằng một số vấn đề:

- Văn hóa là một hiện tượng, một phạm trù thuộc về con người, do conngười làm nên Vì vậy, văn hóa là tiêu chuẩn, tiêu chí hiển nhiên khu biệt conngười với con vật;

- Văn hóa là sản phẩm đặc thù của xã hội loài người;

- Một hiện tượng văn hóa luôn tồn tại với những lí do riêng của nó;

- Thành tựu của nền văn hóa là con người Văn hóa không phải là các vậtđơn thuần ta sờ thấy được một cách cụ thể Hiện tượng văn hóa hiện diện trướcmặt ta, trong ta như một thế giới được vật thể hóa, một thế giới được khúc xạ rõràng [15, tr.17]

Từ các quan niệm trên chúng tôi nhận thấy: văn hóa là sản phẩm của conngười Nó được tạo ra, phát triển trong cộng đồng người Đồng thời, chính vănhóa lại tham gia vào việc tạo ra thế giới quan và nhân cách của con người, giúpduy trì sự bền vững và trật tự xã hội Như vậy, văn hóa được truyền từ thế hệnày sang thế hệ khác và tồn tại có tính biện chứng trong quá trình lao động vàtương tác xã hội của con người

1.6.2 Biểu tượng văn hóa

Trong cuốn “Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới”, các tác giả Jean Chevalier và cộng sự đã nhận định: “Thời đại không có biểu tượng là thời đại chết, xã hội thiếu biểu tượng là xã hội chết Một nền văn minh không còn có biểu tượng thì sẽ chết, nó chỉ còn thuộc về lịch sử”.

Biểu tượng là hình thức cao của nhận thức, giúp ta lưu giữ lại trong đầu

óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt Biểu tượng không

Trang 37

nhất thiết phải mang ý nghĩa chính trị hay tư tưởng cao siêu mà nhiều khi làước mong, hy vọng bình thường của loài người Chẳng hạn, chim bồ câu là

biểu tượng của hoà bình hay một công trình kiến trúc là “hình ảnh sáng tạo nghệ thuật có ý nghĩa tượng trưng” Như vậy, một đặc trưng tự nhiên tiêu biểu cho nơi nào đó hay thậm chí là một món ăn độc đáo… đều có thể được coi là

biểu tượng Qua thời gian nhiều biểu tượng đã trở thành di sản văn hóa quốcgia hoặc di sản thế giới

Trong quá trình nhận thức của con người, mặc dù biểu tượng chỉ là hìnhthức phản ánh cảm tính của cá nhân nhưng con người có mối quan hệ một cáchgián tiếp qua hình thái ngôn ngữ mang nội dung xã hội, luôn tri nhận được Vìvậy, theo tác giả Nguyễn Văn Chiến thì việc nghiên cứu văn hóa học, trong một

số những từ văn hóa điển hình cần tập trung vào các biểu tượng văn hóa liênquan đến quá trình biểu trưng hóa bằng hình ảnh liên tưởng Điều này, một mặtxác định vị trí của sự hiện diện các sự kiện ngôn ngữ nói chung; mặt khác xácđịnh cấu trúc ngữ nghĩa của từ phản ánh những đặc trưng văn hóa tộc ngườitrong chính những từ cụ thể

1.6.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa

Một ngôn ngữ nhất định tồn tại luôn có mối quan hệ chặt chẽ với ngôncảnh văn hóa - xã hội Nếu người tham gia giao tiếp không chú ý tới yếu tố vănhóa trong ngôn ngữ, rất khó để giao tiếp thành công ngôn ngữ đó

Để hiểu rõ mối quan hệ này, trước tiên chúng tôi xin đưa ra quan niệm vềngôn ngữ và văn hóa:

Ngôn ngữ là công cụ của hoạt động giao tiếp, là phương tiện tư duy của con

người Nói như tác giả Emmitt & Pollock (1990) thì: “Ngôn ngữ là một hiện tượng phức tạp và trừu tượng mà có thể được nhận biết thông qua các mã bằng lời nói và không bằng lời nói” Điều này chỉ rõ, ngôn ngữ được sử dụng để giao

tiếp, truyền đạt nghĩa tới người nghe, thiết lập và duy trì các mối quan hệ giữa conngười với con người Theo đó, tác giả Halliday (1985), phân loại ngôn ngữ

Trang 38

thành ba chức năng chính: Chức năng tư tưởng (ideational function): liên quanđến trải nghiệm của người nói hoặc người viết về thế giới thực; Chức năng liênnhân (interpersonal function): để thiết lập các mối quan hệ xã hội giữa conngười với nhau; Chức năng ngôn bản (textual function): liên quan đến các ngônbản nói hoặc viết phù hợp với một tình huống cụ thể.

Có rất nhiều quan niệm về văn hóa được nêu Trong phạm vi luận văn,

chúng tôi đưa ra quan niệm của tác giả Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con nguời sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [38, tr.27].

Dựa trên các quan niệm về ngôn ngữ và văn hóa nêu trên, chúng tôi nhậnthấy: mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa có một mối quan hệ tương tác lẫnnhau và được xác định một cách cụ thể Nói như Sapir thì đó là mối quan hệ

“vô cùng chặt chẽ, tới mức mà ta không thể hiểu và đánh giá đúng được cái này nếu không có kiến thức về cái kia” (Sapir, 1991).

Theo tác giả Brown (1996), ngôn ngữ là một phần của văn hóa và vănhóa là một phần của ngôn ngữ, cả hai đan xen nhau để cái nọ không tách khỏicái kia mà không mất đi ý nghĩa của ngôn ngữ hay văn hóa

1.7 Khái quát chung về dân tộc Tày, tiếng Tày và nghệ thuật múa rối cạn tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên

1.7.1 Khái quát chung về người Tày tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên

Định Hoá là huyện miền núi phía bắc của tỉnh Thái Nguyên, có diện tích520km2, tiếp giáp với 6 huyện Định Hoá có vị trí địa lý ở trung tâm khu ViệtBắc xưa, được Đảng và Nhà nước chọn làm căn cứ địa cách mạng trong cuộckháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

Điều kiện tự nhiên phong phú với hệ động thực vật đa dạng Rừng núirậm rạp, nhiều khe suối nhỏ tuy không có tiềm năng về giao thông thuỷ lợisong lại cung cấp nguồn nước khá đầy đủ cho nông nghiệp toàn huyện

Định Hoá có thành phần dân tộc khá phong phú như: Tày, Nùng, Kinh,

Trang 39

Cao lan, San Chí, Dao, H’mông trong đó dân tộc Tày chiếm số dân đông nhất.

Dân tộc Tày ở Định Hoá có truyền thống văn hoá lâu đời, đa dạng, có

những nét chung của đồng bào dân tộc Tày, đồng thời cũng có nhiều điểmriêng của người Tày ở Định Hoá do vị trí địa lý và môi trường kinh tế, văn hoáhình thành nên Nói chung đời sống tinh thần của người Tày Định Hoá kháphong phú và đa dạng, bao gồm nhiều yếu tố tích cực, trong sáng, lành mạnhcần được phát huy

Dân tộc Tày ở Định Hoá có vốn văn nghệ dân tộc khá phong phú, đủ cácthể loại thơ, ca, múa nhạc Tục ngữ, ca dao chiếm một khối lượng đáng kể đượclưu truyền qua các thế hệ Các điệu dân ca phổ biến nhất là hát lượn, hát then, hátđám cưới, ru con Đặc biệt người Tày Định Hóa còn có một vốn văn hoá cổ truyềnđặc sắc là múa rối cạn ở hai thôn Thẩm Rộc (xã Bình Yên) và Ru Nghệ (xã ĐồngThịnh) Đây là hai xã miền núi, người dân sinh sống ở hai thôn Thẩm Rộc và RuNghệ hầu hết là đồng bào Tày, có nền văn hóa truyền thống lâu đời, có sự giao lưuvăn hóa với các dân tộc xung quanh Chính từ các yếu tố địa lý tự nhiên, từ nềnnông nghiệp lúa nương, từ văn hóa tín ngưỡng mà đồng bào Tày Định Hóa đã dunhập rối cạn, biến rối cạn thành văn hóa riêng của dân tộc mình

1.7.2 Sơ lược về tiếng Tày

1.7.2.1 Đặc điểm về cội nguồn

Các nhà ngôn ngữ học gần như nhất trí về sự phân định cội nguồn đốivới các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Tai-Ka đai Ngữ hệ này gồm các chi Tai, Hlai-

Lê và Ka-đai Chi Tai gồm các nhánh Lạc Kia, Kam Thuỷ (Đồng Thuỷ), Bê,Tày - Thái Ở Việt Nam chỉ có đại diện các nhánh Tày - Thái và Cam Thuỷ

Nhánh Tày - Thái ở Việt Nam gồm các nhóm sau:

- Nhóm Tai trung tâm

Trang 40

Tiếng Tày thuộc nhóm Tai trung tâm của nhánh Tày - Thái, Chi Tai, họ Tai-Ka đai Nhóm này gồm các ngôn ngữ: Tày, Nùng, Cao Lan, Thu Lao.

là vỏ của từ Trong tiếng Tày cũng có thuật ngữ "tiếng" (âm tiết - từ

- hình vị) như trong tiếng Việt

- Về loại hình: Các ngôn ngữ có đặc tính âm tiết tính thường được coi lànhững ngôn ngữ thuộc tiểu loại hình “trung” Các ngôn ngữ âm tiết tính triệt đểthuộc tiểu loại hình “trung” như nhiều ngôn ngữ thuộc họ Tai - Kađai, Hmông -Miền, Hán, Tạng của họ Nam Á là những ngôn ngữ có thanh điệu Tiếng Tày cũngđược coi là thuộc tiểu loại hình “trung” này Đây là ngôn ngữ không thấy có các tổhợp phụ âm giữ chức năng âm đầu trong âm tiết; hệ thống phụ âm cuối tương đốinghèo nàn; có thanh điệu; âm tiết tính triệt để

Từ trong tiếng Tày không có hiện tượng biến đổi hình thái Đặc điểmkhông biến đổi hình thái trong tiếng Tày được thể hiện ở chỗ trong thành phầncấu tạo của từ tiếng Tày không có các yếu tố hình thái chuyên dùng để biểu thị

ý nghĩa và chức năng ngữ pháp của các biến tố, trong câu từ tiếng Tày vẫn giữnguyên hình thức ngữ âm của mình

Tiếng Tày là một trong những ngôn ngữ của 54 dân tộc anh em Việcnghiên cứu tìm hiểu qua việc thống kê những từ ngữ chỉ về múa rối cạn củangười Tày ở Định Hóa, Thái Nguyên sẽ giúp ta làm sáng tỏ nhiều vấn đề, trong

đó việc bảo lưu các yếu tố cổ của tiếng Tày có thể góp thêm phần cứ liệu soisáng lịch sử tiếng Tày

1.7.2.3 Đặc điểm về chữ viết

Mặc dù là một ngôn ngữ thống nhất nhưng cũng như các ngôn ngữ khác ở

Ngày đăng: 09/06/2021, 08:13

w