1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÀI GIẢNG MÔN LUẬT KINH DOANH

49 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 161,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

những vấn đề lý luận cơ bản về luật kinh doanh, địa vị pháp lý của các chủ thể kinh doanh, pháp luật về hợp đồng trong kinh doanh, pháp luật về tài phán trong kinh doanh, quy trình giải quyết tranh chấp trong WTO

Trang 1

BÀI GIẢNG LUẬT KINH DOANH

Chương một NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

VỀ LUẬT KINH DOANH 1.1- Nhập môn Luật kinh doanh

1.1.1- Vai trò của Nhà nước trong việc tạo lập môi trường kinh doanh

Nền kinh tế thị trường với những đặc trưng cơ bản là tự do hóa sở hữu các tư liệusản xuất và sự hoạt động vì lợi nhuận trong điều kiện cạnh tranh Kinh tế thị trường hìnhthành từ kinh tế hàng hóa và là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa Lúc đầukinh tế thị trường phát triển và tự điều chỉnh bởi các quy luật kinh tế khách quan: nhưquy luật cung – cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh Nhưng khi chủ nghĩa tư bảnphát triển đến thời kỳ độc quyền, quá trình tích tụ và tập trung tư bản đạt đến quy mô lớn,quá trình xã hội hóa sản xuất đạt đến trình độ cao, vượt khỏi tầm tay của các nhà tư bảnnên lúc này Nhà nước tư sản đã buộc phải can thiệp sâu vào sự vận hành của nền kinh tế

để đủ sức điều tiết thị trường, hướng thị trường phát triển đúng hướng và lành mạnh Do

đó, các nền kinh tế thị trường hiện đại ngày nay của nhiều quốc gia trên thế giới đều lànền kinh tế thị trường có điều tiết Các Nhà nước đã dùng cơ chế, chính sách và luật phát

để điều chỉnh thị trường nhằm bảo đảm sự phát triển nền kinh tế ổn định, lành mạnh

Ở Việt Nam, chúng ta xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường trong bối cảnh vàđiều kiện sau:

- Xây dựng nền kinh tế thị trường trên cơ sở nền sản xuất nhỏ, sản xuất nông nghiệp

chiếm một tỷ trọng lớn và sự phát triển kinh tế không đồng đều giữa các khu vực;

- Xây dựng và phát triển kinh tế thị trường trên cơ sở nền kinh tế kế hoạch hóa tập

trung cao độ, với hai thành phần kinh tế chủ yếu là quốc doanh và tập thể, quản lýbằng phương pháp hành chính mệnh lệnh;

- Xây dựng nền kinh tế thị trường trên cơ sở lấy thành phần kinh tế quốc doanh làm

chủ đạo;

Trang 2

- Kinh tế thị trường Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa

Như vậy, để tạo lập môi trường kinh doanh an toàn, thuận lợi, cần thiết phải sửdụng công cụ pháp luật Bởi vì:

Thứ nhất, pháp luật xác lập và điều chỉnh các quan hệ sở hữu

- Quyền sở hữu là một trong các quyền cơ bản của công dân, là một quyền tự nhiên,

thiêng liêng và bất khả xâm phạm của con người;

- Là một chế định được quan tâm đặc biệt trong mọi hệ thống pháp luật;

- Nhà nước đã xác định rõ chế độ và hình thức sở hữu, vai trò tác dụng của từng

hình thức và cách thức để bảo vệ quyền sở hữu

Thứ hai, pháp luật đóng vai trò là phương tiện quản lý và điều tiết nền kinh tế

- Thể chế hóa chiến lược, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế của đất nước trong

từng giai đoạn phát triển;

- Thừa nhận sự tồn tại và phát triển của các thành phần kinh tế, các hình thức sở

hữu;

- Góp phần tái cấu trúc nền kinh tế trong điều kiện mở cửa và hội nhập quốc tế.

Thứ ba, pháp luật là công cụ điều tiết lợi ích của các chủ thể tham gia thị trường

- Lợi ích kinh tế là vấn đề đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế thị trường khi lợi

nhuận vừa là mục tiêu, vừa là động lực của các chủ thể tham gia thị trường;

- Pháp luật định hình khuôn khổ pháp lý cho một môi trường cạnh tranh lành mạnh;

- Pháp luật xác lập nguyên tắc, bảo đảm các quyền tự do kinh doanh, bảo vệ các

quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế

Thứ tư, pháp luật góp phần tạo ra điều kiện để giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh từ nền kinh tế thị trường

Phát triển kinh tế thị trường gắn liền với việc giải quyết các vấn đề xã hội phátsinh từ nền kinh tế thị trường, đó là : khủng hoảng kinh tế, tình trạng thất nghiệp,lạm phát, phân hóa giàu nghèo và ô nhiễm môi trường…

Trang 3

1.1.2- Nội dung điều chỉnh của pháp luật kinh doanh

- Xác lập địa vị pháp lý của các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế;

- Tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, an toàn và cạnh tranh lành mạnh;

- Điều chỉnh quan hệ hợp đồng trong kinh doanh;

- Hình thành cơ chế pháp lý về tài phán trong kinh doanh.

1.2- Hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh

1.2.1 Các nguyên tắc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh doanh

* Hệ thống pháp luật kinh doanh phải đảm bảo phát huy các yếu tố cơ bản của nền kinh

tế thị trường Bao gồm:

- Đảm bảo quyền tự do kinh doanh

Bao gồm: tự do sở hữu, tự do lựa chọn loại hình, lĩnh vực kinh doanh, tự chủ trong hoạtđộng kinh doanh, tự do giao kết hợp đồng, tự do cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật

- Đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh

Kinh doanh phải được tiến hành trong một môi trường bình đẳng Sự bình đẳng củacác chủ thể kinh doanh đã được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật, nhưng điều quantrọng là các chủ thể kinh doanh phải thực sự bình đẳng trong áp dụng các cơ chế, chínhsách, trong thực thi công vụ, trong tiếp cận với các lĩnh vực dịch vụ công của Nhànước…

- Đảm bảo sự vận động của vốn và tiền tệ

Sự vận động tự do và thông suốt của vốn và hàng hóa cần được hệ thống pháp luậtkinh doanh bảo đảm; trong đó đặc biệt chú trọng đến công cụ pháp lý là hợp đồng – cơ sởxác lập sự thỏa thuận của các chủ thể kinh doanh, yếu tố bảo đảm sự vận hành của lưuthông hàng hóa và tiền vốn

1.2.2 Hệ thống pháp luật kinh doanh đảm bảo sự quản lý vĩ mô của nhà nước đối với toàn bộ hoạt động kinh doanh

Trang 4

Trong bất kỳ chế độ xã hội nào, hoạt động kinh doanh luôn có vị trí, vai trò đặc biệtquan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội Chính vì vậy, nhà nước luônluôn có sự điều tiết, hướng dẫn và quản lý các hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế.Tuy nhiên, mức độ và phạm vi tác động của nhà nước đối với các hoạt động kinh doanhtrong mỗi nhà nước là khác nhau nhưng vấn đề cần thiết đặt ra là, Nhà nước với tư cách

là người đại diện cho lợi ích công cộng phải đứng ra giải quyết các vấn đề điều tiết nềnkinh tế ở tầm vĩ mô Sự tác động, chi phối của Nhà nước lên quá trình hoạt động kinhdoanh bao gồm:

a Hoàn thiện pháp luật về việc xác lập và chấm dứt tư cách của các chủ thể kinh doanh

- Đa dạng hóa các loại hình doanh nghiệp để người dân có nguyện vọng kinh doanh

có thể lựa chọn hình thức pháp lý phù hợp nhất cho hoạt động kinh doanh củamình;

- Quy định rõ các ngành, nghề cấm kinh doanh trong luật, hạn chế các ngành, nghề

kinh doanh có điều kiện Đưa ra các biện pháp khuyến khích và hỗ trợ cụ thể đểnhà đầu tư thuận lợi trong quá trình kinh doanh theo định hướng phát triển củaNhà nước;

- Đơn giản hóa, cải tiến các thủ tục về thành lập doanh nghiệp, vừa tạo điều kiện

cho hoạt động kinh doanh, vừa tăng cường vai trò quản lý của nhà nước đối vớicác chủ thể kinh doanh

b Tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát của Nhà nước

- Xác lập hệ thống thông tin quản lý doanh nghiệp, sớm phát hiện và xử lý kịp thời

các sai phạm trong hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh doanh;

- Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

của các cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh; về quy trình kiểm tra, giám sát;

- Xác định rõ ràng trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể kinh doanh liên

quan đến hồ sơ, sổ sách, báo cáo tài chính và các giấy tờ, tài liệu cần thiết khác…

c Tăng cường quản lý sở hữu nhà nước

Trang 5

- Đa dạng hóa sở hữu trong các doanh nghiệp nhà nước;

- Tạo lập thị trường kỹ trị trong quản lý doanh nghiệp nhà nước;

- Thay thế cơ chế chủ quản bằng công ty quản lý vốn.

1.2.3 Hệ thống pháp luật kinh doanh đảm bảo tính thống nhất

- Xác định khung pháp luật kinh doanh phù hợp với điều kiện kinh tế của nước ta;

- Hoàn thiện cơ chế xây dựng pháp luật thích hợp;

- Khắc phục tình trạng dùng nhiều cấp văn bản pháp luật để giải quyết các vấn đề phátsinh;

1.2.4 Hệ thống pháp luật kinh doanh phải đảm bảo được hiệu lực thực hiện

Thực tế hiện nay cho thấy, hệ thống pháp luật kinh doanh ở nước ta hiệu lực thực hiệnkhông cao; điều này xuất phát từ những lý do sau:

- Thiếu tính thực tế;

- Thiếu tính chính xác và đồng bộ;

- Giá trị ngăn chặn chưa cao;

- Pháp luật nhiều khi chưa đến được với các chủ thể cần phải áp dụng chúng;

- Hiệu quả trong việc giải quyết các tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, nhất là

các tranh chấp lao động chưa cao

1.2.5 Hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh doanh phải đảm bảo yêu cầu hội nhập và hợp tác quốc tế

- Khi xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, cần chú ý tham khảo cácluật mẫu do các tổ chức quốc tế ban hành, nhất là trong lĩnh vực thương mại;

- Nên chuẩn hóa một số khái niệm có tính chất chung, giống nhau của nhiều quốc gia trênthế giới để vấn đề được hiểu đúng và diễn giải đơn giản hơn;

Trang 6

- Cần nội địa hóa một số quy định và nguyên tắc của các công ước quốc tế mà Việt Nam

đã tham gia để điều chỉnh các quan hệ kinh doanh

1.2.6 Đảm bảo tính minh bạch của hệ thống pháp luật kinh doanh

Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh doanh cần đảm bảotính thống nhất, đồng bộ và minh bạch Các qui định của pháp luật phải rõ ràng, dễ hiểu,hiểu một cách nhất quán, dễ áp dụng

Chương hai ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÁC CHỦ THỂ KINH DOANH

2.1 Chủ thể kinh doanh là các loại hình doanh nghiệp

2.1.1 Các loại hình doanh nghiệp trong kinh doanh

Các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường có thể phân loại theo nhiều tiêu chíkhác nhau:

+ Dựa theo tiêu chí quy mô:

Trang 7

- Doanh nghiệp quy mô lớn

- Doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ

+ Dựa theo tiêu chí sở hữu:

- Doanh nghiệp nhà nước

- Doanh nghiệp tư nhân

- Doanh nghiệp tập thể

- Doanh nghiệp của các tổ chức chính trị - xã hội

- Doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp

- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

+ Dựa theo tiêu chí liên kết giữa các chủ doanh nghiệp:

- Công ty đối nhân

- Công ty đối vốn

+ Dựa theo tiêu chí trách nhiệm của chủ doanh nghiệp:

- Doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn

- Doanh nghiệp trách nhiệm vô hạn

2.1.2 Việc lựa chọn doanh nghiệp để kinh doanh

Khi tiến hành hoạt động kinh doanh, các nhà đầu tư phải cần lựa chọn doanh nghiệpphù hợp với điều kiện và khả năng của mình

Việc lựa chọn này thường được dựa trên các yếu tố sau:

- Thành lập, giải thể hay độ bền vững của doanh nghiệp;

- Cơ cấu quản lý;

- Vốn và khả năng huy động vốn;

- Trách nhiệm tài sản;

Trang 8

- Chuyển nhượng vốn hoặc cổ phần;

- Nghĩa vụ về thuế đối với nhà nước

* DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN

Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân bỏ vốn thành lập và làm chủ, tựchịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp

- Về thủ tục thành lập: muốn thành lập DNTN thì phải tiến hành đăng ký doanh

nghiệp tại Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương;

- Cơ cấu quản lý: vì là doanh nghiệp do một cá nhân bỏ vốn thành lập và làm chủ

nên cá nhân này vừa là chủ sở hữu, vừa là người sử dụng tài sản, đồng thời vừa làngười quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Do có một chủ sở hữu, nênchủ doanh nghiệp hoàn toàn chủ động, tự mình quyết định mọi vấn đề liên quanđến hoạt động kinh doanh, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp hoặc giải thể Hìnhthức này không bền, dễ thành lập và cũng dễ giải thể

- Về trách nhiệm tài sản: chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm vô hạn về

các khoản nợ trong kinh doanh của doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động sảnxuất kinh doanh, nếu làm ăn phát đạt, thu được nhiều lợi nhuận thì chủ doanhnghiệp tư nhân được hưởng toàn bộ số lợi nhuận đó Ngược lại, nếu gặp rủi ro haykinh doanh thua lỗ thì chủ doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm bằng chính tàisản của doanh nghiệp và tài sản của cá nhân về các khoản nợ đến hạn của doanhnghiệp Có nghĩa là, nếu khoản nợ của doanh nghiệp không trả được theo đúngcam kết thì người chủ sở hữu phải đem cả những tài sản riêng (không phụ thuộcvào tài sản đó có đầu tư vào doanh nghiệp hay không) để trang trải các khoản nợ.Đặc điểm này đưa đến tính rủi ro rất cao cho chủ doanh nghiệp tư nhân Cũng dođặc điểm này mà doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân

Trang 9

- Về khả năng huy động vốn: với đặc điểm như trên, loại hình doanh nghiệp này rất

khó vay vốn;

- Về khả năng chuyển nhượng vốn đầu tư: chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ có quyền

bán hoặc cho thuê doanh nghiệp

- Về nghĩa vụ thuế: doanh nghiệp có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ các khoản thuế theo

qui định

 Công ty hợp danh

Công ty hợp danh có đặc trưng của công ty đối nhân, các thành viên tham giathành lập công ty trên cơ sở góp danh, độ tin cậy về nhân thân của các thànhviên tham gia Sự hùn vốn là yếu tố thứ yếu trong tổ chức hợp danh Các thànhviên hợp danh phải liên đới chịu trách nhiệm vô hạn đối với mọi khoản nợ củacông ty Do tính chất liên đới chịu trách nhiệm vô hạn, nên các thành viên phảithật sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau, sống chết có nhau

Có hai loại hình công ty hợp danh: công ty hợp danh phổ thông trong đó mọithành viên công ty đều chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ty vàcông ty hợp danh hữu hạn trong đó có hai loại thành viên; thành viên hợp danh(thành viên nhận vốn) luôn chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ trongkinh doanh của công ty còn thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm hữu hạntrong phạm vi vốn góp

- Về thành lập công ty: việc thành lập công ty dựa trên cơ sở hợp đồng, trong đó

điều quan trọng nhất là sự thỏa thuận về trách nhiệm của các thành viên Một công

ty hợp danh được thành lập nếu có ít nhất 2 thành viên thỏa thuận với nhau cùngchịu trách nhiệm vô hạn Thủ tục thành lập công ty đơn giản cũng đồng nghĩa với

dễ tan rã Khi thành lập công ty cũng phải tiến hành đăng ký doanh nghiệp tại Sở

kế hoạch – đầu tư tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

- Về cơ cấu quản lý: tổ chức công ty hợp danh rất đơn giản Các thành viên có

quyền thỏa thuận trong hợp đồng về việc tổ chức, điều hành, đại diện công ty Bất

kỳ thành viên hợp danh nào cũng có quyền đại diện cho công ty và nhân danhcông ty để hoạt động

Trang 10

- Về trách nhiệm tài sản: Các thành viên hợp danh phải cùng nhau liên đới chịu

trách nhiệm vô hạn đối với mọi khoản nợ của công ty, vì chủ nợ có thể đòi bất kỳthành viên hợp danh nào về toàn bộ số nợ Trong công ty hợp danh không có sựphân biệt rõ ràng tài sản của công ty và tài sản của cá nhân thành viên hợp danh

Sự chuyển dịch quyền sở hữu đối với khối tài sản chung sang tài sản riêng nóichung rất đơn giản và khó kiểm soát Về nguyên tắc, ngay khi một thành viên chưađược hưởng chút lợi nhuận nào thì vẫn phải chịu trách nhiệm vô hạn nên rủi ro đốivới từng thành viên hợp danh là rất lớn, ngược lại chính vì thế mà độ an toàn pháp

lý đối với công chúng rất cao Công ty hợp danh ít chịu qui định pháp lý ràngbuộc; nếu làm ăn thua lỗ họ phải chấp nhận thanh toán các khoản nợ đến đồng tàisản cuối cùng Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốngóp, song không được quản lý, điều hành công ty và không được nhân danh công

ty trong các hoạt động kinh doanh

- Về chuyển nhượng: việc chuyển nhượng vốn trong công ty là rất hạn chế, do tính

chất của cá nhân thành viên hợp danh nên không thể chuyển nhượng tư cách thànhviên được

 Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH)

Công ty TNHH là một dạng của công ty đối vốn Có sự tách bạch giữa tài sản củacông ty và tài sản cá nhân, công ty đối vốn có tư cách pháp nhân, các thành viên công

ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn mà họgóp vào công ty Số thành viên công ty thường đông do việc thành lập chỉ quan tâmđến phần vốn góp

Công ty đối vốn có nhiều ưu điểm so với công ty đối nhân, nó được nhiều ngườikinh doanh ưa chuộng vì trách nhiệm hữu hạn Điều đó tạo điều kiện cho nhà đầu tưsẵn sàng đầu tư vào khu vực rủi ro lớn và khả năng họ phân tán vốn đầu tư vào nhiều

cơ sở kinh doanh khác nhau, tạo điều kiện cho thị trường vốn ra đời và phát triển.Nhược điểm của công ty đối vốn cũng là ở tính chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn nên gây

Trang 11

rủi ro lớn cho khách hàng Mặt khác, do số lượng thành viên đông nên dễ dẫn đến tìnhtrạng phân hóa các nhóm quyền lợi trong công ty, việc quản lý công ty sẽ phức tạp Công ty TNHH là công ty kết hợp hài hòa ưu điểm về trách nhiệm hữu hạn của công

ty đối vốn và ưu điểm thành viên quen biết của công ty đối nhân Nó khắc phục đượcnhược điểm về sự phức tạp khi thành lập và quản lý của công ty cổ phần và nhượcđiểm không phân chia được rủi ro của công ty đối nhân Có hai loại hình công tyTNHH: công ty TNHH có từ 2 thành viên trở lên và công ty TNHH có một thành viên

là tổ chức, cá nhân

Công ty TNHH có một số đặc điểm chính sau:

- Về thành lập: Công ty TNHH là pháp nhân độc lập, địa vị pháp lý này quyết định

chế độ trách nhiệm của công ty Công ty TNHH một thành viên dễ thành lập vàcũng dễ tan rã, còn công ty TNHH hai thành viên trở lên thủ tục thành lập phứctạp hơn nên có tính bền vững hơn

Việc thành lập cũng phải tiến hành đăng ký doanh nghiệp tại Sở kế hoạch và đầu

tư tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

- Về cơ cấu quản lý: thành viên của công ty không nhiều và thường là những người

quen biết nhau, các thành viên có thể góp vốn nhiều, ít khác nhau và bắt buộc phảigóp đủ khi thành lập, công ty phải bảo toàn vốn ban đầu Nguyên tắc này thể hiện

rõ trong quá trình góp vốn, sử dụng vốn và phân chia lợi nhuận Cơ cấu quản lýcông ty phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp, vì thế, có thể hoặc không chặt chẽ tùy thuộcvào trình độ của người điều hành có tỷ lệ vốn góp lớn trong công ty hoặc trình độcủa người được thuê điều hành công ty Số lượng thành viên không vượt quá 50

- Trách nhiệm thành viên: chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn (đối với chủ sở hữu

trong công ty TNHH một thành viên, và các thành viên công ty trong công tyTNHH hai thành viên trở lên) tạo điều kiện cho các nhà kinh doanh hạn chế đượcrủi ro bằng cách chia sẻ trách nhiệm cho nhiều người Nhà đầu tư có thể mạnh dạnđầu tư vào bất kỳ lĩnh vực nào có lợi cho xã hội So với trường hợp phải chịu trách

Trang 12

nhiệm vô hạn, rõ ràng nhà đầu tư không dám đầu tư vào các khu vực có khả năngrủi ro cao, như vậy sẽ không có lợi cho xã hội.

- Về khả năng chuyển nhượng vốn: phần vốn vốn không thể hiện dưới hình thức cổ

phiếu và rất khó chuyển nhượng ra bên ngoài Thành viên muốn chuyển nhượngmột phần hoặc toàn bộ vốn góp phải chào bán phần vốn góp đó cho tất cả cácthành viên còn lại theo tỉ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty vớicùng điều kiện Trường hợp chuyển nhượng cho người không phải là thành viêncông ty chỉ được thực hiện khi các thành viên còn lại của công ty không mua hoặckhông mua hết trong thời gian 30 ngày kể từ ngày chào bán

- Khả năng huy động vốn: trong quá trình hoạt động, công ty có thể tăng vốn điều

lệ, vay vốn của ngân hàng hoặc tổ chức, cá nhân nhưng không được phép côngkhai huy động vốn trong công chúng bằng việc phát hành cổ phiếu

- Về nghĩa vụ thuế: công ty có trách nhiệm nộp đầy đủ các loại thuế theo qui định.

Công ty TNHH là mô hình lý tưởng để kinh doanh ở quy mô vừa và nhỏ trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.

 Công ty cổ phần

Là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn Vốn của CTCP được chia thành nhiềuphần bằng nhau gọi là cổ phần, người sở hữu cổ phần là cổ đông, chỉ chịu trách nhiệm

về các khoản nợ của công ty cho đến hết giá trị cổ phần mà họ sở hữu

-Về việc thành lập: trong suốt quá trình hoạt động phải có ít nhất 3 thành viên tham gia,

số thành viên tối đa là không hạn chế Là loại hình công ty đối vốn điển hình nên nó tồntại lâu dài, bất chấp sự thay đổi của cổ đông công ty Công ty đăng ký doanh nghiệp tại

Sở kế hoạch – đầu tư tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi công ty có trụ sở chính

- Về cơ cấu quản lý: CTCP là loại doanh nghiệp có chế độ tài chính rất phức tạp, đòi hỏichế độ kế toán, kiểm toán, thống kê chặt chẽ để bảo vệ quyền lợi của các chủ thể có liênquan Là loại doanh nghiệp có rất nhiều cổ đông nên việc tổ chức, quản lý cũng rất phứctạp, đòi hỏi cơ chế quản lý cần chặt chẽ Cần có sự phân công các chức năng cụ thể cho

Trang 13

các bộ phận khác nhau, giám sát lẫn nhau trong mọi hoạt động kinh doanh cũng như quản

lý của công ty

- Về chuyển nhượng cổ phần, cổ phiếu: cổ phần là phần chia nhỏ nhất vốn điều lệ, đượcthể hiện dưới hình thức cổ phiếu Cổ phần công ty có thể tồn tại dưới hai loại là cổ phầnphổ thông và cổ phần ưu đãi Đối với CTCP thì cổ phần là căn cứ pháp lý chứng minh tưcách thành viên công ty bất kể họ có tham gia thành lập công ty hay không

Cổ phiếu là chứng chỉ do CTCP phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữumột hoặc một số cổ phần của công ty đó Như vậy, cổ phiếu là giấy tờ có giá trị chứngminh tư cách chủ sở hữu cổ phần và đồng thời là tư cách thành viên của công ty củangười có cổ phần Người có cổ phiếu có thể tự do chuyển nhượng theo qui định của phápluật, trừ trường hợp pháp luật qui định khác

-Về trách nhiệm của cổ đông: CTCP chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằngtài sản của công ty Các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản kháccủa công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty cho đến hết giá trị cổ phần mà họ sởhữu

-Về khả năng huy động vốn: CTCP không bị giới hạn về cả quy mô kinh doanh lẫn khảnăng huy động vốn Khả năng huy động vốn của CTCP dễ dàng hơn nhiều so với các loạihình công ty khác vì nó có thể phát hành rộng rãi cổ phiếu ra công chúng để huy độngvốn

-Về nghĩa vụ thuế: CTCP là đối tượng phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về thuế theoquy định

2.1.3 Một số vấn đề cần lưu ý khi lựa chọn loại hình doanh nghiệp để kinh doanh

Khi lựa chọn loại hình tổ chức cho công việc kinh doanh, nhà quản lý cần thận trọngcân nhắc các vấn đề sau:

 Mức độ phức tạp và qui mô của công việc kinh doanh định làm;

Trang 14

Nếu sản phẩm hay dịch vụ là sản phẩm truyền thống gia đình, quy mô không cần lớn,bản than gia đình có thể đủ vốn để kinh doanh thì nên chọn loại hình Doanh nghiệp tưnhân.

Nếu sản phẩm và dịch vụ định kinh doanh cần ở quy mô tương đối lớn, người khởixướng chính có nhiều bạn bè có thể đầu tư vốn thì nên chọn loại hình Công ty tráchnhiệm hữu hạn

Nếu dịch vụ định kinh doanh là dịch vụ đặc biệt như dịch vụ tư vấn, không cần đếnvốn nhiều, chủ yếu là vấn đề tư duy, trình độ và danh tiếng Công ty được thành lập dựavào sức mạnh của bạn bè thân thiết, có bề dày kinh nghiệm, hiểu và có thể chia sẻ chonhau thì hình thức doanh nghiệp lựa chọn là công ty hợp danh

 Mức độ cần vốn thường đi đối với quy mô kinh doanh;

Nếu quy mô sẽ chọn là rất lớn, cần huy động vốn lớn, sản phẩm sẽ kinh doanh hoặcsản xuất trong tương lai cần có công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại, cần nhiều nguồn lực vàtrí tuệ thì việc thành lập công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp mà nhà đầu tư cầnnghĩ đến

 Kinh nghiệm và khả năng quản lý của chủ doanh nghiệp;

Nếu bản thân chủ đầu tư tự nhận thấy công việc kinh doanh trong tương lai vượt quákhả năng quản lý, trình độ chuyên môn cũng như kinh nghiệm của bản thân thì lúc đómới nên đặt vấn đề hợp tác với người khác

 Mức độ hòa nhập hay hợp tác của chủ đầu tư;

Điều này phụ thuộc rất nhiều vào cá tính của chủ đầu tư Nguyên tắc hàng đầu tronghợp tác làm ăn là phải trung thực, thân thiện, tin tưởng lẫn nhau, chia sẻ cùng nhau Phảitôn trọng và cư xử công bằng với cộng sự thì mới hòa nhập và cộng tác được

 Rủi ro sẽ gặp khi khởi sự doanh nghiệp để kinh doanh

Trang 15

Khi có sự xuất hiện nhu cầu của xã hội về một sản phẩm hay dịch vụ nào đó, sẽ kíchthích sự ra đời của các nhà kinh doanh mới, cùng với các nhà kinh doanh sẵn có nhảy vàocùng cung cấp sản phẩm hay dịch vụ đó Tương quan giữa cung và cầu sẽ quyết định kếtquả kinh doanh của các doanh nghiệp tham gia Do đó, đặc điểm nổi bật của kinh doanhtrong cơ chế thị trường là tính cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp Trong kinhdoanh tất yếu các doanh nghiệp phải đối mặt và chấp nhận các rủi ro gặp phải, vì vậy đòihỏi nhà đầu tư phải hết sức cẩn trọng khi nghiên cứu và lựa chọn mô hình kinh doanh phùhợp.

Mặt khác, trong thực tiễn khi thành lập doanh nghiệp cần chú ý thêm các vấn đề sau:+ Vai trò của người sáng lập;

Những phẩm chất cần phải có ở người sáng lập đóng vai trò chủ doanh nghiệp:

 Những phẩm chất của thủ lĩnh:

- Có tinh thần sáng tạo và đổi mới để tạo sức cạnh tranh cho doanh nghiệp và tìm

các giải pháp tình huống khi cần;

- Có tầm nhìn xa để xây dựng hướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp;

- Có khát vọng thành đạt để thúc giục, lôi kéo mọi người;

- Có khả năng định hướng theo cơ hội nhiều hơn là nguồn lực sẵn có Trong kinh

doanh cơ hội mới là yếu tố quan trọng;

- Có khả năng giữ bình tĩnh và chấp nhận những diễn biến chưa lường trước được;

- Có khả năng quyết đoán khi doanh nghiệp gặp phải những tình huống nan giải mà

không có quyết định kịp thời thì mất cơ hội hoặc lâm vào tình trạng không thể cứuvãn được

 Những phẩm chất của cá nhân tạo nên sức mạnh hành động cho người chủ

doanh nghiệp:

- Quyết tâm, bền bỉ đủ sức để gánh chịu những hy sinh của một chủ doanh nghiệp;

Trang 16

- Trung thực, chân thành Chữ tín là tối quan trọng không chỉ đối với khách hàng

mà còn đối với các cộng sự Sự chân thành luôn tập hợp được lòng tin của ngườikhác;

- Nhiệt tình và thân ái để tập hợp và lôi cuốn mọi người;

- Tự tin và lạc quan trong kinh doanh, nếu để mất lòng tin sẽ mất phương hướng.

Nếu người thủ lĩnh mất phương hướng sẽ làm người khác hoảng loạn;

- Biết chế ngự và kiểm soát tình cảm để luôn luôn làm chủ được tình huống;

- Có đủ sức khỏe vì kinh doanh luôn phải đương đầu với lo âu và căng thẳng.

 Những phẩm chất của nhà quản lý:

- Biết lắng nghe và chọn lọc, tức có mưu trí trong vấn đề sử dụng người;

- Biết xây dựng tập thể vững mạnh, giỏi chuyên môn, đoàn kết, thân thiện để đạt

đến mục đích mà doanh nghiệp mong muốn;

- Không ngừng hoàn thiện các kỹ năng của bản thân

+ Những công việc mà người sáng lập doanh nghiệp phải làm:

- Tạo vốn cho doanh nghiệp;

- Tham gia soạn thảo và thông qua điều lệ doanh nghiệp;

- Tham gia ký kết các hợp đồng để tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành doanh

nghiệp;

- Hoàn chỉnh hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và tiến hành các thủ tục đăng ký theo qui

định

+ Những vấn đề về tổ chức, biên chế của một doanh nghiệp

Hình thành các bộ phận trong cơ cấu tổ chức của một doanh nghiệp:

- Bộ phận sản xuất hoặc cung ứng;

- Bộ phận phân phối hoặc dịch vụ;

- Bộ phận hỗ trợ bán hàng bao gồm; kế toán, tài chính, kế hoạch kinh doanh, hành

chính, nhân sự, tiếp thị

Trang 17

2.2- Các chủ thể kinh doanh khác

2.2.1 Hợp tác xã

a Khái niệm – Đặc điểm của Hợp tác xã

-Khái niệm: Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân(sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập

ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham giahợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh vànâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.-Đặc điểm

+Hợp tác xã là tổ chức kinh tế mang tính xã hội và hợp tác cao

+Tài sản thuộc sở hữu của hợp tác xã, được hình thành từ vốn góp của xã viên hoặc được

-Nguyên tắc dân chủ, bình đẳng và công khai

-Nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi

-Nguyên tắc hợp tác và phát triển cộng đồng

c.Thành lập, tổ chức lại, giải thể Hợp tác xã

d Về tổ chức, quản lý Hợp tác xã

-Đại hội xã viên: là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của HTX, bao gồm toàn bộ các

xã viên hoặc các đại biểu xã viên

-Ban quản trị hợp tác xã: là bộ máy quản lý HTX do đại hội xã viên bầu trực tiếp, gồmtrưởng ban quản trị và các thành viên khác Số lượng thành viên do điều lệ HTX quyđịnh

Trang 18

-Ban kiểm soát: là bộ máy giám sát và kiểm tra mọi hoạt động của HTX theo đúng phápluật và điều lệ HTX Ban kiểm soát do đại hội xã viên bầu trực tiếp; số lượng thành viên

do điều lệ HTX quy định Nhiệm kỳ của Ban kiểm soát theo nhiệm kỳ của Ban quản trị.Ban kiểm soát có các nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của pháp luật và điều lệHTX

2.2.2 Hộ kinh doanh cá thể

a. Khái niệm:

Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người, hoặc một

hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quámười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đốivới hoạt động kinh doanh

b. Đặc điểm

-Hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân, một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ;-Hộ kinh doanh cá thể thường tồn tại với quy mô nhỏ;

-Chủ hộ kinh doanh cá thể phải chịu trách nhiệm vô hạn trong hoạt động kinh doanh

c. Đăng ký kinh doanh đối với hộ kinh doanh cá thể

-Điều kiện đăng ký kinh doanh

Dù không phải là doanh nghiệp, nhưng để được công nhận là một chủ thể kinh doanh thì

hộ kinh doanh cá thể cũng phải thực hiện việc đăng ký kinh doanh Thông qua việc đăng

ký kinh doanh, hộ kinh doanh cá thể được công nhận các quyền và nghĩa vụ trong hoạtđộng kinh doanh

Nghị định 88/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định các điều kiện để đăng ký kinhdoanh đối với hộ kinh doanh cá thể Theo đó, tất cả công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi, cónăng lực hành vi dân sự đầy đủ (trừ người chưa thành niên, người bị hạn chế hoặc mấtnăng lực hành vi dân sự; người đang chấp hành hình phạt tù hoặc bị tòa án tước quyềnhành nghề) và các hộ gia đình đều có quyền tham gia đăng ký kinh doanh loại hình hộ

Trang 19

kinh doanh cá thể Mỗi cá nhân hay hộ gia đình chỉ được đăng ký kinh doanh một hộkinh doanh cá thể.

Các chủ hộ kinh doanh chỉ được đăng ký cho hộ kinh doanh cá thể của mình với nhữngngành, nghề kinh doanh không bị pháp luật cấm Đối với những ngành, nghề kinh doanh

có điều kiện thì chủ hộ kinh doanh phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện này

-Thủ tục đăng ký kinh doanh

Cá nhân hoặc người đại diện hộ gia đình gửi giấy đề nghị đăng ký kinh doanh hộ giađình, kèm theo bản sao giấy chứng minh nhân dân của cá nhân hoặc người đại diện hộgia đình đến cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện nơi đặt địa điểm kinh doanh;

Nội dung của giấy đề nghị đăng ký kinh doanh gồm: tên hộ kinh doanh, địa chỉ của địađiểm kinh doanh, ngành, nghề kinh doanh; số vốn kinh doanh; họ tên, số và ngày cấpgiấy chứng minh nhân dân, địa chỉ nơi cư trú và chữ ký của cá nhân hoặc đại diện hộ giađình

Đối với những ngành, nghề phải có chứng chỉ hành nghề thì kèm theo phải có bản saohợp lệ chứng chỉ hành nghề của cá nhân hoặc đại diện hộ gia đình Đối với những ngành,nghề phải có vốn pháp định thì kèm theo phải có bản sao hợp lệ văn bản xác nhận vốnpháp định của cơ quan tổ chức có thẩm quyền

-Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện khi tiếp nhận hồ sơ sẽ xem xét và cấp giấychứng nhận đăng ký kinh doanh cho hộ kinh doanh trong thời hạn năm ngày làm việc nếu

hồ sơ hợp lệ và có đủ các điều kiện: ngành nghề kinh doanh không thuộc danh mục cácngành, nghề cấm kinh doanh, tên hộ kinh doanh dự định đăng ký phù hợp quy định củapháp luật và nộp đủ lệ phí đăng ký kinh doanh theo quy định

-Hộ kinh doanh cá thể có quyền tiến hành các hoạt động kinh doanh sau khi được cấpgiấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề phải có

đủ điều kiện

-Thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh, ngừng kinh doanh hoặc chấm dứt kinh doanh

Trang 20

Khi thay đổi nội dung kinh doanh đã đăng ký, hộ kinh doanh thông báo nội dung thay đổivới cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện nơi đã đăng ký kinh doanh.

Trường hợp tạm ngừng kinh doanh từ 30 ngày trở lên, hộ kinh doanh thông báo với cơquan đăng ký kinh doanh cấp huyện nơi đã đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế trực tiếpquản lý Thời gian tạm ngừng kinh doanh không được quá một năm

Khi chấm dứt hoạt động kinh doanh, hộ kinh doanh cá thể phải nộp lại bản gốc giấychứng nhận đăng ký kinh doanh cho cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện nơi đã đăng

ký kinh doanh, đồng thời thanh toán đầy đủ các khoản nợ, gồm cả nợ thuế và các nghĩa

vụ tài chính chưa thực hiện

Chương ba PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TRONG KINH DOANH 3.1- Những vấn đề lý luận chung về hợp đồng

Hợp đồng là một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật của các quốc gia Dù cónhiều cách hiểu khác nhau về hợp đồng, song nhìn chung xét về bản chất thì hợp đồng làmột công cụ đảm bảo sự bình đẳng, tự nguyện của các bên chủ thể tham gia các quan hệ

xã hội được pháp luật điều chỉnh

Trang 21

Thứ nhất, sự thỏa thuận được hiểu là trùng hợp ý muốn của các bên về một nội dung hay

yêu cầu mà các bên mong muốn đạt được Điều này dẫn đến các hệ quả sau:

- Chỉ coi là sự thỏa thuận khi các cam kết mà các bên đưa ra phù hợp với ý muốn đíchthực của họ Vì vậy, các cam kết đưa ra do tác động của sự lừa dối, nhầm lẫn, đe dọa…thì không được coi là sự thỏa thuận

- Sự thỏa thuận tức là ý chí của các bên phù hợp với những gì mà họ cam kết

Thứ hai, tuy nhiên ý chí là yếu tố chủ quan, vô hình nên cần xác định ý muốn thật sự của

căn cứ và sự thể hiện trong các hành vi của chủ thể, tức là làm rõ mối liên hệ giữa mặtchủ quan và mặt khách quan của thỏa thuận

- Hai vấn đề nêu trên trong thực tế không phải lúc nào cũng dễ dàng xác định;

- Thỏa thuận với tư cách là yếu tố bản chất của hợp đồng cũng được quy định trong phápluật hợp đồng của nước ta trước đây Tuy nhiên, hiện nay trong điều kiện kinh tế thịtrường thì bản chất này đã được thể hiện một cách đầy đủ nhất Bởi vì:

+ Trong nền kinh tế thị trường với sự tồn tại của nhiều chủ thể kinh doanh, nhiều hìnhthức sở hữu với những lợi ích hết sức đa dạng, cho nên cần phải được bảo đảm lợi ích củacác chủ thể;

+ Sự chuyển dịch các lợi ích vật chất hoặc phi vật chất giữa các chủ thể đòi hỏi cần đượcbảo đảm thông qua việc cho phép họ tự do biểu hiện ý chí của mình;

+ Đa số các chủ thể kinh doanh đều dựa trên nguyên tắc hạch toán kinh tế, lấy thu bù chi

Do đó, sự áp đặt hoặc đe dọa các chủ thể tham gia quan hệ kinh doanh là không phù hợp

mà cần phải bảo đảm sự lựa chọn cần thiết, tối đa cho họ;

+ Kinh tế thị trường đòi hỏi sự ổn định trong các quan hệ kinh doanh và cần phát huy cao

độ tính chủ động, sáng tạo của các chủ thể nên việc bảo đảm bản chất của hợp động là sựthỏa thuận càng có ý nghĩa quan trọng

Trang 22

3.1.3 Ký kết hợp đồng

- Các nguyên tắc ký kết hợp đồng

+ Tư do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội;

+ Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng

- Năng lực và thẩm quyền của người ký kết hợp đồng

Để hợp đồng giao kết hợp pháp, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của các bên thìcác bên chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồng phải có năng lực chủ thể Nếu chủ thể củahợp đồng là cá nhân thì cá nhân đó phải có năng lực hành vi dân sự Nếu chủ thể của hợpđồng là pháp nhân thì pháp nhân đó phải có năng lực pháp luật dân sự Cá nhân có nănglực hành vi dân sự đầy đủ thì có quyền xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự Phápnhân xác lập và thực hiện hợp đồng trên cơ sở năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân Các bên tham gia giao kết hợp đồng có thể ký kết hợp đồng một cách trực tiếp hoặcthông qua người đại diện hợp pháp

Phương thức giao dịch gián tiếp là phương thức mà các bên tham gia giao kết khôngcần trực tiếp gặp nhau đàm phán, chỉ cần trao đổi thông tin trong đó chứa đựng những nộidung cần thỏa thuận Phương thức này khá thuận lợi, đỡ tốn kém về thời gian và tiền bạc

Trang 23

cho các bên, nhưng cũng có những hạn chế nhất định, đó là sự phức tạp trong việc xácđịnh hợp đồng đã hình thành hay chưa và thời điểm khi nào hợp đồng được xác lập.

- Thủ tục giao kết hợp đồng

+ Đề nghị giao kết hợp đồng;

Để hình thành quan hệ hợp đồng, trước hết phải có một bên tuyên bố ý chí muốn giaokết hợp đồng Việc tuyên bố này gọi là đề nghị giao kết hợp đồng Đề nghị giao kết hợpđồng phải có các yếu tố sau: i) Thể hiện ý chí muốn giao kết hợp đồng của bên đề nghị;ii) Có các nội dung chủ yếu của hợp đồng; iii) Được chuyển cho một hoặc một số đốitượng đã xác định Bên đề nghị phải chịu trách nhiệm về đề nghị của mình

+ Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

Chấp nhận giao kết hợp đồng là thông báo của bên được đề nghị chuyển cho bên đềnghị thể hiện sự chấp thuận của mình về các nội dung trong đề nghị giao kết hợp đồng

Về nguyên tắc, chấp nhận hợp đồng phải thể hiện sự nhất trí của bên được đề nghị về tất

cả các nội dung đã giao dịch Mọi sửa đổi, bổ sung đề nghị giao kết hợp đồng từ phía bênđược đề nghị đều dẫn đến việc hình thành đề nghị hợp đồng mới và nếu bên đề nghịkhông chấp nhận các thay đổi đó thì hợp đồng không được xác lập

- Nội dung của hợp đồng

Nội dung của hợp đồng là toàn bộ các vấn đề mà các bên đã thỏa thuận được với nhau

Về mặt hình thức, nội dung của hợp đồng được thể hiện dưới dạng các điều khoản Vềmặt pháp lý, nội dung của hợp đồng chính là quyền và nghĩa vụ ràng buộc các bên giaokết với nhau

3.1.4 Thực hiện hợp đồng

Thực hiện hợp đồng là việc các bên thực hiện các điều khoản mà các bên đã cam kếttrong hợp đồng Chính vì vậy, việc thực hiện đúng, đầy đủ và nghiêm chỉnh hợp đồng đãđược ký kết là trách nhiệm pháp lý của các bên tham gia hợp đồng

Trang 24

3.1.5 Các hình thức trách nhiệm hợp đồng

Hợp đồng có hiệu lực có tính chất là “luật” đối với các bên giao kết Khi một hợp đồngđược xác lập, các bên có nghĩa vụ phải thực hiện các cam kết đã thỏa thuận trong hợpđồng Việc vi phạm các nghĩa vụ trong hợp đồng (không thực hiện, thực hiện khôngđúng, không đầy đủ nghĩa vụ) sẽ dẫn đến bên vi phạm phải gánh chịu những hậu quả vậtchất bất lợi do pháp luật qui định

a Căn cứ áp dụng trách nhiệm hợp đồng:

- Có hành vi vi phạm hợp đồng;

- Có thiệt hại thực tế xảy ra;

- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại thực tế;

- Có lỗi của bên vi phạm

b Các hình thức trách nhiệm hợp đồng

- Phạt hợp đồng: là hình thức trách nhiệm hợp đồng, theo đó, bên vi phạm hợp đồng

phải trả cho bên bị vi phạm khoản tiền nhất định do pháp luật qui định hoặc do các bênthỏa thuận trên cơ sở pháp luật Căn cứ để áp dụng hình thức trách nhiệm phạt hợp đồnglà: có hành vi vi phạm hợp đồng và có lỗi của bên vi phạm hợp đồng

- Bồi thường thiệt hại: là hình thức trách nhiệm vật chất được đặt ra nhằm khôi phục, bù

đắp những lợi ích vật chất bị mất (bị thiệt hại) của bên bị vi phạm Như vậy, bồi thườngthiệt hại chỉ được áp dụng khi có thiệt hại xảy ra Để áp dụng trách nhiệm bồi thườngthiệt hại, phải có đủ 4 căn cứ gồm: có hành vi vi phạm hợp đồng, có thiệt hại thực tế xảy

ra, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế, có lỗi của bên viphạm Về nguyên tắc, bên vi phạm phải bồi thường toàn bộ những thiệt hại vật chất chobên bị vi phạm, nhưng các khoản thiệt hại đòi bồi thường phải nằm trong phạm vi đượcpháp luật ghi nhận

Ngày đăng: 18/11/2020, 09:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w