1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI KIỂM TRA MÔN HỌC KINH TẾ PHÁT TRIỂN

4 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa vào kết luận của A. Lewis về lý thuyết mô hình hai khu vực, bạn hãy phân tích đường lối hiện đại hóa nông nghiệp công nghiệp và phát triển đô thị Việt Nam hiện nay.

Trang 1

BÀI KIỂM TRA MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN

Trường: Đại Học Bình Dương Cà Mau

Đề kiểm tra:

Dựa vào kết luận của A Lewis về lý thuyết mô hình hai khu vực, bạn hãy phân tích đường lối hiện đại hóa nông nghiệp công nghiệp và phát triển đô thị Việt Nam hiện nay

1/ Đường lối hiện đại hoá nông nghiệp, công nghiệp ở Việt Nam:

a) Hiện đại hóa nền nông nghiệp:

- Gia tăng nhanh quá trình hiện đại hóa nền nông nghiệp phù hợp với điều kiện tự nhiên, sinh thái của từng vùng và từng loại sản phẩm Như vậy mới rút được lao động ra khỏi khu vực nông nghiệp mà vẫn bảo đảm nông nghiệp đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu ngày càng gia tăng

- Xây dựng hợp lý cơ cấu sản xuất nông nghiệp

+ Điều chỉnh quy hoạch phù hợp và ổn định các vùng sản xuất lương thực phù hợp với nhu cầu và khả năng tiêu thụ, tăng năng suất lao động đi đôi với nâng cấp chất lượng Xây dựng các vùng sản xuất tập trung lúa hàng hóa; tận dụng điều kiện thích hợp trên các địa bàn khác để sản xuất lương thực có hiệu quả Có chính sách bảo đảm lợi ích của người sản xuất lương thực

+ Phát triển theo quy hoạch và chú trọng đầu tư thâm canh các cây công nghiệp như

cà phê, chè, dừa bông, mía, lạc , hình thành các vùng rau quả có giá trị cao gắn với phát triển các cơ sở bảo quản, chế biến

+ Phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả chăn nuôi gia súc, gia cầm, áp dụng rộng rãi phương pháp chăn nuôi gắn với chế biến sản phẩm, tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi trong nông nghiệp

+ Phát huy lợi thế của các ngành thủy sản, tạo thành một ngành kinh tế mũi nhọn Phát triển mạnh nuôi trồng thủy, hải sản theo phương thức tiến bộ và bền vững môi trường; nâng cao năng lực và hiệu quả đánh bắt hải sản xa bờ

+ Bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, nâng độ che phủ của rừng lên 43% Hoàn thành việc giao đất, giao rừng ổn định và lâu dài, kết hợp lâm nghiệp với nông nghiệp để định canh, định cư ổn định và cải thiện đời sống người dân miền núi Đẩy mạnh trồng rừng kinh tế và ngăn chặn nạn đốt phá rừng, tạo nguồn gỗ, nguyên liệu cho công nghiệp bột giấy, chế biến đồ gỗ gia dụng và mỹ nghệ xuất khẩu

b) Phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn:

- Phát triển các làng nghề truyền thống để khai thác các tiềm năng kinh tế của các

địa phương và phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH, HĐH Thu hút đầu tư của mọi thành phần kinh tế vào phát triển công nghiệp và dịch

vụ ở nông thôn với những chính sách ưu đãi như: đất đai, thuế, tín dụng

- Chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang các ngành nghề khác; từng bước tăng quỹ đất canh tác cho mỗi lao động nông nghiệp; mở rộng quy mô sản xuất, tăng việc làm và thu nhập cho dân cư nông thôn

Trang 2

- Chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế nông thôn phải đặt trong điều kiện của kinh

tế thị trường, tránh chủ quan duy ý chí; chú ý tới các yếu tố khách quan như khả năng về vốn, tổ chức quản lý, công nghệ và điều kiện thị trường

c) Giảm bớt tỷ trọng lao động làm nông nghiệp:

Đây là một tiêu chí quan trọng nhất để thực hiện và đánh giá kết quả quá trình CNH, HĐH ở nông thôn Hiện nay, cơ cấu lao động nông nghiệp và nông thôn đang chuyển dịch theo hướng tích cực Theo số liệu tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, cơ cấu lao động trong nông nghiệp từ 57,1% (năm 2005) giảm xuống còn 48,2% (năm 2010) Như vậy, sự chuyển dịch cơ cấu lao động trong những năm qua đã có một bước tiến đáng kể Với thực tiễn này, chương trình Chiến lược phát triển nông thôn bền vững ở Việt Nam đã

đề ra mục tiêu đến năm 2015 tỷ trọng lao động nông nghiệp chiếm 40-41% lao động xã hội, đến năm 2020 còn khoảng 25-30% lao động xã hội Để đạt được những mục tiêu đó, phải

có thêm nhiều việc làm phi nông nghiệp được tạo ra ngay tại khu vực nông thôn và những

đô thị vừa và nhỏ nằm rải rác trên khắp các vùng ngay sát với các làng xóm nông thôn còn

xa các thành phố lớn

d) Phát triển nông nghiệp và nông thôn nhìn theo giác độ vùng:

- Đối với các vùng trung du miền núi:

Đặc điểm của các vùng trung du miền núi là đất đai nhiều (bình quân đầu người chiếm đất nông nghiệp, lâm nghiệp là 4.624m2, trong đó đất nông nghiệp là 1.267m2) song chất lượng đất thấp, bạc màu, thoái hóa Hệ sinh thái ở các vùng này thuận lợi cho phát triển các cây lương thực như: ngô, khoai, sắn, lạc đậu, chè, cây rừng (cả rừng cây nguyên liệu giấy, gỗ trụ

mỏ, rừng phòng hộ đầu nguồn) Tuy đất và lao động làm nông nghiệp khó khăn song việc chuyển đổi lao động sang làm việc phi nông nghiệp, công nghiệp là có điều kiện tương đối thuận lợi, nếu có vốn để phát triển nhiều loại chế biến nông sản, công nghiệp chế tác Ở các vùng trung du miền núi có điều kiện phát triển kinh tế trang trại vì có thể tập trung ruộng đất,

có nhiều ngành nghề: trồng trọt, chăn nuôi Khó khăn lớn ở vùng miền núi là do đất làm lương thực ít, trồng các cây có giá trị kinh tế không nhiều, một bộ phận du canh, du cư hoặc chưa ổn định sản xuất Vì vậy yêu cầu đặt ra phải tìm cách ổn định sản xuất và phát triển kinh tế nông nghiệp hàng hóa, cùng với phát triển công nghiệp chế biến đi kèm với các loại sản phẩm cây công nghiệp, cây ăn quả, phấn đầu nâng cao thu nhập của tất cả nông dân và xóa đói giảm nghèo ở những địa bàn còn khó khăn Việc phát triển hạ tầng vẫn phải đầu tư nhiều cho giao thông đường xá, cấp nước, thủy lợi, lưới điện, viễn thông, cơ sở giáo dục, y tế, văn hóa Vấn

đề cộng đồng người thiểu số chiếm tỉ lệ đáng kể ( 50%) với 42 dân tộc thiểu số khác nhau đặt

ra yêu cầu về phát triển kinh tế để nâng mức sống, về thực hiện các chính sách để nâng cao dân trí, đoàn kết dân tộc, giữ gìn và phát huy bản số văn hóa dân tộc

e) Đẩy mạnh ứng dựng khoa học công nghệ trong nông nghiệp và nông thôn:

CNH, HĐH đất nước đòi hỏi phải trang bị kỹ thuật cho các ngành của nền kinh tế theo hướng hiện đại Do đó phát triển kinh tế nông thôn trong điều kiện CNH, HĐH cần phải đẩy mạnh ứng dụng của tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp Ngoài những việc về thủy lợi hóa, sử dụng giống mới đã có phương thức, quy hoạch thực hiện tốt, trên nhiều lĩnh vực còn có chưa có phương thức, cách làm có hiệu quả như cơ giới hóa, sinh học hóa, đưa tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất rất cần có những mô hình

Trang 3

được xây dựng từ thực tiễn, thích hợp với từng địa bàn sinh thái và tính chất của từng hoạt động sản xuất Cần đưa nhanh công nghệ mới vào sản xuất thu hoạch, bảo quản, chế biến, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; ứng dụng công nghệ sạch trong nuôi trồng

và chế biến thực phẩm, hạn chế việc sử dụng hóa chất độc hại trong nông nghiệp, tăng cường đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật viên bám sát đồng ruộng, huấn luyện về kỹ năng cho người nông dân

f) Xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp:

Kinh tế hộ nông dân là hình thức kinh tế phổ biến ở nông thôn trong các làng nghề, trong hoạt động dịch vụ và sản xuất nông nghiệp Nhà nước cần khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế hộ trang trại phát triển sản xuất hàng hóa với quy mô ngày càng lớn Bên cạnh đó, phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa dạng mà nòng cốt là hợp tác xã dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể Đối với kinh tế tư nhân cần có chính sách hỗ trợ hướng dẫn tạo điều kiện cho thành phần kinh tế này phát triển vì đây là lực lượng quan trọng và năng động trong cơ chế thị trường, có khả năng về vốn, tổ chức quản lý và kinh nghiệm sản xuất Thành phần kinh tế nhà nước đóng vai trò then chốt trong nền kinh tế nông nghiệp nông thôn

h) Đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp và nông thôn:

Nguồn nhân lực ở nông thôn có đặc điểm là trình độ học vấn thấp và phần lớn không qua đào tạo Đây là một cản trở lớn trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn

Do vậy, việc đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn phải có chính sách giáo dục đào tạo riêng, không chỉ tính đến trình độ đầu vào, ưu đãi về tài chính cho khu vực nông nghiệp mà còn phải tính đến nhu cầu về số lượng, chất lượng, cơ cấu lao động được đào tạo trong hiện tại và tương lai

i) Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội ở nông thôn:

Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội ở nông thôn bao gồm: hệ thống đường xá, thông tin, thủy lợi, trạm biến thế, trạm giống, trường học, nhà văn hóa rất cần thiết cho sự phát triển nông nghiệp và nông thôn Cần quy hoạch hợp lý và nâng cao hiệu quả sử dụng đất, nguồn nước, vốn, rừng, gắn với bảo vệ môi trường Quy hoạch các khu dân cư phát triển các thị trấn, thị tứ, các điểm văn hóa ở làng, xã; nâng cao đời sống vật chất văn hóa tinh thần, xây dựng cuộc sống dân chủ, công bằng, văn minh ở nông thôn

2/ Phát triển đô thị Việt Nam hiện nay:

Sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, Việt Nam đã chuẩn bị một tiến trình hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Thế nhưng, để phát triển kinh tế nhanh và bền vững, “vấn đề đô thị hóa” đã trở thành một mối quan tâm rất lớn của các nhà chức trách Việt Nam Bên cạnh những mặt tích cực do đô thị hóa mang lại: Cơ sở vật chất – kỹ thuật được cải thiện đáng kể, đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao; đó là

vô số những mối đe dọa đã bộc lộ hay còn đang tìm ẩn, đang rình rập đến nền kinh tế, môi trường sống của con người Cụ thể như: Ô nhiểm môi trường sống, ùn tắc và tai nạn giao thông, vấn đề nhà ở, đô thị hóa tự phát… mà nguy hiểm nhất là nguy cơ dẫn đến khủng hoảng

đô thị hóa ở Việt Nam Trong hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, quá trình đô thị hoá diễn ra hết sức nhanh chóng nhất là trong 10 năm trở lại đây, đặc biệt ở các thành phố lớn như

Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 4

Từ năm 1990 các đô thị Việt Nam bắt đầu phát triển, lúc đó cả nước mới có khoảng 500

đô thị (tỷ lệ đô thị hoá vào khoảng 17-18%), đến năm 2000 con số này lên 649 và năm 2003 là

656 đô thị Tính đến nay, cả nước có khoảng 700 đô thị, trong đó có 5 thành phố trực thuộc trung ương, 44 thành phố trực thuộc tỉnh, 45 thị xã và trên 500 thị trấn

Bước đầu đã hình thành các chuỗi đô thị trung tâm quốc gia: Các đô thị trung tâm quốc gia gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế Các đô thị trung tâm vùng gồm các thành phố như: Cần Thơ, Biên Hoà, Vũng Tàu, Buôn Ma Thuột, Nha Trang, Nam Định, Thái Nguyên, Việt Trì, Hạ Long, Hoà Bình…

Các đô thị trung tâm tỉnh gồm các thành phố, thị xã giữ chức năng trung tâm hành chính-chính trị, kinh tế, văn hoá, du lịch-dịch vụ, đầu mối giao thông; và các đô thị trung tâm huyện; đô thị trung tâm cụm các khu dân cư nông thôn, các đô thị mới

Theo dự báo của Bộ Xây dựng, tỷ lệ đô thị hoá của Việt Nam vào năm 2020 sẽ đạt khoảng 40%, tương đương với số dân cư sinh sống tại đô thị chiếm trên 45 triệu dân Mục tiêu

đề ra cho diện tích bình quân đầu người là 100m2/người Nếu đạt tỷ lệ 100m2/người, Việt Nam cần có khoảng 450.000ha đất đô thị, nhưng hiện nay, diện tích đất đô thị chỉ có 105.000ha, bằng 1/4 so với yêu cầu Với tốc độ phát triển và dân số đô thị như vậy, Việt Nam

sẽ phải đối mặt với ngày càng nhiều vấn đề phức tạp phát sinh từ quá trình đô thị hoá

Đó là: Vấn đề di dân từ nông thôn ra thành thị, làm cho mật độ dân số ở thành thị tăng cao; vấn đề giải quyết công ăn việc làm, thất nghiệp tại chỗ, nhà ở và tệ nạn xã hội làm cho trật

tự xã hội ven đô ngày càng thêm phức tạp; vấn đề nhà ở và quản lý trật tự an toàn xã hội ở đô thị; vấn đề ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nguồn nước

Đô thị hóa là một quá trình tất yếu của bất kỳ quốc gia nào, trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, đô thị hóa tự phát, thiếu quy hoạch khoa học sẽ làm nảy sinh và để lại nhiều hậu quả tiêu cực và lâu dài, cản trở sự phát triển của đất nước Chính vì vậy, chiến lược đô thị hóa của Việt Nam phải hướng tới mục tiêu bền vững giữ tự nhiên, con người và xã hội Muốn vậy cần: Tăng cường công tác giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của người dân Song song với việc nâng cao dân trí là tiến hành quy hoạch phân bố đồng đều các khu công nghiệp, khu đô thị tại các thành phố trên cả nước Tăng cường giáo dục nếp sống văn minh, gia đình văn hoá mới đối với cư dân đô thị

Hạn chế và quản lý tốt hơn đối với dân nhập cư, góp phần lập lại trật tự xã hội đảm bảo cho việc xây dựng xã hội đô thị ổn định, bền vững Có chiến lược, lộ trình quy hoạch đô thị đồng bộ Hoàn thiện và và phát triển mạng lưới cơ sở hạ tầng đô thị, giao thông đường bộ thuận tiện, không ách tắc và hạn chế gây ô nhiễm môi trường

Tăng cường nâng cao nhận thức cho cộng đồng về tầm quan trọng của môi trường đối với sức khoẻ và chất lượng cuộc sống Tích cực thực hiện các biện pháp tuyên truyền, khuyến khích cộng đồng sử dụng các nhiên liệu sạch trong sinh hoạt thay cho các loại nhiên liệu gây ô nhiễm không khí và nguồn nước sinh hoạt

Ưu tiên phát triển giao thông công cộng, đặc biệt là các phương tiện giao thông công cộng hiện đại không gây ô nhiễm Cần xem việc phát triển phương tiện vận chuyển công cộng

là giải pháp trọng tâm để giảm nguy cơ tắc nghẽn giao thông và ô nhiễm môi trường đô thị Có thể nói, đô thị hoá tự phát, thiếu quy hoạch khoa học sẽ làm nảy sinh và để lại nhiều hậu quả tiêu cực và lâu dài, cản trở sự phát triển của đất nước

Ngày đăng: 17/11/2020, 09:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w