1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các thời đại lịch sử nước ta: Phần 1

296 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 296
Dung lượng 22,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuốn sách Việt sử kỷ yếu do tác giả Trần Xuân Sinh ghi chép lại lịch sử nước nhà về các thời đại từ Thời đại thượng cổ trước năm 208 tr. CN đến thời Pháp thuộc. Cuốn sách được chia thành 2 phần ebook, phần 1 từ thời thượng cổ đến triều nhà Lê. Mời các bạn cùng đón đọc.

Trang 1

TRÂN XUÂN SINH

Hiệu chính: Nguycn Hào Hùng

(Hội ngliiên cứu Khoa hục Đ<)n^ Nam Á - Việl Nam)

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦUTập sách này khởi nguyên từ quá trình tìm tài liệu để viết lại tập gia phả họ nhà, nhân đó tôi đã soạn nên được bộ sách Thuyết Trần**’ (nói về nhà Trần) là sách chép lịch sử triều đại nhà Trần.

Thòi xưa, Quốc sử quán là một cơ quan của nhà nước Người viết sử không khỏi tư vị các vua chúa và các người cầm quyền chính Chỉ có dòng vua ở ngôi mới là chính thông Bất cứ ai chôhg đôi đều bị coi là giặc cả, dù không làm gì tàn dân, hại nước Đến

sử mới ngày nay, có tác giả không ưa chế độ quân chủ chuyên chế, lại cứ thấy vua chúa là đả kích, gọi hết thảy các vụ nổi dậy chông đối chính quyền phong kiến là khởi nghĩa, kể luôn cả người phản bội dân tộc, như Thân Lợi, Vũ Công Tuấn Đây là hai thái cực, tưởng nên tránh cả

Lịch sử quốc gia dân tộc không phải chỉ là gia phả các dòng vua chúa, mà phải nói nhiều về đời sống của quảng đại quần chúng qua các thòi đại Sử cũ thường chép đến cả gia đình các lãnh tụ quốc gia, mà chép được rất ít về tình hình xã hội, kinh tế văn hoá

Hầu hết các người viết sử Đông cũng như Tây, Nam như Bắc, xưa cũng như nay, đều có tật chung là chủ quan, phô trương quá mức những cái hay cái tốt, che đậy mọi cái yếu kém Kính yêu ai thì phóng đại thêm công nghiệp, không ưa ai thì chê luôn cả tông chi, họ hàng cùng là thân thuộc Ngột Lương Hợp Đài kéo quân sang đánh ta vào tháng chạp âm lịch năm 1257, giữa mùa đông hàn lạnh lẽo mà Bắc sử chép quân Mông cổ không quen chịu được khí hậu nóng nực xứ ta nên bị đau ốm, phải rút sớm về nước (Sử gia Trần Trọng Kim vô tình cũng lầm theo) Quân đội Hồ Quý Ly

từng chốhg cự lại quân Minh rất kịch liệt - theo Đại Việt sử ký

toàn thư - mà các tập sử khác lại thường bỏ qua không nói đến.

Học giả Trần Trọng Kim viết Việt N am sử lược khoảng năm

1920, dưới thòi Pháp thuộc và họ Nguyễn còn ở ngôi nên dù táo bạo kê nhà Tây Sơn là chính thông, khen vua Quang Trung là anh hùng cứu quốc, mà vẫn còn dè dặt khi bình phẩm các vua triều

(•)Trần Xuân Sinh, Thuyết Trần, NXB Hải Phòng, 2003, 535 tr.

Trang 4

Nguyễn, lại không nói được duyên cớ chính người Pháp sang đô hộ nước ta Chúng đâu có sang đánh chiếm đất nước ta vì vua ta cấm đạo Gia Tô Sử gia ngày nay có người không tiếc lời mạt sát các vua triều Nguyễn, tuy không oan, nhưng nặng nề quá.

Biên soạn tập sách này, tôi cô" gắng khách quan khi chép sự việc, tránh những đều không đủ tin, vô lý, lệch lạc cùng khiếm khuyết Rất tiếc không ghi chép lại được nhiều về sinh hoạt đại chúng qua các thời đại, do không tìm được nhiều tài liệu đáng tin, lại không dám viết theo sự suy luận, tưởng rằng suy luận chưa chắc hẳn đã đúng sự thực

Lại có những lòi luận về một sô" nhân vật lịch sử, phần lớn nhận định theo ý của các bậc tiền bối, tuy cũng có trình bày theo ý riêng trong mấy trường hỢp, như nói: Nếu người họ Trần không giành ngôi nhà Lý thì cũng có anh hùng hay gian hùng nào khác tranh quyền cướp nước; không cho vụ ám sát Ô Mã Nhi trên đường đưa y về nước là “phi nhân bất nghĩa”; việc gả Huyền Trân cho vua Chăm chỉ là một hành vi chính trị; cho việc vua Quang Trung mưu đánh chiếm Lưỡng Quảng của Trung Quô"c là điên rồ Có thể có nhiều người không đồng ỹ tưởng, nghĩ khác thì mỗi người một ý Đâu có phải chỉ ý riêng của mình mới là chân lý

Rất mong tập sách nhỏ này giúp ích được phần nào bạn đọc thông tỏ lịch sử nước nhà về các thời đại xưa

TRẦN XUÂN SINH

Cẩn tư

Trang 5

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

ĐVSKTT Đại Việt sử ký toàn thư

ĐNQSDC Đại Nam quốc sử diễn caLSVN Lịch sử Viẹt Nam

VSTGCM Việt Sử thông giám cương mụcVNSL Việt Nam sử lược

tr CN trước công nguyên

Trang 6

BẢN ĐỒ BÁCH VIỆT

trên ngàn năm trước.C.N

Trang 7

các THỜI ĐỢI LỊCH sđ Nước Tfl

Từ khi người nước ta dựng nước, kể hàng ba, bôn ngàn năm,

bị người Hoa phương bắc đánh chiếm cai trị mấy lần, sau lại bị người Pháp đô hộ, chịu khô sỏ biết bao nhiêu phen, thế mà sau lại khôi phục được nền tự chủ và vẫn giữ được tính đặc biệt của giống nòi mình, đủ tỏ ra rằng khí lực của người mình không kém hèn

Sử ký ghi chép những cơ hội gian truân, những sự biến chế của người mình đã trải qua và những công việc của người trước đã làm từ đòi nọ đến đời kia để cho người trong nước đều biết

Lịch sử nước ta có thế chia ra từng thời đại:

I - Thời đại thưỢng cổ trước năm 208 tr CN

II - Thời đại B ắc thuộc (thòi đại Trung cổ) từ năm 208 tr

CN đến năm 939

III - Thời đại tự chủ từ năm 939 đến năm 1527.

IV- Thời đại Nam B ắc phân tran h từ năm 1527 đến năm

1802

V- Thời đại cận kim từ năm 1802.

Và từ năm 1945 là Thời đại hiện kim (Phỏng theo Trần

Trọng Kim trong Việt N am sử lược).

Trang 8

THỜI ĐỢI THƯỢNG cổ

KỶ TÍỀN SỬ

Cách đây khoảng bô"n ngàn năm - tức 2000 năm trước công nguyên, tại miền đông châu Á, giáp biển, trong khi dân tộc Hán định cư trên khu vực giữa Hoàng Hà và Dương Tử giang, dân tộc Miêu vùng bắc Hoàng Hà thì tại miền nam Dương Tử giang có nhiều bộ lạc thuộc nhiều sắc tộc lập nghiệp Người Hoa gọi chung

là Bách Việt: Ô Việt ở Triết Giang, Mân Việt ở Phúc Kiến, Dương Việt ở Giang Tây, Nam Việt (hay Đông Việt) ở Quảng Đông (ngày nay người Hoa còn gọi tỉnh Quảng Đông là tỉnh Việt) Đất nước ta xưa -gồm Bắc Việt và bắc Trung Việt ngày nay là Lạc Việt

Bắc sử có chép: Thòi đại Thần Nông, ở miền nam Trung Quốc

có nước Xích Quỷ, sau chia ra làm B ách Việt Xích Quỷ không có

nghĩa là con quỷ đỏ Xích là màu đỏ, theo Ngũ hành thuộc Hoả, phương nam Quỷ là một ngôi sao trong nhị thập bát tú, ở về phương nam Gọi là Xích Quỷ để chỉ khu vực rộng lớn xa xám ở phía nam, không hẳn là tên một nước

Dân Bách Việt đã sớm biết trồng cây lúa nước Người Hán khi nói đến Việt thì dùng chữ Việt bộ mễ , có nghĩa là bèn (mễ là gạo) Sau người Việt tự cường, dùng chữ Việt ^ là vượt

Các xứ Bách Việt được thiên nhiên ưu đãi, ít phải chông chọi với thú dữ và tranh chiếm đất đai lẫn nhau, không cao cường võ nghệ, không có khí giới sắc bén nên bị người Hán phương bắc thôn tính, rồi dần dà đồng hoá với họ Xứ ta ở miền nam xa xôi không bị đánh chiếm sớm, sau cũng sa vào vòng Bắc thuộc hơn một ngàn năm Nhưng do có ý chí dân tộc hùng mạnh, người nước ta lại khôi phục được nền độc lập

Tự hào về việc sớm biết trồng lúa nưóc trong khi người Hán còn du mục và có trồng ngũ cốc thì năng suất thấp và ít chất bổ dưỡng, người nước ta xưa chép sử nói; Vua khai quốíc là con cháu Thần Nông, được phong cai trị miền nam gồm châu Kinh và châu Dương (Kinh Dương vương), địa giới phía bắc đến hồ Động Đình, phía tây giáp Ba Thục Vua xứ Lạc (Lạc Long Quân) lấy con gái

Trang 9

vua xứ Âu (Âu Cơ) sinh một trăm trai (?!), cử đi cai trị trăm xứ Việt (Người xưa lầm Bách Việt là thuộc nước ta cả).

TÊN NƯỚC GIAO CHỈ - Ngưòi Trung Quốc xưa quen gọi nước ta

là Giao Chỉ Nhiều người lầm cho là người nưóc ta xưa có hai ngón chân cái xoạc ra, khi đứng thì giao nhau Thực ra thì không phải thế Chỉ một sô" rất ít người nước ta có ngón chân cái như vậy (lác đác gặp ở vùng Bắc Ninh, Phúc Yên) chứ không phải nòi giõhg ta đều như thế Tại các nước khác ở châu Á và châu Phi, đôi khi cũng

có người có tật như vậy

Tiếng Giao Chỉ có nguồn gôc từ xa xưa Theo thiên Vũ Cống, kin h Thư thì khi Hạ Vũ lên ngôi vương Trung Quốc (thế

kỷ XXII tr CN) cử các phái đoàn đi khảo sát mọi nơi xa gần, định biên giới, chia nước làm 9 châu, cắt người cai quản và nạp công hàng năm cho vương triều Qua vùng Lĩnh Nam, phái đoàn

đi sâu xuông phương nam, thấy đất còn hoang vu, vô chủ, nhiều bùn lầy, rừng cây rậm rạp, người rất thưa thớt và lạc hậu, còn dùng đồ đá Có giông giao long hung dữ làm chúa tể Họ bèn đặt

tên đất này là G iao C hỉ và ghi là khuyết địa (đất không ai quản

lí, không thu được công phẩm, tạm đặt ngoài cương vực của vương triều)

Chữ Hán viết giao chỉ, chữ g iao ^ bộ ^ trùng Trùng

là sâu bọ, cũng chỉ con vật nhỏ Đây chỉ con giao long, loài bò sát,

giông con thuồng luồng Chữ chỉ theo Tân biên H oa - Việt tự điển là dấu vết in sâu trên mặt đất.

Có sách viết có nghĩa là vùng đất giao nhau, cũng đọc là Giao Chỉ

Cũng như tiếng Xích Quỷ người Hoa xưa quen gọi Giao Chỉ

có nghĩa là vùng đất xa xôi, không hẳn là một tên nước

Tiếng Giao Chỉ sau là tên một bộ thời vua Hùng Nhà Hán đặt tên Giao Chỉ một quận là xứ Bắc Kỳ ngày nay Nhà Tốhg phong cho các vua Đinh, Lê, Lý là Giao Chỉ quận vương Sau có đổi là An Nam quốc, nhưng các vua Nguyên, Minh vẫn quen gọi nước ta là Giao Chỉ

Có những nước khác thòi xưa cũng gọi nước ta là Giao Chỉ

TÊN XỨ LẠC VIỆT - Thời đại thưỢng cổ, xứ ta có tên là xứ Lạc

Việt, một xứ trong Bách Việt Tiếng lạc có nguồn gốc từ chim lạc

(nay gọi là hạc) do người xưa đã theo đường di trú của chim lạc mà đến lập nghiệp tại nơi này

Trang 10

Lạc là giống chim án tôm cá, to con, mỏ dài, chân cao, sải cánh rộng, có thói quen di trú, cùng họ vội giang, sếu, cò Có tiếng

kêu cạc, lạc nên gọi là chim lạc.

Thòi đại xa xưa, khoảng hai ngàn năm trước công nguyên, ở vùng đồng lầy lưu vực sông Âu, tỉnh Triết Giang bên Trung Quốc ngày nay, cư dân là người Việt tộc có gốc gác Mônggôlôít lai Miến Tạng sinh sông, hành nghề đánh cá Cũng có săn bắn chim muông

và trồng trọt hoa màu ít nhiều Thức ăn chính thì ngoài tôm cá có trứng chim lạc Nơi đây quần tụ vô vàn giốhg chim này Chúng đẻ trứng vung vãi khắp bò nước Đòi sống của con người eo hẹp, chẳng có chi trù phú mấy

Đàn chim hàng năm, cứ đến mùa đông, có gió bắc thì bay đi hết về phương nam Người ở lại phải chịu rét mưốt, lại thiếu thốn lương thực, tôm cá ít, trứng chim không còn, phải đào củ, hái rau rừng ăn tạm Đến khi có gió nam, đàn chim lũ lượt bay về, béo tốt, lại đẻ nhiều trứng Năm nào cũng như thế mãi Hành động của chim ảnh hưởng đến con người Chúng bay đi, hết mùa rét lại trở

về, mạnh mẽ hơn trước Thế thì nơi chúng đến phải là miền trù phú, có đầy rẫy lương thực nuôi sống con người và động vật Không lẽ cứ ở nơi nghèo nàn này mà chịu đói rét mãi, chi bằng theo hướng đi của chim lạc, tìm nơi đất lành, may ra có khấm khá hơn Có những trai tráng hăng hái đi xa tìm nơi dễ làm ăn sinh sốhg Công cuộc buổi đầu ra đi thăm dò được tổ chức với các con thuyền độc mộc vượt biển, theo luồng gió bắc và hướng đi của chim lạc, xuôi xuống miền nam Các đọàn di cư thám hiểm đi đến vịnh Bắc Kỳ khi ấy còn ăn sâu vào đất liền đổ bộ vào lưu vực sông Hồng và sông Mã, thấy ở đây mọi sự đều tốt đẹp, còn hơn cả những điều từ trước vẫn hằng trông đợi Cây CỐI tốt tươi Hươu, nai, hoẵng, lợn, gà rừng rất nhiều Hồ, đầm lại đầy rẫy tôm cá Đất lại màu mỡ, mầm khoai sọ bỏ xuốhg thì chỉ vài tháng đã thu đưỢc chùm củ hàng ôm Người bản địa thưa thớt và lạc hậu, còn dùng đồ đá, chưa biết đến kim khí Do không có sự va chạm quyền lợi nên không có những vụ xua đuổi đánh giết nhau giữa thổ dân

và dân di cư đến lập nghiệp Tất cả hứa hẹn đời sốhg ấm no

Rất sung sướng khi tìm được đất mới tốt lành, di dân liền khai thác vùng Giao Chỉ bấy giò còn gần như hoang dã Sốhg chung hoà bình vối người bản địa, chỉ bảo cho họ những cách săn thú rừng, đánh bẫy chim, bắt tôm khéo léo hơn những cách làm

ăn của họ trước kia Đến khi có gió nam, nhiều người trở vê' đất cũ,

Trang 11

khuyến cáo đồng bào đi lập nghiệp tại ndi đất hứa Mọi người đều nô nức đua nhau ra đi, mong cải tạo đòi sốhg cho được tốt đ^p Từ đấy, hàng năm cứ đến mùa có gió bắc, người người lũ lượt kéo nhau vượt biển đi lập nghiệp tại phương nam, xứ sở mới phồn thịnh.

Do người di cư theo hướng đi của chim lạc mà đến nện gọi là Lạc dân, ruộng đất họ khai thác được gọi là Lạc điền

Dân Lạc nhập cư cùng với dân bản địa giông Anhđônêdiêng cùng nhau sông chung trên đất Giao Chỉ, tạo nên giốhg người Kinh Việt Nam, không giốhg như mọi dân Bách Việt khác, cũng khác hẳn với giông người Hán

HỒNG BÀNG LÀ TÊN MỘT THỜI ĐẠI HAY MỘT DÒNG HỌ NHÀ VUA

- Quốc sử xưa chép: Vua khai quốic dựng nghiệp họ Hồng Bàng

Chữ Hán hồng là chim hồng, họ Hồng, lại có nghĩa là to lớn,

đồng nghĩa với chữ / i B àng còn v iế t ^ y !^

cách nào đều có nghĩa là hậu hĩ, đầy đặn, lại còn có nghĩa là lẫn lộn, rốì beng, tạp nhạp Các còn đọc là m ang vẫn đồng

nghĩa Chữ lại còn đọc là mông, nghĩa là, mông lung, không rõ ràng Người xưa giảng Hồng Bàng là họ to lớn.

Theo thiển ý, có lẽ rằng người đầu tiên viết Hồng Bàng, còn đọc là hồng mang, hồng mông theo nghĩa sau để chỉ thời đại, tựa như hỗn mang, là đòi thượng cổ xa xăm, mọi sự việc không truyền lại được rõ ràng, rành mạch Chỉ đây là tên dòng họ, e có sự lầm chăng Chừng như thời ấy có thể người nước ta chưa có mang tên

họ Phải chăng có thòi đại hồng bàng, hồng mang, hồng mông, mà không có họ Hồng Bàng?

KỶ CÁC VUA HÙNG

Thòi đại xa xưa, khoảng trước sau một ngàn năm tr CN, các thị tộc Lạc quy tụ thành bộ lạc, có Lạc tướng đứng đầu Nhiều bộ lạc hỢp thành liên minh bộ lạc, có thể là tiểu quốc sơ khai, có Lạc hầu chỉ huy Lãnh chúa tựa như những tù trưởng đòi sau, chưa có

sự xưng là vương Thời ấy, chỉ có vua Trung Quốíc Hạ, Thương, Chu mới xưng là vương

Do đất rộng, ngưồi thưa, việc giao dịch giữa các bộ lạc, cũng như các tầng lớp dân chúng đơn giản nên rất ít có sự va chạm giữa các tổ chức hành chính

ĐVSKTT chép: Đời Hồng Bàng, Kinh Dương vương, Lạc Long Quân và mười tám vị Hùng vương trị vì từ năm Mậu Tuất đồng

Trang 12

thòi với Đế Nghi bên Trung Quốc đến năm Quý Mão tức năm thứ

37 đời Chu Noãn vương (2869 - 258 tr CN), cộng 2622 năm, mỗi vị

ỏ ngôi 240, 250 năm Vô lý! Thời gian này, bên Trung Quốic có các triều đại Thần Nông, Ngũ Đế, Đường, Ngu, Hạ, Thương, Tây Chu,

có hàng một trăm mấy mươi vua Ngọc p h ả đền Hùng ỏ xã Hy

Cương, Phú Thọ, do Nguyễn Cô" soạn năm 1472 chép dòng vua Hùng khoảng trên năm mươi đòi, tồn tại trên 2500 năm Theo một câu đối thò ở đền Hùng thì triều Hùng gồm bô"n mươi hai vua Các điều này đều không đủ tin

Việt sử lược chép: Đời Chu Trang vương (697 - 682 tr CN, ở

bộ Gia Ninh có ngưòi giỏi học thuật, thu phục được các bộ lạc, lên làm vua, xưng là Hùng vương Xét có thể gần sự thật lại phù hỢp với thần tích xã Tiên Lát, Bắc Giang chép vua Hùng dựng nước năm 660 tr CN

Sử nước ta có lẽ chỉ mới bắt đầu từ đây Còn về trước nữa đều

là truyền thuyết thời đại hồng mang, muôn phục nguyên cần phải

bổ sung tài liệu khảo cổ học

Khoảng thế kỷ thứ VI hay sớm lắm là thế kỷ thứ VII tr CN, dân Lạc Việt có người anh hùng ở bộ Gia Ninh (Vũ Ninh, Bắc Ninh?)

đa mưu túc trí, tài cao dũng lược, thu phục được các bộ lạc, khai cơ sáng nghiệp, dựng nên một nước có quy mô rộng lớn, tổ chức hoàn bị,

tự xưng làm vua, lấy hiệu là Hùng vương, sử chép quốc hiệu là Văn Lang Có thể vì người Trung Quốc thấy người nước ta xâm vẽ mình nên gọi là người Văn Lang, đất nước cũng gọi là Văn Lang Đô kỳ đóng ở vùng phủ Lâm Thao, Phú Thọ bây giò, đời sau di về huyện Bạch Hạc, Vĩnh Yên, xưa đều thuộc Phong Châu

Giúp vua trị nước có các Lạc hầu, Lạc tướng Con trai vua gọi là quan lang, con gái gọi là mỵ nương Quan coi việc gọi là bồ chính Lãnh thổ gồm Bắc Kỳ và bắc Trung Kỳ ngày nay đến đèo Hải Vân Đất nước chia làm mười lăm bộ (tựa như tỉnh) Quốc sử

có chép tên và vị trí các bộ Tên bộ chữ Hán gần với tên các hạt sau này, có thể là do người sau tự đặt ra

Đòi bấy giò đời sông đơn sơ, phong tục giản dị Dụng cụ còn bằng đồng thau, chưa biết đến dùng sắt Buổi đầu chưa có chữ, người ta thắt nút dây hay khắc vạch dấu trên tre, gỗ, xương làm dấu vết sự việc Gia đình tổ chức theo phụ hệ, có tục ăn trầu, nhuộm răng đen như người Thái, người Mã Lai Y phục thường thì đàn ông đóng khô", đàn bà mặc yáy, khác với người Hán bên Trung Quốic Phần đông dân chúng hành nghề đánh bắt cá sông và biển

Trang 13

Tóc cắt ngắn, mình mẩy xăm vẽ hình thuỷ tộc do để khi ngâm mình xuốhg nước, các giông giao long, thuồng luồng lầm là đồng chủng, không làm hại Cũng có sán bắn và đánh bẫy muông chim

nhưng không nhiều, v ề canh nông, người Lạc Việt đã sốm biết lợi

dụng thuỷ triều lên xuốhg, trồng cấy cây lúa nước nơi ruộng thấp,

ơ miền trung, thượng du có lốì làm rẫy, đao canh thuỷ chủng, chặt cây rồi đốt đi, xối đất, cuốc cỏ, tưới nước vào cho thối lá cây

cỏ, đổ bùn, rồi đào hô", gieo hạt

Các vua nôi nghiệp sau cũng xưng là Hùng vương trị nước hơn 400 năm Không rõ có bao nhiêu vỊ, cùng một hay nhiềũ dòng

họ Quốc sử chép có mười tám đòi vua có lẽ cũng gần sự thật Có sách chép hiệu các vua Hùng là Hùng Võ, Hùng Uy, Hùng Hy

vương, chừng như phỏng theo hiệu các vua nước sở Theo thần

tích xã Tiên Lát, huyện Việt Yên, Bắc Giang thì vị vua đầu tiên

mỏ nước (Quốc tổ) tên là Đức, người xã này xưng vương năm 660 tr.CN, có hiệu là Hùng Tạo vương Không có tập sử sách xưa nào chép việc này Có sách chép Tạo vương là vua Hùng thứ 15 Thần tích có thể thật, nhưng không chắc chắn hẳn đã là thực Việc này còn cần phải xét lại

Thòi đại bấy giờ, bên Trung Quốc là thời Xuân Thu Chiến Quốc Nhà Chu suy, chư hầu mạnh lên thôn tính lẫn nhau, hỢp

nhiều nước nhỏ thành nước lớn, loạn lạc lung tung Nước ta không bị xâm lược do xa các cường quốc và cũng đã có được quân đội mạnh

Thân thuộc nhà vua và tướng sĩ các nước bị phá không phục kẻ chiến thắng, chạy sang miền nam Đây là trường hỢp

dân Ngô, Việt, sở chạy sang quy phục Hùng vương, đem chữ

Hán, lễ nghi, phong tục người Hoa, truyền bá ảnh hưởng đến triều đình và các quý tộc nên mới có việc gọi các chức vụ và địa hạt bằng tiếng Hán

Hiện nay, tại xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, còn có phần

mộ và đền vua Hùng Tại huyện Bạch Hạc, Vĩnh Yên có đền lớn thờ các vua Hùng tương truyền dựng trên nền cung điện xưa

Các Hùng vương là những vị vua có thật đời thượng cổ hồng mang Sơ sử chỉ ghi chép qua loa sự việc về đại cương Các vị Thánh Gióng, Chử Đồng Tử, Tản Viên, Cao Sơn, Quý Minh có thể

là những người có thật mà đã được thần thánh hoá Truyện cốhg rùa vàng lên vua Nghiêu khá mơ hồ Việc sứ giả Việt Thường

Trang 14

dâng bạch trĩ lên Chu Thành vương (1104 - 1068 tr CN) chắc có thật Đất Việt Thường nay là các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, xưa là một bộ miền cực nam nước Văn Lang, có thể có thuyền vượt biển đi sang Trung Quốc được.

Khoảng cuối thế kỷ thứ III hoặc đầu thế kỷ thứ II tr CN, vua Hùng CUỐI cùng, s ử chép là đời thứ XVIII bị vua Thục nước Âu Việt đánh bại, bị diệt.'

KỶ NHÀ THỤC

ơ phía đông bắc xứ Lạc Việt có xứ Âu Việt gồm đất các tỉnh Lạng Sơn và Hải' Ninh nưốc ta ngày nay và châu Khâm, châu Liêm tĩnh Quảng Đông (Trung Quốc), sau có thời gọi là quận HỢp Phô", có họ Thục làm lãnh chúa Khoảng cuôl thế kỷ thứ III tr CN, Thục vương Phán đánh chiếm đất nước Văn Lang, hỢp nhất đất

Âu Việt và Lạc Việt, gọi là nước Âu Lạc, xưng là An Dương vương.ĐVSKTT chép: Xưa Thục vương cầu hôn Mỵ Nương, con gái Hùng vương, bị nghi là mưỢn cớ dòm ngó Văn Lang, không đắt, để lòng oán giận, dặn lại con cháu phải kiêm tính đất nước

ấy Đến cháu là Phán dũng lược mổi đem quân sang đánh (Đây chỉ là sự viện ra cho có cớ Thực sự, Thục Phán xâm lăng chiếm đất lân quô"c để mở rộng thêm đất đai, như các chư hầu bên Trung Quốc thòi ấy)

ĐVSKTT lại chép: An Dương vương là người Ba Thục (Đất nước này nay là tỉnh Tứ Xuyên - Trung Quốic) VNSL theo VSTGCM bác bỏ thuyết này, nói đất Ba Thục đã bị nhà Tần chiếm

từ lâu, đâu còn vua nào nữa Thục chỉ là họ độc lập ỏ gần nước

Văn Lang Ngưồi theo thuyết trước lại cho rằng sau khi Ba Thục

bị chiếm, con cháu vua nước này chạy xuông phương nam, lập nên nước Thục trên đất Âu Việt

Non sông đổi chủ, các Lạc hầu, Lạc tưống trước thuần phục vua Hùng thì bây giò lại triều công vua Thục Còn quần chúng nhân dân thì gần như không có gì thay đổi, thời nào thì cũng phải đóng tô thuế, chịu sưu dịch Do không bị áp bức gì mấy, mà ngôn ngữ, phong tục Âu Việt cũng không xa lạ nên người Lạc Việt không hận thù nhà Thục chiến thắng

Trang 15

An Dương vương đóng đô ỏ thành cổ Loa, trên đất Văn Lang cũ, thuộc huyện Đông Anh - Phúc Yên, nay thuộc ngoại thành Hà Nội.

Loa Thành là một công trình kiến trúc vĩ đậi, từ ngoài đi vào thì xoáy trôn ốc nên có tên gọi thế, gồm ba vòng trong ngoài cao rộng, có sông Hoàng chảy qua thuận lợi cho việc đi lại trong vùng xuôi sang sông cầu và sông Thái Bình Thành luỹ có nhiều vọng

gác là nơi đóng quân kiên cố.

Thục vương dùng tướng Cao Lỗ (có sách chép Cao Thông) chế

ra kiểu nỏ bắn ra được nhiều tên có mũi bằng đồng Bấy giờ là thứ khí giói tiến bộ, rất lợi hại, giúp cho quân sĩ giữ nước

Dưới triều vua Thục, nước ta có Lý ỏng Trọng, người Từ Liêm, vóc to lốn, có sức mạnh phi thường, sang làm quan nước Tần đến chức tư lệ hiệu uý, chốhg giữ quân Hũng Nô

Ngang với thòi gian vua Thục trị vì bên ta thì bên Trung Quốc, nhà Tần thôn tính sáu nước, thông nhất thiên hạ Tần Thuỷ Hoàng bỏ chế độ phong kiến, lập ra chế độ trực trị, còn gọi là chế

độ quận huyện: Việc cai trị các địa hạt xa gầư đều do quan lại triều đình bố dụng, có thuyên chuyển, thăng giáng, cách bãi

Nâm 218 tr CN, Tần Thuỷ Hoàng sai hiệu uý Đồ Thư đem

50 vạn quân, chia ra làm năm đạo, kéo xuốhg phương nam đi đánh Bách Việt Chúng phải vất vả lắm mới kéo nhau đến đất Việt: Mân Việt, Tây Âu giết quận trưỏng Dịch Hu Tông, chiếm đất Lĩnh Nam, lập ra các quận Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (Quảng Tây và Tượng (miền tây Quảng Tây và đất Quý Châu) (Có sử gia ta đã lầm Tượng Quận là đất Âu Lạc, Quế Lâm là đất Lâm Âp) Người Việt Tây Âu không chịu khuất phục, kéo nhau vào rừng tổ chức kháng chiến, cử người tuấn kiệt làm chủ tưống, ngày lui đêm đánh, quấy phá quân Tần Họ đưỢc quân dân Âu Lạc tích cực giúp đỡ Tình thế quân Tần gay go Hành động này không phải là cử chỉ hào hiệp chỉ vì ở trong tình thế phải giúp người để giữ mình, môi hở thì răng lạnh

Năm 214 tr CN, để giúp cho quân sĩ đang chiến đấu mệt nhọc, Tần Thuỷ Hoàng cử Nhâm Ngao (còn có âm là Hiêu) sang làm đô uý quận Nam Hải và Triệu Đà làm huyện lệnh Long Xuyên (thuộc Nam Hải), đem thêm 10 vạn dân nghèo, loại tù tội, buôn đồ vặt, ở rể sang cho ở lẫn với người bản xứ, nhằm trấn an họ

Quân dân Tây Âu vẫn tiếp tục kháng chiến mãnh liệt Quân Tần luôn luôn bị đánh phá thiệt hại nhiều, ăn không ngon, ngủ không yên Trong suốt mười năm, đàn ông không cởi giáp, đàn bà

Trang 16

phải chuyên chở, khổ không sông nổi Nhiều ngưòi tự thắt cổ ở cây trên dọc đường Hiệu uý Đồ Thư cũng bị giết Có thể có việc quân Tần đã đánh sang Âu Lạc và bị khôn.

Tổ chức định cư cho đám di dân xong, Nhâm Ngao và Triệu

Đà chuyển sang đánh Âu Lạc Nám 210 tr CN, Ngao và Đà dẫn quân xâm lược nước ta Ngao đóng quân ở Tiền Giang nay là bến Đông Hồ - Bắc Ninh Đà đóng quân ở núi Tiên Du nay thuộc Bắc Ninh Nhiều trận đánh nhau lớn diễn ra ở vùng này và gần thành

Cổ Loa Quân dân Âu Lạc giữ vững trận thế, địch nao núng không tiến lên đưỢc Ngao bị bệnh, vội trở về Nam Hải Đà cô" đánh, bị thua luôn, lui về Vũ Ninh, sai sứ sang xin giảng hoà và xin kết thông gia An Dương vương thuận cho Con Đà là Trọng Thuỷ lấy

Mỵ Châu, sang ở rể Trọng Thuỷ khéo chiều chuông vua, dò biết được địa thế và tình hình quân sự bên ta, lại bày những trò vui khiến vua Thục dam mê đàn hát yến ẩm, sao nhãng việc võ bị, không dùng tướng tài Cao Lỗ

Cuối năm 210 tr GN, Tần Thuỷ Hoàng băng Nông dân Trung Quốc khắp nơi nổi dậy chông đối nhà Tần bạo ngược Tướng

tá Tần ở vùng xa xôi nhiều người đua nhau cát cứ Nhâm Ngao ở Hoa Nam, bàn với Đà: Đất Phiên Ngung dựa núi cách sông, phía đông phía tây đều mấy ngàn dặm Ta nên nhân cơ hội dựng nghiệp vương, làm chủ một phương Ngao không thọ, Đà thống lĩnh quân đội, lập bè đảng, chặn các đường hỢp binh để tự giữ, giết các trưỏng lại nhà Tần, đem thân thích phe phái làm thái thú, được các châu quận hưởng ứng

Năm 208 tr CN, Triệu Đà đem quân sang đánh Âu Lạc An Dương vương thì sau chiến thắng lần trưốc, tự coi mình anh hùng,

ăn chơi quá độ, việc võ bị bỏ sơ khoáng nên bị quân Triệu đánh thua, chạy ra biển Diễn Châu, nhận rõ con gái phản bội, giết đi, rồi nhảy xuốhg biển tự tử

Sau quân dân Âu Lạc theo tướng Cao Lỗ chông lại quân Triệu, cũng không lại

Họ Thục làm vua một đồi trong 50 năm

Quốc sủ chép: Triệu Đà đánh An Dương vương lần sau năm 208 tr

CN, tức sau lần trước hai năm, trưốc khi lên ngôi xUng hoàng đế Bắc

sử lại chép Triệu Đà thôn tính Âu Lạc sau khi quy thuận nhà Hán lần thứ hai, tức sau năm 179 tr CN, tức sau lần trưốc đến 30 năm Bắc sử chép sai thời gian chăng?

Trang 17

Theo ĐVSKTT, Thục Phán đánh lấy nưốc Ván Lang năm 257 tr

CN, bị Triệu Đà đánh thua năm 208 tr CN, làm vua được 50 năm Theo Bắc sử thì Triệu Đà chỉ thôn tính Ảu Lạc sau khi quy thuận nhà Hán lần thứ hai, tức là sau nàm 179 tr CN Nếu vậy thì An Dương vương đã trị vì đến 80 năm và phải thọ trên 100 tuổi.

Bắc sử chép: Tần Thuỷ Hoàng sai Đồ Thư đi đánh Bách Việt gặp nhiều khó khăn, khôn quẫn, chứ không nói đi đánh Giao Chỉ Không

rõ quân Tần có xâm nhập đất nước ta hay không Sử gia có người cho

là có Nói người nưốc ta không phục, bỏ trôn tránh, không chịu cung ứng lương thực cho quân xâm lăng Chúng bị thiếu thôn cái ăn, lại là người xứ lạnh, rất khổ sở về khí hậu nóng nực phương nam ta Nhiều

kẻ bị đau ô"m Quân ta mới nổi dậy đánh đuổi chúng Có thể người viết thê do tự ái dân tộc, chủ quan, muôn nói lên rằng đồng bào ta xưa lần thứ nhất đã chiến thắng bạo Tần, đời sau nhà Trần lại lần đầú tiên chiến thắng quân Mông cổ hùng mạnh Xét việc dân ta đánh lui quân Tần không chắc chắn có thực vì khắp trong nước không đâu có đền thờ Dịch Hu Tông, người lãnh đạo kháng Tần.

Có sách chép; Quân Tần xâm nhập đất Âu Lạc An Dương vương phải chịu quy phục, nộp công phẩm và dâng hiến tướng tài Lý ông Trọng Việc này xét không có thực Người viết đã lầm Tượng Quận là đất ta và đất Champa.

Lại có thuyết Thục Phán là dòng dõi vua Ba Thục Nước Thục bị nhà Tần diệt Con cháu nhà vua Thục chạy xuông miền nam Phán đến Văn Lang nương nhờ Hùng vương XVIII Là tướng tài, Phán đẩy lui được quân Tần sang xâm lăng Đại thắng giặc mạnh, Phán bức bách vua Hùng nhường ngôi Làm vua Âu Lạc 24 năm, sau bị Triệu

Đà đánh thua.

Trang 18

THỜI ĐỢI BHC THaộC

KỶ THUỘC NHÀ TRIỆU TRIỆU VŨ VƯƠNG - Triệu Đà, người Hoa gổic huyện Chân Định,

làm quan nhà Tần, lĩnh chức Long Xuyên lệnh, sau thay Nhâm Ngao làm Nam Hải uý Nhà Tần suy, Đà chiếm giữ đất ba quận Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (huyện Minh Quý - Quảng Tây)

và Tượng Quận (miền tây Quảng Tây và phần đất Quý Châu), năm 207 tr CN, tự xưng làm vua, đặt tên nước là Nam Việt, đóng

đô ở Phiên Ngung, gần thành Quảng Châu bây giò, lấy hiệu là Triệu Vũ đế

Đốĩ với ta, Triệu Đà là kẻ xâm lăng cướp nước Do có tên nước là Nam Việt nên sử gia ta xưa đã lầm, chép là vua chính thông, khai sáng cơ nghiệp Thời Hậu Lê, Ngô Thì Sĩ đã cải chính

mà người sau vẫn gọi là vua ta Người Hán cho Nguyên, Thanh xâm lược là vua họ, vì đóng đô trên đất Trung Quốc cũ Nhà Triệu đóng đô bên ngoài đất Ảu Lạc, nếu ta nhận nhà Triệu là vua ta thì Hán, Đường cũng là vua ta cả

Năm 206 tr CN, Hán Cao Tổ thông nhất Trung Quốc Việc cai trị vẫn theo chê độ trực trị quận huyện, riêng các vùng xa xôi còn giữ chế độ phong kiến (theo nghĩa hẹp) Năm 196 tr CN, sứ nhà Hán Lục Giả sang dụ nhà Triệu quy thuận nhà Hán Đà thoạt đầu không chịu nhưng sau biết thế nhà Hán mạnh nên chịu nghe theo, chỉ còn xưng là vương Đến lúc Lữ Hậu cầm quyền, cấm bán đồ sắt cho dân Nam Việt, Đà tức giận cắt đứt quan hệ với nhà Hán, lại xưng hoàng đế, đem quân đi đánh đất Trường Sa Bên Hán sai Chu Tác đem quân đánh Nam Việt Binh sĩ Hán không quen thời tiết chết hại nhiều Năm 180 tr CN, Lữ Hậu chết, nhà Hán bãi binh Hán Ván đế lên ngôi Đà trở lại quy thuận nhà Hán (Bắc sử chép sau vụ này, mặt bắc đã yên, Đà mới quay

về phương nam, thôn tính Ảu Lạc)

Triệu Đà thống trị Âu Lạc, chia đất làm hai quận: Giao Chỉ (Bắc Việt) và Cửu Chân (Bắc Trung Việt ngày nay) Mỗi quận đặt chức điển sứ giữ việc cai trị, thu công phú và chức tả tướng chỉ huy quân đội trú phòng, nói là để giữ trị an cho dân chúng, thực

Trang 19

sự là để đề phòng dân bản xứ nổi dậy chốhg đốì Phần lớn các nhà quý phái Lạc hầu, Lạc tướng, lại đổi chủ, phục tùng vương triều nhà Triệu nhưng bị đặt dưới quyền kiểm soát của điển sứ, tuy không chặt chẽ lắm Nhân dân phải đóng góp nhiều hơn trước phần nào để trả lương quan lại, binh sĩ trú phòng Do không nặng

nề lắm nên không có sự thù oán

Dưới triều nhà Triệu, có sự truyền bá chữ Hán và lễ giáo phong tục của Trung Quốc sang bên ta Ánh hưởng văn hoá Hán không sâu rộng mấy, chỉ đến tầng lớp quý tộc Duy có sự tiến bộ về nông nghiệp; Người nước ta biết dùng đồ sắt như cày, bừa, mai, cuốíc thay đồ đồng thau nhưng các nông cụ này phải mua đắt của người Hán

Năm 137 tr CN, Triệu Vũ vương băng, ở ngôi 70 nám, thọ

121 tuổi (?!) Vũ vương là người anh hùng nhưng các vua kế nghiệp: Văn vương Hồ, Minh vương Anh Tề đều hèn kém

TRIỆU VẢN VƯƠNG - Cháu Vũ vương là Hồ, con Trọng Thuỷ, nôl ngôi, tức là Triệu Văn vương

Văn vương nhu nhược Năm 135 tr CN, quân Mân Việt kéo sang đánh Văn vương không chốhg cự, sai sứ sang cầu cứu Hán triều theo lời ước trước Hán Vũ đế sai Vương Khôi và Hàn An Quốc cử quân đi đánh Mân Việt Người nước này giết quốc vương xin hàng Nhà Hán nhân dịp vòi Văn vương sang hầu để dụ dỗ đem nước phụ thuộc Hán

Tướng Lữ Gia khuyên không nên đi, nên sai con là Anh Tề sang làm con tin

Anh Tề ở Hán mười năm, chịu ảnh hưởng Hán, lấy Cù thị, người Hàm Đan đất Hán

Năm 125 tr CN, Triệu Văn vương khuất, ở ngôi 12 năm, thọ

Trang 20

triều thần bàn không nên thuận theo Trong tình trạng bốì rốĩ, năm

113 tr CN thì Minh vương mất Cái chết này chừng như không bình thường Minh vương ở ngôi 12 nám

TRIỆU AI VƯƠNG - Thái tử Hưng lên nôi ngôi Ây là Triệu Ai vương Ai vương còn ít tuổi, Cù thị làm thái hậu nhiếp chính

Cù thị muôn đem con về Hán Triều thần Nam Việt nhiều người muôn giữ độc lập Hán triều trước đây cử bọn An Quốíc Thiếu Quý sang du thuyết thì một mặt sai vệ uý Lộ Bác Đức đem quân đóng ỏ Quế Dương để làm áp lực Tình thế gay go Cù thị mưu sát Lữ Gia, người đứng đầu đảng độc lập, không thành Lữ Gia thoát chết, cương quyết hành động Nhà Hán cử Hàn Thiên Thu và Cù Lạc - em Cù thị - đem hai ngàn quân đánh vào đất Nam Việt Lữ Gia họp bách quan, mở cuộc đình nghị, kể tội Cù thị

và bè phái, rồi đem giết hết Ai vương và An Quốc Thiếu Quý cũng

bị giết Bấy giò là năm 112 tr CN Ai vương ở ngôi một năm

TRIỆU DƯƠNG VƯƠNG - Lữ Gia tôn con trưởng Minh vương là Thuật Dương hầu Kiến Đức, có mẹ đẻ người Việt, lên làm vua Ây

là Triệu Dương vương

Lữ Gia chuẩn bị kháng chiến Mùa đông năm ấy, quân đội của Hàn Thiên Thu và Cù Lạc xâm nhập biên giới, phá một sô" làng ấp, tiến vào phía thành Phiên Ngung Lữ Gia tiến quân ra chặn, đánh tan quân xâm lược

Hán Vũ đế hay tin, tức giận, quyết định chiếm bằng được đất Nam Việt, cử đại binh mở cuộc tấn công quy mô rộng lớn, sai Phục

Ba tướng quân Lộ Bác Đức và Lâu Thuyền tướng quân Dương Bộc đem ba vạn quân (thòi ấy sô" này đã là nhiều lắm) sang đánh Quân xâm lược gồm năm đạo, từ Quế Dương, Dự Chương, Linh Lăng, Thương Ngô, Dạ Lang, rầm rộ kéo đến Phiên Ngung

Năm 111 tr CN, quân Hán hội họp lại tấn công thành này, thê" rất hung dữ Quân đội Lữ Gia chông chọi lại mãnh liệt nhưng không lại được với giặc đông đúc hung tợn Thành Phiên Ngung bị

hạ Lữ Gia dẫn Dương vương chạy sang đất Giao Chỉ, đến núi Nghiêm Trang (núi Ngăm, nay thuộc Nam Định), bị giặc bắt cùng với một sô" tướng tá đưa sang Hán Điển sứ và tả tướng hai châu Giao Chỉ và Cửu Chân, đều hàng, được giữ chức cũ

Quận trưởng Tây Vu, vùng Thái Nguyên, Tuyên Quang bây giờ, xưng là Tây Vu vương, tụ tập quân dân Việt chông lại quân Hán, giữ độc lập Lực lượng nghĩa quân không được mạnh lắm, không bao lâu cũng bị bại vong

Trang 21

Đất nước Âu Lạc xưa, từng thuộc Triệu, đến đến đây phải chịu nhà Tây Hán đô hộ.

Lữ Gia người Lạc Việt, quán xã Lật Sài, huyện Thạch Thất, phủ Quôc Oai, Sơn Tây Tại nơi đây nay còn có đền thờ, gần hang Hoàng Xà Tại xã Côi Sơn, gần núi Ngăm, huyện Vụ Bản (Nam Định) cũng có đền thờ Sử gia Lê Văn Hưu chê Lữ Gia giết vua lại không giữ được nước Nhiều người nghĩ khác, cho rằng Lữ Gia biết lấy giang sơn là trọng Phê bình thì không phải chỉ thành công mới đáng khen.

Nước Nam Việt do Triệu Đà dựng nên Quan lại phần nhiều dùng người Hán nhưng dân chúng thì người giông Hán lại là thiểu sô", chỉ gồm đám 10 vạn dân nhà Tần đưa sang lập nghiệp cho ở lẫn với người bản thổ Cư dân Nam Hải, Quế Lâm, Tượng Quận thuộc các sắc tộc Việt trong Bách Việt: Đông Việt, Nam Việt, Tây Âu Việt gần với dân Lạc Việt, Âu Việt hơn là dân Hán tộc Sau gần một thê kỷ thuộc Triệu, lễ giáo phong tục Hán du nhập thì ảnh hưởng chỉ đến đám quý tộc và thị dân, còn quần chúng không biến đổi gì mấy Trong cộng đồng các người Việt này, Lạc Việt tuy ở cực nam nhưng đông đúc hơn hết Lữ Gia, người Lạc Việt, ra làm quan ngay từ khi Triệu Đà còn sông cầm quyền.

Nếu nước Nam Việt còn tồn tại được lâu dài thì đây là một Đại Việt

gồm nhiều sắc dân Việt, mà Lạc Việt là dân đa số, có địa vị quan trọng trong cộng đồng Sau ngàn năm thuộc Hán Đường, dân Nam Hải, Quê Lâm - Lưỡng Quảng ngày nay - bị Hán hoá nhiều thành ra xa cách với ta Thời Bà Trưng khỏi nghĩa, vẫn còn một số người Việt khác sắc tộc hưởng ứng chông lại nhà Hán Sau thì người dân Âu Việt ỏ bắc HỢp Phô" cũng bị Hán hoá.

KỶ THUỘC TÂY HÁN

Năm 111 tr CN, nhà Hán đánh chiếm đất nước Nam Việt, chia ra làm 9 quận: Nam Hải (Quảng Đông), Thương Ngô (Quảng Tây), Uất Lâm (Quảng Tây), Châu Nhai (đảo Hải Nam), Đàm Nhĩ (đảo Hải Nam), đất Ảu Lạc cũ gồm 4 quận: HỢp Phô" (đông Quảng Đông), Giao Chỉ (Bắc Việt), cửu Chân (Thanh, Nghệ, Tĩnh), Nhật Nam (Bình, Trị, Thiên, Nam, Nghĩa) Sau bãi hai quận đảo Hải Nam sáp nhập vào HỢp Phô"

Tại mỗi quận đặt thái thú cầm quyền cai trị, chuyên trông coi việc hành chính và thu phú cống Bên thái thú là quan văn, có

đô uý chỉ huy quân đội, giữ an ninh, đàn áp các vụ chông đô"i

Trang 22

BẢN e ó N ư ớ c TA THỜI TH U Ộ C HÁN

Trên các thái thú có chức thứ sử, còn gọi là châu mục, đề cử

và kiểm tra các quan lại đô hộ Phủ trị thứ sử đóng ở Long Uyên,

có sách chép là Luy Lâu, nay là xã Lũng Khê phủ Thuận Thành (Bắc Ninh) Thứ sử đóng trên đất quận Giao Chỉ, toàn cõi gọi là Giao Chỉ bộ Thứ sử đầu tiên là Thạch Đái

Các quý tộc bản xứ có thế tập: Lạc hầu, Lạc tướng thì chính quyền đô hộ vẫn dùng giữ chức huyện lệnh tức huyện trưởng, cai trị dân chúng, dưới quyền thái thú

Dưới ách thống trị nhà Hán, nhân dân ta cực khổ Thòi thuộc Triệu còn đỡ, sang thời Hán trực trị thì quá tệ Không kể thuê má cao, dân ta còn phải lặn xuông biển kiếm đồi mồi, trai có ngọc, lên rừng săn voi, tê giác lấy ngà, lấy sừng, tìm hương liệu, gỗ quý, lao dịch nặng nhọc và nguy hiểm Các công việc phục dịch chính quyền như xây thành trì, đắp đồn luỹ, làm đưòng sá thì không

Trang 23

đáng kể Đàn bà, con gái không phải đi phu thì bị bắt đưa làm nô

tỳ, hầu hạ nhà các quan Các quan cai trị người Hán sang ta đều tham nhũng, chẳng nhiều thì ít Còn bọn quý tộc bản xứ thì xu nịnh bọn thông trị, bóc lột đồng bào Suốt 150 năm thuộc Tây Hán, dân tình khổ cực mà không có cuộc nổi dậy quy mô lốn nào,

do bình dân không có người tài giỏi lãnh đạo, mà bọn quý tộc lại đứng về phe quân cướp nước

Bắc sử có chép: Người Hán dẫn dắt dân man di theo vương hoá, dạy dân lễ nghĩa, phong tục Trung Quốc Việc này trước Triệu Đà đã cho thi hành, ảnh hưởng chẳng được mấy Lại đâu có phải cái gì của Trung Quốc cũng hay, cũng tốt cả Bắc sử có chép: Triệu Qua, đô uý Cửu Chân, dạy dân trước chỉ biết đánh cá, cày ruộng bằng trâu bò phổ biến cách canh tác luân lưu ba mảnh, gọi

là phép đại điền Dân Lạc Việt đã sớm biết trồng lúa trên ruộng nước, đâu phải nhò đến người Hán dạy cày cấy Có chăng có cải tiến phần nào về nông nghiệp

Năm 8 sau CN, tại Trung Quốc, Vương Mãng thoán ngôi nhà Hán Các quan nhà Hán ở bộ Giao Chỉ: thứ sử Đặng Nhượng, thái thú Tích Quang, Đỗ Mục tự chuyên, không nạp cốhg phú cho Vương Mãng Sau khi Quang Vũ phục quốc năm 24, chúng lại sai người về công hiến, được phong liệt hầu

Trung Quốc gặp loạn Vương Mãng, từ năm 8 đến 24, có hàng trăm quý tộc người Hán chạy sang lập nghiệp bên xứ ta, được các quan cai trị người Hán giúp đỡ Bọn chúng trắng trỢn tước đoạt ruộng đất của nhân dân ta, hoặc lấy không, hoặc trả giá rẻ mạt, đem phân phối cho họ Có thêm lũ quý tộc người Hán này, nền thông trị càng được củng cố’ Tích Quang, thái thú Giao Chỉ, mỏ trường dạy chữ Hán cho các con cái quý tộc Hán, cùng con cái các quan Lạc hầu, Lạc tướng Ngoài ra còn còn lấy vào sô" ít ngưòi bản

xứ để sau tuyển dụng làm lại viên (thư ký) cho các quan người Hoa (Thời ấy ở ta chưa có tầng lớp sĩ phu)

TÍCH QUANG - Người Hán Trung, năm 2 sau CN sang làm thái

thú Giao Chỉ Sử cũ chép ông hết lòng khai hoá dân ta, dạy dân lễ nghĩa, đưỢc dân trong quận nhiều người kính phục Chữ Hán và lễ giáo Hán tộc được truyền bá rộng rãi trên đất Giao Chỉ

NHÂM DIÊN - Người huyện Uyên, Nam Dương, năm 20 được

cử sang làm thái thú quận cửu Chân Dân quận này bấy giờ làm nghề chài lưới đánh cá và săn bắn, có đất rộng mà ít biết khai thác Nhâm Diên khuyến khích việc khai khẩn ruộng đất, cải tiến

Trang 24

nông nghiệp, dùng điền khí bằng sắt, dùng trâu bò kéo cày bừa Dân tự túc đưỢc lương thực, ông lại dạy dân nghi lễ cưới hỏi, bắt lại thuộc trong quận nhường một phần lương bông cho những kẻ nghèo lấy vỢ Bấy giò có đến hơn 2000 người lấy nhau, năm mưa thuận gió hoà, mùa màng phong đăng Nhiều người sinh con đặt tên là Nhâm để ghi nhớ ơn Nhâm Diên lại cho đúc đồ điền khí, sửa đổi tục lệ cư dân bằng cách phô biến nghề làm mũ khiến dân đội, nghề khâu giầy khiến dân đi Lại giảm bớt sô" lính canh phòng, khiến họ đi khẩn hoang, ông ở châu 4 năm, dân quận nhớ

ơn lập đền thờ

Sử gia ta xưa cực lực ca tụng công đức Tích Quang, Nhâm Diên Ngô Sĩ Liên nói: Đất Lĩnh Nam thành văn hiến kể từ Tích Quang‘và Nhâm Diên Người khác lại cho rằng Tích Quang, Nhâm Diên tiến hành công tác đưa nhân dân ta vào đường Hán hoá Nếu

có nhiều quan cai trị như hai ông thì nước ta chỉ còn là một tỉnh của Trung Quốíc Ke ra thì những ông này còn hơn hẳn lũ quan chỉ

vơ vét.

Về thời Bắc thuộc, sử gia ta xưa chép, chừng như thiếu tài liệu, thường chỉ phỏng theo Bắc sử Mà Bắc sử thì rất chủ quan, hay che đậy những cái kém, những tội lỗi và phóng đại công nghiệp của người nưốc họ Dần Lạc Việt đâu có phải đến thế kỷ thứ I do người Hán dạy bảo mối biết đến nông nghiệp.

Các Sắc dân Bách Việt thì Dương Việt (Giang Tây) và Ô Việt (Triết Giang) đã sớm Hán hoá, kế đến Mân Việt cũng theo đà ấy Còn Đông, Nam Việt (Quảng Đông) và Tây Âu Việt (Quảng Tây) cùng chung sô" phận với Lạc Việt ta nhưng sau rồi cũng Hán hoá, mất gốc Riêng người Lạc Việt có truyền thô"ng yêu giông nòi, yêu đất nước, tiềm tàng từ đòi nọ sang đòi kia vẫn son sắt vững vàng giữ được tiếng nói và phong tục nên sau hơn hai ngàn năm Bắc thuộc lại khôi phục được nền độc lập

TÌNH HÌNH DÂN Âu LẠC DƯỚI THỜI BẮC THUỘC

Sau khi Thục An Dương vương thua quân, nước ta sa vào vòng Bắc thuộc trước sau hơn hai ngàn năm Nhân dân Âu Lạc làm nô lệ cho quan lại tướng sĩ người Hán, sông cơ cực gian khổ, bị bóc lột tàn khốic Dưới thòi thuộc Triệu còn đỡ Từ ngày thuộc Tây Hán, ngoài thuê" má nặng nề, còn phải chịu lao dịch khó nhọc và

Trang 25

nguy hiếm như xuông biển mò trai ngọc, bắt đồi mồi, lên rừng săn voi lây ngà, bắt tê giác lấy sừng, cùng kiếm gỗ quý hương liệu Đôi với Trung Cỉuôc, Giao Chỉ là vùng xa xôi, nóng nực, đầy lam sơn chướng khí, nhiều người đi không về Có quan lại được bổ nhiệm

về đó, không chịu sang nhậm chức vụ, bị trách phạt, có cả trường

hựp cố ý thoái thác, bị giết Quan, tướng người Plán, một khi đã

nhận việc, thấy đất này có nhiều thố sản quý thì sinh lòng tham, liền vơ vét làm giàu Thê người đô hộ mạnh, triều đình ở xa, dân bản xứ bị trị đê sai khiến nên tha hồ làm mưa làm gió, nhặt nhạnh cho đầy túi tham Nhiều người tham bạo, trắng trỢn hà •hiếp nhân dân, tước doạt vàng bạc của báu, biết rằng bị thù oán nhiều thì một khi đã kiếm dược khá, bèn xin đối đi nơi khác, hoặc trơ về trung nguyên Có những người khác, khôn ngoan hơn, một mặt vơ vét đấy nhung không quá tệ lắm, một mặt giả nhân giả nghĩa, làm vài công việc ích nhỏ đê mua chuộc lòng dân, ở lại lâu một chỗ, tích cóp dần trong vài năm cũng được vô vàn Chúng nói rằng Giao Chỉ giầu lắm nên quan lại sang đấy, trở về giầu có là sự thường Quan cấp trên kha khá thì quan cấp dưới cũng đỡ phần nào, cấp trẽn gian tham thì cấp dưới càng thậm tệ Chỉ có tham nhũng nhiêu hay ít, còn thanh liêm kê rằng sự lạ Dân khốn khổ không kêu vào đâu được Thưa kiện lên thượng cấp thì thượng cấp thường cũng chỉ là một giuộc, có ích chi Chính quyền trung ương Hán dường như cũng dung túng các lưu quan tham nhũng, chỉ cốt sao phú công thu được nộp về đầy đủ Tuy vậy, cũng có trường hỢp tham quan bị bắt làm tội thì chỉ là hãn hữu Bọn quý tộc bản xứ làm tôi mọi cho quan người Hán, vì quyền lợi riêng, xu phụ chúng, còn làm trưng gian cho chúng vơ vét là khác, không còn kê gì đến tình đồng loại nữa

Suôt hơn hai ngàn năm Bắc thuộc có đến hơn trăm thứ sử, châu mục, tiết độ sứ và năm bảy trăm thái thú, huyện lệnh người Hoa, mà sử chép mươi lăm người tôt Đến như Sĩ Nhiếp xưa được các nhà nho ca tụng mà có đòi sông rất đế vương, huy hoàng hơn

cả Triệu Vũ vương Đà; lại hàng trăm triều công nhà Hán trước, nhà Ngô sau rất hậu hĩ Nếu không vơ vét nhiều của cải của dân

ta thì lấy đâu ra?

Trong thời Bắc thuộc, có nhiều người Hán di cư sang lập nghiệp bên xứ ta, đủ mọi hạng Có quan lại, bính sĩ được cử sang rồi ỏ hẳn lại, có tù nhân bị phát vãng đem sang, có quý tộc trong buổi loạn lạc bỏ chạy vào nơi xa xôi nhưng yên tĩnh này, có những

Trang 26

kẻ có tội bỏ trốn, người nghèo khổ trôn nỢ kéo đến kiếm ăn do nghe được nói xứ ta giần Lại có quan lại dân người họ hàng, thân thích sang khai thác tại nơi có nhiều đất hoang Qua một vài thế

hệ, nhất là ở trung châu bắc Việt, những người này Việt hoá Riêng tại Hợp Phố" (châu Khâm, châu Liêm, Quảng Đông ngày nay), khách đông hơn chủ, do thổ dân dưới triều Ngô bị bắt đi mò ngọc trai cực nhọc quá, sô" đông phải bỏ đi nơi khác, dân Việt còn ở lại bị Hán hoá Vì vậy, ta mất hẳn đất này cho Trung Quổc

Cũng có những người Việt sang ử hắn bên Trung Quốc rồi Hán hoá Sô" người này không nhiều, gồm có cả đàn bà, con gái và trẻ con

bị đưa đi bán làm tỳ thiếp hav gia nô, thợ khéo bị dụ dỗ hay ép buộc sang hành nghề, tù binh - tức những nghĩa quân chống đô"i bị thua trận bị bắt hay quv hàng, bị đưa sang làm việc khổ sai, những người quan Hán nghi ngờ chông đôi phải bắt đem đi xa để không còn hành động được gì nữa Lại cùng có người Việt được triều đình Trung Quốc

bổ dụng làm quan như Lý Tiến, Lý cầm triều Hán, anh em Khương Công Phụ, Khương Công Phục đời Đường

sứ Quang Vũ bãi chức đô uý và đô uý thừa, cho thái thú kiêm giữ, chỉ khi có biến mới đặt lại chức ấy Dưới thái thú có các tào duyên

sứ phụ trách, lại có thêm các chức diêm quan, thiết quan (Chính quyền đô hộ giữ độc quyền muối và đồ sắt)

Dưới cấp quận là cấp huyện Dứng đầu huyện to là huyện lệnh, huyện nhỏ là huyện trưởng, giúp việc có hai viên uý và một viên thừa, cũng lập tào để làm việc, hàng năm thu thuế nộp lên quận

Bộ máy quan lại tổ chức lại chặt chẽ và đông hơn trước Ach bóc lột tàn khốc

Xưa việc trị nhậm các huyện đều do quý tộc bản xứ là các Lạc hầu, Lạc tướng, có thể tập Quang Vũ cải cách, dùng lốì bổ dụng Duy có nhiều quý tộc vẫn còn đưỢc dùng nhưng triều đình đặt quan người Hán ở bên, nói là đê giúp việc, nhưng thực ra là đê giám sát.Các huyện thòi hấy giò lớn lắm Quận Giao Chỉ có 10 huyện, Họp Phô" 6, Cửu Chân7, Nhật Nam 5

Trang 27

Thòi ấy, ở xứ ta có được sự cải tiến nông nghiệp, phổ biến việc dùng điền khí: Cày, bừa, mai, cuốc bằng sắt thay đồ bằng đồng thau lạc hậu Có điều là dân ta chưa biết khai mỏ sắt và rèn đúc đồng sắt, phải mua của người Trung Quốc Chính quyền đô hộ lại giữ độc quyền bán đồ sắt cũng như muôi nên nông dân ta phải mua vói giá quá đắt.

KỶ TRƯNG VƯƠNG

Tên huý hai bà Trưng các sách sử viết bằng chữ quốc ngữ

mẫu tự La tinh đều chép bà chị là Trắc (phụ âm TR), bà em là Nhị (dấu nặng) Nhưng do sự khảo cứu lại thì thực ra bà chị là Chắc (phụ âm CH), bà em là N hi (dấu huyền) Theo lời truyền tụng của

dân xã Hạ Lôi, quê hương hai bà, thì do nhà nuôi tằm, kén tôd nhất gọi là kén chắc, kén loại hai gọi lả kén nhì, còn loại ba là thứ xấu Hai bà được đặt tên Nôm Người xưa viết sử chữ Hán, do tiếng Hán - Việt không có chữ chắc và chữ nhì là tiếng Nôm, nên

viêt là Trắc và Nhị có dấu cá bên Có thế là qua tam sao thất bản,

dấu cá bên đã bị bỏ đi Đến khi phiên âm ra chữ quổic ngữ, người

dịch trước đã viết là Trắc và Nhị, rồi người sau cứ theo thế.

Tên huý chồng bà Chắc là Đặng Thi Thi là tên chứ không phải họ Tiếng sách là chữ viết sau chữ thi trong câu văn Điều

này mấy học giả đã thừa nhận Các bản sử quốíc ngữ chép là Thi Sách tuy có bản chú thích thêm ông họ Đặng.

Có người cho rằng; Ngày nay ta đã quen gọi là Trưng Trắc, Trưng N hị, Thi Sách thì đây đã thành tên mới rồi, có thể gọi các

nhân vật lịch sử ấy như thế cũng được

lìÀ TRUN(Ỉ KHỞI NGHĨA

Năm 34, Hán đê Quang Vũ cử Tô Định sang làm thái thú quận Giao Chỉ Định tham tàn, bạo ngược, chính trị ác liệt Dân chúng đều oán giận, nhiều nơi mưu toan nổi dậy chông đôl Năm

39, Định tàn sát nhiều người ở Đông Triều và ở Duyên Hà, do không chịu phục tòng mệnh lệnh của y và rục rịch khởi sự tranh đấu vũ trang

Bà Trưng Chắc, con quan lạc tướng Mê Linh vùng Phú Thọ

và Vĩnh Phúc Yên ngày nay - là người tài trí, giỏi võ nghệ, lấy chồng là Đặng Thi, con quan Lạc tướng Châu Diên - vùng Sơn Tây, Hà Đông, VNSL ghi là phủ Vĩnh Tường, Vĩnh Yên Hai nhà quý tộc kết thân, được dân chúng mến phục Tô Định rất e ngại

Trang 28

Đặng Thi thấy Định tàn bạo, nhiều lần gửi thư can gián, một mặt ngầm lo toan dấy quần khỏi nghĩa Định biểt rõ, hắt ông giết luôn, tương dùng chính sách khủng bô^ dập tắt được mẳm mông nổi loạn, không ngò lại khiến dân chúng càng thêm oán ghét Bấy giò

là năm 40, khắp mọi nơi trong xứ đều xôn xao muôn nôi dậy

Chồng bị hại, bà Trưng dũng cảm, quyêt tâm mưu đồ việc lớn, vũ trang khởi nghĩa, đánh đổ chính quyền đô hộ, hắt giết bọn quan lại tướng sĩ Hán tham tàn, báo thù chồng và cứu dân khỏi

vòng đồ thán Bà được em là Nhi hết lòng giúp đỡ khơi sự Hai bà

thông đạt giấy tờ đến các vị Lạc hầu, Lạc tướng, bồ chính khắp các huyện đất nước Âu Lạc cũ thuộc các quận Giao Chỉ, Hợp Phô", cửu Chân, Nhật Nam, hẹn nhau cùng nổi dậy chống lại chính quyền nhà Hán, khôi phục độc lập nước nhà Một mặt cử người đi khắp các nơi trong xứ chiêu mộ người ra nhập đoàn quân nghĩa dũng Nbân dân ta thâm thù lũ quan tướng đô hộ tham ác, đua nhau xin tòng quân, không chỉ trai tráng, mà đàn bà con gái cũng nô nức không kém Hai bà rèn đúc vũ khí, tập luyện quân sĩ võ nghệ, không những chỉ trong rừng sâu, mà ngay cả ở đồng hằng Dân chúng không ai tô" cáo với chính quyền đô hộ Tỗ Định cũng có sai tướng đem quân đi đánh dẹp nhưng quân sĩ người bản xứ, do đã được truyền từ trước, lại bỏ đi theo nghĩa quân, giở giáo đánh lại cấp chi huy người Hán Khắp xứ nhất là ở quận Giao Chỉ, nơi nào cũng có nghĩa quân tụ họp thành những toán to, nhỏ, nam, nữ ngày đêm luyện tập Tướng Đô Lương hưng binh các đạo cửu Chân, Nhật Nam kéo ra phụ giúp Chỉ trong mấy tháng, hai bà kiếm điểm lực lượng trong quận, thấy đã có đủ để tấn công, liền tập hỢp quân đội, thẳng tiến đánh vào thủ phủ quận Giao Chỉ Binh sĩ người bản xứ trong thành, phần đông đã đào ngũ, sô" còn lại bấy giò cũng bỏ chạy sang nghĩa quân Quân sĩ người Hán chông lại rất kém Tô Định hoảng sỢ, cùng lũ quận thừa, trưởng

sứ, đô uý vội vã bỏ chạy sang quận Nam Hải

Nghĩa quân làm chủ thủ phủ Giao Chỉ Lòng người phấn khởi Hai bà cùng các tướng chia quân đi thu phục các huyện xa gần Quan lại hĩnh sĩ Hán bị giết hay hỏ chạy xa Tại nhiều huvện nghĩa quân chưa kịp đến mà chúng đã vội bỏ đi Không riêng quận Giao Chỉ, nhân dân các quận Hợp Phô", cửu Chân, Nhật Nam cũng lần lượt nổi dậy theo gương hai hà, quét sạch trên đất nước

lũ quan quân người Hán Trong không đầy một năm, nghĩa quân thu phục 65 thành trì cõi Lĩnh Nam (con sô" e có quá đáng: Bấy giờ

Trang 29

trong 4 quận chỉ có 28 huyện Hoặc giả người Hán có đặt đồn bóp tại nơi hiếm yếu, cũng xây dựng thành chàng?).

Theo gương dân Lạc Việt, dân Nam Hải, Tương Ngô và Uất Lâm cũng có nhiều nơi nổi dậy chông đôl chính quyền nhà Hán Điều này quổc sử và Bắc sử không chép nhưng tại Lưỡng Quảng nay còn có những đền thờ bà Trưng thì việc này tất phải có thật, ớ ĩch Châu xa xôi cũng có nghĩa quân nối dậy giết bọn trưởng lại Thái thú Phồn Thăng vất vả đánh dẹp mãi không xong

Công cuộc khơi nghĩa thành công mau chóng, giang sơn thu lại thành một môl Các tướng lĩnh tôn bà Trưng Chắc lên làm vua Đất nước Au Lạc lại phục hồi Bà lên ngôi, đóng đô ở Mê Linh là nơi quê nhà, tôn mẹ Man Thiện làm hoàng thái hậu, phong em Trưng Nhì làm Bình Khôi công chúa, cử tướng Đô Lương trấn thủ hai quận cửu Chân và Nhật Nam, phân phối các tướng đi trị nhậm các huyện, phong các nữ tướng làm công chúa

Bà Trưng lãnh đạo khơi nghĩa thuộc giới quý tộc Chồng bà cũng thuộc giai câ"p này Bà vừa hô hào thì Lạc hầu, Lạc tướng khắp nơi răm rắp hương ứng ngay, hăng hái chỉ huy dân chúng nối dậy chông đôl chính quyền đô hộ, toàn dân cùng khởi sự

Trước các vua Triệu và Tây Hán vẫn dùng các quý tộc bản

xứ, lây người Việt trị người Việt Chính sách này ít gây mâu thuẫn giữa quan lại người Hán với các Lạc hầu, Lạc tướng, lại dùng được

họ làm tay sai đắc lực Dân chúng bị bóc lột tàn khôL, thâm oán chính quyền đô hộ nhưng trình độ hiểu biết thiếu, không có người tài giỏi lãnh đạo vũ trang chông đôi Đến Hán Quang Vũ phục quôc ban hành chính sách trực trị do rất e sợ bọn quý tộc, một khi mạnh lên sẽ chông đôl lại nhà vua: Vương Mãng vôn là nhà quý tộc Lạc hầu Lạc tướng ít được dùng, lại còn bị người Hán giám sát Quyền lợi bị xâm phạm chúng bất mãn nên lãnh đạo quần chúng chông lại chính quyền đô hộ

có 8000 quân tinh nhuệ Trường Sa, Quế Dương, 12000 quân các

Trang 30

nơi khác Thiiỷ quân có tới 2 ngàn thuyền lớn nhỏ Năm 41 xuất quân, Mã Viện là đệ nhất danh tướng bấy giò, từng có nhiều chiến công lớn, đã ngoài 70 tuổi, còn khoẻ mạnh làm tổng chỉ huy, Lưu Long làm chức phó.

Đường bộ kỳ khu, quân lính trèo đèo vượt suôi khó nhọc Tiền quân phải phá rừng, làm đường nên tiến rất chậm Chúng phải đi men bò hiến, song song với thuyền thuỷ quân, hỗ trỢ nhau

mà tiến

Tiền quân giặc xâm nhập đất nước Hai bà đem quân chặn đưòng đánh, vây hãm chúng ở bên hồ Lãng Bạc (Hồ này không phải là Hồ Tây ở ngoại thành Hà Nội như trước đây sử gia đã lầm,

mà ở gần lị sở quận Giao Chỉ hấy giò, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh, huyện Tiên Du Có thuyết ở vùng hai huyện Lang Tài và Gia Bình) Quân lính Hán không phá được vòng vây, bị hãm gần một tháng, mất tinh thần, lo sỢ bị đói Trung quân và hậu quân kịp tiến đến, ngoài đánh vào trong phá ra, bọn Mã Viện mới đưỢc giải thoát Quân lính Hán võ nghệ cao cưòng, lại đông đúc, có khí giới sắc bén, hội nhau lại đánh vào đô thành Mê Linh mãnh liệt Quân hai bà địch lại không nổi Sau mấy trận kịch chiến không lợi, hai

bà rút quân vê đóng ở cẩm Khê (có tập sử chép ở Kim Khê, nay là huyện Cẩm Khê Phú Thọ chăng? VNSL chú thích là phủ Vĩnh Tường, Vĩnh Yên) Mã Viện đem toàn lực tiến đánh Trận giao phong vô cùng kịch liệt diễn ra ngày 6 tháng 2 âl năm 43 tại cửa sông Hát, nay là xã Hát Môn huyện Phúc Lộc, Sơn Tây Hai bà cùng các tướng quân Lê Chân, Hoàng Thiều Hoa, Nguyễn Đào Nương, Phùng Thị Chính đều anh dũng bỏ mình tại trận tiền Nhiều tập sử ta đều chép hai bà thế bức, gieo mình xuông sông Hát Giang tự tận Nơi đây là chỗ sông Đáy chảy vào sông Hồng.Người nước nhớ ơn hai bà, lập đền thò tại xã Hạ Lôi huyện Yên Lãng, Phúc Yên, nơi quê hương; xã Hát Môn huyện Phúc Lộc, Sơn Tây, nơi chiến trận cuối cùng; xã Đồng Nhân huyện Thanh Trì gần

Hà Nội; xã Quy Phú huyện Nam Trực, Nam Định (Cả hai xã Đồng Nhân và Quy Phú, dân làng đều nói rằng thi thế hai bà trên sông Hồng trôi về, người lảng vớt được, xây mộ phần, lập đền thò)

Bắc sử có tập chép: Bà Trưng thấy Mã Viện anh hùng, quân Hán tài giỏi, cìã xin hàng và tình nguyện xin làm thiếp Đây là lòi người phương hắc nói láo, hạ nhục vị nữ anh hùng nưốc ta Hai bà oanh liệt đâu

có thế Sách Việt chí của Thấm Hoài Viên người Hoa lại chép: Trưng Chắc

Trang 31

chạy sang Kim Khê ẩn náu, sau khi thua trận Hai năm sau, bị dân chúng bắt đem nộp cho quan quân nhà Hán Đây cũng là lòi nói láo Đất nước ta không nơi nào có hang Kim Khê Khu cẩm Khê, từng có tên là Hoa Khê, nay thuộc Phú Thọ, không có vết tích gì về bà Trưng Dân nước

ta thâm thù lũ quan lại nhà Hán và kính phục bà Trưng như thần thánh, đâu có ai phản bội bắt đem nộp cho giặc nếu bà có chạy đến ẩn náu.

Sử gia Lê Vàn Hưu bàn; Trưng Chắc, Trưng Nhì là đàn bà, hô một tiếng mà các quận cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phô’ và 65 thành ở Lĩnh Nam đều hưởng ứng, dựng nưốc xưng vương, dễ như trơ bàn tay, đủ biết tình thê đất Việt ta có thê dựng được cơ nghiệp lớn Tiếc rằng trong hơn ngàn năm, bọn đàn ông chỉ cúi đầu làm tôi mọi cho người phương bắc Trần Trọng Kim phê bình: Bà Trưng làm vua đưỢc ba năm nhưng lấy tài chí người đàn bà mà dấy được nghĩa lốn như thế, khiến cho vua tôi nhà Hán phải lo sỢ, ấy cũng đủ đế tiếng thơm vê muôn đời.

Công cuộc khới nghĩa của bà Trưng thành công chỉ mong manh, sớm bị đàn áp, nhưng ảnh hưởng lớn đã đánh thức lòng dũng cảm của người dân táo bạo nổi dậy khi bị đè nén quá độ, giác ngộ lòng yêu nước, yêu đồng bào cùng nhau mưu hạnh phúc chung Sau bà Trưng luôn luôn

có những vụ vũ trang khới nghĩa chống lại chính quyền đô hộ, không còn chịu ép một bê như trước nữa.

Xứ ta thuộc Hán từ năm 111 tr CN, chính quyền đô hộ tàn ngược, mà suôt 150 năm không có cuộc nổi dậy chống đô’i quy mô lốn nào Đến khi bà Trưng hô hào thì khắp nơi trong bô’n quận đểu nhiệt liệt hưởng ứng Theo các nhà sử học kiêm chính trị xã hội học thì trước

đó quý tộc bản xứ bị vua quan nhà Hán lợi dụng làm tay sai cho chúng, xu phụ họ, không đi đôi với đồng bào bị áp bức Đến thòi Quang

Vũ, các Lạc hầu, Lạc tướng không còn được trọng dụng nữa, quyền lợi

bị xúc phạm nặng nể nên mới sát cánh với đông đảo quần chúng bình dân chông lại nhà Hán.

Chiến thắng xong đại quân Trưng vương, Mã Viện cùng Lưu Long, Đoàn Chi tiếp tục tiếp tục đi đánh chiếm thành trì thuộc các huyện quận Giao Chỉ, kế đến quận Hợp Phô" HỢp Phô" trên đưòng Bắc quô"c sang ta, Mã Viện không đánh quận này trước mà tiến quân thẳng đến Giao Chỉ mưu triệt nơi đô kỳ thì nhân dân mọi nơi xa mất tinh thần, dễ bị đánh thua Quân Hán đi đến đâu đều giết hại quân dân ta nhiều, lại vơ vét chiếm đoạt của cải, nhất là trông đồng và đồ đồng Chúng tịch thu tài sản các quý tộc dù không dự cuộc chông đôi, đã chết hay đã chịu hàng Rất nhiều

Trang 32

trông đồng và đồ đồng bị thu đem về dâng vua Hán Việc bình định Giao Chỉ và Hợp Phô" kéo dài suô"t năm 42.

Sau đó, Mã Viện cho quân sĩ nghỉ ngơi ít bữa Sang nửa cuôl năm 43, giặc lại tiến vào miền trong, đánh chiếm hai quận cửu Chân và Nhật Nam Tướng Đô Dương ngăn giặc ở Vũ Công (Ninh Bình?) bị đánh thua phải chạy Mã Viện tiến quân vào Thanh Hoa Tướng Chu Bá kháng cự mạnh, cũng không nổi, phải rút vào rừng Quân dân ta ở Vũ Biên (Nông Công, Tĩnh Gia) và Cư Phong (Thọ Xuân và Đông Sơn đều thuộc Thanh Hoá ngày nay) chông cự kịch liệt, oũng không lại Hàng trăm tướng suý bị chém Quân dân đất Cửu Chân vẫn còn chông cự lai rai, chưa chịu phục Sau gần một năm, Mã Viện mới bình xong Bọn Đô Dương kiệt lực, sau phải xin hàng

Các huyện thuộc quận Nhật Nam không chống nối với giặc thê hung dữ, lần lượt phải mất Tướng Tam Quang cũng phải xin hàng

Mã Viện vơ vét, nhặt nhạnh của cải của dân ta vô sô", không biết chừng nào mà kế

Bình định xong xứ ta, Mã Viện bắt hết thảy các quý tộc và cả những người có chút uy thê chính trị, đến ba trăm người, cho đưa

cả sang ở tỉnh Hồ Nam, không còn liên lạc gì nữa với đồng bào ta Rất ít các quý tộc đào tẩu được vào rừng sâu, thoát nạn Riêng các quý tộc Thái, Mường trong rừng sâu xa xăm không bị

Từ đấy, các huyện do các quan người Hán cai trị, đều là người của triều đình bổ dụng

Mã Viện dựng cột đồng lớn ở biên giới ghi công chinh nam

của mình, có khắc sáu chữ: Đồng trụ chiết, Giao C hỉ diệt (cột đồng

gãy thì toàn dân Giao Chỉ bị giết hết) Có lòi truyền tụng rằng: Người xứ ta qua đấy, thường lấy đất đá chất vào, lâu ngày thành

gò đông, do sỢ cột đồng gãy Thuyết khác cho rằng chính người Hoa đã lấp cột đồng ấy đi, đế lâ"n đất biên giới ĐVSKTT chép: Cột đồng được đặt ơ động Cổ Lâu thuộc Khâm Châu VSTGCM lại chép là động Cố Sâm, Đào Duy Anh cho là đúng hơn

Chuyện cột đồng Mã Viện thuộc về truyền thuyết Có người

cho là không chắc có thật Nhiều người đời sau cho là đặt ở các nơi

khác nhau, từ biên giới Việt - Trung đến núi Ngự, đồng trụ gần đèo Đại Lĩnh, đều thấy khó tin cổ Sâm là động phía nam Khâm Châu, gần biên giới nước ta Lại có thuyết cột đồng dựng ở khoảng phía hắc sông Gianh, nam Hoành Sơn, tại biên giới của Giao Chỉ, không phải ỏ hiên giới phía bắc, không rõ đâu là đúng

Trang 33

Theo thiển ý, cột đồng dựng ở biên giới bộ (ỉiao Chỉ bấy giờ thì phái là

bắc Hợp Phô, (lất cũ Áu Việt nhà Thục, nay thuộc Quảng Đông Trung Quốc.

Chiếm đoạt xong đất xứ ta, Mã Viện chỉ định lại các quan lại vua Hán cử sang làm những chức thái thú, huyện lệnh Viện có chia cắt lại các địa hạt huyện nhỏ hơn Việc cai trị của nhà Hán bấy giờ có mưu đồ Hán hoá dân tộc ta

Về kinh tê, Viện có làm được vài việc công ích, như đào ngòi bắc máng dẫn nước vào ruộng Viện lại có một số" binh sĩ khai khẩn đất hoang, lập thành làng ấp, thành lập những nhóm người Hán, gọi là Mã Lưu trên xứ ta

Năm 44, Viện mới trở về Trung Quốc

Hắc sử chép: Viện sang ta, thích ăn món ý dĩ, cho là ý dĩ trừ được chướng khí Khi về nước, mang theo về mấy xe ý dĩ Có người tâu với vụa Quang Vũ rằng Viện đưa về mấy xe vàng bạc châu báu Vua Hán ng('j oan lão tướng Viện sang tạ vơ vét của cải dữ quá lắm Khó tin mấy xe ý dĩ đó toàn là ý dĩ cả.

Sau Mã Viện, năm 80 tuổi, còn đi đánh Ngũ Man Khê ó đấy, Viện đã đưcíc như lòi nguyện, da ngựa học thây nhưng không

vì tên đạn, mà vì bệnh sốt rét rừng, cùng véii một sô lớn quân đội viễn chinh.

F»HỊJ LỤC VỂ KHỞI NGHĨA BÀ TRUNG

Quốc sử chép: Quân đội của hà Trưng là quân ô hỢp, có lẽ vì thấy đã bị quân đội Mã Viện đánh thua Điều này hoàn toàn sai lầm, cần phải cải chính Tô Định làm thái thú, dưới quyền ngoài các quan văn, còn có các tướng giữ chức đô uý và đô uý thừa, chỉ huy nhiều quân lính người Hán, mạnh mẽ Đạo quân ô hỢp thì làm sao đánh đuổi nổi họn này thua chạy được? Tất nhiên, quân đội của hà phải hùng mạnh và phải có kỷ luật lắm mới thắng đưỢc chúng Lại có thê rằng Tô Định thua chạy về nước còn sông phóng đại thêm lực lượng của bà đê nhẹ tội mình Cho nên triều đình Hán mới xôn xao, phải cử Mã Viện là đệ nhất danh tướng thời bấy giò đi đánh, chứ không cử tướng tẩm thường nào khác Mã Viện trước khi ra đi, nói: “Làm trai phải lấy sự da ngựa nơi chiến trường làm vinh” Đây là lòi cương quyết Nhưng phải là trước đó

đã e ngại Nếu chỉ coi là cuộc hành quân tảo thanh thì cứ bình tĩnh ra đi, can chi phải thôt ra lòi đanh thép Chính Mã Viện khi

Trang 34

ra đi cũntí' không dám chắc chắn sẽ thắng nên mới nói đến sự da ngựa bọc xương Khi quân Hán xâm nhập bò cõi ta thì tiền quân

bị đánh chặn, rồi hị vây hên hồ Lãng Bạc hàng tháng, hinh sĩ Hán

đã lo sỢ, hản thân Mã Viện cũng đã ngại ngùng Đạo quân ô hỢp thì làm sao lại hùng cường đến thế được Sau khi chiến thắng, Mã Viện tự đắc mình đã lập được kỳ công nên mới dựng cột đồng để

kỷ niệm Nếu chỉ là đánh bại đưỢc đạo quân đàn bà ô hỢp thì công lao có chi đáng kê Xét như vậy thì quân đội của bà từng có chiến công lớn, phải hùng tráng dũng cảm lắm, đâu có phải là tầm thưòng Sở dĩ bị đánh thua là gặp phải đôl phương lực lượng quá n\ạnh quân sĩ có vóc người to lớn, nhiều sức khoẻ lại được tập luyện kỹ càng, từng dày dạn qua nhiều chiến trận, lại có vũ khí sắc bén hơn cùng chỉ huy bởi tướng đại tài

Về cái chết của hai bà thì phải thừa nhận là hai hà đã bỏ mình tại trận tiền Vì nước, vì dân, chết trận vinh dự Người nưốc

ta xưa có quan niệm sai lầm cho thế là sự không hay nên sử gia viêt khác đi Bắc sử chép hai bà chết tại trận Riêng về điểm này

ta phái tin họ hơn là quốc sử Sách Việt Điện u Linh cũng chép

hai hà thế cô, phải tử trận VSTGCM, ĐNQSDC và VNSL và sách

Nam H ải dị nhân đều chép là hai bà nhảv xuông sông tử tận

ĐVSKTT chép không rõ ràng, chỉ nói quân chạy tan cả, thế cô,

đều thua chêt Ngô Thì Sĩ trong Việt Sử tiêu án viết hai bà mất

tích sau khi thua trận Thần tích xã Hạ Lôi Phúc Yên nói hai bà bay lên tròi và dân xã này vào đền thờ kiêng màu đỏ (màu máu) Bay lên trời chỉ là một cách nói là đã chết

('hỉ có hà Trưng Chắc mới xưng làm vua Bà em Trưng Nhì chỉ nhận là Bình Khôi công chúa, lúc nào cũng ỏ bôn giúp đỡ bà chị, chứ khỗng phái cùng làm vua

CÁC TƯỚN í ; lĩn h CIÌA BÀ TRưNíỉ

Nữ tướng dưới trướng Bà Trưng, có các bà:

Lê Chân, người xã An Biên, huyện Đông Triều Cha là Lê

Giao, bị Tô Định giết Bà đem gia quyến ra lánh ở chỗ nay là thành phô" Hải Phòng Sau theo Bà Trưng khởi nghĩa, được giao pho việc rèn luyện quân sĩ Tham chiến đánh đuổi Tô Định, được phong là Thánh Chân công chúa Đền Nghè Hải Phòng thò hà

Hoàng Thiều Hoa, người động Lăng Xương nay thuộc vùng

Thanh Sơn, Thanh Thuỷ, Phú Thọ Có tư sắc, nên đã là nạn nhân của thời cuộc, phải ẩn thân vào chùa Song Long Quan Theo Bà

d4

Trang 35

'IVưng dấy quân, lập được nhiều công, được phong là Đông Cung tướng quản.

Nguyển Đào Nương, người gò Bảo Tháp xã Sùng Đầu, khu

Ba Vì, Sơn Tây Có lập nhiều công với Trưng triều Không rõ được phong chức gì

Phùng Thị Chính, người xã Phú Nghĩa trang, sứ Sơn Tây

Có chiên công, đưực phong chức Thị Nội nữ tướng quân

Bôn hà này đều anh dũng bỏ mình cùng với hai bà Trưng trong chiến trận kịch liệt ở Cửa Hát

B át Não Phù Tướng, không rõ tên huý, chồng là tướng

Trương (ỉuán Bà cùng quê với Nguyễn Đào Nương, cũng là dũng tướng cua bà Trưng, từng bị tám lần tai nạn, được phong là Bát Nạn công chúa Bà sống sót sau khi Trưng Vương thua trận, không liên lạc được với quán cửu Chân, chạy lạc lõng về Thái Bình bây giờ, vào tu ơ ngôi chùa xã Tiên Lữ, huyện Duyên Hà Bà vẫn dạy võ nghệ cho thanh niên nam nữ, lại dạy trẻ con trò chơi đánh quả phết hằng gậy, vẫn nuôi hy vọng một ngày kia khởi nghĩa trở lại Tại xã Tiên Lữ nay còn đền thờ bà

Phạm Thị Côn người xã Thưọng Lỗi, nay là ngoại thành

Nam Định Trong chông nhau với qưân Hán, bà đương giữ chức trấn thủ khu Nam Định Sau chiến thắng bà Trưng, Mã Viện xuôhg đánh miền nam, thê rất hung dữ Bà biết thế quân mình không chôhg lại nổi, ra lệnh giải tán binh sĩ, rồi gieo mình xuổng sông Nam Định tự tử Nay ở xã Thượng Lỗi có đền thờ bà

Ngọc Lâm , chủ tướng các đạo quân Sơn Nam, người lớp đầu

tiên đem quân phôi hỢp với các đạo nghĩa quân miền trung châu bắc Việt, được phong là Bình Tây đại tướng quân, cùng hai bà Trưng tiến quân vào đánh thủ phủ quận Giao Chỉ, đánh đuổi Tô Định Chung cuộc ra sao không rõ, chỉ biết được phong là Thánh Thiện công chúa, ngang với Thcánh Chân công chúa Lê Chân

Ngoài ra còn có các bà:

Mỹ Đào Nương công chúa (có thể cũng là bà Nguyễn Đào Nương)

Mỹ Quế Nương công chúa, em bà Mỹ Đào Nương

Hoàng Hà Nhập Nôi công chúa

Đều không rõ lý lịch

Nam tướng, có các ông:

Trương Quán, chồng bà Bát Nạn, đưỢc lệnh cầm quân giữ

mặt Lạng Sơn, chặn giữ vùng khu hiểm yếu ấy Quân Mã Viện phải mở đường theo dọc bò biển mà sang Sau khi Trưng vương

Trang 36

mất rồi, quân Hán kéo lên vây đánh ông ở mặt sau ông bị thua,

tử trận Tại xã cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, Hải Dương, nay còn có

đền thờ

Cao Doãn, chồng bà Nguyễn Đào Nương, tử trận gần cửa sỗng Hát

Định LưỢng, chồng bà Phùng Thị Chính, chết trong đám loạn quân ở khu vực Sơn Tây

Đô Dương trấn thủ hai quận cửu Chân và Nhật Nam

Tam Quang, phó trấn thủ quận Nhật Nam

Hai ông này sau hị Mã Viện vào đánh, chông chọi lại mãi không nổi, sau phải chịu hàng

PHỤ LỤC

L.ỜĨ MÃ VIỆN

Hán có chép lòi Mã Viện (đại ý) rằng: Em trai ta là Thiếu

Du thitờng nói: Người ta ăn ngày không qucá ba bữa cơm, mặc không quá ba manh áo Sông chi’ cần sao khỏi đói rét, được no ấm

là đủ rồi.

Là nên công nghiệp to lớn mà chi? Em chỉ muôn làm tiểu lại, cưỡi con ngựa yếu, là đủ Làm nên công nghiệp to lớn thì phải lao tâm trí, tổn tinh thần, tự mình làm khổ cho mình thôi Ta (lòi Mã Viện) không cho lòi ấy là phải Nhưng khi đi chinh nam, bị vây bên hồ Lãng Bạc, trông đợi hậu quân đến cứu viện mãi không thấy Dưới trướng quàn sĩ xôn xao Nhìn ra chung quanh toàn sơn lam chướng khí Một con ó từ trên cao sa xuôhg đất mà chết Lòng ta buồn rời rỢi RâV giờ, nghĩ lại mới thấy lời em ta không phải là vô lý,

Xem sự kiện này thì thấy rằng; (ịuân đội bà Trưng đã chiến

đấu mãnh liệt lắm Điêu sử cũ nói “Nữ nhi chông với anh hùng

được nao", quân của bà là quán ô hỢp, gặp quân Hán thì sớm tan

vỡ, là không đúng, sở dĩ vẫn bị thua là vì hoả lực địch quá mạnh

Mà Mã Viện phải vất vả lắm mới thắng nổi Sau khi bà khuất, còn phải gần cả năm mới bình định xong Giao Chỉ, qua năm sau mới đánh vào cửu Chân và Nhật Nam, cũng phải lâu lâu mới xong.

KỶ THUỘC ĐÔNG HÁN (LẦN SAU)

Quốc thông vừa phục hồi, sớm bị tan vỡ, đất nước ta lại bị đặt dưới ách đô hộ triều Đông Hán Quan lại người Hán sang lần này cũng như trước kia, đều tham bạo, có phần lại tệ hơn, bơi các huyện lệnh hầu hết là người Hán do triều đình nhà Hán bổ dụng

Trang 37

Trước kia thì do quý tộc bản xứ, dù sao cũng còn đỡ Dân chúng, ngoài thuế má nặng nề, vẫn còn phải lên rừng tìm sừng tê, ngà voi, xuông biến hắt đồi mồi, ngọc trai, khó nhọc và nguy hiểm Nhiều người dân Hợp Phố cực khổ phải đi mò trai dưới biển, phải

hỏ xứ mà đi nơi khác Việc này khiến ta thiệt hại lớn Người Âu Việt còn ở lại không nhiều Mà người Hán kéo đến lập nghiệp lại đông Khách mạnh hiếp chủ Người Âu Việt sau bị Hán hoá nên về sau không còn cùng người Lạc Việt phục quốc nữa Triều đình ở

xa Quan lại tham nhũng tha hồ tung hoành Bắc sử có chép: Năm

54, thái thú Cửu Chân ích Xương bị nhà Hán trị tội vì đã từng sai người đi mua bán sừng tê và nô tỳ, tang vật giá trên trăm vạn Đây là công hằng nếu là trường hỢp duy nhất Nhưng thực sự còn

có bao nhiêu quan lại người Hán, vơ vét không kém, vẫn yên bình hưởng phú quý, sông thừa thãi, lại có nhiều của cải lưu truyền lại cho con cháu, nào có ai hỏi tội

ĐVSKTT có chép: Dưới thời Hán Minh đế (58 - 86), có Lý Thiện, thái thú Nhật Nam, chính trị ân huệ, yêu dân vỗ yên người khác tục Năm 136, Hán Thuận đế cử Chu Xương, thái thú cửu Chân làm thứ sử, tóm coi các quận huyện Ngoài ra không chép sự

Lý Cô" bằc đi, bàn nên dùng người dũng lược nhân huệ phủ dụ thì hơn Hán đế sai Chúc Lương, thứ sử Tinh Châu và Trương Kiều, ích Châu đi bình Nhật Nam Bọn Lương Kiều đến nơi, tỏ rõ uy tín, lâ"y lòng thực dỗ bảo Dân Nhật Nam hàng vạn người hàng phục Năm 144, người Nhật Nam lại đánh đốt quận ấp Thứ sử cửu Chân Hạ Phương gọi những kẻ ra hàng và dỗ bảo

Năm 157, huyện lệnh Cư Phong thuộc Cửu Chân tham bạo, bóc lột không biết chán, dân khổ sở Chu Đạt kêu gọi quần chúng nổi dậy đánh giết huyện lệnh Lực lượng nghĩa quân tăng nhanh chóng đến 4,5 ngàn người, tiến vào quận lỵ Cửu Chân Thái thú Ngô Thúc đem quân ra chông cự, bị tử trận Sau đô uý Nguy Lãnh mới đánh tan được Nghĩa quân chạy vào Nhật Nam, tiếp tục hoạt

Trang 38

động, thanh thế càng thịnh Nhà Hán lại phải gọi Hạ Phương đã đổi làm thái thú Quế Dương sang dẹp Năm 160, Hạ Phương đến quận, dùng uy lực và lòi lẽ dụ hảo Cuộc khởi nghĩa đã chấm dứt.

Năm 170, nhân dân 0 Hử ở biên giới Việt- Trung nôi dậy chống quan lại đô hộ Thứ sử Giao Chỉ Chu Ngưng không đàn áp nối

Năm 178, nhân dân 0 Hử lại dánh mạnh, Lương Long người Giao Chỉ kêu gọi người các quận Hợp Phô, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam cùng nổi dậy, đánh phá các quận huyện Lực lượng nghĩa quân ngày càng cường thịnh đến mấy vạn người, vây hãm các thành ấp, lại liên kết với thái thú Khổng Chi ỏ Nam Hải cùng phản lại nhà Hán, thanh thế càng nổi mạnh Chu Ngung đóng cửa thành cô" thủ, cho người về triều cầu cứu Năm 181, vua Hán Linh

đê sai Chu Tuấn huyện lệnh Lan Lăng đem quân sang cứu Qua quận Côl Kê, Tuấn mộ thêm người nhà hỢp với quân hản bộ hơn

5000 người tiến vào xứ ta Đến biên giới, Tuấn đóng quân lại, cho người vào dò thăm tình thế, dùng án uy để hiếu dụ Sau mới đem quân sang đàn áp Lương Long bị giết tại trận tiền Quân sĩ tan

vỡ Cuộc khỏi nghĩa bị đàn áp năm 181 Lương Long bị dẹp Chu Ngung vẫn tiếp tục chính sách tàn bạo, lại còn hơn xưa Năm 184, quân sĩ trong châu không chịu được nữa, làm cuộc binh biến, bắt giết Ngung, cho người về triều kể tội trạng Ngung Hán Linh đế chọn người tài giỏi, cử Giả Tung (VSTGCM chép Giả Mạnh Kiên) người Lạc Thành Đông quận, trước đó làm ngự sử sang Đến bộ, Giả Tung xét hỏi tình trạng Dân chúng nói thuế má quá nặng nề, trăm họ đều khôn khổ túng thiếu, không sông nổi, không kêu vào đâu được, cho nên phải họp nhau chông thuế, chứ thực không có lòng làm phản Trước đây, những người được bổ dụng đi làm thứ

sử, thái thú, huyện lệnh, thấy đất xứ ta có nhiều của quý( sừng tê, ngà voi, ngọc trai, đồi mồi, lông trả, hương xạ, gỗ tốt),hầu hết không liêm khiết, vơ vét của cải cho đầy túi tham Phú liễm quá nặng, trăm họ xơ xác Kinh sư ỏ quá xa, không nơi kêu oan được, không biết nhò vào đâu mà sông Giả Tung sai người chia nhau đi các nơi khuyên dỗ khiến dân về quê yên nghiệp sản xuất làm ăn, gọi những kẻ lưu vong, tha hết thuế má, rồi đem giết mấy kẻ bạo ngưỢc đầu sỏ, lại chọn quan tốt cho làm quận huyện Trăm họ yên nghiệp thanh bình, Tung coi việc ba năm Sau có Lý Tiến, người Giao Chỉ thay

Cuôl đòi Đông Hán, có Chu Phú, người Côi Kê, sang làm thứ

sử, đem bọn người nhà nhũng nhiễu nhân dân: Một con cá vàng

Trang 39

bắt nộp một hộc thóc thuế Dân oán hận, nổi dậy đánh phá Châu Thành Chu Phú chông lại khỗng nối, phải chạy trôn ra vùng biển rồi trôi dạt m<ât.

LÝ TIẾN , LÝ CẨM

Trong thòi gian xứ ta thuộc nhà Hán, quan cai trị tham nhũng Triều đình lại hạc đãi người hản xứ, dù có học hành thông thái cũng không được giữ việc chính trị Mãi đến đồi vua Hán Linh đê (168 - 189) mới có Lý Tiến được cử làm thứ sử Giao Chỉ

Lý Tiến dâng sớ xin cho ngưòi Giao Chỉ được bổ dụng làm quan như người trung châu, hlán đế chỉ cho những người đỗ mậu tài hoặc hiêu liêm được làm lại thuộc trong xứ mà thôi, không được làm quan ơ châu khác

Bấy giò, có Lý cầm, người Giao Chỉ, làm túc vệ hầu vua trong điện, rủ mấy người đồng hương, giữa ngày đầu năm, các

nước triều hội phủ phục ở sân điện, kêu cầu thảm thiết: ơn vua

ban không đều Nam Việt ỏ xa không được đội ơn, ý rất thành khẩn Hán đế nói chó một người đỗ mậu tài làm huyện lệnh Hà Dương, một người đỗ hiếu liêm làm huyện lệnh Lục Hợp Sau Lý Cầm được thăng quan dến chức tư lệ hiệu uý Lại có Trương Trọng làm thái thú Kim Thành

Nhân tài người Việt được tuyển dụng làm quan như người Hán khỏi đầu từ Lý Tiến, Lý cầm Có thuyết Trương Trọng đã làm quan dưói triều Hán Minh đế, nửa sau thê kỷ I, trước Lý cầm

Sử gia ngày nav có người cực lực chê tránh thái độ của Lý Cầm quỳ lạy khóc lóc thảm thiết, kêu xin với vua Hán là hèn hạ, thiếu nhân phẩm, không ý thức rằng quyền vua thời quân chủ chuyên chế, nhất là hoàng đê Trung Quôh thời xa xUa là vô hạn định, hái (Ịuỳ là giữ lễ phép Việc làm của Lý cầm không có gì phải đáng chê trách, Theo quan niệm của người đòi nay mà phê bình người thời xưa, e không được đúng.

LÂM ẤP DỤlN(ỉ Nước

Thòi xa xưa, hàng ngàn năm trước công nguyên, biên giới phương nam nước ta chỉ đến đèo Hải Vân Bên kia đèo này là tỉnh Bình Thuận ngày nay, có người Hời lập quốc là nước Hồ Tôn xưa Người xứ này thuộc giống Mã Lai - Đa Đảo (Malayo - Polynésien), theo chế độ mẫu hệ, chịu ánh hưởng văn hoá An Độ, theo An Độ giáo

Trang 40

Nhóm tộc Mã Lai - Đa Đảo cư trú rải rác ở vùng ven biển nam và đông nam châu A Bộ phận ỏ miền trung và miền nam Trung Việt, đã dựng thành quốc gia sơ khai, có tính cách một liên minh bộ lạc, không chặt chẽ lắm Đó là nước Hồ Tôn thời vua

Hùng bên ta, gồm hai bộ lạc lớn là bộ lạc Cau tại vùng từ Phú Yên đến Bình Thuận, bộ lạc Dừa vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi và

nhiều bộ lạc nhỏ khác

Khi nhà Hán chiếm đất thông trị nước ta, đặt nền đô hộ thì chiếm luôn giải đất nước Hồ Tôn, lập thành huyện Tượng Lâm, thuộc quận Nhật Nam VSTGCM chép: Năm 102, thòi Hán Hoà

đế, người phía nam quận Nhật Nam hay sang cưốp phá quận này nên nhà Hán mới đặt quan cai trị huyện Tượng Lâm, đề phòng giữ

sự rốì loạn

Cực khổ dưới ách thông trị nhà Hán, dân Tượng Lâm từng hương ứng công cuộc khởi nghĩa bà Trưng Sau luôn luôn nổi dậy chôKg đôl đã từng thắng lợi lớn, như năm 137, bọn khu liên đánh quận huyện, giết trưởng lại; năm 138, đánh vây hơn một năm quân của thự ngự sử Giả Xương Sau đó, người Hán, khi thì dùng mưu xảo quyệt chia rẽ các tướng lĩnh, khi thì dùng bạo lực đàn áp, lập lại nền đô hộ Nhưng đến năm 190, dân Tượng Lâm thành công vững vàng, sau gồm thu các bộ lạc cùng sắc tộc phương nam, lại quật cường đánh chiếm luôn cả đất Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên ngày nay), thành lập nên một quôc gia hùng mạnh, nước Lâm Ap

Xứ Việt Thường xa xưa là một bộ trong 15 bộ dưới thời vua Hùng nước ta, từ Hoành Sơn đến đèo Hải Vân Bộ này sau ly khai, từng giao thiệp với nhà Chu bên Trung Quốíc Nhà Hán chiếm đất

xứ này lập ra quận Nhật Nam Oán ghét quan lại nhà Hán tham bạo, người Việt Thường sẵn sàng gia nhập vào với nước Lâm Ap, rồi đồng hoá với dân nước này

Nhà Hán suy, đành chịu bỏ Sĩ Nhiếp, thứ sử Giao Chỉ không can thiệp Qua các triều đại sau, người Trung Quôc cũng không sao lập lại được nền đô hộ trên đất Lâm Âp nữa

Dòng dõi Khu Liên thất truyền, cháu ngoại Phạm Hùng kế nghiệp

Thế kỷ III, IV, người Lâm Âp thường hay sang cướp phá tại các quận Nhật Nam và cửu Chân, lại còn muốn mở rộng đất đai

ra cả phương bắc nữa

Ngày đăng: 05/11/2020, 09:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w