1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng yêu nước từ trung nghĩa sang duy tân cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX qua tác giả phan đình phùng và phan bội châu

118 345 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điểm đặc biệt và thú vị của Việt Nam trong giai đoạn này là sự thay thế của hệ tư tưởng cũ – mới không diễn ra bởi cuộc cách mạng giữa các lực lượng xã hội đối lập mà âm thầm trong chính

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

TRẦN THỊ CÚC

TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC TỪ TRUNG NGHĨA SANG DUY TÂN CUỐI THẾ KỶ XIX - ĐẦU THẾ KỶ XX QUA TÁC GIẢ PHAN ĐÌNH PHÙNG VÀ PHAN BỘI CHÂU

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Hà Nội - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

TRẦN THỊ CÚC

TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC TỪ TRUNG NGHĨA SANG DUY TÂN CUỐI THẾ KỶ XIX - ĐẦU THẾ KỶ XX QUA TÁC GIẢ PHAN ĐÌNH PHÙNG VÀ PHAN BỘI CHÂU

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 01 21

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Đức Mậu

Hà Nội - 2016

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Cấu trúc đề tài 6

Chương 1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN DẪN ĐẾN SỰ CHUYỂN ĐỔI TƯ TƯỞNG TRONG CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX – ĐẦU THẾ KỶ XX 7

1 1 Thời đại và tương quan lực lượng 7

1.2 Tình hình chính trị - xã hội trong nước 9

1.3 Tình hình văn hóa – tư tưởng 13

1.3.1 Tình hình văn hóa 13

1.3.2 Tình hình tư tưởng 18

Kết luận chương 1 27

Chương 2 TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC TỪ TRUNG NGHĨA ĐẾN DUY TÂN CUỐI THẾ KỶ XIX – ĐẦU THẾ KỶ XX 30

2 1 Giới thuyết chung về tư tưởng trung nghĩa và tư tưởng duy tân 30

2.1.1 Tư tưởng trung nghĩa và biểu hiện của tư tưởng trung nghĩa trong văn học nhà Nho 30

2.1.2 Tư tưởng duy tân và biểu hiện của tư tưởng duy tân trong thơ văn cận, hiện đại 38

2.2 Quá trình vận động tư tưởng yêu nước từ trung nghĩa sang duy tân 49

2.2.1 Chân dung tinh thần của nhà Nho trung nghĩa 49

2.2.2 Bi kịch của Phan Đình Phùng – nhà Nho trung nghĩa 54

2.2.3 Phan Bội Châu và quá trình hình thành tư tưởng duy tân 57

Trang 4

2.2.4 Hình tượng nhà nho kiểu mới 67

Kết luận chương 2 77

Chương 3 SỰ THAY ĐỔI TRONG QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT, SỰ MỞ RỘNG HỆ THỐNG THỂ LOẠI VÀ SỰ VẬN ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG 79

3.1 Sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật 79

3.2 Sự mở rộng của hệ thống thể loại; 88

3.3 Sự vận động của hệ thống hình tượng 100

Kết luận chương 3 105

KẾT LUẬN 107

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Văn học giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX phản ánh quá trình đứt gãy của hệ tư tưởng yêu nước trung nghĩa truyền thống, và sự thay thế của hệ tư tưởng yêu nước duy tân Điểm đặc biệt và thú vị của Việt Nam trong giai đoạn này là sự thay thế của hệ tư tưởng cũ – mới không diễn ra bởi cuộc cách mạng giữa các lực lượng xã hội đối lập mà âm thầm trong chính chủ thể của chế độ cũ – các nhà nho yêu nước

Sống ở thời đại lịch sử biến động dữ dội, trước sự kiện thực dân Pháp xâm lược, vua quan nhà Nguyễn bạc nhược, bù nhìn hoá: ―vua là tượng gỗ‖ khiến nhân dân khốn khổ, bần cùng: ―dân là thân trâu‖, tư tưởng trung nghĩa

ăn sâu từ ngàn đời trong tâm thức các nhà Nho chính thống bị lung lay tận gốc, đi vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng Phong trào Cần Vương do Phan Đình Phùng lãnh đạo là cuộc khởi nghĩa lớn đấu tranh nhằm đánh đuổi thực dân, giành lại ngôi vua, bảo vệ nền hòa bình dân tộc Dù kéo dài đến mười năm, dù tinh thần chiến đấu của chủ tướng và nghĩa quân còn hừng hực song phương thức đấu tranh cũ không thể thắng thế trước loại kẻ thù hiện đại Cần Vương thất bại cũng là sự đổ vỡ của hệ tư tưởng yêu nước cũ - tư tưởng trung nghĩa Để rồi các nhà Nho phải tìm con đường đấu tranh mới xuất phát

từ tư tưởng duy tân hóa Trong hàng chục năm đầu thế kỉ , bên cạnh phong trào yêu nước sôi sục là một phong trào văn học cũng sôi nổi và rất mới

―Khác với thơ văn yêu nước cuối thế kỉ trước, những thơ ca này được viết hàng loạt, nhằm tuyên truyền cho một chủ trương chung duy tân để cứu nước‖ Quá trình chuyển đổi tư tưởng yêu nước từ trung nghĩa sang duy tân diễn ra mạnh mẽ tạo nên sự vận động, thay đổi và phát triển của thơ văn yêu nước cuối thế kỉ XIX –đầu thế kỉ XX

Trang 6

1.2 Phan Đình Phùng và Phan Bội Châu là hai nhà yêu nước tiêu biểu của giai đoạn lịch sử đầy biến động này Nếu Phan Đình Phùng là đại biểu cuối cùng của thế hệ các nhà nho trung thành với chế độ quân chủ, thì Phan Bội Châu lại là một vị ―huynh trưởng‖ của phong trào dân chủ tư sản Thực chất, Phan Châu Trinh mới là ―người thắp ngọn đèn dân chủ‖ Nhưng chúng tôi chọn Phan Bội Châu bởi ở nhà tư tưởng lớn này có sự kế thừa tư tưởng trung quân, cũng là người tiếp thu và phát triển tư tưởng duy tân mới mẻ Tư tưởng của ông là một dòng sông bắt nguồn từ miền đất truyền thống chảy tới miền đất hiện đại, không khỏi mang theo những phù sa và cả những tạp chất của mảnh đất cũ Giáo sư Trần Ngọc Vương đã phát biểu: Phan Bội Châu tiếp xúc với tân thư muộn hơn so với Phan Châu Trinh, việc hiểu biết các vấn đề của thế giới hiện đại của ông không cập nhật bằng Phan Châu Trinh ―Cho nên về mặt tinh thần, Phan Bội Châu là "con đẻ" của phòng trào Cần Vương‖

Từ Phan Đình Phùng đến Phan Bội Châu là sự nối tiếp của phương pháp đấu tranh truyền thống – đấu tranh bạo lực Cùng một thủ đoạn, cùng một mục đích, chỉ khi hành động thất bại trong phong trào Đông Du và nhất là khi nhìn thấy thắng lợi của cách mạng Tân Hợi, Phan Bội Châu mới thực sự gột được

tư tưởng trung nghĩa, nghiêng hẳn sang tư tưởng duy tân Quá trình chuyển đổi tư tưởng thật không hề dễ dàng Việc làm rõ quá trình chuyển biến tư tưởng qua hai nhà yêu nước tiêu biểu cho hai hệ tư tưởng phong kiến và dân chủ tư sản trên giúp nhận thức sự vận động, thay đổi của văn học yêu nước dân tộc trong giai đoạn có tính chất bản lề giữa văn học trung đại và văn học hiện đại Đến nay, vấn đề này còn chưa được nhiều nhà nghiên cứu văn học chú ý tới Do vậy, để góp phần làm rõ hơn bước chuyển mình của văn học giai đoạn giao thời, người viết xin thực hiện đề tài: Tư tưởng yêu nước từ trung nghĩa sang duy tân giai đoạn cuối thế kỷ XIX –đầu thế kỷ XX qua tác giả Phan Đình Phùng và Phan Bội Châu

Trang 7

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Các cuốn sách: Tổng tập văn học Việt Nam đã tập hợp được phần

lớn các tác phẩm của văn học yêu nước của ta trong giai đoạn cuối thế kỷ

XIX, đầu thế kỷ XX cuốn Thơ văn Phan Đình Phùng, Thơ văn Phan Bội

Châu lưu lại nhiều sáng tác của hai tác giả Phan Đình Phùng và Phan Bội Châu

Chúng tôi khảo sát tư tưởng yêu nước trong văn học đương thời, tư tưởng yêu

nước của hai cụ Phan trên cơ sở các văn bản trong các cuốn sách trên

Cuốn Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 – 1930, Nxb Đại học

và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1998 của tác giả Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng đã đề cập đến quá trình khủng hoảng về mặt tư tưởng (trung nghĩa) của nhà nho và văn học nhà nho, sự tác động của Tân thư, các phong trào yêu nước tư tưởng dân chủ, sự xuất hiện của các nhà nho mang tư tưởng Duy tân

để tự cường cùng các khuynh hướng Duy tân đương thời Trong đó, giáo sư

đã đưa ra cách hiểu - cho đến nay giới nghiên cứu vẫn cho là đúng đắn về trung nghĩa và duy tân Kết quả nghiên cứu của cuốn sách chính là cơ sở lí luận để hình thành đề tài: Tư tưởng yêu nước từ trung nghĩa đến duy tân qua hai tác giả Phan Đình Phùng và Phan Bội Châu

Tác giả Phan Bội Châu được trình bày rải rác trong nhiều công trình nghiên cứu có giá trị như cuốn:

- Phan Bội Châu – thân thế và thơ văn 1867 – 1940 Thế Nguyên (1956)

- Giảng luận về Phan Bội Châu Lam Giang (1958)

- Luận đề về Phan Bội Châu Kiêm Đạt (1959)

- Văn thơ Phan Bội Châu Đặng Thai Mai (1958)

- Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung Trần Ngọc Vương

(1999)

- Giáo trình văn học Việt Nam ba mươi năm đầu thế kỷ XX Trần Ngọc

Vương chủ biên (2010)

Trang 8

Các cuốn sách đã thể hiện những góc nhìn khác nhau, từ đó khẳng định được vẻ đẹp của con người, tư tưởng và văn thơ Phan Bội Châu

Đặc biệt cuốn Phan Bội Châu – tác giả, tác phẩm do nhà nghiên cứu

Chương Thâu và Trần Ngọc Vương biên soạn đã tập hợp, trích dẫn, giới thiệu những công trình, bài viết nhằm khẳng định tầm vóc lớn lao về tư tưởng, hành động và bầu máu nóng – nhiệt tình cứu nước, sức ảnh hưởng của Phan Bội Châu trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc giai đoạn đầu thế kỷ XX Bên cạnh đó, thông qua các bài viết ghi lại k í ức của nhân dân trong và ngoài nước về cụ Phan khi còn sống, công trình đã khắc họa dấu ấn đậm nét về một nhà yêu nước, một nhà tư tưởng, nhà văn lớn của dân tộc

Cuốn Nghiên cứu Phan Bội Châu của tác giả Chương Thâu thể hiện cái

nhìn sâu sắc về mặt lịch sử tư tưởng của tác giả Phan Bội Châu Nhà nghiên cứu đã bám sát tư tưởng, hành động của Phan theo từng giai đoạn hoạt động cách mạng, chỉ ra những bước tiến, bước lùi, đánh giá những mặt tiến bộ và hạn chế trong tư tưởng của Phan Bội Châu trong những mốc son chính trị quan trọng Bên cạnh đó, tác giả cuốn sách cũng bày tỏ cách nhìn nhận, đánh

giá của mình nhằm giới thiệu một số tác phẩm tiêu biểu như Hồ thượng khóa

lư, Bài phú Bái thạch vi huynh, Tuồng Trưng nữ vương,Tước thái thiền sư, Tái sinh sinh, Chân tướng quân, Trùng quang tâm sử và một số bài chuyên

khảo về Phan Bội Châu

Ngoài ra đã có không ít các luận văn nghiên cứu về Phan Bội Châu như:

- Tìm hiểu sự hình thành chủ nghĩa anh hùng cận đại qua thơ văn

Nguyễn Đình Chiểu và Phan Bội Châu Trịnh Thị Mai Lam

- Sự chuyển biến tư tưởng yêu nước của Phan Bội Châu qua thơ văn

Trần Đình Tường

Các luận văn trên đã nhắc đến tư tưởng yêu nước của Phan Bội Châu trong thơ văn ông Mặc dù chưa có điều kiện phân tích sâu song các cuốn khóa luận

Trang 9

tốt nghiệp trên đã có những cái nhìn khách quan, khoa học về tư tưởng của một nhà yêu nước lớn của Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

Phan Đình Phùng sáng tác không nhiều và các tác phẩm của ông cũng chưa được các nhà nghiên cứu đi sâu Hiện nay chúng tôi mới khảo sát về tác

giả thông qua cuốn sách Phan Đình Phùng cuộc đời và sự nghiệp do Đinh

Xuân Lâm và Chương Thâu biên soạn Cuốn sách này đã tập hợp một số bài viết nhằm khẳng định vẻ đẹp người lãnh tụ nghĩa quân cùng sự nghiệp Cần Vương, tập hợp các sáng tác của Phan Đình Phùng, những bài viết về thơ văn Phan Đình Phùng và hình ảnh ông trong thơ văn Ở phần phụ lục, cuốn sách tập hợp các tư liệu, văn bản, tác phẩm liên quan đến Phan Đình Phùng và phong trào Cần Vương Nhìn chung, cuốn sách đã mang đến những cái nhìn khái quát nhất về người anh hùng trung nghĩa Phan Đình Phùng

Vấn đề về tính phát triển liên tục trong tư tưởng yêu nước giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX trong văn học Việt Nam đến nay vẫn chưa được khai thác với tư cách một công trình nghiên cứu chuyên biệt Do vậy,

chúng tôi lựa chọn đề tài Tư tưởng yêu nước từ trung nghĩa sang duy tân giai

đoạn cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX qua tác giả Phan Đình Phùng và Phan Bội Châu với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào công cuộc khai phá

một ―vùng đất giàu tài nguyên nhưng cũng đầy sỏi đá‖ mà chưa thật nhiều nhà nghiên cứu có hứng thú

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi bám sát cuốn sách Văn học Việt Nam

giai đoạn giao thời 1900 – 1930 của giáo sư Trần Đình Hượu Đặc biệt là

cách hiểu về tư tưởng trung nghĩa, tư tưởng duy tân của thầy Từ cơ sở lí luận

đó, chúng tôi khảo sát trên các tác phẩm cụ thể của hai tác giả Phan Đình Phùng và Phan Bội Châu, hiểu rõ hơn về tư tưởng hai tác giả tiêu biểu này, đồng thời khái quát được những bậc thang tư tưởng của các thế hệ nhà nho trong giai đoạn văn học cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX

Trang 10

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Quá trình vận động tư tưởng trung nghĩa đến tư

tưởng duy tân của văn học giao thời qua tác giả Phan Đình Phùng và Phan Bội Châu

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là giai đoạn văn học có tính chất bản lề giữa hai thế kỷ XIX và XX trong đó tập trung vào hai tác giả Phan Đình Phùng và Phan Bội Châu

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp mô tả, phân loại

4.2 Phương pháp nghiên cứu xã hội – lịch sử

4.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Trang 11

Chương 1

NHỮNG ĐIỀU KIỆN DẪN ĐẾN SỰ CHUYỂN ĐỔI TƯ TƯỞNG

TRONG CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX – ĐẦU THẾ KỶ XX

1 1 Thời đại và tương quan lực lượng

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở nước ta cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX diễn ra trong thời đại chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển biến mạnh mẽ từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn chủ nghĩa

tư bản độc quyền Do nhu cầu tìm kiếm thị trường, nguồn nguyên liệu và nhân công rẻ quá lớn mà chúng tăng cường bành trướng ra khắp thế giới.Các cường quốc đế quốc ra sức xâm chiếm thuộc địa, bởi vì thuộc địa là nơi bảo đảm nguồn nguyên liệu và thị trường thường xuyên, là nơi tương đối an toàn trong cạnh tranh, bảo đảm thực hiện đồng thời những mục đích về kinh tế, quân sự và chính trị Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các nước đế quốc

đã hoàn thành việc phân chia lãnh thổ thế giới Đế quốc Anh chiếm được nhiều thuộc địa nhất, sau đó đến Nga (Nga Hoàng) và Pháp Số dân thuộc địa của Anh nhiều hơn 12 lần số dân thuộc địa của Nga và bằng 7 lần của Pháp

Số dân thuộc địa của Pháp lại nhiều hơn số dân thuộc địa của ba nước Đức,

Mỹ, Nhật cộng lại Trong khi đó, Việt Nam vẫn ngủ ngon trong phương thức sản xuất phong kiến cổ truyền ì ạch Nhất là khi triều Nguyễn suốt nhiều năm không biết chăm lo kinh tế, xã hội khiến đất nước vô cùng nghèo nàn, lạc hậu Đây thật sự là một thách thức lớn lao đối với dân tộc Việt Nam bởi nước ta chưa bao giờ chiến đấu với một loại kẻ thù lớn mạnh hơn hẳn với phương thức xã hội khác biệt hoàn toàn với các loại kẻ thù truyền thống

Nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đã tạo cho quân đội Pháp một lực lượng vật chất hùng hậu, vũ khí hiện đại và phương pháp tác chiến tiến bộ Còn dưới

sự cai trị của triều Nguyễn, nền kinh tế Việt Nam bình thường vốn đã ốm yếu,

Trang 12

khi có chiến tranh thì nhanh chóng kiệt quệ Nhân dân Việt Nam giàu lòng yêu nước, dù sẵn có tinh thần quả cảm, dùkhông tiếc máu xương gìn giữ nền hòa bình dân tộc song xét về tương quan lực lượng, Việt Nam chỉ có thể dùng lưỡi dao phay, rơm con cúi, gậy tầm vông để chiến đấu với tàu đồng súng lớn của địch Vua nhà Nguyễn mặc dù đã cho tàu ra nước ngoài mua vũ khí chiến đấu song tất cả những gì mua được đều là những vũ khí lạc hậu, thua kém vũ khí của quân xâm lược đến cả trăm năm Sự thật là, trước sự chênh lệch lực lượng quá lớn như vậy, nhân dân Việt Nam đã đổ không ít máu xương vẫn không giành thắng lợi Dũng mãnh như Hoàng Hoa Thám, gan góc như Phan Đình Phùng, tài ba như Cao Thắng cuối cùng cũng không thoát khỏi cảnh thất bại đau đớn Có thể nói, sự chênh lệch quá lớn về vật chất đã khiến triều đình Huế ngã ngửa, choáng váng trước bọn ―rợ Tây phương‖ Áp lực trước sự lớn mạnh, hiện đại của lực lượng xâm lược khiến triều Nguyễn chỉ đủ sức kháng

cự cho có trong giai đoạn đầu ngắn ngủi rồi ngay sau đó đã đầu hàng, làm tay sai, quay trở lại đàn áp phong trào yêu nước của nhân dân Cuộc chiến đấu chống kẻ thù lớn mạnh vốn đã khó khăn, nay càng căng thẳng gấp bội phần

Cuối thế kỷ XIX, các phong trào yêu nước lần lượt thất bại Đặc biệt, sau sự thất bại của phong trào Cần Vương, Pháp ráo riết chuẩn bị cho công cuộc khai thác thuộc địa tại Việt Nam Nhân dân còn giữ nguyên một tấm lòng yêu nước song thật sự khủng hoảng bởi họ nhận ra sự thật rằng đấu tranh theo phương thức cũ chỉ là con đường chết nhưng nhất thời họ chưa thể tìm ra một con đường khác có vẻ tươi sáng hơn

Sang đầu thế kỷ XX, Pháp thực hiện xong công cuộc bình định nước ta, chính thức đi vào giai đoạn khai thác Chúng càng có cơ sở vững chắc để tăng cường bộ máy cai trị, cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc Việt Nam càng khó khăn Tuy nhiên, một điều không thể phủ nhận là chủ nghĩa yêu nước truyền thống đã trở thành động lực to lớn để ta chiến đấu và chiến thắng không ít kẻ thù Đây chính là vũ khí tinh thần giúp ta có thể lấy yếu thắng mạnh, lấy ít

Trang 13

địch nhiều trong mọi cuộc chiến tranh tự vệ Một vấn đề có tính chất thời đại đặt ra với các nhà tư tưởng Việt Nam đương thời là cần thiết phải đổi mới phương pháp chiến đấu để thích ứng với kẻ thù hiện đại hơn ta gấp nhiều lần

Sự chuyển biến tư tưởng yêu nước từ trung nghĩa sang duy tân thực chất là sự chuyển biến trong chủ nghĩa yêu nước do yêu cầu bức thiết của thời đại

1.2 Tình hình chính trị - xã hội trong nước

Bước sang thế kỉ XIX, tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến đổi, triều Nguyễn tuy đã cố gắng nhất định, nhưng trong thực tế chỉ chăm lo củng cố địa vị cai trị của dòng họ, không bắt kịp với xu thế phát triển và tiến

bộ của thời đại, làm cho đất nước ngày càng lún sâu vào tình trạng trì trệ, lạc hậu, mất dần khả năng bảo vệ nền độc lập dân tộc trước cuộc tấn công xâm lược của thực dân Pháp Nguy cơ xâm lược của thực dân Pháp đối với Việt Nam ở thế kỉ XIX là kết quả tất yếu của quá trình phát triển tư bản chủ nghĩa

ở các nước phương Tây và trở thành mối đe dọa lớn đối với nền độc lập của dân tộc Việt Nam Tuy nhiên, nguy cơ xâm lược đó không phải là tất yếu đưa đến mất nước vào tay Pháp Dân tộc ViệtNammất nước vào tay tư bản Pháp ở cuối XIX, trách nhiệm đó thuộc về triều Nguyễn

Do những vấn đề nội trị rối loạn, bất lực trong việc ổn định xã hội, chính sách ngoại giao mù quáng, chính sách tôn giáo sai lầm…ViệtNamgiữa thế kỉ XIX đối mặt với nguy cơ bị chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm lược

Ngày 1/9/1858 thực dân Pháp nổ tiếng súng đầu tiên tại Đà Nẵng mở đầu công cuộc xâm lược Việt Nam Quan quân triều đình bắn trả nhưng do vũ khí lạc hậu và không được luyện tập thường xuyên nên không thể ngăn được quân Pháp Nguyễn Tri Phương và Nguyễn Trung Trực đại diện cho triều

đình lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh chống Pháp nhưng đã thất bại

Sau khi đánh chiếm được Việt Nam, thực dân Pháp thiết lập bộ máy thống trị thực dân và tiến hành những cuộc khai thác nhằm cướp đoạt tài

Trang 14

Từ năm 1897, thực dân Pháp tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất Do sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tình hình kinh tế Việt Nam có sự biến đổi: quan hệ kinh tế nông thôn bị phá vỡ, hình thành nên những đô thị mới, những trung tâm kinh tế và tụđiểm cư dân mới Nhưng thực dân Pháp không du nhập một cách hoàn chỉnh phương thức

tư bản chủ nghĩa vào nước ta, mà vẫn duy trì quan hệ kinh tế phong kiến Chúng kết hợp hai phương thức bóc lột tư bản và phong kiến để thu lợi nhuận siêu ngạch Chính vì thế, nước Việt Nam không thể phát triển lên chủ nghĩa tư bản một cách bình thường được, nền kinh tế Việt Nam bị kìm hãm trong vòng lạc hậu và phụ thuộc nặng nề vào kinh tế Pháp

Về chính trị, chúng tiếp tục thi hành chính sách chuyên chế với bộ máy đàn áp nặng nề Mọi quyền hành đều thâu tóm trong tay các viên quan cai trị người Pháp, từ toàn quyền Đông Dương, thống đốc Nam Kỳ, khâm sứ Trung

Kỳ, thống sứ Bắc Kỳ, công sứ các tỉnh, đến các bộ máy quân đội, cảnh sát, toàán ; biến vua quan Nam triều thànhbù nhìn, tay sai Chúng thẳng tay đàn

áp, khủng bố, dìm các cuộc đấu tranh của dân Việt Nam trong biển máu Chúng tiếp tục thi hành chính sách chia để trị rất thâm độc, chia Việt Nam làm ba kỳ, mỗi kỳ đặt một chế độ cai trị riêng và nhập ba kỳ đó với nước Lào

và nước Campuchia để lập ra liên bang Đông Dương thuộc Pháp, xóa tên Việt Nam trên bản đồ thế giới Chúng gây chia rẽ và thù hận giữa Bắc, Trung, Nam, giữa các tôn giáo, các dân tộc, các địa phương, thậm chí là giữa các dòng họ; giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc trên bán đảo Đông Dương

Các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ảnh hưởng mạnh mẽđến tình hình xã hội Việt Nam Sự phân hoá giai cấp diễn ra ngày càng sâu sắc hơn

Giai cấp địa chủ phong kiến đã tồn tại mấy trăm năm Chủ nghĩa tư bản thực dân được đưa vào Việt Nam và trở thành yếu tố bao trùm, song không

Trang 15

xóa bỏ mà vẫn bảo tồn và duy trì giai cấp địa chủđể làm cơ sở cho chếđộ thuộc địa Tuy nhiên, do chính sách kinh tế và chính trị của thực dân Pháp, giai cấp địa chủ bị phân hóa thành ba bộ phận khá rõ rệt: tiểu, trung vàđại địa chủ Có một số địa chủ bị phá sản Vốn sinh ra và lớn lên trong một quốc gia dân tộc có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, lại bị chính sách thống trị tàn bạo về chính trị, chèn ép về kinh tế, nên một bộ phận không nhỏ tiểu vàtrung địa chủ không chịu nỗi nhục mất nước, có mâu thuẫn với đế quốc về quyền lợi dân tộc nên đã tham gia đấu tranh chống thực dân và bọn phản động tay sai

Tầng lớp nông dân chiếm khoảng 90% dân số Họ bị đế quốc, phong kiến địa chủ và tư sản áp bức, bóc lột Ruộng đất của nông dân đã bị bọn tư bản thực dân chiếm đoạt Chính sách độc quyền kinh tế, mua rẻ bán đắt, tô cao, thuế nặng, chếđộ cho vay nặng lãi của đế quốc và phong kiến đãđẩy nông dân vào con đường bần cùng hóa không lối thoát Một sốít bán sức lao động, làm thuê trong các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền hoặc bị bắt đi làm phu tại các thuộc địa khác của đế quốc Pháp Còn số đông vẫn phải gắn vào đồng ruộng và gánh chịu sự bóc lột vô cùng nặng nề ngay trên mảnh đất mà trước đây là sở hữu của chính họ

Vì bị mất nước và mất ruộng đất nên nông dân có mâu thuẫn với đế quốc và phong kiến, đặc biệt sâu sắc nhất với đế quốc và bọn tay sai phản động Họ vừa có yêu cầu độc lập dân tộc, lại vừa có yêu cầu ruộng đất, song yêu cầu về độc lập dân tộc là bức thiết nhất Giai cấp nông dân có truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất là lực lượng to lớn nhất, một động lực cách mạng mạnh mẽ

Giai cấp tư sản hình thành trong quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, tư sản Việt Nam mới chỉ là một tầng lớp nhỏ bé Sau chiến tranh, tư sản Việt Nam đã hình thành giai cấp

Trang 16

rõ rệt Ra đời trong điều kiện bị tư bản Pháp chèn ép, cạnh tranh rất gay gắt, nên số lượng tư sản Việt Nam không nhiều, thế lực kinh tế nhỏ bé, thế lực chính trị yếu đuối.Giai cấp tư sản dân tộc là một lực lượng cách mạng không thể thiếu trong phong trào cách mạng giải phóng dân tộc

Giai cấp tiểu tư sản bao gồm nhiều bộ phận khác nhau: tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủ công, viên chức, trí thức, học sinh, sinh viên và những người làm nghề tự do Giữa những bộ phận đó có sự khác nhau về kinh tế và cách sinh hoạt nhưng nhìn chung, địa vị kinh tế của họ rất bấp bênh, luôn luôn bịđe dọa phá sản, thất nghiệp Họ có tinh thần yêu nước nồng nàn, lại bị đế quốc

và phong kiến áp bức, bóc lột và khinh rẻ nên rất hăng hái cách mạng Đặc biệt tầng lớp trí thức là tầng lớp rất nhạy cảm với thời cuộc, dễ tiếp xúc với những tư tưởng tiến bộ và canh tân đất nước, tha thiết bảo vệ những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Khi phong trào quần chúng công nông đã thức tỉnh, họ bước vào trận chiến đấu giải phóng dân tộc ngày một đông đảo vàđóng một vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh của quần chúng, nhất là ở đô thị Trong đó, giai cấp tiểu tư sản là một lực lượng cách mạng quan trọng trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc.Giai cấp công nhân là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa của Pháp và nằm trong những mạch máu kinh tế quan trọng do chúng nắm giữ Lớp công nhân đầu tiên xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất ở Việt Nam Sau này, khi được tổ chức lại và hình thành được một đảng tiên phong cách mạng được vũ trang bằng một học thuyết cách mạng triệt để là chủ nghĩa Mác - Lênin thì giai cấp công nhân trở thành người lãnh đạo cuộc đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc Tuy nhiên, giai đoạn cuối thế kỷ XIX, những năm đầu thế kỷ XX, giai cấp công nhân còn hết sức non yếu, chưa thể trở thành động lực cách mạng

Trang 17

Những năm đầu thế kỷ XX, khi các phong trào yêu nước đang rơi vào cơn khủng hoảng về đường lối, khi giai cấp tư sản còn yếu ớt, giai cấp công nhân còn non nớt, tầng lớp nho sĩ sinh ra và lớn lên từ thế kỷ trước đã đứng lên gánh vác nhiệm vụ cách mạng, phát động phong trào Duy tân cứu nước

Dưới sự tác động của thực dân Pháp, nước tađã có những biến chuyển sâu sắc về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam từ một xã hội phong kiến thuần tuý đã biến thành một xã hội thuộc địa Mặc dù thực dân còn duy trì một phần tính chất phong kiến, song khi đã thành thuộc địa thì tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và giai cấp ở Việt Nam đều bịđặt trong quỹđạo chuyển động của xã hội đó

Trong lòng chếđộ thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam đã hình thành những mâu thuẫn đan xen nhau, song mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai phản động Sự thống trị, áp bức và bóc lột càng tăng thì mâu thuẫn đó càng sâu sắc, sự phản kháng vàđấu tranh vì sự tồn vong của dân tộc càng phát triển mạnh mẽ, gay gắt về tính chất, đa dạng về nội dung và hình thức

1.3 Tình hình văn hóa – tư tưởng

1.3.1 Tình hình văn hóa

Trước khi tiếp xúc gặp gỡ văn hóa phương Tây, Việt Nam đã tồn tại và phát triển một nền văn hóa nông nghiệp với những nét đặc trưng của văn hóa phương Đông Đó là nền văn hoá lấy gia tộc làm gốc; lấy tình cảm làm trọng; trông vào con cháu duy trì nòi giống và nối nghiệp tổ tiên; coi trọng tính trường tồn, đời xưa sao đời nay thế; ưa chuộng hoà bình, an cư lạc nghiệp Những đặc trưng này toát lên tính chất ―trọng tình‖ của văn hóa truyền thống, cốt giữ cho tình cảm nồng hậu, trọng đạo đức nhân nghĩa, thích yên lặng hoà bình cho cuộc sống Chủ thể của nền văn hóa đó gồm các thành tố cơ bản làđịa chủ, nông dân, quan lại, sĩ phu, thợ thủ công và người buôn bán Tất cả

Trang 18

hợp thành cấu trúc "tứ dân": sĩ, nông, công, cổ Trong đó sĩ gồm các quan lại,

sĩ phu, loại có nhiều ruộng đất, tiền của vàđặc quyền đặc lợi trong xã hội phong kiến Nông, công, cổ là những người lao động nghèo khổ Do đó có thể nói chủ thể văn hóa "tứ dân" chỉ có hai bậc người: bậc trên là kẻ sĩ, bậc dưới

là dân thường

Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX thực dân Pháp đã xác lập nền cai trị của chúng trên đất nước ta Xã hội Việt Nam chuyển từ xã hội phong kiến độc lập sang xã hội phong kiến nửa thuộc địa Điều đó đã tác động mạnh mẽ đến chủ thể văn hóa Việt Nam, chủ thể văn hóa truyền thống bị phân hóa, xuất hiện những lớp cư dân mới ngoài "tứ dân" Cùng với sự du nhập phương thức kinh

tế tư bản chủ nghĩa một lực lượng lao động mới xuất hiện Họ là những người nông dân, thợ thủ công thời phong kiến, bị chính sách bần cùng hoá làm phá sản và xô đẩy ra khỏi làng mạc đến sống tập trung ở các công trường xây dựng, các xí nghiệp, nhà máy, hầm mỏ, đồn điền, bán sức lao động làm thuê cho tư sản (tư sản Pháp, Hoa, Việt Nam) và trở thành những người công nhân hiện đại Đến năm 1906 công nhân Việt Nam có khoảng 55.000 người, đến trước chiến tranh thế giới thứ nhất tăng lên khoảng 10 vạn người và thành một giai cấp mới - giai cấp công nhân Việt Nam Sau chiến tranh thế giới thứ nhất,

tư sản Pháp đổ xô vào khai thác thuộc địa thì công nhân Việt Nam tăng lên nhanh chóng Đến năm 1929 đã có trên 22 vạn người làm thuê cho Pháp, khoảng 10 vạn làm thuê cho Việt Nam…

Đây là một lực lượng lao động mới trong dây chuyền sản xuất tư bản,

họ sống, làm việc và quan hệ xã hội đã vượt ra ngoài khuôn khổ làng xã, nông dân và nông thôn Họ trở thành một bộ phận mới trong chủ thể Việt Nam Sự tiếp xúc với nền kinh tế tư bản đã sản sinh ra những nhà thầu khoán, những nhà làm đại lý cho giới tư sản Pháp, những nhà kinh doanh công thương nghiệp Việt Nam Họ là những người vừa thoát ra từ nền kinh tế phong kiến

Trang 19

đang học tư bản để kinh doanh, quản lý và sản xuất công nghiệp, làm chủ hiệu buôn, chủ nhà máy, xí nghiệp, đồn điền Tầng lớp này ngày càng đông hơn và hợp thành giai cấp tư sản Việt Nam Họ có địa vị kinh tế và xã hội nhất định,

có nhu cầu văn hóa khác các giai tầng khác và thành một bộ phận mới trong chủ thể văn hóa Việt Nam

Xã hội thuộc địa còn chứa đựng trong lòng nó hàng vạn công chức làm công trong guồng máy cai trị của chính quyền thực dân phong kiến Tầng lớp tiểu tư sản ra đời và phát triển Học sinh, sinh viên, giáo viên ngày một đông hơn Đây là bộ phận nhạy cảm và năng động nhất trong quá trình hội nhập văn hóa đầu thế kỉ XX Họ nhanh chóng nhận ra những yếu tố mới và tiến bộ trong văn hóa nhân loại để học tập và ứng dụng có chọn lọc vào thực tiễn Việt Nam Phương thức kinh tế tư bản du nhập vào Việt Nam đã tác động mạnh vào quá trình đô thị hóa Phố xá xuất hiện, các thành phố cận đại ra đời và lớp

cư dân đô thị hình thành Họ là những người thợ thủ công, những người buôn bán, những người làm thuê trong nhà máy, xí nghiệp, các bến xe, bến tàu, bến cảng, là những công chức trong guồng máy cai trị, những nhà tư sản và tiểu tư sản Lớp cư dân này phát triển nhanh sau chiến tranh thế giới thứ nhất Lớp cư dân thành thị sống hoàn toàn khác trước Họ không còn là những cư dân nông nghiệp sống tản mạn trong các làng quê yên tĩnh mà trở thành lớp thị dân sống tập trung ở các thành phố, thị xã, những trung tâm kinh tế với hoạt động công thương sôi động hàng ngày Xã hội thuộc địa còn tồn tại một tầng lớp trí thức Tây học biết tiếng Pháp, hiểu văn hóa Pháp và xuất hiện một lực lượng sáng tác mới: những người làm báo, viết truyện ngắn, viết kịch, viết tiểu thuyết, dịch thuật… Văn nghệ sĩ trở thành một chức nghiệp: viết văn bán cho công chúng, đáp ứng yêu cầu văn hóa của cư dân thành thị Lớp thị dân trở thành một bộ phận mới của chủ thể văn hóa Việt Nam

Trang 20

Chẳng hạn như quan hệ giữa các quan cai trị người Pháp và người Việt trong bộ máy chính quyền thuộc địa (Hội đồng cơ mật, Hội đồng bảo hộ, Hội đồng thuộc địa, Hội đồng dân biểu…); quan hệ giữa tư sản nước ngoài với tư sản dân tộc, quan hệ giữa chủ và thợ, quan hệ giữa tư sản và vô sản, quan hệ giữa thầy và trò trong hệ thống trường học Các mối quan hệ này tác động vào chủ thể văn hóa Việt Nam thúc đẩy quá trình biến đổi chủ thể văn hóa theo hướng văn minh phương Tây Trong quá trình tiếp xúc giao thoa văn hóa, chủ thể văn hóa Việt Nam xuất hiện những thái độ khác nhau đối với văn hóa Đông - Tây Một số cho rằng cần phải kết hợp để Âu hóa hoàn toàn Một bộ phận khác nhìn nhận những mặt trái của văn hóa phương Tây để phê phán đi theo văn hóa phương Tây là không thỏa đáng Từ những thái độ khác nhau với văn hóa Đông - Tây, chủ thể văn hóa Việt Nam phân hoá thành hai trường phái văn hóa: phái cựu học và phái tân học Phái cựu học khư khư bài ngoại, luôn cho mình là văn minh, người nước ngoài là mọi rợ nên không đề cập đến chính thuật, tài năng của người nước ngoài Trọng vương, rẻ bá nên không bàn đến máy móc tinh xảo và sự giàu mạnh của nước ngoài, cái gì cũng cho là xưa phải nay trái, nên không chịu xem xét, bàn luận chính kiến của người sau

Họ chống sự xâm lược của thực dân Pháp và chống luôn Âu hóa, coi việc đi làm cho Pháp, học tiếng Pháp là vong Tổ Thực ra phái cựu học có cái lý của

họ Bởi sự tiếp xúc với văn hóa Phương Tây trực diện là chính sách văn hóa

nô dịch của chính quyền thực dân nhằm ngu dân để dễ bề cai trị, một mặt muốn gây ảnh hưởng tinh thần để nắm lấy trí thức, thanh niên phục vụ nền thống trị thuộc địa lâu dài của chúng Nhưng một mặt khác chúng ngăn chặn mọi yếu tố tiến bộ của văn hóa Phương Tây có thể gây ảnh hưởng tích cực đến tinh thần, tư tưởng người Việt Nam Đồng thời nó gieo rắc tư tưởng tự ti dân tộc bằng cách xuyên tạc nguồn gốc giá trị văn hóa Việt Nam Họ cho rằng văn hóa Việt Nam bắt nguồn từ Trung Hoa, Ấn Độ để phủ nhận văn hóa bản địa - nền văn minh Sông Hồng của người Việt Bởi thế người Việt Nam trong

Trang 21

khi chống ách thống trị của thực dân Pháp, đã phản ứng quyết liệt sự du nhập văn hóa Pháp để bảo vệ văn hóa truyền thống Tiêu biểu là lớp sĩ phu yêu nước cuối thế kỉ XIX, họ chống Pháp xâm lược, cai trị Việt Nam và chống luôn sự hiện diện của văn hóa Pháp trên đất nước ta Trong khi đó phái tân học lại có phản ứng khác Quá trình tiếp xúc giao thoa tự nhiên họ đến với những giá trị tốt đẹp, tiến bộ của văn hóa Phương Tây mà chính quyền thuôc địa ngăn cấm Sách báo tiến bộ Pháp đã trang bị cho họ một tầm nhìn rộng lớn hơn, một quan điểm cạnh tranh sinh tồn để phát triển, một cách tư duy phân tích khoa học để nhận thức thực trạng của đất nước mình Họ tận mắt chứng kiến sức mạnh của khoa học kĩ thuật Phương Tây và sự yếu kém của học thuật cũ Họ khao khát tiến bộ, giàu mạnh, văn minh, nên từng bước tiếp nhận những yếu tố tiến bộ, hiện đại của văn hóa phương Tây Điển hình là lớp

sĩ phu tiến bộ đầu thế kỉ XX, họ quyết tâm tự phủ định mình để tư sản hóa duy tân đất nước, quyết phá luỹ xưa để xây đài mới, hướng dân tộc phát triển theo con đường văn minh tư bản Như vậy là trải qua quá trình cạnh tranh lặng lẽ, chuyển hóa dần dần, phái tân học đã chiếm ưu thế trong đời sống văn hóa Việt Nam Họ đưa vào văn hóa truyền thống một số yếu tố mới tiến bộ của thời đại, kết hợp văn hóa cũ và mới để xây dựng văn hóa dân tộc trong điều kiện lịch sử mới Có thể nói chủ thể văn hóa Việt Nam 3 thập niên đầu thế kỉ XX bị phân hoá mạnh mẽ dưới tác động của sự tiếp xúc, giao thoa văn hóa Đông - Tây Cấu trúc chủ thể văn hóa―tứ dân‖: sĩ, nông, công, cổ phân hoá đưa đến sự ra đời của các tầng lớp cư dân mới: công nhân, tư sản, tiểu tư sản, thị dân và hình thành các trường phái văn hóa mới: phái tân học và phái cựu học Các tầng lớp cư dân mới ra đời phá vỡ cấu trúc chủ thể văn hóa ―tứ dân‖ truyền thống để hình thành một cấu trúc chủ thể văn hóa mới đa dạng hơn với nhiều giai tầng xã hội hơn, gồm địa chủ, nông dân, tư sản, công nhân

và tiểu tư sản Trong đó lớp cư dân mới đóng vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập văn hóa nhân loại Họ rút kinh nghiệm học tập được những cái

Trang 22

hay, cái đẹp, cái mới tiến bộ của văn hóa thế giới Điều đó giúp cho chủ thể văn hóa Việt Nam đứng vững trên nền tảng văn hóa dân tộc để tự chuyển biến mình theo xu thế phát triển của thời đại Trong cấu trúc chủ thể văn hóa mới bậc thang giá trị xã hội của con người cũng thay đổi Kẻ sĩ không còn đứng đầu thiên hạ, thương nhân không còn là kẻ mạt hạng Sự hoán vị vị trí xã hội

sĩ - nông không còn giá trị nữa Những lớp cư dân mới có cuộc sống tràn ra ngoài khuôn khổ luân thường truyền thống Họ không còn chìm trong quan hệ làng xóm họ tộc Kinh tế tư bản khiến đồng tiền chiếm vị trí trọng yếu trong đời sống, tình nghĩa lép vế trước lợi nhuận, cá nhân con người được đề cao trở thành những cá thể chịu trách nhiệm trước chính quyền thuộc địa và hình thành bậc thang giá trị xã hội mới gồm 4 bậc: Thượng lưu (bộ phận thống trị

xã hội); Trung lưu (bộ phận giàu có); Bình dân (bộ phận đủ ăn không lệ thuộc vào người khác); Nghèo khổ (bộ phận làm thuê, phụ thuộc vào giai cấp khác) Mỗi tầng lớp cư dân có nhu cầu văn hóa khác nhau, xây dựng văn hóa và hưởng thụ văn hóa khác nhau Do đó sự đa dạng, phong phú trong chủ thể văn hóa ở các thập niên đầu thế kỉ XX là yếu tố mới đóng vai trò quyết định trong quá trình tiếp biến văn hóa để xây dựng nền văn hóa dân tộc trong điều kiện mới, kết hợp truyền thống với hiện đại, dân tộc với nhân loại để làm giàu đẹp hơn nền văn hóa dân tộc

1.3.2 Tình hình tư tưởng

Nước ta do nằm ở ngã tư của các con đường Đông- Tây- Nam- Bắc nên

là nơi gặp gỡ của nhiều luồng văn hóa khác nhau Đặc biệt chúng ta sớm chịu ảnh hưởng của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, đến thế kỷ XVII, có thêm đạo Thiên chúa Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đến nước ta rất mạnh Từ vài nghìn năm nay nhân dân coi Phật giáo là đạo ―của mình‖

Đạo giáo Trung Quốc du nhập vào Việt Nam không lâu sau Phật giáo.Đạo giáo cung cấp cho nhân dân ta một ý thức tư tưởng trong các cuộc

Trang 23

khởi nghĩa vũ trang chống chính quyền đô hộ Chính các cuộc khởi nghĩa của Mạc Đĩnh Phúc ở Bắc, của Võ Trứ ở Trung, của Nguyễn Hữu Trí ở Nam vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, hàng vạn dân yêu nước tuốt gươm múa giáo xông thẳng vào đồn Pháp bất chấp súng đạn là biểu hiện của niềm tin tích cực mà Đạo giáo đem lại

Nho giáo chính là học thuyết xây dựng và làm sâu rễ bền gốc tư tưởng trung nghĩa trong tầng lớp nho sĩ xưa Nó ngày càng ảnh hưởng sâu sắc và dưới triều Nguyễn nó trở thành quốc giáo độc tôn của dân tộc ta ―Đời Minh Mệnh và Tự Đức, Nho giáo giữ vai trò thống trị về mặt tư tưởng‖ [11, tr 240) Bởi Nho giáo chuyên về ―trị quốc bình thiên hạ‖, nó đề ra những phương châm rõ ràng, nó thu thập kinh nghiệm phong phú Nó thích hợp với quyền thống trị của phong kiến Nho gia đời Nguyễn rất ngưỡng vọng Đổng Trọng Thư (179-104 trước CN), đại biểu tư tưởng Nho giáo đời Hán và tư tưởng

―Thiên nhân cảm ứng‖, ―Thiên bất biến đạo diệc bất biến‖ (Trời không thay đổi, đạo cũng không thay đổi) Ở đây là đạo quân thần, phụ tử, phu phụ, tức tam cương của Nho giáo Đây chính là cơ sở để tư tưởng trung nghĩa trở nên sâu rễ bền gốc trong giới nhà nho.Tuy nhiên, Nho giáo thời Nguyễn tiếp thu trào lưu Hán học mới của Trung Quốc đời Thanh do các đại biểu Hoàng Tông

Hi (1610-1695), Cố Viên Vũ (1613-1682), Vương Phu Chi (1619-1692), Nhan Uyên(1634-1704) khởi xướng Dẫn đến nảy sinh những quan niệm mới, muốn thoát khỏi học thuyết Trình Chu, muốn tìm kiếm một lối học công dụng thiết thực hơn là tầm chương, trích cú, giải thích nghĩa lý như Nho gia đời trước từng chìm đắm trong đó Một điều mới mẻ, có ý nghĩa trong học phong thời Nguyễn là xu hướng muốn đi vào thực học ngày càng được khẳng định Gia Long từng ra chỉ dụ: ―Tất cả những văn tự còn sót lại của đời trước, hoặc sách vật của tư gia, cho đến sách kín của nước ngoài, phàm chép sự thật,

có thể giúp ích cho đời thì không câu nệ văn chương quê mùa, các quan sở tại

Trang 24

đạt cao nhưng có thực tài thì vẫn được bổ nhiệm, trọng dụng xứng đáng.Những đổi mới trong tư tưởng Nho giáo thời Nguyễn mặc dù còn bị ràng buộc bởi nhiều quan niệm bảo thủ, lạc hậu của học thuyết Nho giáo cũ, song dù sao đây cũng là ―những hạt nhân tốt, khởi nguồn cho tư tưởng hướng tới một nền học mới, tiến bộ là Tân học ở những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế

kỷ XX‖[11,tr.246]

Nho giáo đã định hình tư tưởng cho các nhà nho cho phù hợp với nhà nước tập quyền chuyên chế lúc bấy giờ Thấm nhuần tư tưởng Nho gia, các nhà nho thường có mô hình phân tích xã hội quen thuộc Một mặt hướng cái nhìn đến đường lối cai trị của người cầm quyền bằng chuẩn mực đánh giá của

lý tưởng đức trị, mặt khác là chú ý đến số phận của người dân như đối tượng của nền đức trị đó Do đó, tư tưởng mệnh trời về ngôi vua đã sớm ăn sâu trong nhận thức của nho sĩ Họ lại là những nhà tư tưởng, những người giáo hóa nhân dân nên tư tưởng ấy cũng ăn sâu trong lòng quần chúng Tư tưởng

―Mệnh trời‖ đó là: trời trao nước, trao dân cho vua, vua theo mệnh trời mà nuôi dân, trị nước; dân là thần tử của vua; phải lấy lòng trung nghĩa mà đối với vua Yêu nước và trung vua là một, vì dân và phục vụ vua là một Thường chỉ trong trường hợp nước có ngoại xâm, ngôi vua gặp nguy nan nhà vua mới nhắc nhở cho thần dân biết ―Đối với việc hưng vong của đất nước,kẻ thất phu phải có trách nhiệm‖, và người dân cũng mới thấy mình không chỉ sống với làng xã mà còn gắn bó với nước Tư tưởng mệnh trời đó là cơ sở đạo lý để người thần tử làm người trung nghĩa và người dân thường ngoan ngoãn chờ

―vua thánh tôi hiền‖ đem lại phúc thái bình

Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ XIX, khi nước ―Đại Nam đối diện với Pháp‖ thì tư tưởng trung nghĩa rơi vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng Tư tưởng

―trung quân, ái quốc‖ xuyên suốt bao thế hệ nhà Nho Việt Nam từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đến Nguyễn Đình Chiểu Nhưng khi thực dân Pháp

Trang 25

vào xâm lược Việt Nam mang theo nền văn minh khoa học kỹ thuật của mối

tư duy logic và tư tưởng cá nhân chủ nghĩa du nhập vào đã làm biến đổi sâu sắc xã hội Việt Nam đồng thời là sự khủng hoảng của tư tưởng ―trung quân, ái quốc‖, triều đình hỗn loạn, vua không ra vua, tôi không ra tôi, nhà Nguyễn đã đầu hàng giặc, cam tâm làm bù nhìn, làm con rối để Pháp giật dây Khách quan mà đánh giá thì chỉ trừ Khải Định, hầu như các vua Nguyễn đều có sự

―vùng vẫy‖, hi vọng độc lập, cao hơn, có khát vọng chống Pháp Tuy nhiên trong hoàn cảnh nước ta vào những năm cuối thế kỷ XIX này, Nguyễn Tri Phương bị thương trong chiến đấu, từ chối mọi sự chăm sóc để tìm lấy cái chết, Hoàng Diệu thất trận, tự kết liễu đời mình Tất cả những sự kiện ấy trong chiều sâu của chúng đều nói lên sự cùng đường, bế tắc của những người trong cuộc

Đi cùng với sự khủng hoảng về đường lối cứu nước là sự khủng hoảng

về tư tưởng, ý thức hệ Dưới thời phong kiến, yêu nước gắn liền với quan niệm ―trung quân‖, yêu nước là yêu vua, quan niệm vua thống nhất với nước.Tư tưởng yêu nước mang hình thức tư tưởng trung nghĩa Tư tưởng yêu nước cũng thường gắn với ước mơ một xã hội bình thường do vua sáng tôi hiền mang lại

Thực tế như đã thấy, mặt thuận lợi, tích cực của chính thể quân chủ chuyên chế là khi hướng tới một mô hình tổ chức xã hội thống nhất, tập trung, chính thể đó đã gây dựng nên, ít nhất cho bộ phận cư dân ―lớp trên‖ của xã hội đó, rồi sau đó là truyền bá vào trong toàn bộ cộng đồng dân cư, ý thức về lãnh thổ thiêng liêng và bổn phận của người được sống trong lãnh thổ - hương hỏa ấy

Đây chính là ―phần sót lại‖ trong chủ nghĩa yêu nước truyền thống, để đến đầu thế kỷ XX, khi ―vua là tượng gỗ, dân là thân trâu‖, các nhà chí sĩ đã dựa vào để giương ngọn cờ tập hợp

Trang 26

Trong văn chương, văn phải gắn liền với ―đạo‖.Quan niệm sáng tác

―văn dĩ tải đạo‖ hay ―thi dĩ ngôn chí‖ đã gắn liền với văn chương Việt Nam

từ rất lâu đời và nó vẫn được tiếp tục duy trì ở giai đoạn này Trước thực tế có những biến động dữ dội, các tác giả Nho học vẫn mong chờ, bám víu vào một niềm tin dù hết sức mong manh về một vị vua hiền và một xã hội yên bình, tốt đẹp Họ vẫn không muốn từ bỏ danh vị của mình một cách hoàn toàn mặc dù

đã thừa nhận sự thất bại của ý thức hệ ―Trung quân‖ vẫn gắn với ―ái quốc‖

Có điều là gặp bi kịch , gặp mâu thuẫn giữa lí tưởng và thực tế Lí tưởng thì vẫn trung quân nhưng thực tế thì quân lại không đáng để trung

Có thể nói, tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp đã làm đứt tung mọi

sự ràng buộc của đạo lý kỷ cương, phép tắc truyền thống Điều đó đã khiến các nhà Nho dần thay đổi cách nhìn và quan điểm của mình về học thuyết Khổng Mạnh Cho đến những năm cuối cùng của thế kỷ XIX, chế độ phong kiến nhà Nguyễn đã hoàn toàn sụp đổ, kéo theo cùng với nó là sự sụp đổ của

ý thức Nho giáo – công cụ chính yếu của nền chuyên chế Rõ ràng khủng hoảng lịch sử là khi cái cũ đã đi hết vận mệnh của nó mà cái mới chưa trưởng thành đủ sức thay thế Marx diễn đạt rằng đó chính là trạng thái bi kịch Chính

vì đã ―dốc cạn vốn‖ mà ―sự vẫn không thành‖, cộng đồng Việt mới tìm tới những công cụ tư tưởng mới

Thực chất ngay từ cuối thế kỷ XIX, một số nhà yêu nước tiến bộ Việt Nam đãđề xuất những yêu cầu duy tân cải cách, tiêu biểu hơn cả là những lời điều trần của Nguyễn Trường Tộ Nguyễn Trường Tộ cũng đi theo đường lối chủ hoà Nhưng chủ hoà của Nguyễn Trường Tộ dựa trên cơ sở phân tích xu hướng xâm chiếm thuộc địa của các nước tư bản phương Tây sang phương Đông, phân tích tương quan mất cân bằng lực lượng giữa quân xâm lược và triều đình Ông coi hoàlà chiến lược nhất quán từ đầu đến cuối và trên thế chủ động bàn hoà nhằm mục đích có hoà bình để canh tân, nâng cao nội lực đất

Trang 27

nước Mong muốn xây dựng một mô hình nhà nước hiệu quả trong quản lýđất nước, Nguyễn Trường Tộ đề nghị nhiều cải cách hành chính như hợp tỉnh, huyện để tinh giản biên chế; giản lược thủ tục giấy tờ; tăng lương và có chếđộ đãi ngộ thoả đáng cho quan chức để tăng trách nhiệm của đội ngũ quan lại, chống tham nhũng; sử dụng đội ngũ quan lại có thực tài, có chuyên ngành thực dụng ngoài Nho giáo…Những đề nghị cải cách này, nếu được thực hiện

sẽ dần dần tạo ra sự thay đổi lớn trong cơ chế quản lý, điều hành nhà nước, nâng cao được sức mạnh quản lý của bộ máy công quyền

Như vậy, những đề nghị cải cách hành chính của Nguyễn Trường Tộ đã thể hiện tầm tư duy chính trị đổi mới của ông Đứng ở vị thế một người độc lập đối với bộ máy nhà nước, Nguyễn Trường Tộ phân tích, đánh giá nội lực yếu kém của triều đình trong tương quan với sức mạnh quân sự của thực dân Pháp vàđề nghị giải pháp hoàđể canh tân mọi mặt kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm nâng cao nội lực, tiến tới bảo vệ lâu dài nền hoà bình thực sự cho đất nước Những tư tưởng chính trị này so với thực trạng chính trị triều Nguyễn khi đó thực sự là có tính chất đổi mới

Nguyễn Trường Tộ đã triệt để đả phá quan niệm văn hoá lạc hậu đó của triều đình và các văn thân nho sĩ Ông nêu dẫn chứng, kể cả Trung Quốc cũng

đã từ bỏ quan niệm văn hoá ngạo mạn đó và hăng hái học tập văn minh phương Tây Phê phán quan niệm văn hoá lạc hậu, Nguyễn Trường Tộ khẳng định, chỉ có con đường học tập văn minh phương Tây mới có thể khắc phục các mặt yếu kém của đất nước, dần dần tự trị, tự cường và chiến thắng kẻ xâm lược có nền văn minh cao hơn Nguyễn Trường Tộ đã đề xuất một tư duy kinh tế mới, lấy lợi ích, lấy hiệu quả, lấy việc phát triển nguồn của cải xã hội làm mục đích Tuy nhiên, bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ chỉ được nhà Nguyễn thực hiện nhỏ giọt theo kiểu hình thức, không mang lại kết quả thiết thực

Trang 28

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, mặc dù xã hội Việt Nam có sự phân hóa giai cấp, làm nảy sinh một số giai cấp mới, song chưa có giai cấp nào đủ điều kiện để đứng lên lãnh đạo phong trào yêu nước đương thời Ngọn cờ dân tộc, dân chủ thời đại mới, lịch sử đành trao tay cho giai cấp cũ – các sĩ phu nho học Có thể nói, trước sự thay đổi nhanh chóng của thời đại, các nhà nho yêu nước tiến bộ đã không ngừng đổi mới bản thân để tiếp thu cái hiện đại

Họ chủ động tìm kiếm, đón nhận luồng gió Tân thư Tân thư như ngọn gió

Đông ấm áp từ từ len lỏi vào Việt Nam đem đến những cái nhìn tiến bộ, khác hẳn Nho học truyền thống, nó hé mở con đường cứu nước mới Tân thư là khái niệm dùng để gọi chung cho các sách báo mới về nhiều lĩnh vực kinh tế,

xã hội, khoa học kỹ thuật , đặc biệt là sách chính trị của nước ngoài được bí mật đưa về Việt Nam Các nhà nho Việt Nam ―khai tâm‖ bằng những tân thư của Khang, Lương và tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây qua sách

dịch Trung Quốc Niềm say mê Tân thư còn được kích thích bởi nước Nhật

―đồng văn đồng chủng‖ và các sự kiện lớn trên thế giới như cuộc chính biến năm 1898 ở Trung Quốc, cuộc chiến tranh Nhật – Nga năm 1905, cuộc cách

mạng Tân Hợi năm 1911 ―Các nhà nho cách mạng say mê Tân thư không

phải để thỏa mãn lòng yêu thích cái mới lạ, mà để tìm phương sách giải quyết vấn đề dân tộc Họ đã vận dụng các học thuyết Tân thư mà họ tiếp thu được vào công cuộc cứu nước‖[11, tr 270]

Do ảnh hưởng của Tân thư trong những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế

kỷ XX ở nước ta đã dấy lên một phong trào duy tân giống phong trào duy tân

ở Trung Quốc Phong trào này gồm ba mặt giáo dân (giáo dục dân), dưỡng dân (làm cho dân giàu có), và tân dân(làm cho dân đổi mới) Biện pháp là mở các trường học, dạy kiến thức mới, chống lại lỗi học của nhà trường Nho giáo, giáo dục hợp quần, đạo đức công dân, mở mang công thương nghiệp cổ động dùng hàng nội hóa, tuyên truyền cổ động bài bác ―hủ nho‖, thực hiện các

Trang 29

nước, nghĩa đồng bào, và các tiêu chuẩn đạo đức của người nông dân Sự ra đời của trường Đông Kinh nghĩa thục là bước mở đầu cho công cuộc mở rộng

tư tưởng đổi mới của các nhà nho

Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội khai giảng tháng 3- 1907, số học sinh lúc đầu có 400-500, sau lên 1000, có ký túc xá cho vài chục học sinh Có các lớp khác nhau dành cho các loại học sinh khác nhau, có lớp dành riêng cho các nhà khoa bảng Nho học Có nội khóa và ngoại khóa Nội khóa dạy các kiến thức về sử ký, địa lý, cách trí, vệ sinh Ngoại khóa là tổ chức diễn thuyết, bình văn, giảng báo Hoạt động ngoại khóa thu hút đông đảo quần chúng

Trong các tài liệu tuyên truyền giảng dạy tại Đông Kinh nghĩa thục, tác

phẩm Văn minh tân học sách là tác phẩm điển hình cho thấy cách các nhà Nho yêu nước Việt Nam hồi đầu thế kỷ vận dụng tư tưởng Tân thư vào chủ

trương duy tân đất nước.Luận điểm cơ bản của cuốn sách là : tình trạng dã man hay văn minh của một nước là do trình độ dân trí quyết định Vì vậy, muốn tiến lên văn minh thì phải mở mang dân trí, ngược lại càng văn minh thì

dân trí càng phải cao.Văn minh tân học sách chỉ ra nguyên nhân nước ta chậm

phát triển so với các nước châu Âu là do: ―Một là, khởi ở các điểm nội hạ ngoại di, không thèm hỏi đến chính thuật và kỹ năng của nước khác Hai là, khởi ở cái điểm quí đạo vương, khinh đạo bá, không thèm giảng đến cái học

cơ xảo phú cường của nước ngoài Ba là, khởi ở cái điểm cho xưa là phải, nay

là quấy, không chịu xem xét kiến thức và sự suy nghĩ bàn luận của người sau

Bốn là, khởi ở cái điểm trọng quan và khinh dân, nên không thèm kể đến

tình hình hay dở ở chốn lương thôn ‖[11, tr 275) Điều đó đã dẫn đến thực trạng đất nước là: Về tư tưởng ―nói về mở mang trí khôn thì không có gì‖.Về giáo dục: ―những môn ta học và nhớ ấy chỉ là sách Tàu chỉ là lời dạy của cổ nhân , những thứ ta thị ấy chỉ là kinh nghĩa, thơ ngũ ngôn, biền ngẫu tứ lục ‖ trong khi ở các nước Âu Tây thì chú trọng các môn khoa học‖.Về chính trị:

Trang 30

chính trị thì ―cấm thay đổi sửa sang, dùng người thì quí im lìm lặng lẽ , dân gian không được học thể lập hiến, có chính thể quân dân cộng hòa ‖ Về xã hội: ―ngoài văn chương không có gì là quý, người áp chế không có gì là tôn chỉ, ngoài phục tùng không có gì là nghĩ xa ‖ trong khi các nước Âu Tây có chính thể cộng hòa , có phái tự do ‖ Về phong tục thì: ―lìa nhà mười dặm

đã bùi ngùi ‖ chưa từng nghĩ tới các ―môn học thực dân‖, chưa từng đi tìm

―thị trường tiêu thụ hàng hóa ‖ trong khi các nước Âu Tây thì ―trọng du lịch‖

và xem thường hiểm trở gian nan‖[11, tr 275] Từ đó, đưa ra giải pháp:

Biện pháp thứ nhất: ―Dùng văn tự nước nhà‖

Biện pháp thứ hai: ―Hiệu đính sách vở‖

Biện pháp thứ ba: ―Sửa đổi pháp thi‖

Biện pháp thứ tư: ―Cổ võ nhân tài‖

Biện pháp thứ năm: ―Chấn hưng công nghệ‖

Biện pháp thứ sáu: ―Mở tòa báo‖

Cuối tác phẩm, tác giả đưa gương duy tân của nước Nhật, gương thức tỉnh của người Trung Quốc, thống thiết kêu gọi phải học tập và thâu thái văn minh Âu châu

Như vậy, Văn minh tân học sách đã cổ vũ tinh thần chống bảo thủ, coi trọng việc mở mang dân trí, mở ra trào lưu Duy tân đất nước

Văn minh tân học sách cũng giống như nhiều tài liệu giáo dục của

Đông Kinh nghĩa thục, chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng dân chủ của các nhà khai sáng Pháp và thuyết tiến hóa luận, trong đó có thuyết cạnh tranh sinh tồn

Tư tưởng dân chủ có liên quan đến nhiệm vụ phản phong và thuyết cạnh tranh sinh tồn có liên quan đến nhiệm vụ phản đế Do rất thiết thực với phong trào yêu nước đương thời nên Văn minh tân học sách nói riêng, phong trào Đông Kinh nghĩa thục nói chung nhanh chóng lan rộng, khiến cho tư tưởng duy tân

Trang 31

không còn lác đác ở một số cá nhân nhà Nho tiến bộ mà trở thành một tư trào mạnh mẽ

Như vậy, chỉ trong khoảng thời gian rất ngắn, từ những năm cuối thế

kỷ XIX đến những năm đầu thế kỷ XX, ở nước ta, dưới sự tác động của thực dân Pháp đã diễn ra quá trình vận động, đứt gẫy và phát triển mạnh mẽ của hệ

tư tưởng chính trị, xã hội Đó là sự chuyển biến từ hệ tư tưởng Nho giáo sang

hệ tư tưởng dân chủ tư sảnmà sơ kỳ chính là sự chuyển biến của tư tưởng trung nghĩa sang tư tưởng duy tân Quá trình chuyển đổi này được phản ánh rất sâu đậm trong văn học nhà Nho giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

Kết luận chương 1

Vào khoảng giữa thế kỷ XIX, khi chủ nghĩa thực dân đã phát triển mạnh mẽ, sang giai đoạn tư bản độc quyền, đẩy nhu cầu về nguồn nguyên liệu, nhân công và thị trường tiêu thụ lên cao thì việc những quốc gia ―mất sức đề kháng‖ như nước ta dưới triều Nguyễn trở thành con mồi xâm lược của chúng

là chuyện tất yếu xảy ra

Không ít người đã nhìn ra nguy cơ từ rất sớm, đề xuất những chính sách cải cách đất nước nhằm tăng cường tiềm lực quốc phòng Nhưng với sự bất tài và độc đoán của các chúa Nguyễn, tất cả mọi bản điều trần đều có giá trị như một mớ giấy lộn Đó là điều đáng tiếc của lịch sử

Trong khi một quốc gia châu Á khác - Nhật Bản, đã từng rất nghèo, bằng con mắt chính trị nhạy cảm, họ nhanh chóng tìm con đường đổi mới, dần dần trở thành một quốc gia giàu mạnh, tự cường thì nhà Nguyễn lại như con ốc nằm co, thực hiện những chính sách lạc hậu như bế quan tỏa cảng, chém giết giáo sĩ phương Tây, đẩy mạnh Nho học khiến đất nước đã yếu lại càng yếu Và khi thực dân Pháp nổ tiếng súng xâm lược thì triều đình lại bộc

lộ bản chất hèn nhát, bạc nhược Không ít các vị vua quan thay nhau làm bù

Trang 32

nhìn, tay sai cho giặc Duy nhất một ông vua yêu nước đủ dũng khí đứng lên kêu gọi sỹ phu chống lại quân thù – Hàm Nghi

Hưởng ứng chiếu Cần vương của Hàm Nghi, các sỹ phu Bắc kỳ đã đứng lên tập hợp lực lượng tiến hành một cuộc kháng chiến kéo dài hơn chục năm Cuộc kháng chiến Cần vương diễn ra đúng theo tính chất phong kiến

Đó là: có vua đứng đầu phát chiếu kêu gọi chống giặc ngoại xâm, dù rằng sau

đó ít lâu, Hàm Nghi bị bắt, bị đầy đi Angieri nhưng ông vẫn là linh hồn của cuộc kháng chiến; các sỹ phu chiến đấu với tinh thần ―xả thân thủ nghĩa‖, nghĩa ấy là nghĩa quân thần, là lòng trung nghĩa, chiến đấu vì nước, vì dân nhưng trên hết là vì một người có vai trò hướng đạo như vị chúa trong tôn giáo – một ông vua; và quân sỹ chiến đấu hết mình với vũ khí và phương pháp truyền thống nếu không nói là lạc hậu Do chênh lệch lực lượng quá lớn, phong trào Cần vương dù đã từng như những cơn bão lốc khiến kẻ địch kinh hoàng nhưng cuối cùng vẫn thất bại

Sự thất bại của phong trào Cần vương làm cho thực dân Pháp khấp khởi mường tượng ra thời kỳ mới – thời kỳ đi vào bình định và khai thác Cuối thế kỷ XIX, chúng đã tiến hành cuộc khai thác lần thứ nhất, và đầu thế

kỷ XX, tiến hành cuộc khai thác lần thứ hai Hai cuộc khai thác thuộc địa này lần lượt làm cho Việt Nam có những thay đổi lớn lao về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội, và tư tưởng

Riêng về mặt tư tưởng, diễn ra sự chuyển biến mạnh mẽ từ hệ tư tưởng Nho giáo sang hệ tư tưởng dân chủ tư sản Yếu tố tác động mạnh mẽ nhất dẫn tới bước nhảy vọt về mặt tư tưởng ấy phải nói tới Tân thư Chính những sách báo mang tư tưởng mới, đặc biệt là tư tưởng ―khai sáng‖ và tư tưởng ―tiến hóa‖ len lỏi vào Việt Nam đã làm dấy lên một trào lưu tư tưởng mạnh mẽ - tư trào duy tân mà Nguyễn Thượng Hiền, Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu là những đại biểu tiêu biểu

Trang 33

Tuy nhiên, cũng phải nói thêm rằng, do hạn chế của lực lượng tiếp nhận nguồn sách báo mới là những nhà nho chưa từng học tiếng nước ngoài, cho nên sách báo phương Tây không được họ dịch trực tiếp mà phải thông qua sách dịch của người Trung Quốc Bởi vậy, việc tiếp thu tư tưởng không phải là đường thẳng từ người viết đến người đọc mà đã bị khúc xạ qua đối tượng trung gian, mang dấu ấn của một đối tượng nhận thức khác Đây cũng

là yếu tố bị động ảnh hưởng không tốt đến chiều sâu nhận thức của nhà nho

và phong trào duy tân của dân tộc

Nếu Nho giáo đã là cơ sở cho tư tưởng trung nghĩa thấm nhuần trong

máu của nhà nho kiểu cũ thì Tân thư lại mang đến tư tưởng mới – tư tưởng

duy tân cho các nhà nho kiểu mới Sự xâm lược của thực dân Pháp chính là yếu tố làm đứt tung mọi giàng buộc cũ, đẩy tư tưởng yêu nước đi vào con đường khủng hoảng, buộc các nhà yêu nước phải mò mẫm, tìm kiếm hạt nhân

tư tưởng mới Và việc tìm được Tân thư, đến với tư tưởng duy tân của các nhà nho đã như một cứu cánh cho cuộc cứu nước đương thời

Trang 34

Chương 2

TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC TỪ TRUNG NGHĨA ĐẾN DUY TÂN

CUỐI THẾ KỶ XIX – ĐẦU THẾ KỶ XX

2 1 Giới thuyết chung về tư tưởng trung nghĩa và tư tưởng duy tân

2.1.1 Tư tưởng trung nghĩa và biểu hiện của tư tưởng trung nghĩa trong văn học nhà Nho

Lịch sử tư tưởng Việt Nam có sự ảnh hưởng của các tôn giáo: Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo Trong đó, suốt trong thời kỳ trung đại, Nho giáo

có ảnh hưởng sâu sắc nhất bởi nó phù hợp với thiết chế quân chủ chuyên chế

Tư tưởng trung nghĩa là một phần trong quan niệm đạo đức của các bậc hiền nhân quân tử từng qua lại chốn cửa Khổng sân Trình Tư tưởng này bắt nguồn

từ khát vọng thiết lập một xã hội – ―một thiên hạ‖ hòa mục (hòa), ổn định (bình) và trật tự ( tự) Trong xã hội đó, mọi người sống yên vui với cảnh êm

ấm, ổn định ít xáo trộn, một xã hội có trật tự, không lộn xộn Muốn xây dựng một xã hội như vậy cần phải:

- Thiết lập một xã hội tốt

- Đào tạo một con người tốt

- Theo một biện pháp có hiệu quả

Để thiết lập một xã hội tốt trước hết cần xây dựng được một chính quyền thống nhất, một xã hội qui về một mối Đó là chính quyền có người làm chủ, người chủ trì, người trọng tài không để xảy ra tình trạng mọi người làm theo ý riêng, chạy theo quyền lợi riêng ―Thiên tử phải làm chủ‖ Cho nên Khổng Tử nói: ―Khi nước có đạo thì những việc lớn như lễ nhạc, đánh dẹp phải do thiên tử quyết định, việc chính sự không do các quan đại phu quyết định và dân thường không bàn tán‖; người nào ―không ở chức vụ nào đó thì không bàn công việc của chức vụ đó‖ Biểu hiện của việc thu về một mối là

Trang 35

thiên tử nắm quyền sở hữu ―đất đai dưới gầm trời‖và coi ―tất cả những người

ở trên đất ấy đều là thần dân‖ Thiên tử cũng như người cha chung của tất cả‖[22]

Tiếp thu tư tưởng đó, bài thơ thần được coi là bản tuyên ngôn đầu tiên của Việt Nam đã khẳng định:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”

(Sông núi nước Nam vua Nam ở Rành rành định phận ở sách trời

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời) (Nam quốc sơn hà – Lý Thường Kiệt)

Hai chữ ―tiệt nhiên‖ mang ý nghĩa khẳng định chắc chắn cho quyền sở hữu đất nước của bậc đế vương.Quyền ấy được định rõ trong ―sách trời‖, kẻ xâm phạm quyền sở hữu ấy được coi là ―lũ giặc‖ cần phải tiêu diệt ―đánh tơi bời‖ Bốn câu thơ ngắn gọn nhưng chắc nịch biểu hiện cho quyết tâm bảo vệ quyền lợi của vua Nam Việt, cũng là bảo vệ chủ quyền nước Nam Câu thơ chữ Hán cuối cùng của bài thơ ―Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư‖ không dừng lại ở việc khẳng định quyết tâm tiêu diệt kẻ chiếm quyền vua, xâm phạm chủ quyền dân tộc mà nó còn là niềm tin sắt đá vào lẽ trời Rằng lũ giặc chắc chắn

sẽ bị đánh tơi bời, không phải chỉ do con người mà còn do sự trừng phạt của trời đất Bài thơ cất lên khi quân địch đang ào ạt tiến vào, ―giặc tràn xuống bờ Bắc sông Cầu và đội quân tiên phong của chúng đã bước đầu chọc thủng được chiến tuyến Như Nguyệt Chiến tuyến vỡ, một mảng quan trọng trong niềm

Trang 36

tin vào thắng lợi cuối cùng của quân sĩ ta cũng theo đó mà tan vỡ Muốn giành lại được thế chủ động, trước phải đập tan đội quân tiên phong của giặc,

mà muốn đập tan đội quân tiên phong này, trước phải tìm cách lấy lại và kích động mạnh mẽ tinh thần của quân sỹ”[46].Và bài thơ thần ra đời, được đọc vọng lên từ đền Trương Hống, Trương Hát đã tác động mạnh mẽ vào niềm tin

―thiên mệnh‖, ―lẽ trời‖ kích thích tinh thần quân sĩ Chẳng bao lâu sau quân

Lý Thường Kiệt giành lại phòng tuyến Như Nguyệt, quét sạch bóng quân thù

Sách Việt sử giai thoại đã có lời bàn:―Giữa lúc trận mạc hiểm nguy, sống chết

cận kề mà vị tổng chỉ huy là Lý Thường Kiệt vẫn ung dung làm được bài thơ tuyệt vời này thì quả là vô cùng đặc biệt Thơ đã tuyệt mà cách phổ biến thơ lại còn tuyệt hơn Binh sĩ một lòng tin chắc rằng thần linh sông núi đang đứng

về phía họ, sách trời cũng minh chứng cho đại nghĩa của họ, bảo họ không phấn khích làm sao được Cơ trời huyền diệu, chỉ có thần nhân mới biết được, vậy thì thơ ấy, đọc ở thời điểm ấy, đọc ngay trong đền thờ ấy… tất cả đều hợp

lẽ vô cùng Hậu thế coi đó là bài thơ có giá trị như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước nhà, kể cũng phải lắm thay‖[46]

Thông qua bài thơ và giai thoại về sức mạnh của nó ta thấy, ngay từ những ngày đầu thành lập, nhà nước phong kiến tập quyền Việt Nam đã coi trọng ngôi vị số một của vua, coi đất, coi dân đương nhiên thuộc quyền sở hữu của vua Nhân dân vô cùng tin vào số trời và lẽ trời Nho giáo không phải

là tôn giáo nhưng niềm tin của con người vào lí lẽ của nó thì lại giống như niềm tin của những con chiên Do vậy, gần một ngàn năm tồn tại của chế độ phong kiến, tư tưởng trung nghĩa ngày càng ăn sâu vào tiềm thức của nhân dân Việt Nam, đặc biệt là những người thấm nhuần Nho đạo

Tư tưởng thống nhất về một mối là điểm xuất phát cho việc bảo vệ dòng chính thống , có mệnh Trời Cũng từ tư tưởng đó mà có việc giữ lòng trung nghĩa, không chấp nhận sự phản nghịch, sự vượt phận, xâm phạm đến

Trang 37

ngôi vua Khổng Tử là người rất kiên trì tư tưởng ―tôn vương‖ thể hiện thành nguyên tắc để biên soạn kinh Xuân Thu và chống tội tiếm việt của nhiều nhà quý tộc đương thời Về sau Hán Nho và Tống Nho hoặc là theo hướng tôn giáo, hoặc là theo hướng triết học tìm mọi cách phát huy tư tưởng tôn vương, chính thống đó Nội dung nhất quán vẫn là thống nhất về một mối thì tránh được loạn, giữ được trật tự, ổn định

Bên cạnh đó, Nho giáo cũng chú trọng xây dựng một xã hội khắp nơi

có trật tự trên dưới, một thế giới hòa mục như trong gia đình Nho giáo coi giữa con người với con người có năm quan hệ gọi là ngũ luân: cha – con, anh-

em, vợ - chồng, bè bạn và vua – tôi Về sau được nhấn mạnh ba trong năm quan hệ đó được coi là cơ bản nhất, tức là tam cương: cha – con, vua- tôi, vợ - chồng Ngoài ra họ cũng nhắc đến ba ngôi tôn quí là vua, cha và thầy ―Theo Khổng Tử thì cách trị nước là làm cho ―vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con

ra con‖ Đó là cách quan niệm của một xã hội luân thường và một con người chức năng theo luân thường Con người có giá trị hay không là ở chỗ hoàn thành hay không hoàn thành chức năng‖[22] Sau khi xác lập một mô hình chuyên chế, các nhà tư tưởng, chính trị cần đào tạo con người tốt đẹp theo chuẩn mực Nho giáo Cái họ cần ở con người là ―đạo đức‖ Do vậy Nho giáo khuyến khích việc nỗ lực tu dưỡng đạo đức để đạt điều thiện Như sách Đại học nói: ―Từ thiên tử cho đến người dân thường ai ai cũng lấy tu thân làm gốc‖

Người có đạo đức là người có những phẩm chất cơ bản sau:

― Người ―quân tử‖ mà Khổng Mạnh nói đến có rất nhiều phẩm chất Ở đây chỉ nói đến những mặt mà Nho giáo coi là cơ bản

―Nói trung tín, làm đốc kính, tức là trung thực, có sao nói vậy, không giả dối quanh co, đã nói là giữ lời; trong việc làm cẩn thận và hết lòng, không coi thường, gặp sao hay vậy

Trang 38

Hiếu đễ Nho giáo coi ăn ở hết lòng với cha mẹ và biết kính nhường anh, chị làđiểm cực quan trọng trong đạo đức vì đã ăn ở không tốt với cha, với anh mình thì cũng không thể tốt với người khác được

Trung thứ, nhân hậu Yêu quý người khác, coi người khác cũng như mình

―cái gì mình không muốn thì không làm cho kẻ khác‖ Đòi hỏi ở mình trước rồi mới đòi hỏi ở người khác Sống hoà mục, trung hậu

Khiêm tốn, nhường nhịn Người quân tử không bao giờ được kiêu căng, tranh giành với người khác.Cam chịu phần kém, không oán Trời, trách người, không giành giật, không chê bai, châm chọc‖ [22]

Trong đó, hiếu đễ là được coi là gốc của nhân Người quân tử muốn trở thành nhân thì phải chăm chỉ tu dưỡng đạo đức ―khắc kỷ phục lễ là nhân‖ Quá trình

tu dưỡng đạo đức theo chuẩn Nho giáo này cho ra đời một sản phẩm đặc trưng là những bậc hiền nhân ―ngoan ngoãn, không chống đối, làm rối loạn sự

ổn định, trật tự trên dưới‖[22] Và đương nhiên, hiếu đễ cũng chính là cơ sở

để phát triển lên thành lòng trung nghĩa Bởi theo Nho giáo vua là con trời

―Trời giao nước và dân cho vua; vua theo mệnh trời mà nuôi dân và trị nước; dân là thần tử của vua, phải lấy lòng trung nghĩa mà đối với vua Yêu nước và trung với vua là một, vì dân và phục vụ vua là một Thường thì chỉ trong trường hợp nước có ngoại xâm, ngôi vua gặp nguy nan, nhà vua mới nhắc nhở cho thần dân biết ― Đối với việc hưng vong của đất nước, kẻ thất phu phải có trách nhiệm‖, và người dân mới thấy mình không chỉ sống với làng xã mà còn gắn bó với nước Tư tưởng ―Mệnh Trời‖ đó là cơ sở đạo lý để người thần tử

hi sinh làm người trung nghĩa và người dân thường ngoan ngoãn chờ ―vua thánh tôi hiền đưa lại phúc thái bình‖ [9]

Tư tưởng trung nghĩa đã trở thành một tiêu chí xác định đạo đức của người quân tử thời trung đại Nó trở thành truyền thống, ăn sâu vào máu của mỗi nhà nho, đặc biệt là những nhà nho có tấm lòng yêu nước

Trang 39

Trung nghĩa từng là tư tưởng cao đẹp giúp Trần Quốc Tuấn dẹp đi mối thù cá nhân truyền từ đời trước để hướng về một lí tưởng lớn lao, chân chính: sức mạnh dân tộc – một sức mạnh cần thiết để đưa đất nước 3 lần thoát khỏi họa xâm lăng của kẻ thù lớncó sức mạnh bão táp, từng đì nghiến các quốc gia

từ châu Á đến châu Âu dưới vó ngựa kinh hoàng, đó là đế quốc Nguyên Mông Lòng trung nghĩa cũng là sức mạnh ý chí để người Việt có thể khảng khái: Ta thà làm ma nước Nam chứ không làm vương đất Bắc.Và, ở nhà yêu nước,nhà tư tưởng lớn như Nguyễn Trãi, tư tưởng trung nghĩa được ông vận dụng một cách linh hoạt Sống vào thời điểm chứng kiến giang sơn liên tiếp thay ngôi đổi chủ, ngoại bang nhòm ngó xâm lăng, ông đã sáng suốt lặn lội tới tận Lam Sơn tìm cho mình vị minh chủ và hết lòng trung quân ái quốc Tấm lòng trung nghĩa đã trở đi trở lại trong các sáng tác của Ức Trai:

“ Bui một tấm lòng trung lẫn hiếu

Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen.”

( Thuật hứng)

―Bui‖ là tiếng cổ, nghĩa là ―chỉ‖; ―bui có‖ là chỉ có Một cách nói khiêm tốn mà khẳng định, biểu lộ niềm tự hào về lòng trung hiếu của mình đối với nước, với vua Tấm lòng trung hiếu của Nguyễn Trãi vô cùng bền vững, son sắt, thuỷ chung, dù có mài cũng chẳng khuyết, có nhuộm cũng chẳng đen Câu thơ lục ngôn khép lại bài thơ vang lên đĩnh đạc như một lời thề được khắc sâu bằng hai vế tiểu đối:

“Mài chăng khuyết // nhuộm chăng đen”

Cuộc đời của Nguyễn Trãi đẹp đẽ, thuỷ chung, sáng ngời trung hiếu Trong thơ văn của Nguyễn Trãi, hai tiếng ―trung hiếu‖ và ―ưu ái‖ (ưu quốc, ái dân: lo nước, yêu dân) như một lời nguyền vang vọng cùng sông núi, trường tồn cùng năm tháng Các thế hệ con cháu, mỗi lần đọc lên biết bao xúc động

tự hào:

Trang 40

“Bui có một niềm trung hiếu cũ,

Chẳng nằm thức dậy nẻo ba canh”

(Bảo kính cảnh giới – 1)

“Bui một tấc lòng ưu ái cũ,

Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông”

(Thuật hứng – 5)

Niềm trung hiếu, lòng ưu ái của Ức Trai vô cùng mãnh liệt như nước

thuỷ triều cuồn cuộn chảy suốt đêm ngày ngoài biển đông Chùm thơ Thuật

hứng được tác giả sáng tác khi ông về ở ẩn tại Côn Sơn Điều ấy cho thấy

ngay cả khi thất sủng, tấm lòng trung nghĩa ấy vẫn canh cánh trong lòng Ức Trai Để rồi, ngay khi vua vời trở lại triều đình, ông lại phơi phới niềm vui được phò vua, giúp đời

Tư tưởng trung nghĩa cũng chính là căn cốt để những nhà Nho như Nguyễn Đình Chiểu nhất mực từ chối sự mời gọi béo bở của kẻ thù để ―Thà đui mà giữ đạo nhà‖ Đặc biệt, cuối thế kỷ XIX, với phong trào Cần vương sôi sục, tư tưởng trung nghĩa đã được nâng lên thành tư trào mạnh mẽ trong văn học.Ai cũng thấy ―Cần vương là phong trào giúp vua chống giặc, cứu nước, nhưng phải là ông vua dám đánh giặc, một ông vua không sợ hi sinh, gian khổ Thậm chí khi không có vua nữa (khi vua Hàm Nghi bị bắt) thì họ vẫn kiên trì con đường đã chọn ấy bởi họ vẫn còn có đất nước và nhân dân Cần vương là sự lựa chọn thỏa đáng nhất để họ thực hiện lí tưởng cứu nước trong khuôn khổ, phép tắc của nhà nho Rõ ràng, với phong trào Cần vương,

tư tưởng trung quân - vì vua đã nhường phần lớn cho tư tưởng vì nước, vì dân

mà chiến đấu Các nhà nho Cần vương đã thể hiện một quan niệm về chữ

―trung‖ hết sức mới mẻ, họ đề cao tư tưởng trung quân nhưng trung ở đây là trung với vua Hàm Nghi, một ông vua thủ lĩnh của cuộc kháng chiến, thực chất cũng là trung với cuộc kháng chiến Đối với thứ vua theo giặc như Đồng

Ngày đăng: 11/11/2016, 11:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (1984), Văn học và phê bình, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và phê bình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1984
2. Lại Nguyên Ân (1999), Từ điển văn học Việt Nam, Nxb Giáo dục. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học Việt Nam
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Giáo dục. Hà Nội
Năm: 1999
3. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 1999
4. M Bakhtin (1974), Loại hình học và các mối quan hệ qua lại của các nền văn học trung đại phương Đông và phươngTây, Nxb Khoa học, Matxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loại hình học và các mối quan hệ qua lại của các nền văn học trung đại phương Đông và phươngTây
Tác giả: M Bakhtin
Nhà XB: Nxb Khoa học
Năm: 1974
5. Paul Doumer(2016), Xứ Đông Dương, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xứ Đông Dương
Tác giả: Paul Doumer
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2016
6. Lê Chí Dũng, Văn chương Phan Bội Châu trên con đường hiện đại hóa văn học Việt Nam.www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=13558&rb=0102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn chương Phan Bội Châu trên con đường hiện đại hóa văn học Việt Nam
7. Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức (2010), Văn học Việt Nam 1900 – 1945, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam 1900 – 1945
Tác giả: Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
8. Trần Đình Hượu (1988), Lê Chí Dũng. Văn học Việt Nam giai đoạngiao thời 1900 – 1930, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam giai đoạngiao thời 1900 – 1930
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 1988
9. Trần Đình Hượu (1996), Từ hiện đại đến truyền thống, Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ hiện đại đến truyền thống
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội
Năm: 1996
10. Trần Đình Hượu (1999), Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
11. Đinh Xuân Lâm (chủ biên), Phùng Hữu Phú, Lê Huy Tiêu, Trần Ngọc Vương (1997), Tân thư và xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tân thư và xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Tác giả: Đinh Xuân Lâm (chủ biên), Phùng Hữu Phú, Lê Huy Tiêu, Trần Ngọc Vương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
12. Đinh Xuân Lâm, Trương Thâu, Phạm Xanh (2005), Phong trào Đông Du và Phan Bội Châu, Nxb Nghệ An và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào Đông Du và Phan Bội Châu
Tác giả: Đinh Xuân Lâm, Trương Thâu, Phạm Xanh
Nhà XB: Nxb Nghệ An và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2005
13. Mã Giang Lân (2000), Tìm hiểu thơ, Nxb Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thơ
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: Nxb Thông tin
Năm: 2000
14. Mã Giang Lân (2005), Những cuộc tranh luận văn học nửa đầu thế kỷ XX, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cuộc tranh luận văn học nửa đầu thế kỷ XX
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2005
15. Nguyễn Lộc (2004), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX
Tác giả: Nguyễn Lộc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
16. Phương Lựu (1975), Bàn về quan niệm văn chương cổ Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quan niệm văn chương cổ Việt Nam
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1975
17. Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La Khắc Hòa, Thành Thế Thái Bình (2006), Lí luận Văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận Văn học
Tác giả: Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La Khắc Hòa, Thành Thế Thái Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
18. Đặng Thai Mai (1958), Văn thơ Phan Bội Châu , Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn thơ Phan Bội Châu
Tác giả: Đặng Thai Mai
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1958
19. Nguyễn Đức Mậu Trong lịch trình hát nói. http://www.nghe-online.com/showthread.php?446-H%C3%A1t-n%C3%B3i-Phan-B%E1%BB%99i-Ch%C3%A2u Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trong lịch trình hát nói
21. Nguyễn Đức Mậu, Thiên hạ vi công: Đọc lại Tân đính giáo khoa thư trên bối cảnh Đông Á đầu thế kỷ 20.http://nguyenducmau.blogspot.com/search/label/chuy%E1%BB%83n%20h%C3%B3an%20v%C4%83n%20h%C3%B3a Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w