1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các thời đại lịch sử nước ta: Phần 2

261 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 261
Dung lượng 44,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ebook Việt sử kỷ yếu phần 2 gồm có những mục nội dung sau: Thời kỳ Nam Bắc phân tranh 1528-1802 với các kỷ nhà Mạc (1527- 1592), kỷ nhà Nguyễn Tây Sơn (1789 - 1802); thời đại cận kim với kỷ nhà Nguyễn (1802-1945), thời quân Pháp sang đánh chiếm đất nước ta. Mời các bạn cùng đón đọc.

Trang 1

sự phân chia Nam triều và Bắc triều Họ Trịnh sau diệt được nhà Mạc nhưng rồi ra nước nhà vẫn bị chia cắt, do họ Nguyễn xưng

hùng ở miền nam, nơi đây gọi là Đàng Trong Họ Trịnh xưng hùng

ở miền bắc, gọi là Đàng Ngoài Giang sơn chia rẽ, nam bắc phân tranh Tuy vậy, họ Trịnh và họ Nguyễn chỉ xưng chúa, chứ không

xưng vua Bề ngoài vẫn tôn sùng nhà Lê, thực sự các vua Hậu Lê chỉ có hư vị, mọi quyền chính trị, quân sự ỏ các chúa

Thời gian đất nước bị chia cắt kéo dài suôt gần 300 năm Sau

có nhà Nguyễn Tây Sơn nổi dậy ỏ Đàng Trong, từng đánh ra bắc mưu sự thông nhất nước nhà nhưng dòng họ Nguyễn có Nguyễn Ánh kiên trì chống trả hàng 25 năm, đến năm 1802 mới thu giang sơn lại một nhà

Trang 2

KỶ NHÀ MẠC (1527-1592)

MẠC THÁI TỔ huý ĐẢNG DUNG (1483 - 1541)

CH ÍN H TRỊ - Tháng 6 âl năm 1527, Mạc Đăng Dung thoán vị nhà Lê, lên làm vua, dựng nên nhà Mạc Lên ngôi, Đăng Dung phong thưởng cho các anh em, họ hàng và người trong vây cánh có công tôn phù Đăng Dung đưỢc nưốc do nhờ sức quân đội mà nổi

cơ đồ nên hậu đãi tướng lĩnh và quân sĩ, nhưng vẫn muốh giới sĩ phu cũng theo về mình nên gọi các quan cùng con cháu các quan tiền triều xuất sĩ, lại truy phong các vị đã tuẫn tiết, kể cả những người đã chốhg đối Mở khoa thi văn ngay từ năm 1529 Mọi việc chính trị đều theo phép cũ của nhà Lê, không cải cách gì mấy, vẫn long trọng phụng sự tôn miếu nhà Lê, lại tu sửa các đền miếu thờ các vua và công thần các triều Ngô, Đinh, Lý, Trần

Đăng Dung theo lối nhà Trần, năm 1530, nhường ngôi cho con là Đăng Doanh, về nguyên quán làng cổ Trai làm thái thượng hoàng, vẫn giữ quyền chính

CÁ C TOÁN NỔI DẬY CHỐNG ĐỐI - Dân chúng từ lâu khổ sở về loạn lạc Đăng Dung lên ngôi, dân chúng vẫn còn nhớ thòi Hồng Đức thanh bình thịnh vượng, oán họ Mạc, nên khi có hào kiệt nổi dậy chống đối thì nhiều người ùa theo

Năm 1528, có Bích Khê hầu Lê Công Uyên cùng với Nguyễn Ngã, Nguyễn Thọ Trường khởi nghĩa, bị đánh thua, chạy vào Thanh Hoa, chiêu tập dân chúng, nhưng thế lực không đưỢc hùng mạnh lắm, bị tướng Mạc Lê Thiệu đánh bại Uyên bị giết, quân sĩ tan vỡ.Nám 1529, lại có Lê Ý, con công chúa An Thái, khởi binh ở châu Quan Gia, đất sông Mã, thuộc Thanh Hoa Dân chúng hưởng ứng nhiều Đăng Dung đích thân dẫn hàng vạn quân thuỷ bộ vào đánh, mấy trận đều bị thua Sau Đăng Doanh tiến đánh nữa, cũng lại thua to luôn Sau có tướng Mạc Quốc Trinh dò biết Lê Ý thắng trận luôn, kém phòng bị, tiến quân đánh úp, phá tan doanh trại, bắt được Lê Ý đem về Đông Kinh giết chết

Tiếp theo có công cuộc khỏi nghĩa của Nguyễn Kim quy mô rộng lớn

298

Trang 3

VIỆC GIAO THIỆP VỚI NHÀ MINH - Mạc Đăng Dung thoán vị lên làm vua, sỢ nhà Minh bên Trung Quốc mUỢn tiếng hỏi tội, cất quân sang đánh nước ta, sai sứ sang Yên Kinh, dâng biểu nói:

“Con cháu nhà Lê không còn ai thừa tự nên chúc thác đại thần họ Mạc tạm quản việc nước, để yên nhân dân.”

Năm 1529, có cựu thần nhà Lê là anh em Trịnh Ngung, Trịnh Ngang sang Minh báo cáo Đăng Dung cưóp ngôi và xin binh

để dẹp Người Minh sai quan sang thăm dò tin tức, gạn hỏi căn do Đăng Dung cùng bày tôi đặt lòi lẽ đôi đáp, lại dùng vàng bạc đút lót quan nhà Minh giữ biên thuỳ để nhờ che chở nên vẫn chưa có

sự gì diễn ra Sau Nguyễn Kim lập Lê Duy Ninh, sai Trịnh Duy Liệu sang Minh cáo tội trạng Đăng Dung và xin đánh dẹp Duy Liệu giỏi văn chương, trình bày sự việc, lòi lẽ rất lâm li bi đát Minh Thế Tông, niên hiệu Gia Tĩnh, muốh lợi dụng cơ hội này sal quân sang đánh chiếm đất nước ta, lập thành quận huyện Song triều thần Trung Quốc vẫn e ngại lại có sự Vương Thông, Liễu Thăng nữa Thượng thư bộ binh Mao Bá ô n tâu: “An Nam phong tục mọi rỢ, khí hậu chướng độc, không thích hỢp với Trung Quốc Dân Man sính làm loạn, liên kết bè đảng, vây hãm đánh giết Xưa Trương Phụ đem hơn 10 vạn quân sang, lấy được đất nhưng rồi ra không giữ đưỢc lâu Vậy chỉ nên để ngoài, không nên cho nội thuộc.” Triều đình nhà Minh, tuy biết thế nhưng muốn tỏ uy quyền nưốc lớn, làm ra bộ hung hăng sẽ điếu phạt họ Mạc, phô trương thanh thế, cử Cừu Loan làm tông đốc quân vụ, Mao Bá ôn làm tán lý quân vụ, xuốhg miền Lưỡng Quảng, Vân Nam, điều động quân lính đóng trên biên giới nước ta, nhằm uy hiếp nhà Mạc Người Minh lại truyền hịch đi các nơi kể tội Đăng Dung và treo thưởng quan tước và 1, 2 vạn lạng bạc cho ai bắt sổhg hay chém được cha con Đăng Dung Bấy giò là năm 1537

Một mặt, Đăng Dung sai Phan Chính Nghị đưa thư đến Vân Nam, đại ý nói ba vua Lê CUỐI cùng thì một người bị giặc giết, hai người sau lần lượt chết bệnh Họ Lê không có con nối Khi vua cuôl cùng sắp mất, có bàn với quần thần: “Đăng Dung và con trai, đều có công với nước, vậy giao ấn tín cho y để giữ nước” Còn Duy Ninh là con của loạn thần Mặt khác, Đáng Dung chỉnh đốh quân đội, sửa soạn vũ khí sẵn sàng kháng chiến

Người Minh lại sai sứ sang dụ Đăng Dung nên tự trói mình đền tội và thành khẩn dâng nộp sổ sách ruộng đất, nhân dân thì được tha cho khỏi chết Đăng Dung sai bọn Nguyễn Văn Thái sang

Trang 4

sứ Minh xin hàng, một mặt sai người bí mật giao dịch với Trương Nhạc, tướng giữ châu Liêm, từng nhận nhiều hối lộ, vốn đã che chở cho y, vận động tướng này thu xếp sao cho y được trọn vẹn.Quan quân nhà Minh được lệnh đi chinh nam, nấn ná sửa soạn hàng hơn hai năm mới tiến quân đến gần biên thuỳ nước ta, rồi cũng không dẫn quân xâm nhập, cũng không hống hách đòi Đăng Dung đến nghe hiệu lệnh Để giải quyết tình thế căng thẳng trong quan hệ Trung - Việt này đòi hỏi nhà Mậc phải biết phát huy truyền thốhg ngoại giao giữ nước của dân tộc, sáng suốt giữ thể diện trong điều đình, dù phải mềm mỏng nhưng ít phải nhượng bộ.

Tuy nhiên, quan tướng nhà Minh vẫn ngang ngược đòi hỏi quá đáng cắt đất dâng nộp, đòi Đáng Dung đích thân đến cửa quan dựng mốc, từ bỏ đế hiệu, vâng lĩnh lịch theo ngày tháng niên hiệu vua Trung Quốíc

Tháng 11 âl năm 1540, Đăng Dung để Phúc Hải ở lại giữ nước, cùng với con cháu người họ và bầy tôi hơn 40 người đến Nam Quan dâng tờ biểu hàng và sổ sách ghi chép thổ địa quân dân trong nước, tình nguyện nộp bốh động Tư Lẫm, Kim Lạc, c ổ Sâm

và Liêu Cát đổi lấy việc xin ban cho niên lịch và ấn tín Lửa chiến tranh đưỢc rút ngòi Tướng Minh thu quân về Đăng Dung đem nhiều vàng bạc tặng riêng, sai Mạc Văn Minh cùng tiểu mục tòng nhân 28 người theo tuỳ viên của tướng Minh tới Yên Kinh dâng tò biểu cầu hoà Lại sai tiểu mục Nguyễn Như Quế, kỳ nhân Lê Thuyên và sĩ nhân Nguyễn Kính Tế dâng tò biểu lên vua Minh ca tụng công đức dẹp loạn yên dân của cha con Đặng Dung và xin phong cho nhà Mạc

Bọn Cừu Loan, Mạo Bá ôn không phải khó nhọc đánh chác

gì, được Đăng Dung xin hàng, dâng đất có công, lại còn được Đăng Dung hối lộ riêng, cực lực xin vua Minh phong cho Đăng Dung Năm 1541, Minh Thế Tông ban chiếu xá tội cho cha con Đăng Dung, đổi An Nam quốc làm An Nam đô thống sứ, trao cho Mạc Đăng Dung làm đô thống sứ, cho hàm nhị phẩm và quả ấn bằng bạc và đưỢc đời đòi truyền nốì

Sứ giả mang sắc phong sang tới nơi thì Đáng Dung đã chết Sau bọn Mao Bá ô n xin cho Mạc Phúc Hải lĩnh chế mệnh Minh Thế Tông ưng cho

Ngày 27 - 8 âl năm 1541, Mạc Đăng Dung chết, làm vua 3 năm, làm thái thượng hoàng 12 năm, thọ 59 tuổi

300

Trang 5

CÁC VUA NHÀ MẠC SAU ĐÃNG DUNG

1530 1592

Đăng Doanh tại vị từ năm 1530 đến năm 1540, Phúc Hải

1541 - 1546, Phúc Nguyên 1546 - 1561, Mậu Hợp 1562 - 1592 Sau năm 1592, họ Mạc chỉ còn giữ được một phần nhỏ đất nước tại xứ Cao Bằng

Các vua Mạc trị vì miền bắc, sử chép là Bắc triều

Các công việc cai trị trong nước, nhà Mạc nhất nhất đều theo phép tắc nhà Lê cũ Suốt thòi gian họ Mạc làm vua là những năm

có chiến tranh liên miên Triều đình trọng võ Gia đình binh sĩ đưỢc cấp hai phần ruộng, mà binh điền lại phải là ruộng tốt hạng nhất Các tướng tá đưcíc phong chức tước cao quý, đồng thòi có đến 5, 7 quốc công và quận công Nhưng vàn học cũng được trọng Các khoa thi được mở đều đặn ba năm một kỳ Dưới triều đại này có nhiều người thi đỗ trạng nguyên, bảng nhãn

Mạc Đăng Doanh chết năm 1540, trước cha Đăng Dung lập người con trưởng của Doanh là Phúc Hải kế vị

Thòi kỳ Đăng Doanh làm vua, có Trịnh Ngung, Trịnh Ngang chiếm cứ xứ Thái Nguyên; Vũ Văn Uyên (Văn Mật) chiếm cứ xứ Tuyên Quang, không theo hiệu lệnh họ Mạc Nguyễn Kim nổi dậy

ở Thanh Hoa, Nghệ An Các nhóm này đều cầu cứu nhà Minh.Thời Phúc Hải, có việc năm 1541, Minh Thế Tông phong làm

đô thống sứ Phúc Hải lên đến cửa quan lĩnh tò sắc, quả ấn và

1000 quyển lịch, sau tạ ơn vua Minh 209 lạng vàng, 800 lạng bạc

và 20 sừng tê giác, 30 ngà voi

Năm 1545, các miền Hoan, Diễn, 0 , Rí, Quảng đều đua nhau đến cửa quân nhà Hậu Lê xin hiệu lực Thê nhà Mạc ngày càng xuốhg

Ngày 8 - 5 âl năm 1546, Phúc Hải chết, ở ngôi 6 năm

Con trưởng Phúc Hải là Phúc Nguyên hãy còn trẻ tuổi Trong triều có Tứ Dương hầu Phạm Tử Nghi bàn: Hiện trong nước đang lúc nhiễu loạn nên phải lập vua lớn tuổi Con thứ hai Thái Tổ (Đăng Dung) là Hoằng vương Chánh Trung đã nhiều phen cầm quân, thường thắng trận Vậy nên dựng lên nôl ngôi Các tôn vương họ Mạc và các tướng Nguyễn Kính, Trần Phỉ, Lê Bá Ly, không theo, bàn định dựng Phúc Nguyên

Trang 6

Phạm Tử Nghi cùng tỳ tướng khỏi loạn, đem Chánh Trung chiếm cứ Ngự Thiên ở Hoa Dương, tiếm xưng tôn hiệu Các quan có nhiều người theo, Phúc Nguyên phải chạy sang Đông Khiêm vương Mạc Kính Điển và bọn Nguyễn Kính phát binh đánh Tử Nghi, buổi đầu có thua nhiều trận nhưng sau tập hỢp được nhiều tướng tá, họp các đạo quân thuỷ bộ cùng tiến, phá được quân của Chánh Trung Tử Nghi đem bọn Chánh Trung chạy, chiếm cứ xứ An Quảng Chánh Trung cùng mấy người họ Mạc thất thế, đem gia quyến hơn trăm người, chạy sang Khâm Châu Tử Nghi giữ đất An Quảng, lại vào địa phận Trung Quôh, khua dụ dân Man ở ven biên nổi loạn cướp phá, làm tao nhiễu Khâm Châu và tỉnh Quảng Đông Nhà Minh tỏ ra lúng túng, không chế ngự được các cuộc nổi dậy này Sau họ ép Kính Điển sai người dụ bắt được Tử Nghi, đem chém Bấy giờ

là năm 1548

Trong thời gian Phúc Nguyên còn nhỏ tuổi chưa quyết định được gì, mọi công việc lớn nhỏ đều do người chú Khiêm vương Mạc Kính Điển định đoạt

Năm 1549, vua Minh tập phong cho Phúc Nguyên

Trong triều bấy giờ có Phụng quận công Lê Bá Ly chức thái tể là vị lão tướng trọng thần, nguyên là quan triều Lê, theo làm bày tôi họ Mạc, thò bô"n triều vua, chuyên giữ binh quyền, tham dự triều chính, mọi người đều phục Sau khi đánh Phạm Tử Nghi, uy danh lừng lẫy Con trai trưởng Phó quận công Khắc Thận lấy công chúa, quyền tiết chế lộ Sơn Nam Con trai thứ Thuần Lương hầu quản đôh đội cấm binh Con rể, thông gia đều là quan văn, võ Lại cỏ Vĩnh quận công Phạm Quỳnh và con là Phó Xuyên hầu Phạm Giao, không có công gì, chỉ do vỢ Phạm Quỳnh xưa là vú sữa nuôi Kính Điển

mà được phong Bị khinh khi, Phạm Quỳnh gièm với Kính Điển và nói với Phúc Nguyên là Khắc Thận có dị mưu (phản

nghịch), rồi tự ý sai quân đến vây nhà Bá Ly Bá Ly c ố thủ,

gọi con em đến cứu viện 3.000 cấm binh hộ vệ, đánh bại bọn Quỳnh, Giao Phúc Nguyên hoảng sỢ, chạy qua sông, sai người xin Bá Ly bãi binh Bá Ly đòi phải bắt cha con Phạm Quỳnh giải đến Phúc Nguyên không chịu, sai bọn tướng Sơn

Trang 7

Tây hỢp binh đánh Bá Ly được nhiều toán quân cứu viện, đánh bại quân Phúc Nguyên, mà Phúc Nguyên vẫn không chịu nộp cha con Quỳnh, Giao Bá Ly tức giận, bàn với các tướng: Vua nhà Lê đã chính vị ở Thanh Hoa, bôn phương quy phục, thực là vị chúa trung hưng Nay nên dẫn quân quy thuận, dựng nên nghiệp lớn Mọi người đồng thanh nghe theo

Lê Bá Ly cùng con trai Khắc Đôn, Khắc Thận xuất 14.000 quân các đạo tây nam, cùng với Nguyễn Thiến, Nguyễn Quyện tới bái yết vua Lê đóng ở sách Vạn Lại Thái uý Đoan quận công Nguyễn Khải Khang cũng đem 3.000 quân vào quy thuận Cháu rể Bá Ly là Khổng Lý và Đặng Huấn cũng theo vào Bây giò là năm 1551 Do sự việc này, thanh th ế của nhà Mạc bị suy giảm nhiều Phúc Nguyên lo sỢ, binh quyền uỷ hết cho Kính Điển tính kế bảo thủ

Trong thòi gian Phúc Nguyên làm vua, quân Mạc nhiều lần đánh vào Thanh, Nghệ không được Quân Trịnh cũng có đánh ra bắc (sự việc chép kỹ ở sau)

Mạc Phúc Nguyên làm vua 15 năm, mất năm 1561 Có thuyết mất năm 1564

Phúc Nguyên mất, con là Mậu HỢp nôl ngôi Đ ại Việt thông sử chép Mậu Hợp sinh năm 1563, lên ngôi 1564 Vua

mối lên hai tuổi, các công việc đều do ông chú Mạc Kính Điển

và Mạc Đôn Nhượng (con Đăng Doanh) Mậu Hợp làm vua được 30 năm, thời gian này chỉ toàn những năm có chiến tranh Buổi đầu còn có những trận quân nhà Mạc đánh vào miền trong, quân Trịnh đánh ra Thế quân Trịnh ngày càng mạnh, từ năm 1583 chiến thắng luôn Thế mà Mậu Hợp lớn lên lại hoang chơi, say mê tửu sắc Trọng thần già chết Các quan văn võ nhiều ngưòi dâng thư xin tu tỉnh, sửa đức, chỉnh đốn việc cai trị, nhất là võ bị Mậu Hợp khen phải nhưng chẳng chịu theo Họ chán nản, nhiều người bỏ quan về, hoặc đi

ẩn, hoặc vào hàng họ Trịnh, Thế quân ngày một suy kém Tháng 12 năm Mậu Thìn (1592), Mậu Hợp thua trận, chạy trôn, bị bắt, chém

Nhà Mạc mất ngôi từ đấy Sau con cháu nhò nhà Minh bênh vực, còn giữ đất Cao Bằng ba đời nữa, đến năm 1677 mới dứt hẳn

Trang 8

NGUYỄN KIM Tên chữ Hán viết , tiếng Quan hoả là Jin, đồng âm với các

chữ Ta quen đọc là Kim, / r t là Cân Sách Đại Việt

thông sử của Lê Quý Đôn chép là Cam Tiếng Kim thông dụng hơn.

Nguyễn Kim thuộc dòng họ Nguyễn Tốhg Sơn Thanh Hoa, một lệnh tộc, dòng dõi Nguyễn Bặc, công thần triều Đinh Truyền đến Nguyễn Văn Lang làm quan dưới triều Hồng Đức Đến Nguyễn Hoằng Dụ làm quan dưới triều Lê Chiêu Tông, tước An

Hoà hầu Nguyễn Kim, con Nguyễn Hoằng Dụ {Đại Việt thông sử

chép em) lĩnh chức hậu vệ điện tiền tướng quân, tước An Thanh

hầu Sách Việt N am kh ai quốc ch í truyện chép Nguyễn Hoàng

Kim là con Nguyễn Hoằng Dụ, cháu Nguyễn Văn Lang, đều làm quan nhà Lê

Mạc Đáng Dung thoán vị, Nguyễn Kim không phục, đeni con em chạy sang Ai Lao, mưu đồ khôi phục, lánh loạn ở sầm Châu, chiêu binh mãi mã, kêu gọi các người trung nghĩa Cuôl năm 1530, có sô" binh tướng hơn ngàn người, 30 con voi, 300 con ngựa, về kinh lược xứ Thanh Hoa, đóng quân ở Lôi Dương Năm 1531, tướng Mạc Nguyễn Kính vào đánh Nguyễn Kim đánh phá được, rồi chia tướng sĩ đóng ở các huyện Nguyễn Kính đánh nữa, vẫn bị thua Sang thu, mưa nhiều, quân Mạc dùng chiến thuyền tiến đánh, quân dân tán loạn Nguyễn Kim phải rút quân về sầm Châu

Sau tìm được con trai Lê Chiêu Tông là Lê Duy Ninh Cuối năm 1532, Nguyễn Kim cùng các cựu thần nhà Lê: Lý quốc công Trịnh Duy Thoan (Nõn, Thuận), Phúc Hưng hầu Trịnh Duy Duyệt,

tả đô đốc Trịnh Duy Liệu dựng Duy Ninh lên làm vua, tục hiệu vua

Lê Trang Tông, đóng ở sầm Châuv miền tây bắc Thanh Hoa, biên giới Ai Lao Cử Trịnh Duy Liệu sang Minh nhò giúp đỡ Hào kiệt các nơi theo về nhiều Năm 1537, Tây An hầu Lê Phi Thừa, trấn thủ Thanh Hoa, sang quy thuận Thanh thế ngày một nổi lớn

Năm 1539, mang danh nghĩa theo lệnh vua Lê Trang Tông, Nguyễn Kim cùng các tướng dẫn binh chia đường tiến quân, thế lừng lẫy, đánh vào vùng Lôi Dương, nơi nào quân Mạc Đăng Doanh cũng thua Năm 1540, đánh vào các huyện ở Nghệ An

Trang 9

Nhiều hào kiệt hưỏng ứng quy phụ Quân của Phúc Hải thua trận luôn luôn Năm 1542, Lê Trang Tông tự cầm quân đi kinh lược Thanh Hoa, Nguyễn Kim đánh vào Nghệ An Năm 1543, Trang Tông thân chinh lấy được Tây Đô Tướng Mạc Trung Hậu hầu Dương Chấp Nhất, tổng trấn Thanh Hoa xin hàng Thế lực nghĩa quân càng ngày càng mạnh mẽ Năm 1545, tiến quân ra đóng ở hạt Yên Mô, thái sư Hưng Quôh công Nguyễn Kim bị hàng tướng Dương Chấp Nhất đầu độc chết Chấp Nhất về với Phúc Hải.

Nguyễn Kim là thuỷ tổ các chúa, vua nhà Nguyễn, sử sách gọi ông là Triệu Tổ

Tướng Mạc thái tế Ninh Quốc công Phúc Tư em Phúc Hải, thừa

cơ vào đánh cướp doanh trại Trang Tông, bị đề thống ngự doanh Trịnh Kiểm đánh phá Quân Mạc chết nhiều vô kể Nguyễn Kim khuất, nghĩa quân có tướng tài Trịnh Kiểm nốĩ nghiệp Quốc thể ngày thêm thịnh vượng Châu Ái đã yên Các hào trưởng bốn châu Hoan, Diễn, Ô, Quảng đều đua nhau theo về Cơ nghiệp hoàng gia (Lê) bắt đầu tiến mạnh, còn thê nhà Mạc ngày càng xuống

TRỊNH KIỂM

Trịnh Kiểm người làng Sóc Sơn, huyện Vinh Phúc (nay là Vĩnh Lộc), phủ Quảng Hoá, là tướng giỏi, theo thái sư Hưng quốc công Nguyễn Kim đi đánh dẹp, lập được nhiều chiến công Nguyễn Kim

gả con gái là Ngọc Bảo cho Lê Trang Tông phong là Dực Nghĩa hầu; năm 1539 lại thăng tước công, coi là đại tướng tầm phúc

Nguyễn Kim khuất, Trịnh Kiểm thay thế, nắm giữ binh quyền Lê Trang Tông phong chức làm tiết chế các xứ thuỷ bộ chư doanh, tước Lương quốc công, được đặc quyền giữ việc binh và tổng tài chính sự trị dân

Trịnh Kiểm rút quân về Thanh Hoa, lập hành điện ở đồn Vạn Lại thuộc Thuỵ Nguyên để vua ở, rồi chiêu mộ hào kiệt, luyện tập quân sĩ, tích trữ lương thực, để lo việc đánh họ Mạc Danh sĩ miền bắc như Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh đều vào giúp Bấy giờ giang sơn chia làm hai: từ Thanh Hoa trỏ vào thuộc nhà Lê, là Nam triều, từ Sơn Nam trở ra thuộc họ Mạc, gọi là Bắc triều

Trang 10

LÊ ANH TÔNG

Bấy giờ, tại Nam triều, vua Lê Trang Tông không thọ lâu, khuất năm 1548 Con là thái tử Lê Duy Huyên kế vỊ, ấy là vua Lê Trung Tông Lê Trung Tông yểu mệnh, khuất năm 1556, không có con Con cháu trai các vua nhà Lê không còn ai

Trịnh Kiểm từ trước đến nay vẫn hành động với danh nghĩa

phục Lê diệt Mạc không tiện tự lập, e không có chính nghĩa Họ

Mạc còn khá mạnh, lại sỢ nhà Minh bên Trung Quốc can thiệp vào việc nước ta, đành giữ phận “thò Phật ăn oản” theo lòi khuyên của Nguyễn Bỉnh Khiêm (trạng Trình) Sau tìm được ngưòi cháu huyền tôn của Lê Trừ, anh Lê Thái Tổ là Lê Duy Bang ở làng Bố

Vệ, huyện Đông Sơn, rước về lập làm vua năm 1557, tục hiệu vua

Lê Anh Tông

Lê Anh Tông không có công đức gì, chỉ là người cháu họ xa với các vua Lê tiền triều mà được lập, do không nắm giữ được binh quyền nên chỉ giữ hư vị

Nhà Lê có trung hưng nhưng mới đóng tại Tây Đô, chưa thu phục lại được giang sơn như cũ Nhà Mạc có làm vua nhưng chỉ giữ đưỢc có miền bắc Ây là thòi phân Nam triều và Bắc triều

CHIẾN TRANH TRỊNH - MẠC

Giữa th ế kỷ XVI, quân do Trịnh Kiểm chỉ huy lo đánh họ Mạc, khôi phục Đông Đô Nên họ Mạc muôn trừ đối thủ thông nhất giang sơn, có tưống Khiêm đại vương Mạc Kính Điển cũng anh tài, tính nhân hậu, minh mẫn, dũng cảm có thừa, giữ chức tổng soái trung doanh, cầm quyền chính trị trong triều ngoài quận, mười phen cầm quân vào đánh Thanh Hoa Trịnh Kiểm cũng 6 lần tiến quân ra bắc, mà tình hình chưa biến chuyển gì mấy

Từ khi Nguyễn Kim khuất, Trịnh Kiểm kế nghiệp, trong những năm đầu còn giữ thế thủ, làm mọi việc để tăng cường lực lượng lớn mạnh đợi ngày ra đánh họ Mạc Năm 1551, được bọn Lê Bá Ly, Nguyễn Thiến, Nguyễn Khải Khang bỏ nhà Mạc vào quy thuận, đem theo gần 2 vạn quân Thế Mạc Phúc Nguyên suy yếu, Trịnh Kiểm thừa cơ xuất quân tiến đánh Lê

Bá Ly ra đường Sơn Nam, Nguyễn Khải Khang đường Sơn Tây,

Trang 11

Vũ Văn Mật tại Tuyên Quang xuông hội đồng tại Đông Kinh

Bá Ly đặt giấy chiêu dụ các tướng nhà Mạc theo về phò Lê Trịnh Kiểm xuất quân tại Hưng Hoá cùng với Vũ Ván Mật đánh phá quân Kính Điển, thắng luôn khôi phục lại Đông Kinh Họ Trịnh muôn rước vua Lê ra bắc, nhân tâm tất hưỏng ứng, hào kiệt quy phụ, giữ trung châu hiệu lệnh bô"n phương, quét hết phe cánh Mạc Trịnh Kiểm suy tính phe đảng Mạc còn nhiều, chưa nên kinh động Tướng Mạc Khánh quốc công dẫn thuỷ quân ngược dòng sông tiến đánh ngang vào hậu quân Trịnh Kiểm phá được, rồi cùng bọn Bá Ly về Thanh Hoa Văn Mật về Tuyên Quang

Năm 1554, Trịnh Kiểm sai các tướng kinh lược Hoá Châu, bình định các huyện Các thổ hào và các quan tự Đông Kinh bổ nhậm đều hàng phục Có mấy người chốhg lại: Đàm Bá, Phạm Khắc Khoan, bị đánh thua, chết trận Trịnh Kiểm thu thập hào mục, bổ nhậm chức cai trị Phương này được yên

Năm 1555, Mạc Kính Điển đem quân vào đánh phá Thanh Hoa Thọ quận công dẫn 300 chiến thuyền là tiền phong, thẳng tới cửa biển Thần Phù Kính Điển hội quân ở sông Đại Nại Thọ quận công tiến quân đóng tại Kim Sơn Trịnh Kiểm đặt phục binh trước

ở núi Bạch Thạch phía bắc sông, lại tuyển binh tượng mạnh mai phục dưới Kim Sơn sai Đinh Công, Lê Bá Ly và Nguyễn Khải Khang phục binh ở phía nam sông Phạm Đốc và Nguyễn Quyện dẫn thuỷ quân làm thế ỷ dốc Binh thuyền quân Mạc đi qua, cậy mạnh không đề phòng, bị quân Trịnh bốh mặt dồn đánh phá tan Thọ quân công phải bắt, 10 tướng bị chết đuối Kính Điển thu thập tàn binh chạy về kinh sư

Năm 1557, Kính Điển lại vào đánh Thanh Hoa Phạm Quỳnh, Phạm Giao đánh Nghệ An Kính Điển đến Tốhg Sơn, Nam Sơn nơi sông Thần Phù, đốt phá các nơi Trịnh Kiểm sai Thanh quận công đóng quân tại Nga Sơn, thân đốc xuất binh tượng tối cửa biển đánh vào lưng địch Vũ Lang hầu Phạm Đức Kỳ vượt thuyền xung kích trước, gặp thuyền Kính Điển, nhảy vọt sang, Kính Điển nhảy xuốhg sông trốh Quân đều tan rã chạy vào rừng núi Quan quân bắt được nhiều thuyền và khí giới Kính Điển ẩn núp tại hang núi Dân Sơn, đói khổ, ba tháng sau mới trỏ về được

Trang 12

Đông Kinh Trịnh Kiểm dùng chiến thuyền bắt được, cắm cồ hiệu quân Mạc, sai Phạm Đốic dẫn vào cửa bi.ển Đan Nhai Phạm Quỳnh, Phạm Giao thấy, lầm tưởng là quân tiếp ứng, không đề phòng Phạm Đốc thẳng tới đánh úp, phá tan quân Phạm Quỳnh.Trịnh Kiểm đem 5 vạn quân thuỷ lục ra đánh họ Mạc, tiến binh ra Sơn Nam, tạo cầu nổi qua sông, đánh phá bắt được Khánh quốc công, giết đi Bên họ Mạc có tướng Nguyễn Quyện ra sức chông cự (Quyện là con Thư quận công Nguyễn Thiến, cha con đã

về hàng Sau khi Thiến chết, hai con là Quyện và Miễn lại trở về vối nhà Mạc) Quân Trịnh có thắng, nhưng cũng trở về Thanh Hoa, bị giặc chặn lôl, hơn chục tướng tá bị chết, nhiều thuyền mang khí giới phải bỏ lại Thế quân nhà Mạc còn khá mạnh

Năm 1558, Trịnh Kiểm dẫn quân ra trung lộ xứ Sơn Nam, bất thình lình tập kích bắt giết tướng Anh Nhuệ hầu, lược định mấy huyện, giao Nguyễn Khải Khang trấn thủ, rồi về Khải Khang sau bị người cháu gọi bằng cậu là Mạc Ngọc Liễn mưu bắt đưa về Đông Kinh Mạc Phúc Nguyên xử Khải Khang cực hình, dùng xe kéo xé xác (Mạc Ngọc Liễn là con Nguyễn Kính Nguyễn Kính xưa là tỳ tướng của Thiết Sơn bá Trần Chân, sau theo Mạc Đăng Dung Cha con có công, Ngọc Liễn được phong quốc tính)

Hai xứ Thuận, Quảng ở xa nơi đại quân đóng Quân Mạc có thể dùng thuyền vượt biển vào đánh chiếm Trịnh Kiểm xin cử Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá để trị an nơi biên thuỳ, cùng với Trấn quận công xứ Quảng Nam cùng làm binh cứu viện lẫn nhau Lê Anh Tông y theo Hai xứ Thuận, Quảng đưỢc yên Quân Mạc từ đấy không dám ngó tới

Thòi kỳ này, Trịnh Kiểm đã trị an nhân dân, luyện tập quân

sĩ, thu dụng nhân tài, tích trữ đầy đủ khí giới, lương thực, muôA

mở trận tấn công đại quy mô ra bắc, khôi phục cơ đồ

Con đường xứ Sơn Nam, nơi tiến quân, nhà Mạc đặt nhiều tinh binh trấn giữ Thượng lộ xứ Sơn Tây và các xứ Tuyên Quang, Hưng Hoá, Thái Nguyên rừng rậm bao la, đường hẻm quanh quất,

họ Mạc không để ý phòng bị Nơi đây lại có tướng Gia quận công trấn thủ Đại Đồng vẫn trung thành với vua Lê, quan quân tới hội họp Xuất quân lốĩ Thiên Quan đi qua Hưng Hoá, hội họp với Gia quận công, thu dụng các phiên mục, thổ tù, rồi theo đường chân

Trang 13

núi, lược định Thái Nguyên và Lạng Sơn, chiêu tập hào kiệt, sau

sẽ dẫn quân xuông Kinh Bắc, chia quân đánh vào Hải Dương, Sơn Nam, thiên hạ dao động, thế họ Mạc xuông Lúc ấy đem quân ba mặt đánh vào Đông Kinh, sẽ toàn thắng dễ dàng Các xứ Tuyên Quang, Hưng Hoá, Thái Nguyên, Lạng Sơn nhân dân giàu có, tiền thóc dư thừa, không lo thiếu ăn

Trịnh Kiểm cử tướng trân giữ các cửa biển và đường đi vào Thanh Hoa, rồi qua mùa đông năm ấy (1559), cùng tướng sĩ dẫn

6 vạn quân bắc phạt, trương thanh thế là 12 vạn Dùng Hoàng Đình Ái làm tướng tiên phong, do Thiên Quan tiến ra Sơn Tây Quân đi đến đâu đều không lấy của dân mảy may Tới Hưng Hoá, tây đạo Đinh quận công dẫn binh lại hội Các đồn quân Mạc đều bị phá và ra hàng Đến Tuyên Quang, Vũ Văn Mật ra đón Quân Trịnh lược định các đạo Thái Nguyên, Lạng Sơn và Kinh Bắc Tháng 11 âl, quân Trịnh đánh các phủ Siêu Loại, Văn Giang và Khoái, Hồng, nay thuộc Bắc Ninh và Hưng Yên Tháng 12, đánh phá các phủ huyện Khoái Châu và Nam Sách, nay thuộc Hưng Yên và Hải Dương Đi đến đâu, quân Mạc đều thua chạy Sang xuân năm sau (1560), đánh xuông Tiên Hưng, sang Kinh Môn, Đông Triều, Chí Linh

Mạc Kính Điển đóng đồn tại Kinh Bắc để chống cự Các tướng chia giữ Đông Kinh và các đồn ngoại thành, các doanh trại trên sông từ Bạch Hạc xuống đến Nam Xang Trịnh Kiểm cử Hoàng Đình Ái trấn thủ Lạng Sơn; Lê Khắc Thận, Thái Nguyên;

Vũ Văn Mật, Tuyên Quang; Định quận công, Hưng Hoá Các trấn liên lạc, cứu viện lẫn nhau, đánh phá các châu, huyện và cung cấp lương thực cho quân lính Từ Thiên Quan đến Kinh Bắc đóng nhiều đồn binh liên tiếp Binh uy lừng lẫy Trịnh Kiểm đóng đại quân tại Lâm Sơn, sai tướng đánh phá các huyện Đường An, Đường Hào, Thanh Miện, Gia Phúc Năm này gặp vụ lúa được mùa, thổ dân quy thuận cung cấp lúa mùa để thêm quân nhu

Sang năm 1561, Mạc Kính Điển đem binh thuyền đánh vào các cửa biển Thanh Hoa Các tướng trấn thủ không phòng bị phải lui quân về giữ sách Vạn Lại Trịnh Kiểm nghe tin, gấp truyền lệnh cho Hoàng Đình Ái ngầm dẫn quân về Thanh Hoa

Trang 14

Kính Điển đánh vào cửa quan An Tràng, tiến tới Vạn Lại Sách sắp bị hãm thì binh của Sư Thước trỗi dậy, cố' sức chiến đấu, đảnh bại đưỢc quân địch Kính Điển được tin viện binh của Đình

Ái sắp đến bèn lui quân về Kinh Âp

Tháng 2 âl năm 1562, Lộc quận công và Thân Khê hầu đem quân lược định mười châu xứ Hưng Hoá

Tháng 9 âl, Trịnh Kiểm xuất binh ra Sờn Nam, đi tuần các địa phương hạt Thanh Trì và Thượng Phúc, lập đại doanh tại Sơn Minh Tháng 11, rút quân trở về

Năm 1564, Đặng Huấn ra núi Hoài An, thôi đốc dân hạt Trường Yên và Thiên Quan đã hàng, tu sửa đường từ Phô' Cát đến Bình Lương để tiện sự vận tải lương thảo Các huyện về phía tây sông Xương Giang đều bình

Tháng 9 âl, Trịnh Kiểm lại xuất quân ra trung lộ xứ Sơn Nam, đánh các huyện thuộc Trường Yên Đến tháng 11 rút quân về

Tháng 4 âl năm 1565, Trịnh Kiểm xuất quân ra đánh phủ Trường Yên, phá hết các huyện trong phủ Tháng 9, lại đốc đại binh đánh thượng lộ xứ Sơn Nam, đánh nơi nào thảy đều thắng.Tháng 11, Kính Điển xuất chiến thuyền vượt biển đánh vào cửa Linh Tràng (Lạch Trường) đánh phá các huyện Thuần Hựu (Hậu Lộc) và Hoằng Hoá thuộc Thanh Hoa Lộc quận công đem quân về cứu, bị đánh thua, tử trận Trịnh Kiểm nghe tin báo bại trận, dẫn quân về Kính Điển cũng lui quâọ

về Đông Kinh

Các năm 1566, 1567, năm nào quân Trịnh cũng ra bắc, đánh vào Sơn Nam, Sơn Tây, Trường Yên, thu thóc lúa các nơi này, rồi dẫn quân về

Tháng 2 âl nám 1569, Lê Anh Tông gia phong Trịnh Kiểm làm Thượng phụ thượng tướng Thái quô'c công Lúc này, Trịnh Kiểm đau bệnh đã lâu, xin trao binh quyền cho con Lê Anh Tông phong con trai lớn của ông là Tuấn Đức hầu Trịnh Cô'i đô'c lĩnh quân thuỷ bộ các doanh, con trai thứ là Phú Lương hầu Trịnh Tùng lĩnh chức Bình Đông đại tướng quân, nô'i trọng nhậm của cha

Tháng 2 âl năm 1570, Trịnh Kiểm chết Trịnh Cối lo việc đánh dẹp nhưng say đắm tửu sắc, làm nhiều sự thất nhân tâm,

Trang 15

tướng sĩ không mấy người phục Em là Tùng có ý muôn cướp quyền của anh, cùng với bọn Lê Cập Đệ, Trịnh Hách kể tội Côl với vua Anh Tông, rước vua về đồn Vạn Lại, rồi chia quân ra đánh nhau với Cốì Cỗi lui quân về Biện Thượng và đóng doanh tại Bô" Chính Tướng giữ Bổ" Chính thấy tướng sĩ không hoà, dẫn con em đầu hàng họ Mạc Mạc Kính Điển thấy Trịnh Kiểm chết, anh em Trịnh Côi, Trịnh Tùng đánh lẫn nhau, huy động 10 vạn quân, 700 chiến thuyền, tháng 8 âl, vượt biển vào đánh miền trong Mạc Đô Nhượng, Mạc Đình Khoan giữ cửa biển Thần Phù Tướng bắc đạo Hoàng quận công làm đội quân thứ nhất, nam đạo Thạch quận công Nguyễn Quyện, đội quân thứ nhì; tây, sầm quận công Mạc Ngọc Liễn, thứ ba; đông, Hoa quận công thứ tư; Kính Điển thân tự đô"c quân làm đội thứ năm; các tôn vương, đội thứ sáu, chia các ngả vào các cửa biển Linh Tràng, Chí Long và Hội Triều, hội đồng đóng doanh trại hai bên bờ sông Hà Trung, khói lửa các trại bô"c nghi ngút khắp trên mưòi dặm Trtịnh Côi liệu không thể đương nổi, dẫn hơn vạn quân cùng các bộ tướng Lại Thế Mỹ, Nguyễn Sư Doãn, Trương Quốc Hoa, Vương Trân và Vũ Sư Thước cùng gia quyến ra hàng họ Mạc Kính Điển thu nạp phong tước lớn cho bọn này và sai dẫn quân thuộc của mình tiến đánh Kính Điển tổng động binh, các đạo cùng tiến trên sông Mã, sông Lam Nhân dân Thanh Hoa cõng già trẻ chạy trô"n lưu ly Kính Điển đánh vào luỹ

An Tràng rất gấp, ngày đêm không ngừng

Lê Anh Tông phong Trịnh Tùng lamg Trưởng quận công, trọn quyền điều khiển tất cả các doanh Trịnh Tùng họp các quan ván võ dung hoà, ngày đêm bàn định kê" sách, chia quân giữ các đồn trại, đào hào đắp luỹ kế cô" thủ

Kính Điển thân đốc tướng sĩ ngày đêm tiến đánh Các huyện Lôi Dương, Nông Cổhg đều thành chiến trường, nhân dân đều chạy trốn, có nhiều người chết đói Quân đội hai bên chông nhau ỏ sông Long Sùng Quân Trịnh ban ngày cô" thủ trong thành, ban đêm ra cướp trại, làm cho quân Mạc không được yên nghỉ Kính Điển đánh mãi không lợi, lui quân về đóng tại Hà Trung Lê Anh Tông chia quân: Lại Thế Khanh xuất quân ra đường bên tả, tiến

về huyện An Định, đánh vào huyện Tông Sơn; Hoàng Đình Ái, bên hữu tiến về huyện Lôi Dương, đánh vào huyện Quảng Xương;

Trang 16

Trịnh Tùng làm tả tướng điều khiển thuỷ lục quân các xứ Anh Tông tự làm đô tướng tiến đại quân về huyện Thuỵ Nguyên, huyện An Định Tướng Vũ Sư Thước trước theo Trịnh Côi hàng họ Mạc, dẫn 500 quân trở về Quan quân thu phục các huyện Lôi Trạch, Tống Sơn, và Nga Sơn Quân Mạc cô" đánh Quân Trịnh cô" giữ Chiến tranh kéo dài Qua tháng 12, Kính Điển đánh mãi không được, lương thực ngày một cạn, nên bỏ các trại sách, thu quân về Đông Kinh, mang theo bọn Trịnh Cốì, Lại Thê" Mỹ, Trương Quốc Hoa và Nguyễn Sư Doãn.

Quân Mạc rút rồi, vua phong Trịnh Tùng làm thái uý, thăng thưởng các tướng sĩ có công, uỷ Phùng Khắc Khoan đi chiêu tập hoang dân về yên nghiệp làm ăn, chỉnh đôn việc chính trị

Tháng 10 âl năm 1571, Kính Điển dẫn quân vào đánh phá

xứ Nghệ An, chiếm cứ khu từ sông Cả trở về phương nam Thổ tướng Nguyên quận công Nguyễn Bá Quỳnh bỏ chạy Các xứ Thuận Hoá và Quảng Nam dao động Tướng trấn thủ Nguyễn Hoàng mUu lược quyền biến giữ yên được Tân quận công Trịnh

Mô và Lại quận công Phan Công Tích đến cứu Nghệ An Kính Điển phải lui quân

Mùa thu năm 1572, Kính Điển lại xuất quân đánh Thanh Hoa

và Nghệ An, phá các huyện ven sông Nhân dân các nơi này lưu tán, xóm làng trô"ng không Tướng Mạc Lập quận công và Tiền quận công

do đường biển đánh Thuận Hoá và Quảng Nam, thổ dân nhiều người hàng Trấn thủ Nguyễn Hoàng lập kê" dụ Lập quận công tới, chém ngay giữa sông Quân Mạc tan vỡ chạy trở về, nhiều người bị chết đuốỉ Thái phó Vị quận công Lê Khắc Thận vượt luỹ ra hàng quân Mạc Các tướng Lại Thế Khanh, Lê (Trịnh) Mô và Phan Công Tích dẫn binh ra giữ Nghệ An Binh sĩ họ Mạc bèn rút về

Bấy giờ, công việc gì cũng do ở Trịnh Tùng quyết đoán cả, uy quyền hốhg hách, vua cũng lấy làm lo Lê Cập Đệ thấy vậy, mưu với vua trừ họ Trịnh Trịnh Tùng biết ý, dùng mưu giết Cập Đệ Anh Tông biết sự không thành, lo sỢ, cùng với bô"n con chạy vào Nghệ An Trịnh Tùng thấy vua xuất ngoại, cho người đi rước hoàng tử thứ năm là Duy Đàm ở làng Quảng Thi, huyện Thuỵ Nguyên về lập làm vua, ấy là vua Lê Thế Tông, rồi sai Nguyễn Hữu Liêu đi đánh đuổi theo vua Anh Tông vào Nghệ An, thấy quân đuổi đến ẩn vào trong vườn mía, bị Hữu Liêu tìm thấy đưa

Trang 17

về, đến huyện Lôi Dương, Trịnh Tùng sai người đến giết đi, rồi nói rằng vua tự thắt cổ chết.

Lê Anh Tông làm vua 7 năm, hương linh 47 tuổi

Trịnh Tùng hại vua Anh Tông rồi thăng thưởng cho những người đồng đảng và chia quân ra phòng giữ các nơi để chông nhau với quân nhà Mạc

Tháng 7 âl năm 1573, Kính Điển lại dẫn quân vào đánh cưâp Thanh Hoa Khi đánh vào doanh An Tràng, quan quân rút vào bên trong luỹ Chúng tiến vào luỹ Phúc Bồi, sắp qua sông Đoạn Trạch thì tiết chế Trịnh Tùng đốc xuất thuỷ quân cưỡi chiến thuyền chia đánh các ngả, phá tan quân Mạc Kính Điển dẫn quân rút lui

Tháng 6 âl năm 1574, Nguyễn Quyện dẫn quân vào đánh cướp Nghệ An, hạ các thành phía bắc sông Cả, bắt được trấn thủ Hoàng quận công Tháng 7, Phan Công Tích và Trịnh Mô dẫn quân cứu viện Nghệ An Nguyễn Quyện chống cự với các tướng vài tháng, không thắng nổi, thu quân trở về

Tháng giêng âl năm 1575, Kính Điên đem quân đánh cướp Thanh Hoa, Nguyễn Quyện đánh cướp Nghệ An Lúc này, thế mạnh kéo đến đâu, nhân dân đều như cỏ lướt Kính Điển đánh đồn Thuỵ Nguyên, huyện An Định Mạc Ngọc Liễn đánh núi Đông Sơn, huyện Lôi Dương Tiết chế sai Hoàng Đình Ai đến cứu Lôi Dương, tự mình thống lĩnh đại quân đóng ở núi Chiêu Sơn, chống nhau với Kính Điên Khi Kính Điên giao chiến với quan quân, Vũ Sư Thước và Nguyễn Hữu Liêu xuất các đạo kỳ binh đánh cho Kính Điển phải chạy Lại Thê Khanh, Trịnh Mô và Phan Công Tích đến cứu Nghệ An, cầm cự với Nguyễn Quyện chừng vài tháng Nguyễn Quyện đặt phục binh, thắng trận, bắt được Phan Công Tích giải về kinh sư giết chết Mùa đông, Kính Điên kéo quân trở về

Tháng 7 âl năm 1576, Kính Điển lại dẫn quân vào cướp Thanh Hoa, đánh vào huyện Thuỵ Nguyên, sai Ngọc Liễn đánh vào huyện An Định, Nguyễn Quyện vào cướp Nghệ An Quyện đánh nhau với Trịnh Mô ở đây chừng vài tháng Trịnh Mô thua mấy trận, định trôA về Thanh Hoa Quyện đuổi theo bắt được

Năm 1577, nhà Mạc dự bị vào xâm lược với quy mô rộng lớn, sai thu binh các huyện, người nào cũng phải dự bị lương thực đủ

ăn ba tháng

Trịnh Tùng biết họ Mạc sở trường về thuỷ quân, mùa thu tất vào đánh, ra lệnh tản cư các dân nơi ven sông, đem hết tài vật đã

Trang 18

tích trữ vào nơi rừng núi, đế chò nghênh chiến Tháng 7 âl, Kính Điển dẫn quân vào Tháng 8, đánh vào hạt Đồng cổ Trịnh Tùng thân xuất đại quân ra cửa luỹ Khoái Lạc chôKg cự Kính Điển đánh phá doanh Hội Thương Hoàng Đình Ái xuất quân khiêu chiến Nguyễn Hữu Liêu dẫn quân đánh chận ngang Quân Kính Điển phải chạy lui Kính Điển lại tiến quân đến sông Hà Đô, sai Nguyễn Quyện phục binh bên ngoài đê bên bờ sông Hoàng quận công cùng hàng tướng Lại Thế Mỹ làm đội quân tiên phong đánh vào luỹ Khoái Lạc Quan quân dùng súng bắn chết Thế Mỹ trước trận Quân họ Mạc tan vỡ Tháng 9, Kính Điển dẫn quân trở về.Sang năm 1578, Trịnh Tùng giữ binh quyền, chàm lo tiến thủ, chính sự chỉnh đô"n, quân sĩ tinh nhuệ, khí thê đang lên Mạc Mậu Hợp mới lớn lên, chỉ ham chơi bời, say đắm tửu sắc, không để

ý tới việc nước

Tháng 7, Kính Điển lĩnh quân vào đánh các huvện men sông

xứ Thanh Hoa, giao chiến ở cầu Phụng Công, huyện Vĩnh Lộc, gặp

Ồ phục kích, bị thua trận phải kéo về

Tháng 10, Mạc Ngọc Liễn dẫn quân đánh vào châu Thu Vật trong Tuyên Quang cũng bị trấn thủ Nhân quốíc công Vũ Công Kỳ đánh thua (Vũ Công Kỳ là con Gia quôc công Vũ Văn Mật, trấn thủ vùng Tuyên Quang, vẫn không phục nhà Mạc Cha con đều nhận quan tưóc của vua Lê)

Năm 1579, Kính Điển vào cướp Thanh Hoa, phá nhiều huyện men sông đi đến Tông Sơn, gặp Diễn quận công Trịnh Văn Hai xuất quân giao chiến tại núi Kim Ẩu Thái phó Đặng Huấn dẫn quân đi tới Hoà Bình, Mục Sơn đánh tập hậu, phá tan Kính Điển dẫn quân trở về

Năm 1580, cũng tháng 7 âl, Nguyễn Quyện và Mạc Ngọc Liễn và hàng tướng Hoàng quận công vào Thanh Hoa cướp bóc tài sản của dân ven sông rồi kéo qucân về

Tháng 10 âl năm 1580, Mạc Kính Điển chết Kính Điển là ông chú Mậu Hợp, gồm chức tướng văn và tướng võ, giữ binh quyền hơn 20 năm, tiếp đãi quan liêu có lễ độ, đôl với quân sĩ có

ân nghĩa, trải qua bao gian truân, vẫn cần lao trung thành

Mạc Mậu Hợp cử ứng vương Mạc Đôn Nhượng thav thế, lĩnh chức Trung Doanh đôc suý Đôn Nhượng là em Kính Điển, có địa

vị cao trong họ Mạc, nhưng tài đức tầm thường, chẳng làm được gì hay Họ Mạc suy vi từ đây Tướng Mạc bấy giờ chỉ còn Nguyễn Quyện và Mạc Ngọc Liễn là đáng kể Các quan nhà Mạc cũng có

Trang 19

nhiều người hiền lương thường khuyên dụ Mậu Hợp tu đức, chỉnh

đô"n việc cai trị, nhất là việc võ bị, bớt hoang chơi, xa xỉ Sách Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn chép lại những bài biểu, tờ só của

Giáp Trung, Lại Mẫn, Đặng Vũ Canh, Trần Văn Tuyên, Nguvễn Văn Nhuận, Trần Thòi Tham dâng lên Mậu HỢp, lồi lẽ rất khẩn thiết Mậu Hợp có khen phải nhưng không tu tỉnh gì, hoặc bảo là chưa thi hành ngay được Mấy người chán nản, xin từ chức Mậu Hợp không cho Mậu Hợp lại còn xây dựng cung điện, kiến trúc vĩ đại, tổn phí nhiều nhân lực tài lực, trong khi nước nhà mọi sự chang tôt đẹp gì Mậu Hợp xây ngôi điện, gọi là điện Giảng Học,

kỳ thực là nơi yến tiệc chơi bời Vừa mới hoàn thành thì tối hôm

ấy bị hoả hoạn cháy tiêu, do dân chúng tức giận phóng hoả đốt Đình thần có người già chết, người bỏ đi ẩn Phú Nghĩa hầu Nguyễn Đình Luân, Kỳ quận công Nguyễn Việt Kính, Nam Dương hầu họ Trần (?) bỏ họ Mạc vào Thanh Hoa quy thuận

Tháng 9 âl năm 1581, Mạc Đôn Nhượng hỢp quân các đạo vào đánh Thanh Hoa, vượt biển vào tới núi Dương Năng, bị Hoàng Đình Ai đón đánh thua nặng nề p h ả i trốn về Trận này quân Mạc tổn thất rất nhiều tướng sĩ

Tháng 7 âl năm 1583, quân Mạc lại xâm lược Thanh Hoa lần nữa Trịnh Tùng điều động quân sĩ đánh phá ở nơi cửa biển, quân Mạc thua chạy Sau trận nàv, quân Mạc không còn Tây xâm nữa Thanh Hoa, Nghệ An được thảnh thơi, yên ổn

Suốt từ năm 1570 đến đây, quân Mạc thường cứmùa thu kéo vào đánh Thanh Hoa, Nghệ An, ban đầu có thắng luôn, nhưng sau hoặc bị đánh thua, hoặc không thua nhưng hết lương thực, phải

bỏ về Cũng có lần chỉ vào cướp của cải và lương thực, rồi về sớm Chúng có chiếm được đất, nhưng không chiếm được nhân tâm Đi đến đâu thì dân chúng đó bỏ chạy hết, mang theo mọi của cải, theo đúng lệnh của Trịnh Tùng Vì thê quân Mạc hao binh tổn tướng mà chẳng thủ lợi được gì

Trịnh Côd từ khi ra hàng họ Mạc, được trao tước Trung Lương hầu rồi Trung quận công Năm 1584 chết Mậu HỢp sai người tới phúng tế, rồi sai quân hộ tôKg bà mẹ và vỢ con đưa linh cữu về Thanh Hoa, để tỏ thiện ý thông hảo Trịnh Tùng sai người

ra Nga Sơn tiếp đón

Trịnh Tùng từ khi cầm quyền chính, chỉnh ầốn quân đội,

tăng cường lực lượng, rèn đúc vũ khí, đóng thuyền xe, thê quân mỗi ngày một thêm lớn Quân Mạc đến đánh thường bị thua luôn

Trang 20

Các năm 1583, 1584, 1585 mới tiến quân ra bắc nhưng chỉ mới là

đê thăm dò về sau mới đánh lớn khi thế nhà Mạc suy kém.

Năm 1583, Trịnh Tùng xuất quân ra Sơn Nam, đánh vào các huyện Yên Mô, Yên Khang (nay là Yên Khánh) thu thóc lúa, rồi

về Tháng giêng âl năm 1584, đánh vào phủ Trường Yên và các xứ Thiên Quan (nay là Nho Quan), Hưng Hoá Tháng giêng âl năm

1585, lại ra Thiên Quan đánh vào các hạt Mỹ Lương, Thạch Thất

và An Sơn, lần này Chiêu quận công bị quân Mạc bắt với một con voi Nhưng cuôi năm này, quân Trịnh lại ra Sơn Nam, đánh vào các huyện Gia Viễn và Phụng Hoá

Họ Mạc lo phòng thủ, sai quân dân đắp thêm ba bức luỹ, đào thêm ba lần hào bên ngoài thành Đại La, trồng chông gai dài vài chục dặm bao chung quanh, rất kiên cô

Năm 1587, Trịnh Tùng thấy thê quân đã đủ mạnh, ra mở những chiến trận quy mô rộng lớn Tháng 10 âl, xuất quân ra đánh phá các phủ Trường Yên và Thiên Quan Quân đến hạt Mỹ Lương thì Mạc Ngọc Liễn dẫn binh từ Ninh Sơn đánh vào cánh quân'bên tả, Nguyễn Quyện dẫn binh từ Chương Đức đánh vào cánh quân bên hữu Trịnh Tùng dự phòng trước, sai Hà Thọ Lộc

và Ngô Cảnh Hựu bảo vệ đạo quân lương, Hoàng Đình Ái dẫn quân về Thanh Hoa Nguyễn Hữu Liêu xuất quân cầm cự với Mạc Ngọc Liễn, tự mình đốíc đại quân giao chiến với Nguyễn Quyện Quân Trịnh hăng hái xung đột Quân Quyện thua to, tan vỡ, qua sông nhiều người chết đuôi, mấy trám bị giết Mạc Ngọc Liễn thấy Nguyễn Quyện bại, cũng dẫn quân trôh xa Quân Trịnh tiến lên Hoàng Sơn, đánh phá các hạt An Sơn và Thạch Thất, bắt sông được nhiều người Đến tháng 12, rút về

Tháng 3 âl năm 1588, quỂin Trịnh ra các huyện Yên Mô và Yên Khang, lược định nhân dân rồi trở về Tháng 11 lại xuất quân

ra lôi Ph(3 Cát, đánh vào Trường Yên và Thiên Quan, thu được nhiều tài vật, qua sông Chính Đại đóng doanh trại, rồi giả bộ kéo

về Tân quận công và Quỳnh quận công đánh đuổi, bị phục binh đánh thua tơi bời Mấy trăm ngưòi chết trận Vương sư trở về.Tháng 10 âl năm 1589, Tiậnh Tùng xuất quân đánh vào huyện Yên Khang Mạc Đôn Nhượng thông lĩnh đại quân đánh một trận quyêt liệt Trịnh Tùng l?.ũ binh dụ địch, ngầm đặt phục binh đánh tập hậu, sai Nguyễn Hữu Liêu bbục quân tinh nhuệ vào chân núi, Ngô cảnh Hựu hộ vè quân vận lương lui vào núi Tam Điệp, đích thân dẫn đại binh từ từ lui Mạc Đôn Nhượng

316

Trang 21

tưởng quân Trịnh ít, bỏ về thật, xua quân đuối đánh theo rất hăng, bị phục binh trỗi dậy, bôn mắt đánh ập vào, hơn ngàn quân

bị chém, 600 bị bắt sông Đôn Nhượng thua chạy về Đông Kinh Quân Trịnh cũng trở về Thanh Hoa

Sang năm 1591, chính trị triều đình nhà Mạc nát bét, binh lực suy yếu, nhân tâm' đều lấy làm nguy ngập Đến đây, Trịnh Tùng nắm chắc phần thắng lớn, mới huy động đại binh ra đánh quyết liệt, không còn như những lần đánh ra trước chỉ có tính cách dò dẫm

Trịnh Tùng sai Trịnh Văn Hải, Nguyễn Tất Lý trấn thủ các cửa biển và các nơi hiểm yếu, Lê Hoa ở lại giữ ngự dinh và địa hạt Thanh Hoa, đem hơn 5 vạn quân chia làm 5 đội, sai Nguyễn Hữu Liêu, Hoàng Đình Ái, Hà Thế Lộc, Ngô cảnh Hữu mỗi người lĩnh một đội Tự mình lĩnh 2 vạn quân, tháng 12, xuất phát từ Tây Đô ra cửa Thiên Quan, qua núi Mã Yên, huyện An Sơn, lược định các huyện Thạch Thất, Phúc Lộc, Tân Phong, đóng quân tại Tốt Lâm (?)

Thấy quân Trịnh tiến đánh lớn, Mạc Mậu Hợp cử đại binh đánh trận quyết liệt đê định được thua, điều động binh mã các trấn, vệ, phủ cộng 10 vạn quân; ra lệnh cho Mạc Ngọc Liễn đôh binh mã tướng sĩ Tây đạo; Nguyễn Quyện, Nam đạo; Ngân quận công và Thuỳ quận công Đông đạo; Phú quận công và Xuyên quận công Bắc đạo; Khuông quận công và Tân quận công, 4 vệ Mậu Hợp đích thân đốc binh mã Chánh Doanh, các tôn vương và tướng túc vệ đôc quân hậu đội chia đường cùng tiến

Quân Mậu Hợp đi đến Phấn Thượng, nay là huyện Tùng Thiện, dàn mặt trận: Khuông quận công và Tân quận công đốc binh bôn vệ làm đội tiên phong; Mạc Ngọc Liễn, đội hữu dực; Nguyễn Quận, đội tả dực; binh mã hai đạo đông và bắc kế tiếp theo sau, tất cả đều tiến Mậu HỢp đích thân đổc chiến

Trịnh Tùng thấy quân Mạc đã đến, sai Nguyễn Hữu Liêu tiến lên trước khiêu chiến, tự mình đôn đốc tưống sĩ đanh trận cực hăng Chiến tranh rộng lớn và vô cùng kịch liệt diễn ra Quân Trịnh đánh hăng quá, chém đầu Khuông quận còng và Tân quận công ngay tại trận Tỳ tướng Hoàng Nghĩa Cước tử trận Quân Mạc có vẻ uể oải Trịnh Tùng thừa thế đốc thúc quân A đáriK dấn, các tướng tá xung đột vào trận Mạc Mậu HỢp hoảng sậỉ chạy lui Cánh quân bên tả không ngó tới cánh quân bên hữu, đạớ tịuấn sau không kịp ngó tới đạo quân trước, cờ trận sai lạc, hàng ngũ rôi loạn, xô nhau mà chạy Quân Trịnh thừa thắng đuổi dài, chém

Trang 22

đầu hơn vạn địch, bắt được lừa, ngựa và khí giới vô sô Đám tàn quân qua sông tranh nhau xuông thuyền bị chết đucYi phần nửa Riêng quân của Nguyễn Quyện đã xa lánh được trọn vẹn.

Trịnh Tùng tiến quân gần thành Thăng Long Bấy giò vừa tết Nguyên đán, cho quân sĩ nghỉ ngơi ăn tết Qua tháng giêng lập đàn tế trời đất và các vua Lê, đặt ba điều ước cấm quân sĩ không đưỢc vào nhà dân lấy đồ ăn và củi đuốc, không được cướp của cải

và chặt cây cối, không được hãm hiếp đàn hà con gái và không được

vì tư thù mà giết người Rồi tiến quân đánh thành ban đêm Nguyễn Hữu Liêu dẫn 5000 quân và voi ngựa, đánh vào phía tây bắc, bắn súng lửa, đốt cháy nhiều nhà cửa, khói bốc mù trời, trong thành hỗn loạn Mạc Mậu Hợp sỢ hãi, sai Mạc Ngọc Liễn, Bùi Văn Khuê, Nguyễn Quyện và Trần Bách Niên ỏ lại giữ thành, đem quân sang sông về đóng ơ làng Thố Khôi Dân trong thành già trẻ trai gái tranh nhau xuổhg thuyền qua sông, bị chết đuối có ngàn người

Các tướng Mạc chia nhau giữ các cửa thành Nguyễn Quyện đặt phục binh ở hên ngoài cầu Dền để nhử quân Trịnh, lại dàn hảng trăm súng lớn đế đề phòng Mậu Hợp giữ thuỷ quân ở sông Hồng, dàn hàng trăm chiến thuyền

Ngày 6 - 1 âl năm 1592, Trịnh Tùng bày trận chia công, ra lệnh: hẹn trong ngày hôm nay phải đánh phá thành Thăng Long cho bằng được, cử các tướng đánh vào các cửa, thân đốc đại quân

kế tiép đằng sau Các tướng tiến đánh kịch liệt, từ giò Tỵ đến giờ

VỊ (11 đến 15 giò) chưa phân thắng phụ Trịnh Tùng đích thân cầm cò lệnh, xung đột, liền phá cửa luỹ Bùi Văn Khuê và Trần Bách Niên không đủ sức chông cự, quân sĩ tan vỡ hỏ chạy tán loạn Mạc Ngọc Liễn cũng bỏ luỹ chạy trốn Quan quân thừa thắng đuổi dài, phóng lửa đôd các cung điện Quan phòng thủ bôn mặt đều tan vỡ Trịnh Tùng dẫn binh từ cầu Dền tiến thẳng vào, phục binh của Nguyễn Quyện đặt trước không kịp trỗi dậy, đều bị loạn quân giết chết Nguyễn Quyện kiệt sức bị bắt Hai con y là Bảo Trung và Nghĩa Trạch cùng thủ hạ đều tử trận Trong kinh thành xác chết chồng lên nhau, tướng chết chừng vài chục viên, sĩ tôt hơn ngàn người, khí giới bỏ ngổn ngang, cao như núi

Mạc Mậu Hợp sỢ hãi, thu nhập tàn quân, chiếm cứ sông Cái (sông Hồng) để tự bảo vệ

Trịnh Tùng đóng quân lại tại chính doanh, sai san phang các bức luỹ bằng đất ở chung quanh thành Đại La và lấp các hào rãnh, san thành bình địa

Trang 23

Sang tháng 3, Trịnh Tùng hạ lệnh kéo quân trở về, đi đến Chương Đức, chia quân đi tuần các huyện Thanh Trì, Thượng Phúc, Phú Xuyên lược định các huyện Từ Liêm, Đan Phượng, Ma Nghĩa (Tùng Thiện), An Sơn và Thạch Thất, rồi do Thanh Quan trở về Thanh Hoa

Quân Trịnh đã thắng lớn, đánh chiếm đưực Đông Kinh, có thê đánh dấn đi thì sớm thông nhất giang sơn, mà lại còn bỏ về, do thấy căn bản nhà Mạc ở phương đông bắc, lực lượng các nơi hãy còn nhiều, mà thuyền bè của mình lại ít, đánh mãi chưa chắc gì đã toàn thắng

Quân Trịnh rút, Mậu Hợp trở lại thu nhập tro tàn, cử các tướng chia giữ những nơi hiểm yếu Đáng phải sửa sang việc võ bị, chỉnh đôn việc cai trị, thế mà vẫn mải vui chơi, say đắm tửu sắc, bạc đãi tướng sĩ, đến nỗi công việc hỏng nát Bấy giờ có Sơn quận công Bùi Văn Khuê có vỢ là Nguyễn Thị Miên, con Nguyễn Quyện

em hoàng hậu, thường ra vào trong cung Mậu Hợp thấy nàng có nhan sắc, muôn chiêm lây, ngầm tính kế giết Văn Khuê Văn Khuê biết được, dẫn quân Nam đạo về giữ hạt Gia Viễn Mậu Hợp mấy lần gọi, không về Quân triều đến đánh, Văn Khuê chông giữ, sai con liên lạc với Trịnh Tùng, xin hàng

Mùa đông năm ấy (1592), Trịnh Tùng dùng đại binh bắc phạt, sai Hoàng Đình Ai đi trước, ra đón Văn Khuê, rồi đem đi làm tiền đội, tự mình dẫn quân ra Trường Yên, đóng giữ sông Đàm Giang (đò Điềm, Ninh Bình)

Tướng Mạc tôn thất Nghĩa quốc công quyền tiết chê Nam đạo, dẫn quân đến sông Thiên Phái, giữ bến đò Đoan Vĩ, bắt dân Đại An và Ý Yên đắp luỹ đất chạy theo bờ sông, trồng chông gai trên mặt luỹ, để chống cự

Trịnh Tùng sai Văn Khuê đem thuỷ quân ra cửa sông đánh vào thượng lưu, có súng tả hữu bắn theo dọc sông, đánh vào hạ lưu, đích thân sang dò đánh vào trung lưu Chiến trận kịch liệt diễn ra Quân Mạc thua chạy, bỏ lại 70 chiến thuyền

và rất nhiều khí giới Tướng Mạc Định quận công Trần Bách Niên sang hàng, được trọng dụng Tiếp sau có 10 tướng Nam đạo cũng sang hàng

Quân Trịnh kéo ra Bình Lục, sang Thanh Oai đóng ở bãi Tinh Thần, nay là xã Thanh Thần, rồi tiến lên sông Hát Giang, cửa sông Đáy ra sông Hồng Tại nơi đây, Mạc Ngọc Liễn đã trồng cột gỗ dưới sông và đắp luỹ đất trên bò, dàn chiến thuyên cô" giữ

Trang 24

Quân Trịnh tiến đánh mạnh Quân Mạc thua to, tan vỡ, bỏ chạy Quân Trịnh đánh đuổi, thu được chiến thuyền hàng ngàn chiếc.Mậu Hợp thấy quân thua to luôn, bỏ kinh thành, chạy sang Hải Dương, đóng ở Kim Thành Tôn tộc tìm đường trôn tránh, tướng sĩ nôi tiếp nhau ra hàng, hết phần chiến đấu.

Trịnh Tùng tiến quân lên xứ Hải Dương, sai Nguyễn Thất

Lý, Bùi Văn Khuê và Trần Bách Niên đánh vào huyện Kim Thành Mậu Hợp trốn chạy Quan quân thu đưỢc nhiều vàng bạc, của cải, đồ dùng Thái hậu, mẹ Mậu HỢp, bị bắt đưa về kinh sư, vì quá sỢ mà chết

Mậu HỢp giao quyền chính cho con là Mạc Toàn, lập làm vua, tự mình làm tướng cầm quân

Trịnh Tùng chia quân đánh các ngả, phá quân Mạc Kính Chỉ

ở xứ Thanh Hà, thu được 50 chiến thuyền và rất nhiều khí giới, lừa ngựa Các quan triều nhà Mạc, bọn Đỗ Uông, Ngô Tạo 17 người, đến cửa quân xin hàng, được giữ chức cũ Cũng có người bỏ trôh đi ẩn

Trịnh Tùng sang đóng quân ở huyện Vĩnh Lại, sai người đuổi đánh Mậu HỢp ở huyện Yên Dũng và huyện Vũ Ninh, nay là Vũ Giàng Mậu Hợp bỏ thuyền chạy hộ vào ẩn trong một ngôi chùa ở huyện Phượng Nhãn, giả làm sư Nguyễn Đình Luận và Lưu Chân dẫn quân đi tìm bắt Dân địa phương chỉ cho biết, tìm được đem

về Đông Kinh Mậu HỢp bị làm tội sống ba ngày, rồi bị chém đầu đem vào Thanh Hoa

Mạc Mậu Hợp làm vua 30 năm, hưởng linh 31 tuổi (Có thuyết sinh năm 1563, lên ngôi năm 1564, tức làm vua 29 nám,

hưởng linh 30 tuổi, theo Lê Quý Đôn trong Đại Việt thông sử).

Họ Mạc chiếm ngôi vua làm đến đây là hết Sau còn có mấy người xưng làm vua, đặt niên hiệu nhưng chỉ giữ được một phần đất nhỏ

Mạc Kính Chỉ con Kính Điển ơ Đông Triều, hay tin 'Mậu Hợp

đã bị bắt, bèn tự xưng làm vua, đóng ỏ huyện Thanh Lâm Con cháu

họ Mạc hơn trăm người và nhiều quan văn võ về đấy, rồi treo bảng chiêu mộ quân sĩ, chang bao lâu được 6, 7 vạn người Mạc Toàn không giữ được nhân tâm quy phụ, thế cô, cũng theo về Kính Chỉ.Trịnh Tùng thấy Kính Chỉ lại nổi lên, thanh thế to Quan quân đánh mãi không được, hèn đem quân sang đánh ở huyện Cẩm Giàng và huyện Thanh Lâm, bắt được Kính Chỉ và người họ Mạc cùng các quan cả thảy 60 người

Trang 25

Năm sau, Mạc Ngọc Liễn tìm được người con khác của Kính Điển là Mạc Kính Cung, lập lên làm vua, chiếm giữ châu Yên Bắc ở Lạng Sơn làm căn bản Chẳng bao lâu, Hoàng Đình Ái lên đánh Kính Cung và Ngọc Liễn phải chạy sang Long Châu Ngọc Liễn ô"m chết, có

để thư lại dặn Kính Cung: “Nay họ Lê lại dấy lên được, ấy là sô" Trời

đã định Còn dân ta có tội gì mà lại nỡ đế khố sỏ mãi vê việc chiến tranh? Vậy ta nên đành phận lánh mình ỏ nước ngoài, chứ đừng cô" đem lòng cạnh tranh mà lại mòi ngLíòi Hoa sang làm hại dân mình”

Trung hậu thay mấy lời dặn lại của Mạc Ngọc Liễn Thê" mà người họ Mạc không ai chịu theo Mạc Kính Cung nhờ nhà Minh bênh vực về ở đất Cao Bằng, giữ chỗ biên thuỳ nhỏ mọn Con cháu

họ Mạc hãy còn nhiều, nay xưng vương chỗ này, mai khơi loạn chỗ khác Trịnh Tùng một mặt dùng trí mà giữ cho nhà Minh khỏi quấy nhiễu, một mặt dùng lực đánh dẹp dư đảng họ Mạc

Mạc Kính Chương xưng là Trang vương, chiếm giữ huyện Đông Triều đến đất Yên Quảng Năm 1596, trấn thủ Hải Dương Phan Ngạn đánh hắt điíỢc Kính Chương

Mạc Kính Dụng con Kính Chỉ, chiếm giữ đất Yên Bắc (Lạng Sơn) xưng Là Uy vương, chẳng hao lâu bị quân Trịnh bắt được

Còn Mạc Kính Cung chạy sang Trung Quôc, lại về cùng đảng mình đánh phá Cao Bằng và Lạng Sơn Quan quân đánh đuối nhưng Kính Cung sang kêu với nhà Minh Vua Minh cho đưa thư sang bắt nhà Lê phải để đất Cao Bằng cho con cháu họ Mạc Trịnh Tùng bất đắc dĩ phải theo

Năm 1599, có bọn Ngô Đình Hàm, Phan Ngạn, Bùi Văn Khuê nổi loạn, Trịnh Tùng ở Thăng Long rước vua Lê Kính Tông vào Thanh Hoa Đảng họ Mạc đón Kính Cung yề Ngô Đình Hàm theo giúp họ Mạc Trịnh Tùng đem thuỷ bộ đại quân ra đánh, bắt được quốc mẫu Bùi thị, thứ mẫu Mậu Hợp, giết đi Kính Cung chạy sang Kim Thành, Hải Dương, sau thấy đảng mình thua cả, lại trở về Cao Bằng Các tướng Trịnh đi tiễu trừ đảng họ Mạc ở Thái Nguyên, Lạng Sơn và Yên Quảng

Năm 1623, Mạc Kính Khoan, cháu Kính Cung, xưng là Khang vương, giữ đất Thái Nguyên, từng bị quân Trịnh đánh thua mấy lần, thấy sự anh em Trịnh Xuân, Trịnh Tráng lục đục, đem quân về đóng ỏ làng Thổ Khô"i, huyện Gia Lâm, chẳng hao lâu

bị Trịnh Tráng đánh thua, phải chạy lên Cao Bằng

Năm 1625, tướng Trịnh là Trịnh Kiều lên đánh Cao Bằng, bắt được Kính Cung đem giết đi Kính Khoan chạy sang Trung

Trang 26

Quôc, rồi cho người về dâng biểu xin hàng Triều đình phong Kính Khoan làm thái uý Thông quôc công và cho giữ đất Cao Bằng, theo lệ công hiến.

Họ Mạc đáng nên giữ phận phiên thuộc, chỉ làm một tù trưởng lớn, có thê tập, như các tù trưởng dân thiểu sô", thì cũng được lâu dài Nhưng năm 1638, Kính Khoan chết Con là Mạc Kính Vũ (có sách chép Kính Hoàn, do chữ Hán Vũ ỹ và Hoàn ^ gần giông nhau, nên

có sự lầm lộn) lại không nhận chức và không chịu cống, tự xưng làm vua, thỉnh thoảng còn đem quân về cướp phá ở hạt Thái Nguyên Quan quân đi đánh nhiều lần nhưng không trừ hẳn đưỢc

Năm 1667, Trịnh Tạc đem đại binh cùng các tướng Đinh Văn

Tả, Lê Châu, Lê Hiến lên đánh lấy đất Cao Bằng Kính Vũ bỏ chạy sang bắc quốc Trịnh Tạc chiêu tập dân sự vê làm ăn và đặt quan cai trị: Vũ Ninh làm đốc trấn Cao Bằng, Đinh Văn Tả làm trấn thủ Thất Tuyền, nay là Thất Khê

Kính Vũ sang Trung Quốc, lây vàng bạc đút lót cho cho quan nhà Thanh tâu xin với vua Thanh bắt họ Trịnh trả đất Cao Bằng cho họ Mạc Vua Thanh cho Kính Vũ về Nam Ninh, rồi sai sứ sang thương nghị với Nam triều Trịnh Tạc phải chịu trả cho họ Mạc bô"n châu: Thạch Lâm, Quảng Yên, ThvfỢng Lang, Hạ Lang, với điều kiện xưng thần nạp phú công cho nhà Lê

Sau Ngô Tam Quế phản nhà Thanh ở Vân Nam và Quảng Tây Kính Vũ tòng đảng Tam Quế Đến khi Tam Quế chết, nhà Thanh lấy lại đất Quảng Tây, họ Trịnh muôn nhân dịp trừ họ Mạc cho xong, sai Đinh Văn Tả và Nguyễn Hữu Đăng lên đánh Kính

Vũ Đến tháng 8 âl năm 1677, Đinh Văn Tả lấy được thành Cao Bằng Kính Vũ cùng họ hàng chạy sang Long Châu, bị quan nhà Thanh bắt giải sang ta

Từ khi Mậu Hợp phải bắt, họ Mạc thất thủ Thăng Long, chạy lên mạn ngược, nhò thê Trung Quốc, được giữ đâ"t Cao Bằng, truyền được ba đời: Kính Cung, Kính Khoan, Kính Vũ, đến đây mất hắn Dòng dõi họ Mạc hoặc bị bắt, hoặc về hàng, có mấv người được tha cho ra làm quan, không ke nhiều người đi tản cư sang Trung Quốc

CÁC VUA LÊ TRUNG HUNG (HẬU LÊ)

Nhà Mạc thoán ngôi nhà Lê Nguyễn Kim lập Lê Duy Ninh, con Lê Chiêu Tông lên làm vua, đóng ở sầm Châu Ây là vua Lê Trang Tông Làm vua 16 năm, khuất năm 1548, hưởng linh 31 tuổi

Trang 27

Trịnh Kiểm, người kế nghiệp Nguyễn Kim, lập Lê Duy Huyên, con Trang Tông Ây là vua Lê Trung Tông Trung Tông ở ngôi 8 năm, khuất năm 1556, hưởng linh 28 tuổi.

Trung Tông không có con Các con cháu trực hệ Lê Thái Tổ không còn ai Trịnh Kiểm lập Lê Duy Bang, cháu huyền tôn ngưòi anh Thái Tổ làm vua Ây là vua Lê Anh Tông Anh Tông thấy Trịnh Tùng, con Trịnh Kiểm, thắng đưỢc quân Mạc nhiều trận, chuyên quyền hông hách, muôn trừ bỏ đi, bị Trịnh Tùng hại, năm

1573 Anh Tông ở ngôi 17 năm, hưởng linh 42 tuổi

Trịnh Tùng lập người con thứ năm Anh Tông là Lê Duy Đàm làm vua Ây là vua Lê Thê Tông

Năm 1592, Trịnh Tùng diệt được Mạc Mậu Hợp, Mạc Kính Chỉ, khôi phục miền bắc, rước Thế Tông ra Đông Kinh mở triều nghi, thăng thưởng các tướng sĩ

Nhà Mạc mất ngôi, người họ Mạc sang kêu với vua Minh rằng họ Trịnh nổi lên tranh ngôi, chứ không phải con cháu nhà

Lê Vua Minh sai quan đến Nam Quan xét hỏi Năm 1596, sứ thần ta Đỗ ưông, Phùng Khắc Khoan cùng với hoàng thân Lê Cánh, Lê Lựu đem theo 10 kỳ mục, 100 cân vàng, 1.000 cân bạc,

ấn An Nam đô thôKg sứ của nhà Mạc và ấn An Nam quốc vương của nhà Lê trước đem trình Quan nhà Minh đòi nhà vua phải đích thân sang hội Thế Tông đến thì quan nhà Minh lại đòi người vàng như cũ, rồi không chịu đến hội Năm sau, sứ Minh lại sang mời Thế Tông lên hội ở Nam Quan Hoàng Đình Ái hộ tông vua đi phó hội Năm sau nữa, Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Nhân Thiệm đem đồ lễ sang Yên Kinh dâng vua Minh, xin phong Vua Minh Thần Tông (Vạn Lịch) chỉ phong Thê Tông làm An Nam đô thống sứ Phùng Khắc Khoan tâu Đô thông sứ là chức cũ nhà Mạc Nay vua nước Nam là dòng dõi nhà Lê chức ấy không xứng Vua Minh nói lúc đầu tạm phong vậy, vê sau sẽ phong vương Từ đó, nhà Minh với nhà Lê lại thông sứ như cũ (Sau nhà Minh suy, Quế vương năm 1647, xưng đế ở Quảng Tây, muôn nhờ bên ta cứu viện, mới phong vua Lê Chân Tông làm An Nam quốc vương)

Năm 1599, Thế Tông khuất, làm vua 27 năm, hưởng linh 33 tuổi Trịnh Tùng hội triều thần tôn hoàng tử Duy Tân lên làm vua Ây là vua Lê Kính Tông Kính Tông bấy giờ còn là trẻ con, mới 13 tuổi Trịnh Tùng đặt lên để dễ hề sai khiến

Công nghiệp diệt trừ họ Mạc thoán vị, sau Nguyễn Kim là cha con Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng Có công lớn, họ Trịnh nắm binh

Trang 28

quyền rồi nắm luôn cả chính quyền, cai trị thiên hạ Các vua Lê sau, không có công đức gì, được lập chỉ vì là dòng dõi nhà vua chính thông Lê Anh Tông lại chỉ là một địa chủ, con cháu người anh Thái Tổ mà được lập Không có công lao, tài đức, cũng không nắm giữ quân đội, có được lực lượng gì mà được giữ địa vị

cao quý, kể cũng là tốt đẹp Ngôi vua phải nương nhờ vào chúa

có thực lực, giữ binh quyền, mới vững chãi Nhà chúa phải mượn tiếng phò vua mới có chính nghĩa, dễ ăn nói với quôh dân

và với triều đình Trung Quốc Hai hên dựa vào nhau đê tồn tại lâu dài Chỉ vì người làm vua, có địa vị suông, lại cũng muôn có thực quyền nên mới có những chuyện không hay Kê ra thì các chúa, đôl với nhà vua, cũng quá tệ, thường chỉ dựng những người quá trẻ để tiện sai khiến, ưng thì để, không ưng thì phế truất, nói là vua tự thoái vị Trịnh Tùng trước sau giết hai vua (!) Chỉ có Lê Thần Tông và Lê Hiến Tông an phận, thuận theo nhà chúa, mới được lâu dài Các vua Lê khác không mấy ai thọ,

ở ngôi được lâu hết

Trịnh Tùng nắm giữ mọi quyền hành, càng ngày càng kiêu hãnh Kính Tông thấy khó chịu Năm 1619, nhân người con thứ của Tùng là Xuân muôn tranh quyền với anh là Tráng, Kính Tông mưu trừ Tùng đi Việc không thành, Tùng bức vua thắt cổ chết Kính Tông ở ngôi 20 năm, hưởng linh 32 tuổi

Năm 1620, Trịnh Tùng lập con Kính Tông là Lê Duy Kĩ lên làm vua Ây là vua Lê Thần Tông, bấy giờ 13 tuổi Thẩn Tông ở ngôi được 23 năm, đến năm 1642, Trịnh Tráng thấy ông này đã nhiều tuổi, e khó khiến, chẳng sao cả bảo ông thoái vị, nhường ngôi cho con, lên làm thái thượng hoàng Không như các thái thượng hoàng nhà Trần, ông này không có quyền hành gì hết.Thái tử Lê Duy Hữu, 14 tuổi được dựng lên làm vua Ay là vua Lê Chân Tông, Chân Tông ở ngôi 6 nám, mất năm 1649, hưởng linh 20 tuổi, không có con

Trịnh Tráng lại rước thái thượng hoàng Thần Tông về làm vua Lần thứ hai này, ngài ở ngôi được 13 năm, khuât năm 1662, thọ 56 tuổi

Con thứ hai Thần Tông là Lê Duy Vũ, 10 tuổi, được lập Ay là vua Lê Huyền Tông Huyền Tông cũng không thọ, mất năm 1671,

ở ngôi 9 năm, hưởng linh 18 tuổi

Nôl ngôi Huyền Tông là Lê Duy Hội, con thứ ba Thần Tông

Ay là vua Lê Gia Tông, ông này khi mới 2 tuồi thì Thần Tông

Trang 29

khuất, Trịnh Tạc đem về nuôi Năm 1672, dựng lên làm vua Gia Tông cũng lại chết yếu, ỏ ngôi 4 năm, khuất năm 15 tuổi.

Kế vị Gia Tông là người em Lê Duy Hợp, con thứ tư Thần Tông Ây là vua Lê Hy Tông Khi Thần Tông mất, Trịnh thị mới có thai Trịnh Tạc đưa về phủ nuôi Trịnh thị sinh Duy HỢp Hy Tông lên ngôi năm 1678, khi mới 14 tuổi, giữ ngôi 29 năm Đến năm 1706, nhường ngôi cho thái tử, làm thái thượng hoàng 11 năm, hưởng thọ 54 tuổi

Thái tử Lê Duy Đường, con Hy Tông, lên ngôi Ây là vua Lê Dụ Tông 0 ngôi 24 năm Năm 1729, chúa Tiịnh Cương bắt nhường ngôi cho con là thái tử Duy Phương, ồng khuất năm 1731, hưởng thọ 52 tuổi

Lê Duy Phương, con Dụ Tông nôi ngôi cha làm vua 3 năm Đến năm 1732, bị Trịnh Giang truất phế, vu cho tội tư thông với

vỢ Trịnh Cương, phải giáng làm Hôn Đức công, chết năm 1736, hưởng linh 28 tuổi

Duy Phương bị phế Duy Tường, con lớn Dụ Tông lập Ay là vua Lê Thuần Tông, ổng này trước đã được lập làm thái tử, bị Trịnh Cương bỏ Năm 1732, Trịnh Giang lại lập làm vua Thuần Tông ỏ ngôi 4 năm, khuất năm 1735, hưởng linh 37 tuổi

Thuần Tông khuất, Trịnh Giang không lập con ông này, mà lập

em là Lê Duy Thìn, con thứ Dụ Tông Ấy là vua Lê Ý Tông Ý Tông làm vua được 6 năm Đến 1740, Trịnh Doanh bắt ông nhường ngôi cho con Thuần Tông Ý Tông khuất năm 1759, hưởng linh 41 tuổi

Trịnh Doanh thấy Lê Duy Diêu, con Thuần Tông, có tướng thái bình, năm 1740 lập nên làm vua Ây là vua Lê Hiển Tông Ong này an phận nên làm vua được lâu dài và trường thọ Hiến Tông giữ ngôi 47 năm, khuất năm 1786, hưởng thọ 70 tuổi

Cháu đích tôn Hiển Tông là Lê Duy Kỳ nôl ngôi Ay là vua

Lê Mẫn đế, thường gọi theo niên hiệu là Chiêu ThôAg Làm vua các năm 1787, 1788, không giữ được nước, chạy sang Trung Quốíc

Sử chép là Lê Xuất Đế Khuất năm 1793, hưởng linh 28 tuổi

Nhà Lê trung hưng (Hậu Lê) làm vua trước sau 255 năm, chỉ

ở ngôi làm vì Các chúa Trịnh mới nắm hết mọi quyền hành quân

sự và chính trị Ngôi vua phải dựa vào lực lượng của nhà chúa mới vững Đến khi nghiệp chúa đổ thì ngôi vua cũng đố theo

HỌ TRỊNH XUNG CHÚA

Trịnh Tùng diệt Mạc Mậu HỢp, lấy được đất miền bắc, có công nghiệp lớn, nắm hết binh quyền và chính quyền, hông hách,

Trang 30

coi thường nhà vua Năm 1599, sau khi thu xếp xong việc bang giao với nhà Minh và nhường đất Cao Bằng cho họ Mạc, tình hình trong nước đã yên, Trịnh Tùng tự xưng (tuy nói là vua Lê Thế Tông phong) là đô nguyên suý, tổng quốc chính thượng phụ Bình

An vương Rồi định lệ cấp bổng cho vua được thu thuế 1.000 xã gọi

là lộc thượng tiến, cấp 5.000 lính làm quân túc vệ Mọi công việc đặt quan, thu thuế, bắt lính, trị dân đều thuộc quyền họ Trịnh cả Chỉ khi thiết triều hay tiếp sứ, mới cần đến vua Từ đó, họ Trịnh

có th ế tập làm vương tục gọi là chúa.

Bấy giò, Trịnh Tùng thế lực rất lớn mà không xưng làm

hoàng đế là do trước đây đánh họ Mạc với chiêu bài phục Lê, nay

lại chiếm ngôi thì không khác gì họ Mạc thoán nghịch Quân dân

sẽ không phục, chông đôi với danh nghĩa phù Lê Lại cũng còn sỢ nhà Minh can thiệp làm khó dễ, nhất là nhà Nguyễn ở phương

nam, thế lực không nhỏ, vẫn có ý tranh quyền Chi bằng giữ địa vị thứ hai trong nước nhưng thực tế quyền hành còn hơn cả vua Trịnh Tùng lại đặt lệ chọn thê tử nôl nghiệp Con cháu sau đều theo lệ xưng vương, tự để cao uy thế buộc vua cho phép bỏ các nghi lễ quân thần như lạy, xưng tên, triều yến Năm 1664, Trịnh Tạc còn tiến thêm bước nữa: Đặt sập ngồi bên trái ngai vua trong

các buổi chầu Chúa không còn là tôi nữa mà là vua thứ hai, lại có

uy quyền hơn cả vua

Trịnh Tùng xưng chúa, quan triều có nhiều người không phục Năm 1600, bọn Phan Ngạn, Ngô Đình Hàm, Bùi Văn Khuê khỏi binh chông cự lại ở cửa Đại An, nay thuộc Nam Định Sau Phan Ngạn và Bùi Văn Khuê lại nghi ngờ nhau, rồi giết lẫn nhau Ngơ Đình Hàm về giúp họ Mạc

Các chúa Trịnh là:

- Trịnh Tùng xưng là Bình An vương, cầm quyền các năm

1599 - 1623, thực sự ngay từ năm 1570

- Trịnh T rán g Thanh Đô vương 1623 -1657, con Trịnh Tùng.

- Trịnh T ạc Tây vương 1657 - 1682 con Trịnh Tráng.

- Trịnh Căn Định vương 1682 - 1709 con Trịnh Tạc.

- Trịnh C ư ơ n g An Đô vương 1709 - 1729 cháu Trịnh Căn

- Trịnh Giang Uy Nam vương 1729 - 1740 con Trịnh Cương

Trịnh Giang làm chúa xa xỉ, hung ác quá độ, giặc cướp nổi lên nhiều, năm 1740 bị phế

- Trịnh Doanh Minh Đô vương 1740 - 1767, em Trịnh Giang.

- Trịnh Sâm Tĩnh Đô vương 1767 - 1782 con Trịnh Doanh.

Trang 31

- Trịnh Cán Tôn Đô vương, con thứ Trịnh Sâm, làm chúa 2

NGUYỄN HOÀNG

Nguyễn Kim, người khởi binh chông nhà Mạc, có hai con trai: Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng, một gái là Ngọc Bảo gả cho Trịnh Kiểm Nguyễn Kim chết, Trịnh Kiểm là tướng tài nắm giữ binh quyền Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng làm thuộc tướng, lập được nhiều công Người anh được phong là Lang quận công, người

em gái thái uý Đoan quận công Nguyễn Uông chết một cách bí mật khả nghi Nguyễn Hoàng sỢ bị hại, xin vào trấn thủ miền xa xôi phía nam

Năm 1558, ông được cử làm trấn thủ đất Thuận Hoá Nơi đây

là trọng địa có nhiều nguồn lợi trên rừng núi dưới biển sông Nhưng lại là nơi cùng với xứ Quảng Nam, sung yếu Quân nhà Mạc có thể dùng chiến thuyền vượt biển đánh thẳng vào ông có bổn phận trấn giữ vùng này, cùng với Trấn quận công Nguyễn Bá Quýnh ở Quảng Nam, cứu viện lẫn nhau

Bấy giò, có nhiều những người họ hàng ở huyện Tông Sơn cùng quân lính đâT Thanh, Nghệ, đem cả vỢ con theo đi Vào đóng

ở xứ Ai Tử, sau gọi là kho Cây Khế, thuộc huyện Đăng Xương, Quảng Trị ngày nay

Nguyễn Hoàng là người khôn ngoan, lại có lòng nhân đức, thu dụng hào kiệti yêu sĩ nhân, nên được lòng người mến phục

Trang 32

Nàm 1569, ông ra chầu vua ở An Tràng Qua năm 1570, Trịnh Kiểm gọi Nguyễn Bá Quýnh tổng binh Quáng Nam về trấn thủ đất Nghệ An và cho ông kiêm luôn chức trấn thủ cả hai xứ Thuận, Quảng Lệ mỗi năm phải nộp thuế 400 cân bạc, 500 tấm lụa.

Năm 1571, quân Mạc Kính Điển vào cướp, chiếm khu từ sông

Cả trở vào nam Xứ Thuận, Quảng giao động Nguyễn Hoàng sẵn

có danh vọng và uy tín, lại nhiều mưu lược quyền biến, không chế trong hạt, quân luật rất nghiêm, bắt giết bộ tướng định hàng giặc Quân Mạc không thế phạm tới hai xứ này

Năm 1572, tướng Mạc Quận công Lập Đạo xuất thuỷ quân nhiều chiến thuyền do đường biển tiến đánh vào Thuận Quảng Thô dân nhiều người ra hàng Nguyễn Hoàng sai Ngô thị, người con gái đẹp, giả làm cách đưa vàng bạc sang nói với Lập Đạo xin cầu hoà Lập đạo không phòng giữ gì, hị quân Nguyễn đánh lén, bắt được, giết đi Quân Mạc bị đánh tan

Năm 1593, Trịnh Tùng đã lấy được Đông Kinh, bắt được Mạc Mậu Hợp nhưng đảng Mạc còn nhiều, phải đánh dẹp nhiều nơi Nguyễn Hoàng đem quân lính súng ôAg ra giúp, lập được nhiều công to ơ lại 8 năm Trịnh Tùng vẫn ghen ghét, không muốn cho ông trở về Thuận Hoá Năm 1600, nhân có bọn Phan Ngạn khởi binh ở cửa Đại An (Nam Định), ông đem bản bộ tướng sĩ, nói là đi đánh giặc, rồi theo đường biển vào Thuận Hoá Vào đó rồi, sỢ Trịnh Tùng nghi ngờ, đem con gái là Ngọc Tú gả cho Trịnh Tráng

là con Trịnh Tùng, ông ở giữ đất Thuận Hoá, cho người con thứ sáu vào đất Quảng Nam, dựng kho tàng tích trữ lương thực

Nước nhà vừa thông nhất chưa bao lâu, từ đó lại phân liệt nam bắc, bề ngoài hoà hiếu, nhưng hề trong vẫn lo việc phòng bị chống cự với nhau

HỌ NGUYỄN xu n g c h ú a MIỂN nam

Nguyễn Hoàng có ý muôn độc lập, chông lại họ Trịnh Năm

1613, dận lại Phúc Nguyên: “Đất Thuận Quảng này bên bắc có núi Hoành Sơn, sông Linh Giang, bên nam có núi Hải Vân và núi Bi Sơn, thật là nơi Tròi để cho người anh hùng dụng võ Vậv ta phải thương yêu nhân dân, luyện tập quân sĩ, để gây dựng cơ nghiệp về muôn đời”

Thuỵ quận công Nguyễn Phúc Nguyên, tục hiệu chúa Sãi, kế nghiệp Nguyễn Hoàng, ngay từ năm 1614, cải tổ chính quyền, bổ dụng quan lại, xây dựng thành một nhà nước, tuy vẫn còn để một sô"

Trang 33

quan lại cũ do triều đình cử vào từ trước và vẫn còn nộp thuê cho triều đình nhưng tách khỏi dần mọi quan hệ lệ thuộc họ Trịnh.

Năm 1623, Trịnh Tùng mất, Phúc Nguyên muôn nhân dịp ra đánh họ Trịnh, nhưng vì công việc sửa soạn chưa xong nên sai người ra phúng điếu, gọi là cho phải nghĩa hôn nhân với nhau, cũng đế nhân thể xem xét tình ý người bắc ra thê nào

Bấy giờ, miên nam có được mây bày tôi giỏi, đều là người Thanh Hoa, không phục nhà Trịnh vào giúp Nguyễn Hữu Dật, người Tông Sơn, học rộng tài cao, lại hùng biện, đánh giặc giỏi, văn võ kiêm toàn Đào Duy Từ cũng người Tông Sơn, vì là con hát xướng, không được đi thi, phẫn chí vào nam lập công danh, đưỢc Trần Đức Hoà gả con gái cho và dâng lên chúa Sãi ồng lập đồn Trường Dục và xây luỹ ở cửa Nhật Lệ (Quảng Bình), tục gọi là luỹ Thầy Nguyễn Hữu Tiến, người huyện Ngọc Sơn, là tướng tài, tinh thông võ nghệ, dùng binh rất có kỷ luật Những vị này giúp chúa Nguyễn, bày mưu định kế, luyện tập quân lính, xây đắp đồn luỹ

để chông nhau với quân họ Trịnh

Một khi các đồn luỹ đã được kiên cố, binh lương đã đầy đủ rồi,

chúa Sãi mới ra mặt không thuần phục họ Trịnh nữa, không nộp thuế hàng năm, đuối các quan lại cũ của triều đình về bắc, sai tướng ra chiếm giữ đất nam Bô Chính ở phía nam sông Linh Giang (sông Gianh) đê làm chỗ chông giữ Từ đó, năm 1627, Trịnh Nguyễn đánh nhau tai hại trong khoảng 45 năm ở Quảng Bình, Hà Tĩnh bây giờ.Các chúa Nguyễn là;

- Nguyển Hoàng - Đoan quận công 1600 - 1613 tục hiệu

Chúa Tiên

- Nguyễn Ph ú c Nguyên - Thuỵ quận công 1613 - 1635

Chúa Sãi, con thứ sáu Nguyễn Hoàng

- Nguyễn Phúc Lan - Nhân quận công 1635 - 1648, chúa

Thượng, con thứ chúa Sãi

- Nguyến Ph ú c Tần - Dũng quận công 1648 - 1687 chúa

Hiền, con chúa Thượng

- Nguyển Phúc Trán - Hoàng quốc công 1687 - 1691 chúa

Nghĩa, con chúa Hiền

- Nguyến Phúc Chu - Tộ quốc công 1691 - 1725 gọi là Quốc

chúa, con chúa Nghĩa

- Nguyễn Phúc Chú - Đình quốc công 1725 - 1738 con Phúc Chu.

- Nguyến Phúc Khoát - Võ vương 1738 - 1765 xưng vương

hiệu con Phúc Chú

Trang 34

- Nguyển Phúc Thuần - Định vương 1765 - 1777 con thứ

Phúc Khoát

- Nguyễn Phúc Anh con Phúc Chương, cháu Phúc Khoát.

Các chúa Nguyễn giữ miền nam tổ chức chính trị như mộttriều đình riêng biệt, tuy không xưng là hoàng đế và đặt quốc hiệu, vẫn dùng niên hiệu của nhà Lê Ngoài ra vua Lê không có quyền hành gì dù chỉ là danh nghĩa suông

CHIẾN TRANH TRỊNH - NGUYỄN

Chúa Nguyễn Phúc Nguyên, một khi đã xây dựng nên cơ sở vững chãi, bèn ra mặt chống đối họ Trịnh Năm 1627, đã ba năm họ Nguyễn không nộp thuế cống, Trịnh Tráng sai quan vào Thuận Hoá giả tiếng nhà vua vào đòi Chúa Sãi (Phúc Nguyên) tiếp sứ nhưng không chịu nộp thuế Trịnh Tráng sai sứ mang sắc vua Lô Thần Tông phong Phúc Nguyên làm thái phó quốc công Chúa Sãi nhận, nhưng ngav sau đó cho người đưa trả lại, bỏ tò sắc vào giữa mâm đồng hai đáy, kèm theo sản phẩm quý địa phương, nói là tạ ơn, mặt mâm để mấy chữ có nghĩa là “ta không nhận sắc” Trước đó, Trịnh Tráng còn đòi 30 con voi, 30 chiến thuyền Chũa Sãi không chịu

ĐÁNH NHAU LẦN THỨ NHẤT - Bấy giờ, tình hình trong nước đã yên Việc bang giao với nhà Minh êm đẹp Họ Mạc đã yên phận làm một phiên thần Trịnh Tráng quyết tâm đi đánh miền nam, sai tướng Nguyễn Khải và Nguyễn Danh Thế đem 5.000 quân đi tiên phong, vào đóng ở Hà Trung (Cầu Doanh), rồi đem đại binh, rước vua Thần Tông đi chinh nam

Phúc Nguyên sai Nguyễn Phúc Vệ làm tiết chế cùng với Nguyễn Hữu Dật đem hình mã ra giữ các nơi hiểm yếu Quân Trịnh đến đánh, chết hại nhiều Nguyễn Hữu Dật đặt kế khiến quân Trịnh rút về; phao lên rằng ngoài bắc có Trịnh Gi và Trịnh Nhạc sắp làm loạn Có thuyết họ Mạc kéo quân vê đánh Đông Kinh Trịnh Tráng nghe tin, sinh nghi, không rõ hư thực, bèn rước vua và rút quân về

ĐÁNH NHAU LẦN THỨ HAI - Năm 1630, chúa Sãi nghe lồi Đào Duy Từ, sai người đem các sắc dụ ra trả vua Lê, rồi sai tướng ra đánh lấy phía nam ngạn sông Gianh, đế chông nhau với quân Trịnh Đây là đất nam Bô" Chính, nay thuộc tỉnh Quảng Bình Còn

Hà Trung thì thuộc Hà Tĩnh

Năm 1633, có người con thứ ba chúa Sãi là Ánh trấn thủ Quảng Nam, muôn tranh quyền, sai người đưa thư ra Đông Kinh

Trang 35

xin chúa Trịnh đem quân vào đánh, bắn súng làm hiệu thì sẽ làm nội ứng Anh xin với chúa Sãi ra trấn thủ Quảng Bình cho tiện mưu gian Chúa Sãi ngờ, không cho Trịnh Tráng đem đại binh

vào đóng ở cửa Nhật Lệ (Đông Hải nay đọc trệch là Đồng Hới,

thuộc Quảng Bình) Đợi hdn 10 ngày, không thấy tin tức gì của Anh, hèn lui ra đế chò Quân lính đợi lâu, sinh lười biếng Tướng Nguyễn Văn Thắng và Nguyễn Hữu Dật xuất kỳ bất ý đổ ra đánh đuổi Trịnh Tráng thấy sự không thành, rút quân về

ĐÁNH NHAU LẦN THỨ BA - Năm 1635, Phúc Nguyên mất, con trai thứ hai là Phúc Lan nôi nghiệp chúa, tục hiệu chúa Thượng

Em là Ánh ở Quảng Nam phát binh làm phản, tranh quyền, bị Nguyễn Phúc Khê giúp chúa Thượng quân vào đánh, hắt giết đi Trịnh Tráng thây anh em họ Nguyễn tranh đánh nhau, sai tướng vào đánh lấy đất nam Bô" Chính, giết được tướng Bùi Công Thắng, rồi tiến lên đánh cửa Nhật Lệ

Năm 1643, Trịnh Tráng đem đại binh và rước vua vào đất bắc Bô Chính Lần này có trang bị ha chiếc thuyền và súng đạn của người Hà Lan Gặp thòi tiết tháng tư, khí tròi nóng nực, quân

sĩ bị dịch tả chết hại nhiều Trịnh Tráng phải rút về hắc

ĐÁNH NHAU LẦN THỨ Tư - Năm 1648, Trịnh Tráng lại sai đô đốc Tiến quận công Lê Văn Hiếu (có sách chép là Trịnh Đào hay Hàn Tiến) đem quân thuỷ bộ vào đánh miền nam Bộ binh tiến đóng ở nam Bô" Chính, thuỷ quân vào đánh cửa Nhật Lệ Chiến trận kịch liệt Cha con Trương Phúc Phấn cô" sức giữ luỹ Trường Dục Quân Trịnh đánh mãi không tiến lên đưỢc Chúa Thượng sai con là Phúc Tần ra chông giữ ở Quảng Bình Phúc Tần biết quân Trịnh tuy nhiều, nhưng ít người tài giỏi, một mặt cho thuỷ quân đi phục sẵn ở của sông Cam La, chặn đường quân Trịnh về, một mặt sai Nguyễn Hữu Tiến đem 100 con voi canh năm đánh vào đại quân Trịnh Quân bộ tiếp sau vào đánh phá Trận này quân Trịnh thua to, rút chạy, lại gặp thuỷ quân Nguyễn đuổi đành mãi đến sông Lam Giang Mấy tướng và 3.000 quân bị quân Nguyễn bắt Trịnh Tráng thấy quân mình thua sai Lê Văn Hiểu và Trần Ngọc Hậu lĩnh một vạn quân giữ Hà Trung, Lê Hữu Đức và Vũ Lương đóng ở Hoành Sơn, Phạm Tất Toàn đóng ở bắc Bô" Chính, đề phòng quân Nguyễn đánh ra

Bấy giò, năm 1648, chúa Thượng mất, con là Dũng quận công Phúc Tần nô"i nghiệp, tục hiệu chúa Hiền

Ngoài bắc, nám 1649, Lê Chân Tông mất, không con Thái thượng hoàng Thần Tông trở lại làm vua lần nữa

Trang 36

Họ Trịnh đem quân đi chinh nam mấy phen, hao binh tổn tướng, không nên công trạng gì Thế mà vẫn không chịu thôi việc chiến tranh.

ĐÁNH NHAU LẦN THỨ NĂM - Năm 1655, Trịnh Tráng lại cử binh vào đất nam Bô" Chính Chúa Hiền quyết dùng đại quân đánh lớn Những lần trước chỉ giữ thế thủ, nay mới mở thế công Sai Thuận Nghĩa hầu Nguyễn Hữu Tiến, Chiêu Vũ hầu Nguyễn Hữu Dật đem quân qua sông Gianh đánh vào đất bắc Bô" Chính Tướng Trịnh là Phạm Tất Toàn về hàng Quân Nguyễn tiến đến Hoành Sơn, đánh đuối Lê Hữu Đức, thừa thắng đánh đến đồn Hà Trung Lê Văn Hiểu chông lại không nổi, phải cùng Lê Hữu Đức rút quân về giữ Nghệ An Nguyễn Hữu Tiến đem binh đến đóng ở huyện Thạch Hà Lê Văn Hiểu và Lê Hữu Đức lại sang đóng ở xã Đại Nại Trịnh Tráng sai Trịnh Trượng vào làm thông lĩnh kinh lược đất Nghệ An và triệu các tướng kia về Lê Văn Hiểu bị đạn sau chết ở nửa đường Lê Hữu Đức và Vũ Lương phải giáng chức.Trịnh Trượng tiến binh đóng ở huyện Kỳ Hoà, cho thuỷ binh đóng ở cửa Kỳ La Nguyễn Hữu Tiến rút quân về sông Gianh để nhử địch Trịnh Trượng không đuổi, đóng quân ở lại Lạc Xuyên, cho một sô" đóng ở đồn Hà Trung Nguyễn Hữu Tiến đánh quân Trịnh ở Lạc Xuyên Nguyễn Hữu Dật dùng thuỷ binh đánh vào cửa Kỳ La đều thắng, rồi chiếm luôn bảy huyện phía nam sông Cả

Trịnh Tráng sai con là Trịnh Tạc vào Nghệ An thông lĩnh Nguyễn Hữu Tiến lui quân về Hà Trung Ngoài bắc lắm việc, Trịnh Tạc trở về, để các tướng là bọn Đào Quang Nhiêu ở lại giữ đất Nghệ An

Năm 1656, quân Nguyễn hai mặt tiến đánh vào các đồn quân Trịnh Quân Trịnh mấy nơi đều bị thua chạy Quân của Đào Quang Nhiêu đánh lại một trận râ"t dữ nhưng rồi cũng thua chạy

Trịnh Tráng sai người con út Ninh quận công Trịnh Toàn (tục gọi ông Ninh) vào thống lĩnh Trịnh Toàn vào Nghệ An, đô"c chư quân tiến đến Thạch Hà, sai các tướng đô"c quân ở Hưng Bộc, Đại Nại, Nam Giới (?) và Châu Nhai Quân Nguyễn tiến đánh Nam Giới lấy được 30 chiếc thuyền, rồi tràn xuông sông c ả đánh vào Châu Nhai Trịnh Toàn nghe tin Đào Quang Nhiêu bị vây ở Hương Bộc, đem quân đến cứu Hai bên đánh nhau ỏ làng Đại Nại Quân Nguyễn chạy vào Hà Trung Quân Trịnh đánh đuổi đến Tam Lộng, bị đón đánh thua, phải chạy về Nghệ An

Trang 37

Trịnh Toàn trấn thủ Nghệ An, hậu đãi tướng sĩ yêu mến nhân dân, lòng người đều phục Trịnh Tráng chết Trịnh Tạc lên thay, nghi kỵ em, cho con là Trịnh Căn vào trấn thủ Nghệ An, gọi Trịnh Toàn về, hạch tội không về chịu tang, bắt bỏ ngục giam chết.

Năm 1657, Trịnh Căn chia quân ba đạo tiến đánh quân Nguyễn ở bên kia sông Cả Nguyễn Hữu Tiến được người báo trước

đã phòng bị Quân Trịnh đến, mắc kế phải thua, may có Trịnh Cán tiếp ứng nên mới rút được êm

Từ đó, hai bên giữ nhau ỏ sông cả thỉnh thoảng đánh nhau

một trận Tháng chạp âl năm 1658, đánh ở Hương Sơn, quân Nguyễn phải lui Tháng 8 năm 1660, đánh ở Nghi Xuân, quân Trịnh thua bỏ thuyền chạy Qua tháng 9, quân Nguyễn còn đóng ở Hoa Viên Trịnh Căn định sang lấy núi Lận Sơn đế giữ trận thế, chia hai đạo quân cùng tiến Đạo quân của Đào Nghĩa Giao đến Lận Sơn, bị quân Nguyễn Hữu Dật đánh, vây ngặt lắm Trịnh Căn sang cứu và truyền thuỷ quân bắn lên Quân Nguyễn phải lui Đạo quân của Lê Thì Hiến và Mẫn Văn Liêu sang đến làng Tả Ao, gặp quân Nguyễn Hai bên đánh nhau Mẫn Vàn Liêu tử trận Nhưng quân Nguyễn phải bỏ Hoa Viên, lui về đóng ở Nghi Xuân Quân Nguyễn Hữu Tiến đóng ở Nghi Xuân Quân Nguyễn Hữu Dật ở Khu Độc

Chúa Hiền cũng đem binh đến tiễp ứng, đóng ỏ làng Phù Lộ nay thuộc Quảng Bình Nguyễn Hữu Dật lẻn về ra mắt, kể việc đánh lấy thê nào, được ban bảo kiếm vàng Nguyễn Hữu Tiến thấy vậy không bằng lòng, nhân có các sĩ tốt mới hàng ở đất Nghệ An thường hay bỏ trôn Hữu Tiến hội chư tướng, bàn nên đánh hay nên về Mọi ngvíòi đều muốn lui về, duy Hữu Dật không chịu

Bấy giờ, quân Trịnh Lê Thì Hiến đi men bờ biển đánh vào Cương Gian Hoàng Nghĩa Giao đến Lũng Trâu, Mãn Trường, rồi tiến đánh An Điền và Phù Lưu Quân Nguyễn thua Được tin ấy, Hữu Tiến quyết đem quân về, bề ngoài truyền lệnh các đạo sang tiến đánh Nghệ An Hữu Dật đem binh đi hậu tiếp, dặn riêng các tướng đến nửa đêm rút quân về nam Bô Chính, không cho Hữu Dật biết Quân Trịnh sang sông đánh vào đồn Khu Độc Hữu Dật dùng kế nghi binh đê cho quân Trịnh không dám tiến, rồi đem quân chạy về, đến Hoành Sơn mới gặp quân Hữu Tiến Bấy giờ, quân Trịnh Căn vừa đuôi đến, hai bên đánh nhau một trận, cùng chết hại nhiều

Trịnh Căn lui về đóng ỏ Kỳ Hoà Còn bên kia, Hữu Tiến đóng ở Nhật Ijệ Hữu Dật ở Đông Cao, giữ các chỗ hiểm yếu Từ đấy, bảy

huyện vùng sông Lam (sông cả) đất bắc Bô" Chính lại thuộc về Trịnh.

Trang 38

Trịnh Căn thấy quân Nguyên giữ gìn mọi nơi rất chắc chắn, liệu thế đánh không được, sai Đào Quang Nhiêu ở lại trấn thủ Nghệ An hiệu lĩnh cả đất bắc Bô" Chính để phòng giữ mọi nơi, rồi trở về Đông Kinh.

ĐÁNH NHAU LẦN THỨ SÁU - Tháng 10 âl năm 1661 Trịnh Tạc

cử đại binh và đem vua Lê Thần Tông vào đánh chúa Nguyễn, sai Trịnh Căn làm thông lĩnh, Đào Quang Nhiêu làm tổng xuất, Lê Thì Hiến và Hoàng Nghĩa Giao làm đốc xuất, Lê Sĩ Triệt và Trịnh

Tế làm đốc thị, đem binh sang Linh Giang (sông Gianh), đến đóng

ở làng Phục Tự

Trấn thủ nam Bô" Chính là Nguyễn Hữu Dật đóng ở làng Phúc Lộc, chia quân ra đắp luỹ, giữ vững mọi nơi Quân Trịnh đánh mãi mấy tháng không được Đến tháng 3 âl năm 1662, quân mệt, lương hết Trịnh Tạc phải thu quân rước vua về bắc Nguyễn Hữu Tiến đem quân đuổi đánh đến sông Gianh mới thôi

ĐÁNH NHAU LẦN THỨ BẢY - Từ năm 1661, trở về bắc, Trịnh Tạc phải lo việc nước, đánh dẹp họ Mạc ở Cao Bằng, cho nên không ngó tới phía nam Mãi đến năm 1672, Trịnh Tạc lại đem mấy vạn quân và rước vua Lê Gia Tông vào đất hắc Bô" Chính để đánh họ Nguyễn, sai Trịnh Căn làm thuỷ quân nguyên suý, Lê Thì Hiến làm bộ quân thông suất

Chúa Hiền cũng sai em thứ tư là Hiệp làm nguyên suý đem binh ra cùng Nguyễn Hữu Dật và Nguyễn Mỹ Đức giữ các nơi hiểm yếu để ngự địch Chúa Hiền đem đại binh đi tiếp ứng

Quân Trịnh tiến đánh luỹ Trấn Ninh rất hăng, đã 2, 3 phen sắp phá được luỹ nhưng Hữu Dật hết sức chông giữ Quân Trịnh đánh mãi không được, phải lui về bắc Bô" Chính Đến tháng Chạp, trời mưa rét, lại nghe tin Trịnh Căn đi đến sông Gianh phải bệnh nặng, Trịnh Tạc sai Lê Thì Hiến ở lại trấn thủ Nghệ An, Lê Sĩ

Triệt làm đô đốc đóng ở Hà Trung để giữ các yếu lộ, lấy Linh

Giang (sông Gianh) phân giới hạn nam bắc, rồi rút quân về

Từ đó, nam bắc thôi việc chiến tranh, mãi đến khi Tây Sơn khởi binh, họ Trịnh mới nhân dịp vào đánh lấy đất Thuận Hoá

Từ năm 1627 đến năm 1672, Trịnh - Nguyễn đánh nhau 7 lần Chúa Nguyễn chỉ ra đánh một lần, lấy được 7 huyện ở phía

nam sông Lam (sông cả), vì các tướng không đồng lộng nên lại

phải bỏ về giữ đất cũ

Lực lượng quân bên Trịnh mạnh hơn nhưng phải đi xa, vận tải khó nhọc, mà người nam thì giữ đất mình, có đồn luỹ chắc

Trang 39

chắn, tướng sĩ hêt lòng cho nên hai bên đôi địch vẫn không làm gì đưỢc nhau, biên giới lại như cũ, chỉ khổ binh sĩ bị chết hại, bị thương tích rất nhiều, dân chúng bị sưu dịch vất vá, lại còn nhà cửa, mùa màng bị đốt phá, công việc san xuất bị đình trệ.

Chiên tranh Trịnh - Nguyễn thì thòi gian ngắn hơn, sô" trận đánh ít hơn chiên tranh Trịnh - Mạc nhưng sô" thiệt hại không kém, do những trận đánh nhau rộng lớn và kịch liệt Bọn quân phiệt tranh nhau quyền lợi làm khổ nhân dân

B.ÁNC T H Ờ I (ỈI.\N NAM BẮC PHÂN TRANH

TT ỈÁI 'lỦNC i ĐÃNG D( )AN11 Đai Chinh 1530-1540 HIÉNTO.NG PHÚC HAI

Quang Hoa 1541 -1 5 4 6

TUYÊN TONG PHÌK'

■ NGUYỈIN

Vĩnh Định 1547 Cảnh Lịch 1548-1553 Quang Bảo 1554 -1561

MẬU HỘP

Thuần Phúc 1562-1565 Sùng Khang 1566 -1577 Diên Thành 1578 -1585 Đông Thái 1586-1587 Hung Tri 1588-1590 Hổng Ninh 1591 -1592

TRỊNH

Thái quốc công KIẾM

NGUYỀN

TriêuTổKIM Huhg quốc công

KÍNH'rô.NG DUY TÂN

KLNH KHOAN

Long Thái 1623-1625

Binh An vuong TỦNG 1599-1623 Thành tổ Triết vuong

Thái tổ HOÀNG Đoan quận công 1600-1613 Chúa Tên

Trang 40

Thanh E)ô vuong TRÁNG 1623-1657

Vãn tổ Nghi vuOng

Hy Tồng PHÚC NGUYÊN

Thuỵ quận còng 1613-1635 Chúa Sãi

Thần Tông PHÚC LAN Nhãn quận còng 1635-1648 Chua Thuọng Thái Tòng PHÚC TẨN Dũng quận oòng 1648-1687

H YTO N G D U 'Y H Ộ H

VĩnhTri 1676-1680

Chính Hoà 1680-1705

0 n h Vuơng CÂN 1682-1709 Chiêu tổ Khang vudng

Anh Tông PHÚC TRÂN Hoàng quốc cõng 1687-1691 Chúa Nghĩa

DỤ TONG DUY ĐƯỜNG

Vĩnh Thịnh 1705-1719

Hoà Thái 1720-1729

An Đó vuong CƯƠNG 1709-1729

Hy tổ Nhân vuong

Hiếu Tông PHÚC CHU

Tộ quốc cõng 1691-1725

Án Đõ vuơng BÓNG 1787

Thế Tòng PHÚC KHOÁT

Vồ vuong 1738-1765 Diệu Tòng PHÚC THUẦN

Định vuOng 1765-1777

PHÚC ANH xung vuong từ 1780

N G U Y Ễ N T Â Y SƠ N

NHAC Thái ĐÚC 1778-1793 HUỆ

CXJang Trung 1788-1792 QUANG TOẢN Cảnh Thịnh 1793-1801 BảoHưhg

1801 -1802

Ngày đăng: 05/11/2020, 09:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w