1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BTHK Luật hôn nhân và gia đình

8 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 487,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề bài : Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng được thể hiện như thế nào trong các chế định cụ thể của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014BÀI LÀMHôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn. Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng nhằm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật này.Nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng tiến bộ và hạnh phúc, bền vững, Luật hôn nhân và ra đình ra đời để điều chỉnh các quan hệ vợ chồng dựa trên nguyên tắc tiến bộ,bình đẳng. Nhận thức được tầm quan trọng về nguyên tắc vợ chồng bình đẳng, bằng kiến thức đã được học tại môn Luật hôn nhân và gia đình, cùng với hiểu biết của bản thân, em xin mạnh dạn chọn đề tài số 05 làm bài tập học kì môn Luật hôn nhân và gia đình.Để tìm hiểu về nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trước hết cần hiểu khái niệm bình đẳng giới. Bình đẳng giới vừa là vấn đề cơ bản của quyền con người, vừa là yêu cầu về sự phát triển xã hội một cách công bằng, hiệu quả và bền vững, đặc biệt là trong đời sống gia đình thì sự bình đẳng giới càng quan trọng.Bình đẳng giới chính là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và khác nhau giữa nữ giới và nam giới.Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình trên cơ sở nguyên tắc nam nữ bình đẳng mà Hiến pháp đã quy định. Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Vợ chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình.” Như vậy, khái niệm về nguyên tắc vợ chồng bình đẳng phải đảm bảo các nội dung đó là: vợ chồng có vai trò, vị trí ngang nhau trong đời sống gia đình; vợ chồng được tạo điều kiện và cơ hội như nhau để phát huy năng lực của mình; vợ chồng được hưởng thụ ngang nhau các thành quả của sự phát triển.

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

-BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

ĐỀ BÀI: 05

Đề bài : Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng được thể hiện như thế nào trong các chế định cụ thể của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

BÀI LÀM

HỌ VÀ TÊN : MSSV : LỚP :

Trang 2

Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn Gia đình là tập hợp những người

gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng nhằm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật này.Nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng tiến bộ và hạnh phúc, bền vững, Luật hôn nhân và ra đình ra đời để điều chỉnh các quan hệ vợ chồng dựa trên nguyên tắc tiến bộ,bình đẳng Nhận thức được tầm quan trọng về nguyên tắc vợ chồng bình đẳng, bằng kiến thức đã được học tại môn Luật hôn nhân và gia đình, cùng với hiểu biết của bản thân, em xin mạnh dạn chọn đề tài số 05 làm bài tập học kì môn Luật hôn nhân và gia đình

Để tìm hiểu về nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trước hết cần hiểu khái niệm bình đẳng giới Bình đẳng giới vừa là vấn đề cơ bản của quyền con người, vừa là yêu cầu về sự phát triển xã hội một cách công bằng, hiệu quả và bền vững, đặc biệt là trong đời sống

gia đình thì sự bình đẳng giới càng quan trọng.Bình đẳng giới chính là sự thừa nhận và

coi trọng như nhau các đặc điểm giống và khác nhau giữa nữ giới và nam giới.Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình trên cơ sở nguyên tắc nam nữ bình đẳng mà Hiến pháp đã quy định Theo quy định

tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Vợ chồng bình đẳng với nhau, có

nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình.” Như vậy, khái niệm về

nguyên tắc vợ chồng bình đẳng phải đảm bảo các nội dung đó là: vợ chồng có vai trò, vị trí ngang nhau trong đời sống gia đình; vợ chồng được tạo điều kiện và cơ hội như nhau

để phát huy năng lực của mình; vợ chồng được hưởng thụ ngang nhau các thành quả của

sự phát triển

Quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng bao gồm các nghĩa vụ và quyền về nhân thân và các nghĩa vụ và quyền về tài sản, trong đó quyền và nghĩa vụ về nhân thân là nội dung chủ yếu trong quan hệ vợ chồng.Thời kì trước cách mạng tháng tám, nói về quan hệ vợ

chồng, người xưa thường quan niệm “ thuyền theo lái, gái theo chồng”, có nghĩa là phận

gái lấy chồng là phải theo chồng, quan hệ vợ chồng là quan hệ quyền uy phục tùng, vẫn

theo tư tưởng “ trọng nam khinh nữ”, chưa được bình đẳng Tuy nhiên, xã hội càng phát

Trang 3

nay, ta có thể thấy quan hệ vợ chồng là quan hệ bình đẳng, mỗi cá nhân đều được pháp luật bảo vệ về quyền và nghĩa vụ của mình Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng được thể hiện qua quyền và nghĩa vụ của vợ,chồng về thân nhân và tài sản

Thứ nhất, nguyên tắc vợ chồng bình đẳng được thể hiện ở nghĩa vụ và quyền về nhân thân.

Trong hôn nhân, Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương nhau, thủy chung với nhau Đây là cơ

sở để xây dựng,duy trì quan hệ hôn nhân bền vững Không những vậy, vợ chồng phải quý trọng lẫn nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững Sự quý trọng chăm sóc, giúp đỡ nhau giữa vợ và chồng thể hiện ở hành vi, cách xử sự và thái độ của họ đối với nhau Đó là sự yêu mến, tôn trọng nhau, giữ gìn danh sự, uy tín, nhân phẩm, lắng nghe ý kiến của nhau, quan tâm, động viên lẫn nhau, tạo điều kiện cho nhau thực hiện tốt hoạt động nghề nghiệp và nhiệm

vụ đối với gia đình và xã hội Đã là vợ chồng thì phải cùng nhau lao động, cùng chăm lo, vun vén hạnh phúc cho gia đình

Điều 17 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định : “Vợ, chồng bình đẳng với nhau,

có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật này và các luật khác

có liên quan.” Quyền bình đẳng đó thể hiện ở việc vợ chồng cùng bàn bạc và quyết định

về các vấn đề liên quan đến nhân thân và về tài sản của bản thân vợ chồng và của mỗi thành viên trong gia đình, liên quan đến đời sống chung của gia đình Không chỉ vậy, quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong gia đình thể hiện rõ nét ở nghĩa vụ và quyền của

họ trong việc nuôi dạy con Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Xây dựng gia đình ấm

no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con.”( Khoản 3 Điều 2 Luật hôn nhân

gia đình 2014) Và vợ chồng còn bình đẳng với nhau về nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình ( Khoản 4 Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014)

Trang 4

Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng còn được thể hiện trong việc đại diện cho nhau trước pháp luật Vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, bộ Luật dân sự và bộ luật có liên quan khác( Khoản 1 Điều 24 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014) Vợ chồng cũng có thể đại diện cho nhau khi một bên mất năng lục hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ, hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật thì người đó phải tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ có liên quan ( Khoản 3 Điều 24 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014)

Hơn nữa, quyền bình đẳng của vợ và chồng còn được thể hiện trong việc yêu cầu ly hôn Tình yêu nam nữ là yếu tố cơ bản để nam nữ quyết định đi đến hôn nhân Tuy nhiên, sau khi kết hôn, trong quá trình chung sống, nếu tình yêu giữa vợ và chồng không còn, dẫn đến việc vợ chồng không thể chung sống thì cả vợ và chồng đều có quyền yêu cầu tòa án

có thẩm quyền giải quyết cho họ được ly hôn nhằm chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật Quyền bình đẳng của vợ chồng được thể hiện trên các mặt khác như quyền lựa chọn nơi cư trú; lựa chọn nghề nghiệp, học tập và tham gia các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; tự do tín ngưỡng, tôn giáo Với tư cách là công dân, vợ, chồng được hưởng đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đó Vợ chồng có thể cùng bàn bạc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau trong việc chọn nghề nghiệp, học tập hoặc tham gia các hoạt động khác theo nguyện vọng và khả năng của mỗi người, phù hợp với quy định của pháp

luật.Điều 23 Luật hôn nhân và gia đình cũng quy định rõ điều này “Vợ, chồng có quyền,

nghĩa vụ tạo điều kiện, giúp đỡ nhau chọn nghề nghiệp; học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.”

Quy định này không những khẳng định quyền bình đẳng của vợ chồng mà còn đảm bảo, khuyến khích vợ chồng phát huy khả năng của bản thân để cống hiến cho sự nghiệp phát triển chung của đất nước Về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ chồng, Hiến pháp

1992 khẳng định: “ công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo

Trang 5

một tôn giáo nào” ( Điều 70) Và Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định rõ tại

Điều 22: “ Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau.”.

Quy định này nhằm xóa bỏ hiện tượng xảy ra trong thực tế là với danh nghĩa vợ, chồng một bên đã cấm hoặc cản trở quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của bên kia, làm ảnh hưởng đến quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp thừa nhận và hạnh phúc gia đình

Thứ hai, nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng còn thể hiện ở quyền và nghĩa vụ

về tài sản

Quyền và nghĩa vụ tài sản giữ vợ và chồng bao gồm: quyền sở hữu tài sản, quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng và quyền thừa kế Vợ, chồng có quyền bình đẳng ngang nhau trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản khối tài sản chung trong việc đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của gia đình cũng như trong các giao dịch liên quan đến nhà

ở ,quyền sử dụng đất và các bất động sản khác; những động sản mà pháp luật yêu cầu phải đăng ký quyền sở hữu như xe máy, ô tô , những tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình Khoản 1 Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định : “ Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.” Luật hôn nhân và gia đình cũng quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

“Điều 33: Tài sản chung của vợ chồng

1 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động,

hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều

40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Trang 6

2 Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3 Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Như vậy, tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ, chồng do vợ, chồng tạo ra bằng công sức của mỗi người từ khi họ kết hôn cho đến khi hôn nhân chấm dứt và những tài sản khác do vợ chồng thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định Đối với tài sản chung của

vợ, chồng thì vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng

và đinh đoạt Do vậy, về nguyên tắc, vợ chồng có quyền và nghĩa vụ bình đẳng với nhau trong việc xây dựng, phát triển và duy trì khối tài sản, đồng thời họ cũng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất.Pháp luật quy đinh quyền và nghĩa vụ bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung là nhằm bảo vệ khối tài sản chung, tránh những trường hợp một trong hai vợ chồng có hành vi phá tài sản chung, hủy hoại tài sản chung hoặc tự mình thực hiện những giao dịch dân sự làm tổn thất khối tài sản chung, ảnh hưởng đến quyền lợi của gia đình và của người kia Đồng thời, quy định này còn khẳng định quyền bình đẳng về mọi mặt của vợ chồng trong quan hệ gia đình

Sự bình đẳng về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng còn được thể hiện

ở quy định vợ chồng có tài sản riêng của mình: Vợ chồng có quyền độc lập trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt riêng, có quyền nhập hay không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung.Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“1 Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

Trang 7

2 Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.”

Từ đó, ta có thể thấy Việc quy định như vậy không làm ảnh hưởng tới tính chất của quan

hệ hôn nhân và cũng không làm ảnh hưởng đến hạnh phúc của gia đình Bên cạnh đó còn góp phần ngăn chặn hiện tượng hôn nhân nhằm vào lợi ích kinh tế mà không nhằm xác lập quan hệ vợ chồng và có ý nghĩa quan trọng trong việc định đoạt tài sản

Tình nghĩa vợ chồng là cơ sở để gắn nghĩa vụ của vợ chồng với nhau nên vấn đề cấp dưỡng đặt ra bình đẳng giữa vợ và chồng Trong trường hợp ly hôn, quan hệ hôn nhân đã chấm dứt nhưng luật vẫn quy định vợ, chồng phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho bên kia nếu trong tình trạng thiếu thốn, khó khăn và cần được cấp dưỡng (Điều 115 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014) Đồng thời luật còn ghi nhận vợ chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau khi một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố chết Quyền này được ghi nhận tại Điều

676 Bộ luật Dân sự 2005 và Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Khi một bên

vợ hoặc chồng chết trước, người còn sống sẽ được thừa kế tài sản của vợ hoặc chồng mình đã chết Ngoài ra vợ, chồng còn được thừa kế tài sản của nhau theo di chúc Việc pháp luật quy định như vậy đã khẳng định quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong quan

hệ thừa kế nói riêng và trong quan hệ tài sản nói chung

Từ phân tích trên thể thấy nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong việc thực hiện các quyền

và nghĩa vụ về tài sản được pháp luật ta đặc biệt chú trọng, nó tạo điều kiện, căn cứ để bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, và có thể khẳng định nguyên tắc

vợ chồng bình đẳng là một trong những nguyên tắc cơ bản của vợ chồng Trên cơ sở đó,

vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc thực hiện những quyền và nghĩa

vụ phát sinh trong quan hệ vợ chồng, tạo điều kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, đảm bảo cho quan hệ vợ chồng duy trì mối quan hệ tốt nhất

Trang 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam – ĐH Luật Hà Nội

Ngày đăng: 03/11/2020, 15:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w