Bài tập học kỳ môn xã hội học pháp luật Phân tích mối liên hệ giữa pháp luật với cơ cấu xã hội nhân khẩu, cho ví dụ cụ thể? Trong những năm qua, hoạt động xây dựng và thực thi pháp luật về dân số luôn có sự điều chỉnh nhằm giảm mức sinh, mức chết, nâng cao chất lượng và phân bố dân số hợp lý. “Sinh đẻ có kế hoạch” hay “kế hoạch hóa gia đình” được coi là một trong những vấn đề kinh tế xã hội hàng đầu của đất nước và là quan điểm xuyên suốt của Đảng và nhà nước ta trong những năm qua. Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của pháp luật trong mối liên hệ với cơ cấu xã hội nhân khẩu, bằng kiến thức đã được học cùng với hiểu biết của bản thân, em mạnh dạn chọn đề tài số 1: “Phân tích mối liên hệ giữa pháp luật với cơ cấu xã hội nhân khẩu, cho ví dụ cụ thể?” để làm bài tập lớn môn Xã Hội học pháp luật. I. Khái quát chung 1. Pháp luật Pháp luật là Hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, phục vụ và bảo vệ quyền lợi của các tầng lớp dân cư trong xã hội. Khái niệm pháp luật trong xã hội học pháp luật. Trong xã hội học pháp luật có hai xu hướng trái ngược nhau trong việc xác định bản thân khái niệm pháp luật. Một mặt, pháp luật được nhìn nhận với tư cách một công cụ mà yếu tố chính trị (giai cấp) nằm trong nó mang lại cho pháp luật tính chất tự giác, có mục đích trong quá trình hình thành cũng như trong khi áp dụng. Mặt khác, khái niệm pháp luật được xem như một loại chuẩn mực xã hội, là tổng số các quy tắc hành vi cấu tạo từ các mối liên hệ tự nhiên của con người và xuất phát từ các nhu cầu, lợi ích của xã hội. Như vậy, trong xã hội học pháp luật từ trước đến nay luôn tồn tại hai quan điểm (cách tiếp cận) đối với khái niệm pháp luật. Quan điểm thứ nhất gắn pháp luật với ý chí của nhà nước, do nhà nước xây dựng, ban hành (pháp luật thực định). Quan điểm thứ hai coi pháp luật như một loại chuẩn mực xã hội bên cạnh cách chuẩn mực xã hội khác, gắn với lợi ích xã hội, xuất phát từ nhu cầu tự nhiên của con người (pháp luật tự nhiên).
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN XÃ HỘI HỌC PHÁP LUẬT
ĐỀ BÀI: Phân tích mối liên hệ giữa pháp luật với cơ cấu xã hội - nhân
khẩu, cho ví dụ cụ thể?
HỌ VÀ TÊN : MSSV : LỚP :
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… 1
NỘI DUNG……… 1
I Khái quát chung……… 1
1 Pháp luật……… 2
2 Cơ cấu xã hội……… 3
II Cơ cấu xã hội - nhân khẩu……… 3
III Mối liên hệ giữa pháp luật và cơ cấu xã hội nhân khẩu……… 4
1 Pháp luật và cơ cấu giới tính……… 4
2 Pháp luật và cơ cấu lứa tuổi………. 8
3 Pháp luật và cơ cấu tình trạng hôn nhân………. 12
KẾT LUẬN……… 13
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 14
Trang 3Đề bài: Phân tích mối liên hệ giữa pháp luật với cơ cấu xã hội - nhân khẩu, cho
ví dụ cụ thể?
BÀI LÀM
Trong những năm qua, hoạt động xây dựng và thực thi pháp luật về dân số luôn có
sự điều chỉnh nhằm giảm mức sinh, mức chết, nâng cao chất lượng và phân bố dân
số hợp lý “Sinh đẻ có kế hoạch” hay “kế hoạch hóa gia đình” được coi là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu của đất nước và là quan điểm xuyên suốt của Đảng và nhà nước ta trong những năm qua Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của pháp luật trong mối liên hệ với cơ cấu xã hội - nhân khẩu, bằng kiến thức đã được học cùng với hiểu biết của bản thân, em mạnh dạn chọn đề tài số
1: “Phân tích mối liên hệ giữa pháp luật với cơ cấu xã hội - nhân khẩu, cho ví dụ
cụ thể?” để làm bài tập lớn môn Xã Hội học pháp luật.
I Khái quát chung
1 Pháp luật
Pháp luật là Hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước
ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, phục vụ và bảo vệ quyền lợi của các tầng lớp dân cư trong xã hội
Khái niệm pháp luật trong xã hội học pháp luật.
Trong xã hội học pháp luật có hai xu hướng trái ngược nhau trong việc xác định bản thân khái niệm pháp luật Một mặt, pháp luật được nhìn nhận với tư cách một công cụ mà yếu tố chính trị (giai cấp) nằm trong nó mang lại cho pháp luật tính chất tự giác, có mục đích trong quá trình hình thành cũng như trong khi áp dụng Mặt khác, khái niệm pháp luật được xem như một loại chuẩn mực xã hội, là tổng
số các quy tắc hành vi cấu tạo từ các mối liên hệ tự nhiên của con người và xuất phát từ các nhu cầu, lợi ích của xã hội Như vậy, trong xã hội học pháp luật từ trước đến nay luôn tồn tại hai quan điểm (cách tiếp cận) đối với khái niệm pháp luật Quan điểm thứ nhất gắn pháp luật với ý chí của nhà nước, do nhà nước xây dựng, ban hành (pháp luật thực định) Quan điểm thứ hai coi pháp luật như một loại chuẩn mực xã hội bên cạnh cách chuẩn mực xã hội khác, gắn với lợi ích xã hội, xuất phát từ nhu cầu tự nhiên của con người (pháp luật tự nhiên)
2 Cơ cấu xã hội
Trang 4Cơ cấu xã hội (tiếng Anh: social structure) là mối liên hệ vững chắc của các thành
tố trong hệ thống xã hội Các cộng đồng xã hội (dân tộc, giai cấp, nhóm xã hội, )
là những thành tố cơ bản Về phần mình, mỗi cộng đồng xã hội lại có cơ cấu phức tạp với những tầng lớp bên trong và những mối liên hệ giữa chúng Một số nhà lý thuyết xã hội còn đưa ra định nghĩa: "Cơ cấu xã hội là mô hình của các mối liên hệ giữa các thành phần cơ bản trong một hệ thống xã hội Những thành phần này tạo nên bộ khung cho tất cả các xã hội loài người, mặc dầu tính chất của các thành phần và các mối quan hệ giữa chúng biến đổi từ xã hội này đến xã hội khác
Những thành phần quan trọng nhất của cơ cấu xã hội là vị trí, vai trò, nhóm và các thiết chế, ".
Cơ cấu xã hội là một khái niệm rộng không chỉ liên quan tới hành vi xã hội mà còn
là mối tương tác giữa các yếu tố khác nhau của hệ thống xã hội Cơ cấu xã hội cũng bao gồm cả các thiết chế gia đình, dòng họ, tôn giáo, kinh tế, chính trị, văn hóa, hệ thống chuẩn mực giá trị, cũng như hệ thống các vị trí, vai trò xã hội, v.v Xã hội là một tổ chức phức tạp, đa dạng của các mối liên hệ cá nhân, tổ chức
xã hội và xã hội Cơ cấu xã hội có mối quan hệ chặt chẽ, hữu cơ với các quan hệ xã hội Cơ cấu xã hội là nội dung có tính chất bản thể luận của các quan hệ xã hội, là
cơ sở của sự tồn tại và phát triển của các quan hệ xã hội
Cho đến nay, có nhiều quan niệm khác nhau về cơ cấu xã hội, tuy nhiên, có thể nêu
một cách chung nhất, cơ cấu xã hội là kết cấu và dạng thức tổ chức bên trong của
một hệ thống xã hội nhất định, đó là sự thống nhất tương đối bền vững của các nhân tố, các mối quan hệ, các thành phần cơ bản nhất cấu thành hệ thống xã hội Những thành tố của cơ cấu xã hội tạo nên xã hội loài người Trong đó, những thành tố cơ bản là: nhóm, vị thế, vai trò xã hội, mạng lưới xã hội và thiết chế xã hội.
Định nghĩa này nêu bật được các đặc trưng cơ bản của cơ cấu xã hội sau:
Thứ nhất, cơ cấu xã hội không những được xem là tổng thể, một tập hợp các bộ
phận cấu thành xã hội, mà còn là kết cấu và dạng thức tổ chức bên trong của một
Trang 5hệ thống xã hội Như thế xã hội loài người, rõ ràng cũng giống như mọi khách thể vật chất khác, là một hệ thống cơ cấu hay một cấu trúc nhất định, bao gồm những thành tố, các mối quan hệ tác động qua lại với nhau Mỗi thành tố có vị trí, vai trò
và chức năng nhất định Cơ cấu xã hội luôn được xem xét trong sự gắn bó với khái niệm hệ thống xã hội, tuy nhiên, khái niệm cơ cấu xã hội hẹp hơn nó chỉ phản ánh
bộ khung, dạng thức kết cấu bên trong của các mối quan hệ giữa các thành phần cơ bản của hệ
thống xã hội
Thứ hai, cơ cấu xã hội được xem là sự thống nhất bên trong của các nhân tố, các
mối quan hệ, các thành phần cơ bản của hệ thống xã hội Quan niệm này khắc phục được sự phiến diện khi qui cơ cấu xã hội vào các quan hệ xã hội; cũng khắc phục được sự tách rời giữa cơ cấu xã hội và các quan hệ xã hội Đúng ra, cơ cấu xã hội
là sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt: các thành phần xã hội và các mối liên hệ
xã hội Sự vận động và biến đổi của cơ cấu xã hội xuất phát từ sự thống nhất và đấu tranh giữa
các mặt, các mối liên hệ các yếu tố cấu thành cơ cấu xã hội
Thứ ba, khi nhìn nhận cơ cấu xã hội “bộ khung” tạo dựng cơ thể xã hội cho ta biết
được một xã hội cụ thể nào đó được cấu thành từ những nhóm xã hội nào Nhóm lớn như: một quốc gia, dân tộc, giai cấp, chính đảng, tầng lớp; nhóm nhỏ như: một
tổ chức, cơ quan, xí nghiệp, lớp học Cũng qua đó ta thấy được vị thế, vai trò và mạng lưới của từng cá nhân, từng nhóm xã hội, các thiết chế xã hội và các quan hệ
xã hội
II Cơ cấu xã hội - nhân khẩu
Cơ cấu xã hội- nhân khẩu (dân số) là tổng số dân được phân loại theo giới tính, độ
tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác (Khoản 3 Điều 3 Pháp lệnh dân số năm 2003)
Cơ cấu xã hội- nhân khẩu người ta hay gọi là cơ cấu dân số, là nói đến quy mô và
sự phân bố của dân cư cùng với các đặc trưng biểu tượng cho cơ cấu dân số của một xã hội, một quốc gia hoặc một địa phương.Cơ cấu xã hội cơ bản hiện nay bao
Trang 6gồm những cơ cấu xã hội cụ thể như sau: Cơ cấu xã hội về dân số(Cơ cấu xã hội nhân khẩu), cơ cấu xã hội về lứa tuổi, cơ cấu xã hội về lãnh thổ, cơ cấu xã hội về học vấn, cơ cấu xã hội về nghề nghiệp, cơ cấu xã hội về giai cấp
Cơ cấu xã hội nhân khẩu nghiên cứu cơ cấu xã hội dân số, xã hội học chủ yếu tập trung phân tích các biến số cơ bản như mức sinh, mức tử, mức di dân, tỷ lệ giới tính… thông qua đó để dự báo được quy mô biến đổi và những đặc trưng xu hướng
xã hội, sự tác động của cơ cấu xã hội dân số đến số lượng và chất lượng cuộc sống con người
Sự vận động và phát triển của cơ cấu xã hội-nhân khẩu tác động lớn đến sự vận động và phát triển của xã hội Sự thay đổi về quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân
bố dân cư có ảnh hưởng đến quá trình tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ như lương thực, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, nhà ở, tiết kiệm đầu tư, sử dụng nguồn nhân lực, nguồn lực về vốn, đất đai, công nghệ
III Mối liên hệ giữa pháp luật và cơ cấu xã hội - nhân khẩu
Việc nghiên cứu xu hướng thay đổi của cơ cấu dân số là yếu tố trọng tâm trong nghiên cứu xã hội học pháp luật nhằm phát hiện những mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các yếu tố cấu thành cơ cấu xã hội nhân khẩu với những thay đổi về kinh tế- xã hội, qua đó có thể đánh giá về hiệu quả của các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và nhà nước đến việc ổn định quy mô dân số và nâng cao chất lượng dân số
1 Pháp luật và cơ cấu giới tính
Giới tính(sex) chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ (Khoản 1 Điều 5 Luật bình
đẳng giới năm 2006) Đặc điểm của giới tính bị quy định bởi gen qua di truyền từ cha mẹ sang con Nó là sản phẩm của quá trình tiến hóa sinh học ở trình độ cao, biến đổi theo quy luật sinh học không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của cá nhân
Giới (Gender) chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan
hệ xã hội (Khoản 1 Điều 5 Luật bình đẳng giới 2006), phản ảnh sự khác biệt giữa nam và nữ về khía cạnh xã hội Sự khác biệt này là do quá trình xã hội hóa, mang tính đa dạng và có thể thay đổi theo không gian, thời gian, từ nên văn hóa này sang nền văn hóa khác trong một bối cảnh cụ thể của một xã hội, do các yếu tố xã hội,
Trang 7lịch sử, tôn giáo, kinh tế quyết định mô hình hành vi đặc thù của nam và nữ trong
xã hội
Các nhà xã hội học cho rằng, giữa nam và nữ chỉ khác nhau về mặt cấu tạo cơ thể
và những chức năng sinh học gắn liền với sự khác biệt về mặt sinh học ấy Ví dụ, phụ nữ có cấu tạo cơ thể để thực hiện chức năng sinh con và cho con bú, trong khi nam giới không được trang bị về mặt sinh học để làm nhiệm vụ đó Những sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới về bản chất phần lớn do xã hội tạo ra Do đó nam tính hay nữ tính không phải do bẩm sinh mà do quá trình xã hội hóa, tức là do ảnh hưởng của hoàn cảnh sống, gia đình và giáo dục.Sự khác biệt về vai trò của nam và
nữ chỉ là tương đối, không có bằng chứng nào cho thất sự thống trị thuộc về người đàn ông, còn đàn bà phải phục tùng Vì vậy, bình đẳng giới mới được coi là tự nhiên
Theo Liên hợp quốc, bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và đàn ông được hưởng
những điều kiện như nhau để thực hiện đầy đủ quyền con người và có cơ hội đóng góp, thụ hưởng những thành quả phát triển của xã hội nói chung Ở Việt Nam, hàng ngàn năm chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo “trọng nam khinh nữ”, cả cuộc đời người phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam chỉ được coi như là “cái bóng” của người đàn ông với những quan niệm như “xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” Hơn 60 năm kể từ khi quyền của người phụ nữ Việt Nam lần đầu tiên được khẳng định “nam nữ bình quyền” trong bản Hiến pháp 1946, bức tranh bình đẳng giới ở Việt Nam đã có thêm nhiều gam sáng màu.Bình đẳng giới, không có
sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ trong mọi lĩnh vực được nhà nước ghi nhận trong các văn bản pháp luật và trong các công ước quốc tế màViệt Nam tham gia như : Hiến chương Liên hợp quốc,Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới, Công ước về các quyền chính trị của phụ nữ, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối
xử với phụ nữ…
Chính sách bình đẳng nam nữ cũng được thể hiện xuyên suốt tại các bản Hiến
Pháp của Việt Nam.Hiến pháp năm 1946 đã có quy định: “Đàn bà ngang quyền
với đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9) Điều 26 Hiến Pháp 2013 nhấn mạnh:
“1 Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt Nhà nước có chính sách bảo đảm
Trang 8quyền và cơ hội bình đẳng giới.2 Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội.3 Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới.” Luật bình đẳng giới 2006 cũng chỉ rõ: “Mục tiêu bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.”.Luật Ban hành văn
bản quy phạm pháp luật năm 2015 cũng có nhiều nội dung quy định về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Tuy nhiên, trên thực tế sự bất bình đẳng vẫn còn tồn tại trong xã hội Điển hình là
tư tưởng trọng nam khinh nữ Nhiều người vẫn quan niệm rằng nam giới đi làm nuôi gia đình, còn nữ giới ở nhà chăm lo con cái, nhà cửa và phải phụ thuộc vào người chồng và còn rất nhiều cặp vợ chồng thích sinh con trai dẫn đến mất cân
bằng giới tính Theo Tổng cục Thống kê, tỷ số giới tính khi sinh - SRB (Chỉ số
SRB phản ánh cân bằng giới tính của số bé trai và bé gái khi được sinh ra Tỷ số này thông thường là 104-106 bé trai/100 bé gái sinh ra sống) của Việt Nam có xu hướng tăng hơn so với mức sinh học tự nhiên từ năm 2006 đến nay, đưa ra bằng chứng về mất cân bằng giới tính khi sinh tại Việt Nam Trong đó, SRB năm 2019 giảm so với năm 2018 nhưng vẫn ở mức cao (năm 2018: 114,8 bé trai/100 bé gái; năm 2019: 111,5 bé trai/100 bé gái) Nếu xu hướng này không có sự cải thiện thì khoảng hai thập niên tiếp theo sẽ dẫn đến tình trạng dư thừa nam giới so với phụ
nữ cùng tuổi
Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm điều chỉnh những vấn đề về dân số như Pháp lệnh dân số năm 2003, Nghị định số 104/2003/NĐ-CP ngày 16/09/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của pháp lệnh dân số, Nghị định số 114/2006/NĐ-CP ngày 03/10/2006 của chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về dân số và trẻ em (Được thay thế bới nghị định số 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế), quyết định số 468/QĐ-TTg ngày 23/03/2016
Trang 9của thủ tướng chính phủ phê duyệt đề án Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh giao đoạn 2016-2025
Bạo lực đối với phụ nữ cũng là một biểu hiện của bất bình đẳng giới Bạo lực đối
với phụ nữ, còn được gọi là bạo lực trên cơ sở giới và bạo lực giới tính là các hành
vi bạo lực chủ yếu hoặc dành riêng cho phụ nữ hoặc trẻ em gái Tuyên bố về xóa
bỏ bạo lực đối với phụ nữ của Liên Hợp Quốc ghi rõ, "bạo lực đối với phụ nữ là biểu hiện của mối quan hệ quyền lực bất bình đẳng trong lịch sử giữa nam và nữ"
và "bạo lực đối với phụ nữ là một trong những cơ chế xã hội quan trọng mà phụ nữ
bị ép buộc vào vị trí cấp dưới so với đàn ông" Phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Tại Việt Nam, phụ nữ chiếm 48.4% lực lượng lao động, tuy nhiên phụ nữ thường tham gia vào các công việc không chính đáng và dễ bị tổn thương Nhiều người phụ nữ phải tự tạo việc làm hoặc làm việc trong gia đình mà không được trả công,phụ nữ vừa chăm con vừa nội trợ, vừa tạo thu nhập là nguyên nhân cản trở người phụ nữ tham gia vào công việc được trả công, đặc biệt là khu vực chính thức Trong lĩnh vực chính trị, nam giới thường có vị thế xã hội cao hơn, nẵm giữ vai trò lãnh đạo, tỉ lệ phụ nữ tham gia vào quốc hội khóa 14 (nhiệm kì 2016-2021) chỉ chiếm tỉ lệ 26.8%
Quan điểm về giới cho rằng, không chỉ có hai giới nam và nữ mà nhiều hơn hai giới tồn tại đó là nhóm xã hội bao gồm những người đồng tính luyến ái nữ (Lesbian), đồng tính luyến ái nam (Gay), song tính luyến ái (Bisexual) và người chuyển giới (Transgender)(LBGT) Mặc dù hiếm có ghi nhận, đồng tính luyến
ái trong thời kỳ cận đại của lịch sử Việt Nam từng được nhắc tới trong một số tài liệu Hiện nay, không có luật cấm quan hệ tình dục đồng tính Năm 2012, Bộ Tư pháp cho rằng "xét về đảm bảo quyền tự do cá nhân thì việc kết hôn của những người cùng giới tính cần được công nhận",nhưng cũng nói thêm "Xét về văn hóa tập quán của gia đình Việt Nam, tính nhạy cảm xã hội của vấn đề, hậu quả xã hội của quy định pháp luật chưa được dự báo hết; thì ở thời điểm này việc thừa nhận người cùng giới tính có quyền kết hôn với nhau ở Việt Nam là còn quá sớm"
Trang 10Ngày 24 tháng 11 năm 2015, Quốc hội thông qua Bộ luật Dân sự (sửa đổi), trong
đó có quy định về chuyển đổi giới tính và các quyền, nghĩa vụ liên quan Luật có hiệu lực thi hành từ đầu 2017 Điều 37, Bộ luật này quy định: "Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có các quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của
Bộ luật này và luật khác có liên quan" Như vậy, Việt Nam chính thức cho phép việc chuyển đổi giới tính Cộng đồng LGBT cũng có quyền bình đẳng giới với các giới khác về mặt pháp luật như: quyền được công nhận về hôn nhân, quyền được chuyển đổi giới tính, quyền được sinh con, nhận con nuôi…
2 Pháp luật và cơ cấu lứa tuổi
Cơ cấu lứa tuổi là sự phân chia cơ cấu xã hội theo nhóm tuổi trên cơ sở đặc điểm
tâm sinh lí lữa tuổi hoặc theo khả năng lao động của từng nhóm tuổi khác nhau.Căn cứ vào đặc điểm tâm, sinh lí lứa tuổi , cơ cấu lứa tuổi phân chia thành nhóm bao gổm: trẻ em, thanh niên, trung niên, người cao tuổi
Trẻ em là người dưới 16 tuổi (Điều 1 Luật trẻ em năm 2016), là nhóm xã hội đang
trong quá trình học hỏi các giá trị, chuẩn mực để thích nghi với xã hội, đặc biệt là chuẩn mực pháp luật Trẻ em chiếm một tỉ lệ lớn trong có cấu dân số, chính vì vậy, chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em là mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước.Các bộ luật của Việt Nam cũng đều hướng tới bảo vệ và giáo dục trẻ
em như : Luật trẻ em 2016, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004, Luật Lao Động, Luật Hình Sự, Luật dân sự, Luật hôn nhân và gia đình…
Bộ luật Lao động năm 2012 dành riêng một số quy định về lao động chưa thành niên như: cấm nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc, trừ một số nghề và công việc do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định… (Điều 120); cấm sử dụng người lao động chưa thành niên làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh