1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BTHK Luật Hôn nhân và gia đình: Đánh giá các điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014

16 258 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 48,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hôn nhân là một hiện tượng xã hội, là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà được pháp luật thừa nhận để xây dựng gia đình và chung sống với nhau suốt đời. Sự liên kết đó phát sinh và hình thành do việc kết hôn. Do đó, kết hôn đã trở thành một chế định được quy định độc lập trong hệ thống pháp luật về Hôn nhân và gia đình. Tại đó quy định cụ thể về những điều kiện kết hôn hợp pháp. Nhưng thực tế trong cuộc sống hiện nay, không phải ai cũng nắm rõ và hiểu rõ đề tài này. Chính vì lý do đó, em xin chọn đề bài số 01: “ Đánh giá các điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014” để hoàn thành bài tập học kỳ của mình.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

I Lý luận pháp luật về kết hôn 1

1 Khái niệm kết hôn 1

2 Khái niệm điều kiện kết hôn 2

II Phân tích các điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 2

1 Điều kiện về độ tuổi kết hôn 3

2 Sự tự nguyện của hai bên kết hôn 4

3 Người kết hôn không phải là người mất năng lực hành vi dân sự 6

4 Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn 7

5 Người kết hôn phải là hai người khác giới tính 9

III Mở rộng 10

1 Thực trạng tuân thủ quy định về điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014 ở Việt Nam 10

1.1 Về năng lực hành vi dân sự 10

1.2 Về việc kết hôn cùng giới tính 11

1.3 Về phạm vi cấm kết hôn 12

2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về điều kiện kết hôn 12

2.1 Về năng lực hành vi dân sự 12

KẾT LUẬN 14

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

MỞ ĐẦU

Hôn nhân là một hiện tượng xã hội, là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà được pháp luật thừa nhận để xây dựng gia đình và chung sống với nhau suốt đời Sự liên kết đó phát sinh và hình thành do việc kết hôn Do đó, kết hôn

Trang 2

đã trở thành một chế định được quy định độc lập trong hệ thống pháp luật về Hôn nhân

và gia đình Tại đó quy định cụ thể về những điều kiện kết hôn hợp pháp Nhưng thực

tế trong cuộc sống hiện nay, không phải ai cũng nắm rõ và hiểu rõ đề tài này Chính vì

lý do đó, em xin chọn đề bài số 01: “ Đánh giá các điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014” để hoàn thành bài tập học kỳ của mình.

NỘI DUNG

I Lý luận pháp luật về kết hôn

1 Khái niệm kết hôn

Xét dưới góc độ xã hội học Theo từ điển Hán Việt, kết hôn có nghĩa là người nam lấy vợ Ở đây họ mặc định rằng người nữ không có vai vế, quyền lợi gì, và mặc nhiên rằng người vợ chỉ có 1 người chồng, kết hôn là một vợ một chồng đối với phía

vợ, do đó kết hôn trong trường hợp này là người nam lấy vợ Theo từ điển tiếng Việt, kết hôn là việc nam nữ chính thức lấy nhau thành vợ chồng Trong từ điển tiếng Việt

có tiến bộ hơn khi có sự công bằng và bình đẳng hơn trong việc kết hôn đối với cả nam và nữ Nói tóm lại, dưới góc độ xã hội, kết hôn được hiểu là việc xác lập quan hệ

vợ chồng

Dưới góc độ pháp lý: kết hôn là một chế định pháp lý

Chế định kết hôn là tổng hợp những quy phạm pháp luật điều chỉnh việc xác lập quan hệ vợ chồng, bao gồm các quy phạm pháp luật về điều kiện kết hôn, đăng ký kết hôn và hình thức xử lý đối với những trường hợp vi phạm pháp luật kết hôn

Kết hôn còn được hiểu là một sự kiện pháp lý mà nó được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm xác lập quan hệ vợ chồng giữa nam và nữ, khi hai bên tuân thủ những quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn

Luật Hôn nhần và gia đình năm 2014 cũng đã có quy định về khái niệm kết hôn, tại khoản 5 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”

Kết hôn có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó được quy định và một quyền cơ bản của con người (theo khoản 1, Điều 36, Hiến pháp 2013), đồng thời khoản 1 Điều 39

Bộ luật Dân sự 2015 cũng đã quy định kết hôn là một quyền nhân thân Nó là quyền tự nhiên cơ bản của con người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Kết hôn là cơ sở quan trọng để tạo dựng gia đình, góp phần duy trì và thúc đẩy sự phát triển của xã hội loài người Đồng thời, kết hôn còn là cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kết hôn

Trang 3

2 Khái niệm điều kiện kết hôn

Theo Từ điển giải thích từ ngữ luật học: “Điều kiện kết hôn là điều kiện để nhà nước công nhận việc kết hôn của hai bên nam nữ” Hay nói cách khác điều kiện kết hôn là những đòi hỏi của pháp luật đặt ra khi hai bên nam nữ kết hôn, chỉ khi các bên đáp ứng đầy đủ các đòi hỏi đó thì việc kết hôn mới được coi là hợp pháp và được pháp luật thừa nhận và bảo vệ

Chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định: “Không ai bị buộc phải kết hôn, nhưng

ai cũng bị buộc phải tuân theo luật hôn nhân một khi người đó kết hôn… hôn nhân không thể phục tùng sự tùy tiện của người kết hôn mà trái lại sự tùy tiện của người kết hôn phải phục tùng bản chất của hôn nhân”

Sự tùy tiện mà chủ nghĩa Mác – Lênin nhắc đến ở đây chính là tính tự do trong kết hôn, không ai bị ép buộc phải kết hôn, tuy nhiên khi đã kết hôn thì người đó buộc phải tuân theo một khuôn khổ nhất định trong đó điều kiện kết hôn chính là những điều kiện tiên quyết mà người kết hôn phải phục tùng Bởi trong xã hội có giai cấp, Nhà nước với tư cách đại diện cho giai cấp thống trị sử dụng pháp luật để quy định các điều kiện kết hôn, đòi hỏi các bên phải đáp ứng nhằm xây dựng mô hình gia đình phù hợp với lợi ích của giai cấp mình Khi đó điều kiện kết hôn phản ánh điều kiện kinh tế

xã hội, sự phát triển khoa học kỹ thuật, văn hóa truyền thống, phong tục tập quán của

xã hội đương thời và ý chí của giai cấp thống trị thông qua mô hình gia đình Do vậy,

ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định với mỗi hình thái kinh tế - xã hội nhất định thì các điều kiện kết hôn có những điểm khác nhau Nhưng dù thế nào thì những điều kiện kết hôn đó cũng đều được đặt ra để áp dụng đói với các bên khi muốn xác lập quan hệ vợ chồng Khi đáp ứng được các điều kiện kết hôn thì họ sẽ trở thành chủ thể của việc kết hôn và được Nhà nước thừa nhận, bảo vệ

Như vậy, có thể hiểu: Điều kiện kết hôn là các tiêu chuẩn pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt ra thông qua các quy phạm pháp luật buộc các bên nam

nữ phải áp dụng, trên cơ sở đó việc kết hôn của họ mới được công nhận là hợp pháp

II Phân tích các điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Dựa trên cơ sở sự phát triển và không ngừng thay đổi của xã hội, điều kiện kinh

tế, sự phát triển về sinh học, yêu cầu về điều kiện cuộc sống,… Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam đã đưa ra những điều kiện cần thiết để phát sinh quan hệ pháp lý – kết hôn Đây là những điều kiện bắt buộc để đôi nam nữ khi kết hôn phải tuân theo, cũng như là cơ sở pháp lý để xem xét tính hợp pháp của việc kết hôn và cũng là căn cứ để cho phép đăng ký kết hôn hay không của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Cụ thể từng điều kiện như sau:

Trang 4

1 Điều kiện về độ tuổi kết hôn

Độ tuổi kết hôn ở mỗi quốc gia được quy định khác nhau và ngay cả bản thân nước ta ở mỗi thời kỳ khác nhau cũng có quy định khác nhau và tuổi kết hôn Nhưng nhìn chung thì phần lớn các quốc gia đều quy định độ tuổi kết hôn tối thiểu là 18 tuổi, tuy nhiên nhiều nước cho phép độ tuổi kết hôn tối thiểu sớm hơn nếu có sự đồng ý của cha/mẹ hoặc luật pháp, hoặc trong trường hợp mang thai (nữ)

Ở Việt Nam mỗi thời kỳ khác nhau quy định về độ tuổi kết hôn khác nhau Trong thời kỳ phong kiến, độ tuổi kết hôn trong các triều đại khác nhau được quy định khác nhau Ví dụ như Bộ luật Gia Long quy định độ tuổi kết hôn tối thiểu của nam là

16 tuổi, nữ 14 tuổi Dưới thời Pháp thuộc thì tuổi kết hôn tối thiểu đã được tăng lên đối với nam là 18 tuổi, nữ là 15 tuổi (Bộ dân luật Bắc Kỳ 1931 và Bộ dân luật Trung Kỳ năm 1936) Từ khi Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời thì cả ba đạo luật và hôn nhân và gia đình là: Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, Luật Hôn nhân

và gia đình năm 1986 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đều quy định độ tuổi kết hôn tối thiểu với nam là 20 tuổi và đối với nữ là 18 tuổi Đến Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, độ tuổi kết hôn của nam là từ đủ 20 tuổi trở lên và của nữ là từ đủ 18 tuổi trở lên, điều này được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8

Ở đây chúng ta thấy có sự khác nhau về độ tuổi kết hôn giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Và sự khác nhau này cũng dẫn đến thời điểm được đăng ký kết hôn của nam và nữ theo sự điều chỉnh của hai bộ luật này là khác nhau Ví dụ một người nữ sinh ngày 01/01/1996, nếu chiếu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì đến ngày 02/01/2013 người đó sẽ có quyền kết hôn Nhưng cũng người đó nếu chiếu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đến ngày 01/01/2014 người đó mới có quyền đăng ký kết hôn

Sở dĩ pháp luật có quy định khác nhau về độ tuổi kết hôn giữa nam và nữ đều xuất phát từ các nghiên cứu khoa học Mục đích chính của việc quy định độ tuổi kết hôn tối thiểu ở đây là để đảm bảo sức khỏe cho nam và nữ, đồng thời bảo đảm cho họ

có đủ khả năng nhận thức để thực hiện trách nhiệm làm cha, làm mẹ, làm vợ, làm chồng của mình, đảm bảo cho cuộc sống gia đình được ấm no, hạnh phúc, bền vững Ngoài ra việc quy định độ tuổi kết hôn tối thiểu trong việc kết hôn còn nhằm đảm bảo cho con cái của vợ chồng sinh ra được khỏe mạnh và phát triển tốt cả về thể chất lẫn trí tuệ Bên cạnh đó việc quy định độ tuổi kết hôn tối thiểu của nữ giới là từ đủ 18 tuổi

để đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của người vợ sau khi kết hôn (quyền yêu cầu ly hôn, quyền tự quyết định các vấn đề liên quan đến bản thân,…)

Các trường hợp vi phạm về độ tuổi kết hôn sẽ bị xử lý hành chính theo Nghị định số 110/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24 tháng 9 năm 2013 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; cụ thể là điều 47 Nghị định 110/2013/NĐ-CP quy định Hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn:

Trang 5

“1 Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành

vi tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn.

2 Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Tòa án nhân dân buộc chấm dứt quan hệ đó.”

Hoặc có thể bị xử lý hình sự theo điều 183 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tổ chức tảo hôn:

“Người nào tổ chức việc lấy vợ, lấy chồng cho những người chưa đến tuổi kết hôn, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền

từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm.”

Như vậy việc quy định của pháp luật về độ tuổi kết hôn là rất quan trọng và có

ý nghĩa to lớn trong việc xác lập quan hệ hôn nhân

2 Sự tự nguyện của hai bên kết hôn

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định” (Điểm b khoản 1 Điều 8).

Tự nguyện trong kết hôn trước hết phải thể hiện bằng ý chí chủ quan của người kết hôn Hai bên nam, nữ yêu thương nhau và tự mình quyết định xác lập quan hệ hôn nhân nhằm mục đích xây dựng gia đình Ý chí này của mỗi bên nam, nữ không bị tác động bởi một bên hoặc của người thứ ba

Tự nguyện kết hôn còn thể hiện bằng dấu hiệu khách quan, người kết hôn phải bày tỏ mong muốn được kết hôn với nhau trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua hành vi đăng ký kết hôn Vì thế, khi đăng ký kết hôn yêu cầu phải có mặt của hai bên nam, nữ

Quyền kết hôn là quyền gắn liền với nhân thân của mỗi cá nhân Do vậy, việc kết hôn phải do người kết hôn tự nguyện quyết định Tự nguyện kết hôn là đảm bảo để quan hệ hôn nhân được xác lập phù hợp với lợi ích của người kết hôn, là cơ sở để xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc và bền vững Vì thế pháp luật Hôn nhân và gia đình không quy định việc đại diện trong kết hôn đồng thời cấm hành vi cưỡng ép, lừa dối, cản trở việc kết hôn làm cho việc kết hôn không đảm bảo sự tự nguyện

Theo việc giải thích từ ngữ tại Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì

“Cưỡng ép kết hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của

cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn trái với ý muốn của họ”

Một số dấu hiệu của hành vi cưỡng ép kết hôn:

- Uy hiếp về tinh thần: Người thực hiện hành vi đe dọa sẽ gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự của người kết hôn làm cho người này rơi vào trạng thái hoảng loạn, lo sợ nên buộc phải kết hôn trái với ý muốn của họ Ví dụ,

Trang 6

một trong hai bên người kết hôn dọa sẽ tiết lộ những thông tin bí mật của người kết hôn nhằm hạ nhục, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm cười người kết hôn làm họ lâm vào trạng thái lo sợ nên phải kết hôn trái với ý muốn của họ

- Hành hạ, ngược đãi: Thực hiện các hành vi đối xử một cách tồi tệ đối với người kết hôn, làm cho người kết hôn đau đớn về thể chất lẫn tinh thần đến mức không thể chịu đựng nên quyết định phải kết hôn trái với ý muốn của

họ Ví dụ, cha mẹ thực hiện hành vi đánh đập, nhiếc móc con khiến con không thể chịu đựng nên phải kết hôn trái với ý muốn

- Yêu sách của cải: Yêu sách của cải là việc đòi hỏi về vật chất một cách quá đáng và coi đó là điều kiện để kết hôn Ví dụ, cha mẹ của người con trai vì tham lợi nên buộc người con trai phải cưới một cô gái có nhiều của hồi môn mặc dù người con trai không mong muốn kết hôn với cô gái đó

Như vậy, cưỡng ép kết hôn có thể là hành vi của một trong hai bên kết hôn hoặc hành vi của người thứ ba buộc người khác phải kết hôn trái với ý muốn của họ Thông thường, người thứ ba thực hiện hành vi cưỡng ép người khác kết hôn trái với ý muốn của họ là những người có mối liên hệ nhất định với người kết hôn Ví dụ, giữa người kết hôn với người thực hiện hành vi cưỡng ép kết hôn có mối liên hệ huyết thống (cha,

mẹ, ông, bà, anh, chị, em hay con của người kết hôn,…) Người thứ ba cũng có thể là người mà người kết hôn có sự lệ thuộc trong công tác, ví dụ như giám đốc, thủ đưởng đơn vị của người kết hôn,…

Cản trở kết hôn: Cản trở kết hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ,

ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để ngăn cản việc kết hôn của người có

đủ điều kiện kết hôn Như vậy, ngược lại với cưỡng ép kết hôn, cản trở kết hôn chỉ có thể là hành vi của người thứ ba mà không phải là hành vi của chủ thể kết hôn, bởi vì bản chất của việc cản trở kết hôn là không cho phép người kết hôn được xác lập quan

hệ hôn nhân mặc dù họ có đủ điều kiện kết hôn Ví dụ mặc dù hai người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng bố mẹ của một trong hai bên đe dọa sẽ

từ con nếu như hai người kết hôn với nhau hoặc cố tình thách cưới thật cao khi biết người kia không thể đáp ứng được yêu cầu về lễ vật mà buộc phải từ bỏ việc kết hôn…

Lừa dối kết hôn: Lừa dối kết hôn là việc một trong hai người kết hôn đã nói sai

sự thật về người đó làm cho người kia lầm tưởng mà kết hôn Có thể kể đến một số ví

dụ về sự lừa dối kết hôn như: một người bị nhiễm HIV hoặc không có khả năng sinh con nhưng lại cố tình che dấu sự thật với bên kia hoặc một người đang có vợ, có chồng nhưng lại nói với bên kia mình là người chưa có vợ hoặc chồng

Ngoài các hành vi nói trên, việc kết hôn giả tạo cũng là hành vi bị cấm Giả tạo kết hôn là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tích nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình Vì vậy, kết hôn giả tạo không phải là tự nguyện kết hôn Bởi

vì tự nguyện kết hôn phải nhằm mục đích xây dựng gia đình

Trang 7

3 Người kết hôn không phải là người mất năng lực hành vi dân sự

Điểm c khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 quy định nam, nữ khi kết hôn phải là người không bị mất năng lực hành vi dân sự

Điều kiện để coi một người bị mất năng lực hành vi dân sự được quy định tại khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau:

“Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần”

Như vậy, tại thời điểm kết hôn mà một người có quyết định của Tòa án tuyên

bố người đó là người mất năng lực hành vi dân sự thì không đủ điều kiện kết hôn

Sở dĩ pháp luật quy định người mất năng lực hành vi dân sự thì không được phép kết hôn xuất phát từ tính nhân đạo để bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng, của con cái và của các thành viên khác trong gia đình Bởi vì sau khi kết hôn thì họ phải thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của một người vợ, chồng đối với người còn lại và trách nhiệm, nghĩa vụ của người cha, người mẹ đối với các con của mình Ví thế nếu một người mất năng lực hành vi dân sự mà được phép kết hôn thì sau khi kết hôn họ không thể hoàn thành trách nhiệm và nghĩa vụ của mình phát sinh do việc kết hôn Nếu cho họ được phép kết hôn thì sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của vợ hoặc chồng họ và của con cái họ

Quy định này đảm bảo tính logic với quy định về sự tự nguyện kết hôn Bởi vì, người mất năng lực hành vi dân sự thì không thể tự nguyện bày tỏ ý chí trong việc kết hôn Trước đây, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định cấm kết hôn đối với người mất năng lực hành vi dân sự Vì thế có quan điểm cho rằng quy định như vậy là không công bằng và mang tính chất phân biệt đối xử với người mất năng lực hành vi dân sự Do vậy, việc chuyển hóa từ một điều cấm thành một yêu cầu đối với người kết hôn là thể hiện rõ tính nhân văn của điều kiện kết hôn này

Thực tiễn đời sống hôn nhân và gia đình cho thấy, nhiều trường hợp người mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, tuy nhiên không có yêu cầu Tòa án tuyên người đó là mất năng lực hành vi dân sự Vì thế, họ vẫn đủ điều kiện kết hôn, trong khi đó việc kết hôn này có thể ảnh hưởng đến lợi ích của người kết hôn cũng như gia đình và xã hội Vì vậy, cần phải có các biện pháp tuyên truyền, giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật cũng như ý thức tôn trọng quyền

tự do kết hôn của cá nhân để mọi người tự giác thực hiện, tránh tình trạng quy định điều kiện chỉ mang tính chất hình thức

4 Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn

Pháp luật quy định các trường hợp cấm kết hôn là nhằm bảo vệ chế độ hôn nhân

tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng; giữ gìn thuần phong mỹ tục của người Việt

Trang 8

Nam đối với đời sống hôn nhân và gia đình, góp phần duy trì và bảo tồn nòi giống, thúc đẩy sự phát triển chung của xã hội Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 , việc kết hôn bị cấm trong các trường hợp sau:

- Cấm kết hôn giả tạo Quy định điều cấm thể hiện rõ thái độ của Nhà nước ta trong việc bảo vệ quyền tự do kết hôn của cá nhân, góp phần xây dựng gia đình Việt Nam tiến bộ, hạnh phúc

- Cấm kết hôn đối với người đang có vợ, có chồng hoặc cấm người chưa có

vợ, có chồng kết hôn với người đang có vợ, có chồng

Người đang có vợ, có chồng là người đang tồn tại một quan hệ hôn nhân được Nhà nước thừa nhận Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, các trường hợp được coi là đang có vợ, có chồng bao gồm:

+) Người đã kết hôn theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và quan hệ hôn nhân đó vẫn đang tồn tại (chưa chấm dứt hôn nhân do

sự kiện ly hôn, hoặc một bên chết hay một bên có quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết);

+) Người sống chung với người khác như vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987 và đang chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn Theo quy định tại Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết” Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này thì đối với trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1989 không đăng ký kết hôn nhưng tuân thủ các điều kiện kết hôn thì vẫn được thừa nhận là vợ, chồng

Như vậy, chỉ những người chưa có vợ, có chồng hoặc đã có vợ, có chồng nhưng hôn nhân trước đã chấm dứt thì mới được phép kết hôn Nếu người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác hoặc người chưa có vợ, có chồng mà kết hôn với người đang có vợ, có chồng thì việc kết hôn đó là trái pháp luật Quy đình điều cấm này nhằm bảo vệ nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng, góp phần xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc Quy định điều cấm này còn góp phần xóa bỏ chế độ đa thê, giải phóng và nâng cao vị thế của người phụ nữ trong xã hội

Quy định về cấm kết hôn đối với người đang có vợ, có chồng được dự liệu từ rất sớm (ngay từ đạo luật đầu tiên về hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta – Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, việc cấm kết hôn này đã được ghi nhận) Từ đó đến nay, trong các văn bản pháp luật về hôn nhân và gia đình qua các thời kỳ, điều cấm này luôn luôn là một quy định buộc người kết hôn phải tuân thủ Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy tình trạng vi phạm điều cấm này vẫn xảy ra ở nhiều địa phương trên cả nước

và ngày một có diễn biến phức tạp hơn Điều đáng lo ngại là tình trạng vi phạm ngày một tinh vi hơn, làm ảnh hưởng đáng kể đến quyền lời của những người có quyền lợi liên quan cũng như tác động không tốt đến đời sống hôn nhân và gia đình Có nhiều

Trang 9

nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, tuy nhiên cần phải nhấn mạnh rằng một trong những nguyên nhân đáng kể làm cho vi phạm ngày một gia tăng đó chính là việc xử lý tình trạng vi phạm chưa nghiêm minh cho nên việc phòng ngừa vi phạm kém hiệu quả

Do vậy, để nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng được bảo đảm thì cần phải làm tốt hơn nữa việc kiểm tra các quy định về điều kiện kết hôn thông qua thủ tục đăng ký kết hôn và xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm

- Cấm kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời

+) Những người có cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống, trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau Ví dụ như cha mẹ với con, ông bà với các cháu

+) Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác

mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba Vì vậy, cấm kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời được xác định cụ thể như sau: Cấm kết hôn giữa anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; cấm kết hôn giữa bác ruột, chú ruột, cậu ruột với các cháu gái, bác ruột, cô ruột, dì ruột với các cháu trai và cấm kết hôn giữa anh chị em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì với nhau

Việc cấm kết hôn giữa những người có mối liên hệ huyết thống trong phạm vi trên là hoàn toàn phù hợp Quy định này góp phần duy trì và bảo tồn nòi giống, giúp gia đình thực hiện tốt chức năng sinh đẻ, nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội Bởi

vì, dựa trên kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực y học, các nhà khoa học đã chỉ rõ, việc kết hôn gần gũi về huyết thống trong phạm vi trực hệ hoặc ba đời sẽ để lại nhiều di chứng cho thế hệ đời sau Thế hệ con cái của những cuộc hôn nhân này thường hay mắc các bệnh về nhiễm sắc thể, tỷ lể tử vong sau sinh cao Điều này là nguyên nhân làm suy giảm giống nòi, ảnh hưởng đến chất lượng dân số

Thực tế cho thấy ở Việt Nam hiện nay, việc kết hôn giữa những người có quan

hệ gần gũi về huyết thống trong phạm vi luật cấm vẫn còn tiếp diễn ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số Đáng báo động là tình trạng trên không được ngăn chặn có thể đe dọa dẫn đến sự diệt vong của một số dân tộc hiện đang có số dân dưới 1000 người Thực trạng này có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chính là do các hủ tục lạc hậu của đồng bào các dân tộc thiểu số Vì thế, để giảm thiểu tình trạng này cần phải phát huy tốt hơn nữa việc xóa bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu đối với đời sống hôn nhân và gia đình

- Cấm kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng

Trang 10

Ngoài việc cấm kết hôn giữa những người có quan hệ huyết thống trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 còn cấm kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ,

mẹ kế với con riêng của chồng Trái lại với quan điểm cho rằng, việc quy định điều cấm này là không cần thiết, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 vẫn kế thừa và phát triển các quy định về cấm kết hôn đối với những người có mối liên hệ thích thuộc và trực hệ theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Do đó, ngay cả khi giữa những người có mối liên hệ trực hệ không gắn kết bởi tính huyết thống vẫn bị cấm kết hôn Đây là quy định điều cấm phù hợp với đạo đức, văn há của người Việt Nam Do vậy, quy định điều cấm góp phần bảo vệ những nét đẹp mang giá trị văn hóa, truyền thống của người Việt Nam đối với đời sống hôn nhân và gia đình, đồng thời góp phần ổn định các quan hệ hôn nhân và gia đình

5 Người kết hôn phải là hai người khác giới tính

Khoản 2 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 quy định: “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” Do vậy, việc kết hôn phải là việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa hai người khác giới tính Điều này có nghĩa, hôn nhân phải là sự “kết hợp” giữa nam và nữ Quy định này trước hết tôn trọng quy luật tự nhiên Mặt khác, trong bối cảnh chung của thế giới cũng như điều kiện thực tế của Việt Nam, việc quy định như vậy là cần thiết và phù hợp nhằm ổn định quan hệ hôn nhân và gia đình Thực tế, ở Việt Nam trong những năm gần đây có xuất hiện tình trạng những người cùng giới tính xác lập việc sống chung với nhau Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính nhưng không cấm hai người cùng giới tính sống chung Vì vậy, việc sống chung giữa hai người cùng giới tính về nguyên tắc không bị coi là trái pháp luật Tuy nhiên, nếu một người đang có

vợ, có chồng nhưng lại chung sống với người khác cùng giới tính với mình thì giải quyết như thế nào, trường hợp này có xác định là người đang có vợ, có chồng đã vi phạm quyền và nghĩa vụ giữa vợ, chồng hay không Đây là vấn đề mà pháp luật hiện hành vẫn còn bỏ ngỏ Nên chăng sớm có quy định cụ thể về những vấn đề này để bảo

vệ quyền lợi cho những người có liên quan, góp phần ổn định các quan hệ hôn nhân và gia đình

III Mở rộng

1 Thực trạng tuân thủ quy định về điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân

và gia đình 2014 ở Việt Nam

Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành sau khi ra đời với những quy định mới đã chứng tỏ nhiều điểm tích cực trong quan điểm lập pháp của các nhà làm luật nước ta góp phần xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ; bảo đảm các quyền dân

Ngày đăng: 05/12/2019, 18:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w