Nghiên cứu về đặc điểm truyện cổ dân tộc Dao chúng tôi khai tháctrên các bình diện nội dung và nghệ thuật của các câu truyện cổ từ đó có thể hiểuhơn về đời sống sinh hoạt của đồng bào ng
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
–––––––––––––
NGÔ PHƯƠNG THẢO
ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN CỔ DÂN TỘC DAO
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM
Thái Nguyên, năm 2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu dưới sự hướng dẫn củagiáo viên hướng dẫn: TS Trần Thị Ngọc Anh và sự giúp đỡ của các thầy, côgiáo khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên Các kết quảnghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và nội dung này chưa từng đượccông bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào trước đó
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2020
Tác giả luận văn
Ngô Phương Thảo
Trang 3để hoàn thành luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn những ý kiến nhận xét, đánh giá, góp ý quýbáu của Hội đồng khoa học giúp em hoàn thiện hơn luận văn
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2020
Tác giả luận văn
Ngô Phương Thảo
Trang 4Trang bìa phụ
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
A MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của luận văn 6
7 Cấu trúc luận văn 7
B NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 8
1.1 Vài nét về dân tộc Dao 8
1.2 Truyện cổ dân tộc Dao trong mạch chảy văn hóa, văn họcDao 11
1.2.1 Khái niệm truyện cổ 11
1.2.2 Truyện cổ dân tộc Dao và giá trị văn hóa, văn học của dân tộc Dao 13
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
20 CHƯƠNG 2 TRUYỆN CỔ DÂN TỘC DAO NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 21
2.1 Bức tranh sinh hoạt độc đáo của người Dao 21
2.2 Khát vọng lí giải và làm chủ tự nhiên của người Dao 34
2.3 Văn hóa tâm linh của người Dao 44
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 61
Trang 5CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA TRUYỆN CỔ DÂN
TỘC DAO 62
3.1 Kết cấu 62
3.2 Hệ thống nhân vật 65
3.3 Ngôn ngữ 68
3.4 Bảo tồn và phát huy giá trị truyện cổ dân tộc Dao 71
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 75
C KẾT LUẬN 76
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79 PHỤ LỤC
Trang 6A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Văn học cổ truyền là sáng tác của tập thể nhân dân, là kết tinh mọimặt của quần chúng lao động qua trường kì lịch sử Mỗi dân tộc trên mảnh đấtViệt Nam đều có một nền văn học cổ truyền của riêng mình, sản phẩm tinh thần
ấy hình thành và phát triển từ xa xưa, được lưu truyền cho đến ngày nay Chúngtạo thành một nền văn học truyền thống của các dân tộc thiểu số Việt Namphong phú và sinh động
Đất nước Việt Nam - dải đất hình chữ S là nơi hội tụ của 54 dân tộc anhem.Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, cộng đồng các dân tộcViệt Nam đã gắn bó ruột thịt với nhau, đoàn kết vượt qua mọi khó khăn, thửthách để sinh tồn và phát triển Trên hành trình lịch sử, mỗi dân tộc lại tạo ranhững yếu tố văn hóa, văn học có bản sắc riêng được thể hiện trong các mặt vănhóa vật chất và văn hóa tinh thần Đời sống sinh hoạt của các dân tộc thườngđược phản ánh qua lời ca, tiếng hát hoặc qua những câu truyện mà ông bà, cha
mẹ kể lại Trong đó, phải kể đến cộng đồng người dân tộc Dao Một trongnhững yếu tố tạo nên bản sắc độc đáo của người Dao đó là truyện cổ Nếu nhưngười Mông chủ yếu sử dụng dân ca để gửi gắm tâm tư, tình cảm thì người Daothường thể hiện suy nghĩ, quan điểm về cuộc sống thông qua truyện thơ vàtruyện cổ Truyện cổ của người Dao chưa được nghiên cứu nhiều, tuy nhiên quađọc và cảm nhận chúng tôi nhận thấy nội dung thể hiện trong truyện cổ dân tộcDao rất sâu sắc và cuốn hút Mỗi câu truyện đều chứa đựng những bài học nhânsinh ý nghĩa và mở ra trước mắt người đọc một không gian văn hóa Dao rực rỡsắc màu
1.2 Nghiên cứu về đặc điểm truyện cổ dân tộc Dao chúng tôi khai tháctrên các bình diện nội dung và nghệ thuật của các câu truyện cổ từ đó có thể hiểuhơn về đời sống sinh hoạt của đồng bào người Dao Bởi truyện cổ phản ánhtương đối đầy đủ những nét sinh hoạt độc đáo của đồng bào dân tộc Dao Trongkhông gian văn hóa độc đáo của dân tộc Dao, truyện cổ đóng vai trò rất quan
Trang 7trọng là nơi lưu giữ giá trị tinh thần cốt lõi của đồng bào dân tộc Dao Hoạtđộng nghiên cứu về truyện cổ dân tộc Dao nói riêng và văn hóa tinh thần củadân tộc Dao nói chung là việc làm hết sức cần thiết Hoạt động này không chỉkhám phá cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số mà còn góp phần quảng báhình ảnh con người, phong tục tập quán của người dân tộc thiểu số đối với dukhách trong và ngoài nước Vì vậy, nghiên cứu truyện cổ dân tộc Dao là mộttrong những hoạt động quan trọng góp phần lưu giữ và phát huy những giá trị tốtđẹp của đồng bào dân tộc Dao.
1.3 Lựa chọn đề tài “Đặc điểm truyện cổ dân tộc Dao”, chúng tôi mong
muốn từng bước khám phá bản sắc văn hóa Dao nói riêng và dân tộc thiểu sốnói chung Tạo cơ sở xác lập vị trí xứng đáng của văn học dân tộc thiếu số trongcông tác giảng dạy văn học địa phương tại nhà trường phổ thông, thúc đẩy sựphát triển của các hoạt động giáo dục trong nhà trường gắn với văn học bản địa.Đồng thời đưa văn học dân tộc thiểu số đến gần hơn với học sinh, để các emhiểu và trân trọng vẻ đẹp văn hóa quê hương, đất nước Từ đó, nâng cao ý thức,trách nhiệm gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc
Với những lí do trên, chúng tôi lựa chọn“Đặc điểm truyện cổ dân tộc Dao”
XVIII nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 - 1784) có tác phẩm “Kiến văn tiểu lục” (2005) [16], Tiến sĩ Hoàng Bình Chính có tác phẩm “Hưng Hóa xứ - Phong thổ
lục” (1778) [11] Các học giả này chỉ đề cập rất sơ lược về dân tộc Dao và một
số phong tục tập quán của người Dao, chưa nghiên cứu sâu về các tập tục trong
Trang 8Từ những năm 1970 trở lại đây có khá nhiều các nhà khoa học nghiên cứu
về người Dao ở Việt Nam Tiêu biểu trong đó có các nhà nghiên cứu Bế ViếtĐẳng - Nguyễn Khắc Tụng - Nông Trung - Nguyễn Nam Tiến với công trình
“Người Dao ở Việt Nam” (2006) [15], Trần Quốc Vượng với tác phẩm “Quá Sơn Bảng văn”[38], nghiên cứu về nguồn gốc người Dao ở Việt Nam với các
đợt di cư từ Trung Quốc đến Việt Nam Gần đây nhất có các công trình nghiên
cứu của Tiến sĩ Trần Hữu Sơn với các tác phẩm “Thơ ca dân gian người Dao
Tuyển”(2005) [30],“Đám cưới người Dao Tuyển”(2011) [31] Cùng với đó,
chuyên khảo của nữ Tiến sĩ người dân tộc Dao Bàn Thị Quỳnh Giao “Bản sắc
văn hóa Dao trong thơ Bài Tài Đoàn”(2010) [17], cũng đã góp phần vào việc
phục dựng bức tranh văn hóa độc đáo của người Dao
Từ các công trình đã tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy truyện cổ dân tộc Daođược các tác giả khai thác nhưng chỉ ở mức sưu tầm và dịch thuật các câuchuyện mà chưa nghiên cứu đặc điểm cụ thể của từng truyện cổ để làm nổi bậtđặc điểm tiêu biểu của văn hóa dân tộc Dao Có thể nói, văn hóa, văn học dântộc Dao đã trở thành một bộ phận quan trọng trong sự phát triển đa dạng của vănhóa Việt Nam Nghiên cứu văn hóa truyền thống của người Dao sẽ cung cấp mộtcách nhìn toàn diện, tổng thể về văn hóa truyền thống của người Dao, từ đó đánhgiá đúng giá trị văn hóa tiêu biểu đã và đang tồn tại trong không gian và thờigian Đặc biệt, truyện cổ dân tộc Dao là nơi lưu giữ tương đối nhiều giá trị tinhthần cốt lõi và bản sắc độc đáo của dân tộc Nghiên cứu về truyện cổ dân tộcDao nói riêng và văn hóa tinh thần của dân tộc Dao nói chung là việc làm hếtsức cần thiết Hoạt động này không chỉ khám phá cuộc sống của đồng bào dântộc thiểu số mà còn góp phần quảng bá hình ảnh con người, phong tục tập quáncủa người dân tộc thiểu số đến với du khách trong và ngoài nước Vì vậy, nghiêncứu truyện cổ dân tộc Dao là một trong những hoạt động quan trọng góp phầnlưu giữ và phát huy những giá trị tốt đẹp của đồng bào dân tộc Dao
Trên cơ sở tham khảo và tiếp thu những công trình nghiên cứu trước,chúng tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu đặc điểm của truyện cổ dân tộc Dao để từ
đó làm nổi bật bản sắc văn hóa dân tộc Dao trong không gian văn hóa dân tộc
Trang 9thiểu số Việt Nam Đây là vấn đề còn khá mới mẻ nhưng chúng tôi khẳng địnhkết quả nghiên cứu đề tài này sẽ là nguồn tư liệu hữu ích trong công tác nghiêncứu văn hóa, văn học dân tộc thiểu số và nhất là văn hóa, văn học Dao.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu “Đặc điểm truyện cổ dân tộc Dao” nhằm chỉ rõ đặc
điểm nội dung và nghệ thuật của truyện cổ dân tộc Dao Qua đó, làm nổi bật cácphong tục tập quán, tín ngưỡng và lễ hội đặc sắc của người Dao Phân tích nộidung và nghệ thuật của truyện cổ sẽ góp phần làm phong phú kho tàng văn họcdân tộc thiểu số Trên cơ sở đó đưa văn học dân tộc Dao đến gần hơn với thế hệtrẻ đặc biệt là học sinh trong các trường phổ thông qua chương trình văn học địaphương Đây sẽ là nguồn tài liệu quan trọng để phục vụ cho việc giảng dạy vănhọc địa phương ở khu vực miền núi phía Bắc Bên cạnh đó, luận văn khẳng địnhnhững giá trị tốt đẹp được phản ánh thông qua truyện cổ dân tộc Dao Mặt khácđưa ra những quan điểm khách quan trong công tác bảo tồn và phát huy văn hóa,văn học dân tộc thiểu số hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là: Tìm hiểu làm rõ đặc điểm nổi bật
về nội dung của truyện cổ dân tộc Dao để thấy được bức tranh sinh hoạt đa dạng
và độc đáo của đồng bào dân tộc Dao Cụ thể những tục lệ, lễ nghi được phản
ánh rõ nét qua truyện cổ như Lễ cúng Bàn Vương, lễ cấp sắc, lễ cưới người
Dao…
Tìm hiểu về nghệ thuật của truyện cổ dân tộc Dao qua các phương diện
cụ thể: nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu, để đánh giá một cách toàn diện vềtruyện cổ dân tộc Dao Nhiệm vụ chủ yếu của chúng tôi là phân tích làm rõđặc điểm truyện cổ của dân tộc Dao, từ đó tìm ra những nét văn hóa đặc sắclàm cơ sở để so sánh, đối chiếu trong mối tương quan với văn hóa, văn họcdân tộc thiểu số khác
Thực hiện nghiên cứu “Đặc điểm truyện cổ dân tộc Dao”, luận văn khẳng
Trang 10lưu giữ và phát huy Qua đó, sẽ góp phần khơi nguồn văn học dân tộc, cùng bàcon dân tộc Dao tìm về nguồn cội và nuôi dưỡng tâm hồn con em mình trongdòng chảy của văn hóa dân tộc Hiểu rõ các cơ hội và thách thức đang đặt ra chovùng đồng bào dân tộc Dao nói riêng và các dân tộc thiểu số nói chung Từ đó,đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân, đề cao trách nhiệm công dân, xây dựngnền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm nội dung và nghệ thuật của truyện cổ dân tộc Dao
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi tập trung nghiên cứu dựa trên hai tư liệu chính là: “Truyện cổ
dân tộc Dao ở Hà Giang ( Dịch giả Bàn Thị Ba - Nhà xuất bản Hội văn nghệ dân gian Việt Nam - năm 2016), và Truyện Quả bầu vàng( Dịch giả Đặng Phúc Lường - Nhà xuất bản văn hóa dân tộc - năm 2010).
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
5.1 Phương pháp thống kê
Tìm hiểu về truyện cổ dân tộc Dao chúng tôi sử dụng phương pháp thống
kê nhằm thống kê các câu truyện tiêu biểu của dân tộc Dao Phương pháp nàygiúp chúng tôi hệ thống lại những đặc điểm giống và khác nhau của các câutruyện cổ từ đó thuận tiện hơn trong việc phân tích các giá trị nội dung và nghệthuật tiêu biểu của truyện cổ dân tộc Dao
5.2 Phương pháp phân tích và tổng hợp
Phương pháp phân tích và tổng hợp là phương pháp trọng tâm trongnghiên cứu tác phẩm văn học Đây là phương pháp được sử dụng để phân tíchtruyện cổ qua các tiêu chí về nội dung, nhân vật, ngôn ngữ…trong truyện cổ củadân tộc Dao, về các lý thuyết bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, văn học Dao
Từ đó, tổng hợp các vấn đề nghiên cứu để đưa ra đánh giá, kết luận về đối tượngnghiên cứu
Trang 115.3 Phương pháp so sánh
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để so sánh diện mạo văn học dân tộcDao với một số dân tộc thiểu số khác Đối chiếu những phong tục tập quán đặcsắc được thể hiện trong truyện cổ với các phong tục, tập quán của các dân tộckhác để tìm ra những nét riêng tạo nên bản sắc văn hóa Dao
5.4 Phương pháp liên ngành
Đối với phương pháp liên ngành giúp chúng tôi tìm hiểu truyện cổ quanhiều góc độ Vấn đề nghiên cứu về đặc điểm của truyện cổ dân tộc Dao cần sựphối hợp của nhiều ngành có liên quan như: văn hóa học, xã hội học, dân tộchọc…Phương pháp nghiên cứu liên ngành đem lại cái nhìn khách quan, mở rộngđối với người đọc Các vấn đề không chỉ gói gọn trong phạm vi kiến thứcchuyên môn mà còn được liên hệ với các kiến thức về xã hội học, văn hóa họcnhư: tính cách, phẩm chất con người, bối cảnh xã hội, không gian văn hóa vùng
Sử dụng phương pháp này sẽ mang lại hiệu quả trong việc mở rộng hướng tiếpcận và mô tả một cách toàn diện về đối tượng nghiên cứu
5.5 Phương pháp điều tra, khảo sát
Điều tra, khảo sát bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu về các vấn đề liên quan
đến đề tài, đi sâu vào mục đích nghiên cứu, gắn với thực tế tại địa bàn nghiên cứu
5.6 Phương pháp điền dã văn học
Phương pháp này hỗ trợ trong quá trình tìm hiểu thực trạng bảo tồn vàphát huy giá trị truyện cổ dân tộc Dao ở Hà Giang nói riêng và giá trị văn học cổtruyền dân tộc Dao nói chung
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn nghiên cứu về “Đặc điểm truyện cổ dân tộc Dao” sẽ góp thêm
tiếng nói trong việc gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa, văn học của dântộc Dao nói riêng và dân tộc thiểu số nói chung Đây là công trình nghiên cứuđầu tiên về đặc điểm truyện cổ dân tộc Dao Chúng tôi mong muốn công trìnhnghiên cứu này sẽ là nguồn tư liệu hữu ích trong tủ sách văn học địa phương.Bên cạnh đó, hình thành ở thế hệ trẻ niềm tự hào, sự trân trọng những di săn văn
Trang 12nghĩa là chúng ta đã và đang từng bước thực hiện công tác bảo tồn và phát huygiá trị văn học DTTS trong bối cảnh hội nhập và phát triển.
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục nội dung chính
của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Trang 13B NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Vài nét về dân tộc Dao
Việt Nam là một quốc gia đa văn hóa, đa dân tộc Trải qua hàng nghìnnăm dựng nước và giữ nước, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã gắn bó ruộtthịt với nhau, đoàn kết vượt qua mọi khó khăn, thử thách để sinh tồn và pháttriển Trên hành trình lịch sử, mỗi dân tộc lại tạo ra những yếu tố văn hóa, vănhọc có bản sắc riêng, có giá trị riêng được thể hiện trong các mặt văn hóa vậtchất và văn hóa tinh thần Sự chi chút những giá trị tinh thần của lớp lớp thế hệ
đã tạo nên kho tàng tri thức rộng lớn, có trữ lượng dồi dào, có ảnh hưởng mạnh
mẽ đến cuộc sống của mọi thế hệ con người trên mảnh đất Việt Nam
Theo thống kê của Tổng cục thống kê (2019) dân tộc Dao đứng thứ chíntrong số 54 dân tộc ở Việt Nam, với gần một triệu người Người Dao cư trúchủ yếu tại các tỉnh miền núi phía Bắc như Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, YênBái, Lai Châu, Tuyên Quang, đến một số tỉnh trung du như: Thái Nguyên,Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình và gần đây mới có một số ít chuyển vào sinhsống ở khu vực Tây Nguyên Người Dao có nhiều nhóm khác nhau phân biệttheo vùng Tên gọi các nhóm Dao dựa vào nhiều yếu tố không chỉ là phongtục, tập quán mà còn dựa trên trang phục và những đặc điểm hình thức Người
du nhập vào Việt Nam qua quá trình thiên di từ Trung Hoa sang nước ta Vìvậy nhiều câu chuyện tái hiện lại cuộc hành trình của người Dao từ thuở đikhai hoang, lập địa Thực chất người Dao sống theo lối du canh du cư, dichuyển qua nhiều miền đất Phần lớn họ sống trên núi cao và phân thành cácnhóm nhỏ lẻ Tuy nhiên theo lối sống linh hoạt nên người Dao chịu ảnh hưởngvăn hóa của nhiều vùng miền Điều này góp phần hình thành nền văn hóa Daophong phú, đậm đà bản sắc dân tộc
Để tạo thành bản sắc dân tộc có rất nhiều yếu tố như: phong tục tập quán,
ẩm thực, lễ hội, Một trong những nét nổi bật nhất để tạo nên hồn cốt cũng nhưđặc điểm riêng dễ nhận biết nhất của mỗi dân tộc chính là những bộ trang phục
Trang 14được tạo ra từ đôi bàn tay khéo léo và sáng tạo của bà con dân tộc Dao Đốivới người Dao trang phục truyền thống làm nổi bật những đặc trưng của dântộc, là minh chứng cho sự hình thành và phát triển từ bao đời của dân tộc Dao.
Vì vậy, dân tộc Dao là một trong số các dân tộc mà trang phục của đồng bàođược đánh giá cao về chất liệu và hình thức thẩm mỹ
Theo quan sát của chúng tôi trang phục của người phụ nữ Dao mangnhiều nét độc đáo với áo dài, áo con, khăn đội đầu, dây lưng, xà cạp và trangsức bằng bạc Về cơ bản trang phục của dân tộc Dao gồm 5 màu: Đỏ, xanh,trắng, vàng, đen, trong đó chủ yếu là màu đỏ Bởi với người Dao màu đỏ tượngtrưng cho sự vui vẻ và mang đến niềm hạnh phúc, lạc quan cho con người.Váy của phụ nữ Dao thường may bằng vải bông chàm trang trí nhiều hoavăn kín cả thân váy Váy gồm sáu mảnh, khâu thành hai mảnh lớn hở, khôngkhép mĩ Cạp váy được viền bằng vải màu trắng Vòng cạp rộng tùy vòngbụng Nền chàm in nhiều hoa văn xanh lơ, có hoa văn chính Hoa văn là cácvòng tròn có vạch chéo qua tâm giống như bánh xe, hình dích dắc
Khi mặc, người Dao choàng váy từ trước ra sau rồi thít chặt cạp váy, hairìa váy giáp nhau lệch một bên Người phụ nữ Dao thường tự vẽ các hoa văntrên váy Bút vẽ là một đoạn tre bánh tẻ vót nhọn hay một lưỡi sắt gắn chặtvào cán, mực vẽ bằng sáp ong Mỗi buổi tối sau bữa ăn người phụ nữ thườngngồi cạnh bếp hơ cho sáp ong nóng chảy, lấy ngòi bút chấm vẽ lên mặt vải
Áo dài là trang phục toát lên sự duyên dáng của phụ nữ Dao, đồng bàoDao thường dệt áo dài bằng vải lanh chàm và đính hạt cườm tạo điểm nhấn chochiếc áo Những hoa văn trang trí ở trên trang phục người Dao thường là hìnhvuông, hình chữ nhật màu đỏ, vàng, trắng hay hình cây thông, hình quả trám tạo sự gần gũi, hài hòa với thế giới tự nhiên Vẻ đẹp độc đáo trong trang phụccủa người Dao phải kể đến chiếc khăn đội đầu Khăn được trang trí bằng nhiềuhọa tiết như: Cây vạn hoa, hình cách đoạn, hình vết hổ Các họa tiết đượcthêu thành hình nổi với nhiều màu sắc, làm tăng thêm vẻ đẹp của chiếc khăn.Phụ nữ Dao thường tự tay làm trang phục với các công đoạn rất tỉ mỉ, đòi hỏi
sự kiên trì và khéo léo Trước khi về nhà chồng, các cô gái Dao thường ở nhà
Trang 15tập trung cho việc thêu thùa, khâu vá, hoàn thành bộ trang phục của riêngmình.
Đối với nam giới, trang phục gồm khăn đội đầu, áo và quần Trang phụccủa nam giới chủ yếu là màu chàm Khăn đội đầu của nam giới gồm hai loạikhăn đội bên trong và khăn đội bên ngoài Hoa văn trên khăn đội đầu của namgiới thường mang các gam màu trắng, vàng và đỏ Có thể nói, trang phục củađồng bào dân tộc Dao về màu sắc và chất liệu đều bắt nguồn từ tự nhiên Đây
là sản phẩm thủ công được thêu dệt bởi đôi bàn tay duyên dáng của nhữngngười phụ nữ Dao Trang phục chính là nét đẹp tạo nên bản sắc riêng của từngđồng bào các dân tộc ở Việt Nam
Về nhà ở người Dao thường sống ở nhà sàn và thường dùng lịch âm đểtính thời gian sản xuất cũng như sinh hoạt Cũng như người Kinh, đồng bàongười Dao rất chú trọng việc chọn tuổi và hướng làm nhà Đối với họ hợp tuổi
sẽ giúp gia đình làm ăn thuận lợi, nhà cửa yên ấm Ngày nay, người Dao sốngđịnh cư ổn định thành làng bản, họ phát triển kinh tế nông nghiệp với trồng trọtchăn nuôi là chủ yếu, ngoài ra còn phát triển nghề thủ công truyền thống nhưthêu dệt thổ cẩm, rèn đúc, làm nghề mộc rất đa dạng để phục vụ cho cuộc sốnggia đình mình Hiện nay, tỉ lệ nghèo đói ở các gia đình người Dao đã giảm đáng
kể Họ đã tiếp cận được với các dịch vụ xã hội, khoa học kĩ thuật để áp dụng vàolao động sản xuất chuyển đổi cơ cấu kinh tế cây trồng như lúa, ngô Con emngười dân tộc Dao ở các tỉnh miền núi ngày nay đã được đến trường nhiều hơn
so với trước đây, do vậy trình độ dân trí của người Dao được nâng cao hơn trướcrất nhiều
Có thể nói, dân tộc Dao với nhiểu bản sắc văn hóa độc đáo đã trở thànhmột mảnh ghép quan trọng trong bức tranh muôn màu của văn hóa các dân tộcViệt Nam hiện nay Trong ý nghĩa đó, việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giátrị văn hóa tốt đẹp của dân tộc Dao càng trở nên có ý nghĩa hơn bao giờ hết Đặcbiệt, trong bối cảnh hội nhập và phát triển hiện nay, việc nâng cao ý thức vănhóa dân tộc, trân trọng và quảng bá trên diện rộng sẽ góp phần tích cực hơn nữa
Trang 16vào công cuộc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo đúngtinh thần Nghị quyết của các kì Đại hội từ 1986 đến nay.
1.2 Truyện cổ dân tộc Dao trong mạch chảy văn hóa, văn họcDao
1.2.1 Khái niệm truyện cổ
Trong văn hóa, văn học có vai trò vô cùng quan trọng Văn học được coi
là gương mặt ngôn từ của văn hóa dân tộc Văn học dùng ngôn ngữ dân tộc đểnhận thức, phản ánh đời sống xã hội và con người thông qua hình tượng nghệthuật và các vấn đề quan trọng của đời sống xã hội Vì vậy, văn học mangnhững đặc trưng cơ bản như: trực tiếp tái hiện đời sống văn hóa của từng dântộc, là kết tinh văn hóa thẩm mĩ của dân tộc, bảo tồn những gì được xem làđẹp, là hay
Các tác phẩm văn học sẽ được cảm nhận bằng tâm hồn và cái nhìn đầynhân văn của độc giả, đòi hỏi phải dùng trí tưởng tượng, sự liên tưởng, suyluận cảm xúc với tất cả mọi giác quan và tâm hồn mới có thể hình dung đượcnhững sự vật, hiện tượng trong đời sống, điều đó nói lên rằng ngôn từ mangtính chất phi vật thể Nhờ đó nó sẽ diễn tả được những sự việc theo dòng chảylịch sử hàng ngàn năm, vạn năm trên một không gian hữu hạn hoặc vô hạn
Trong văn học dân gian truyện cổ dân gian là một thể loại truyện lưu giữnhững giá trị văn hóa, văn học từ lâu đời Theo Từ điển tiếng Việt của HoàngPhê năm 2003), cổ: xưa cũ Truyện cổ: Chỉ những truyện xưa cũ cũng là cáchnói tắt của truyện cổ dân gian Vì thế, truyện cổ dân gian là một khái niệm đượcdùng như một tên gọi chung cho loại tự sự dân gian với các thể loại: Thần thoại,
sử thi, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn Truyện cổ dân gian và truyện cổ tích làhai khái niệm khác nhau Sự khác nhau ấy đã được giới nghiên cứu văn học dângian Việt Nam chỉ ra từ lâu, tuy nhiên vẫn có người hiểu và sử dụng hai kháiniệm này như nhau Từ truyện trong các cụm từ truyện dân gian, truyện cổ dângian, truyện cổ tích với từ truyện trong những danh từ được dùng để chỉ một sốthể loại của văn chương viết như: truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài, v.v cóchung nguồn gốc Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, truyện là
danh từ có hai nét nghĩa:“ Tác phẩm văn học miêu tả tính cách nhân vật và diễn
Trang 17biến của sự kiện thông qua lời kể chuyện của nhà văn vàthường dùng đi đôi với sách kinh do các nhà triết học của Trung Quốc thời cổ viết” [28, tr.118].
Như vậy, cách giải thích ý nghĩa từ truyện của các từ điển là tương đốithống nhất Cần thấy rằng, khi truyện trở thành một thuật ngữ văn học thì nóđược sử dụng với ý nghĩa khá phong phú, đa dạng và phức tạp Một trong nhữngđặc điểm lớn nhất trong các tác phẩm của nhà Nho thời phong kiến là hiện tượngvăn sử bất phân Trong sách vở của họ, tính chất sử học và tính chất văn họcnhiều khi không được phân biệt một cách rạch ròi Cho dù vậy, khi phân loại củanhà Nho, một tác phẩm cụ thể bao giờ cũng thuộc về một loại nhất định Ở mộtkhía cạnh nào đó, các cuốn sách: Báo cực truyện, Việt điện u linh, Lĩnh Namchích quái có tính chất lịch sử, nhưng không vì thế mà xếp chúng vào phạm vicông trình lịch sử Các cuốn sách ấy thuộc và chỉ thuộc về lĩnh vực sách vănhọc Tương tự như vậy, cho dù Đại Việt sử kí toàn thư, Khâm định Việt sửthông giám cương mục có tính chất văn học biểu hiện khá rõ, nhưng chưa thấy
ai gọi đây là hai tác phẩm văn học hay hai công trình nghiên cứu văn học baogiờ, từ trước đến nay, người ta chỉ xếp chúng vào lĩnh vực công trình lịch sử Từ
đó, ta có thể nói rằng, từ truyện với tính chất là một thuật ngữ văn học đã được
sử dụng trong sách vở của nhà Nho khoảng từ thế kỉ X đến thế kỉ XIII Tiếp sauquá trình từ truyện trở thành một thuật ngữ văn học là sự ra đời thuật ngữ truyện
cổ dân gian Và khái niệm truyện cổ dân gian trong sách vở của giới nghiên cứuvăn học dân gian tương đương với cụm từ truyện đời xưa trong dân gian Trongcác công trình sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian ở nước ta, nhiều khi cáckhái niệm truyện cổ, truyện dân gian, truyện cổ dân gian và truyện cổ tích đượchiểu và sử dụng như nhau Thực ra, bốn khái niệm này không hoàn toàn giốngnhau Theo nghĩa thông thường, truyện cổ là nói tắt của truyện cổ dân gian.Truyện dân gian và truyện cổ dân gian giống nhau nhưng không đồng nhất, giữachúng vẫn có nét khác nhau và chính nét khác nhau ấy đã xác định ý nghĩa rộng,hẹp của hai khái niệm Nếu nói một cách đầy đủ thì khái niệm truyện dân gian làtruyện kể dân gian, nó bao quát tất cả truyện dân gian của đời xưa và mới sáng
Trang 18những truyện dân gian đã được sáng tác từ đời xưa Trên cơ sở tìm hiểu và tiếpthu các quan niệm về truyện cổ, chúng tôi cho rằng:
Truyện cổ là những truyện đã cũ, thuộc về quá khứ và là sáng tác nghệ thuật của nhân dân từ lâu đời Truyện cổ được sáng tác dưới dạng văn xuôi và lưu truyền bằng hình thức truyền miệng Truyện cổ phản ánh đời sống và thế giới tinh thần, tình cảm của nhân dân Đó là toàn bộ sinh hoạt của nhân dân, là cuộc sống lao động và quan hệ trong gia đình của họ Đời sống sinh hoạt của nhân dân là mảnh đất nảy sinh, là nguồn nuôi dưỡng, là nhân tố kích thích sự sáng tạo Truyện cổ dân gian biểu đạt những kinh nghiệm đời sống, diễn tả những khát vọng và lí tưởng của nhân dân, thể hiện những quan niệm của nhân dân về tự nhiên, xã hội và con người, về đạo đức.
Vì vậy, nghiên cứu, tìm hiểu và lý giải truyện cổ của mỗi dân tộc chính làcon đường để xác định và khẳng định những không gian văn hóa độc đáo củatừng dân tộc Từ đó, có cái nhìn trách nhiệm hơn, toàn diện hơn về giá trị vănhóa, văn học các dân tộc thiểu số và dự phần tích cực vào công tác bảo tồn, pháthuy giá trị văn hóa, văn học các dân tộc thiểu số nói riêng và toàn dân tôc nóichung
1.2.2 Truyện cổ dân tộc Dao và giá trị văn hóa, văn học của dân tộc Dao.
Văn học cổ truyền là nơi lưu giữ và ẩn chứa những tinh hoa của văn hóa cổ truyền mỗi dân tộc Chúng ta cũng cần xác định rõ khái niệm văn học cổ truyền để tạo sự thuận lợi trong nghiên cứu và tìm hiểu văn hóa, văn học dân
tộc thiểu số Bởi, văn học cổ truyền là thành phần quan trọng trong văn hóa
cổ truyền Được xác định là bộ phận văn học sáng tác và lưu truyền từ trước thế
kỉ XVIII, văn học cổ truyền mang đặc điểm truyền thống, là sản phẩm của xãhội cộng đồng
Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa về văn học dân gian (cáchgọi khác là văn học cổ truyền) Tuy nhiên, bên cạnh khái niệm văn học dângian còn có sự xuất hiện của khái niệm folklore Khái niệm này một thời đã cónhiều xu hướng quan niệm khác nhau và đã từng được dùng tương đương vớikhái niệm văn học dân gian
Trang 19Trên thế giới, các nhà nghiên cứu dùng thuật ngữ folklore để chỉ những giátrị vật chất, tinh thần của cộng đồng Chẳng hạn, khái niệm folklore do nhà sửhọc người Anh William J Thoms đưa ra lần đầu tiên năm 1846, ban đầu có nộihàm khá rộng, chỉ toàn bộ giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của con ngườithời cổ xưa; sau có ý nghĩa thay thế cho khái niệm popular antiquities, để chỉ
“những cách thức, phong tục, sự hành lễ, chuyện mê tín dị đoan, khúc dân ca,
tục ngữ” và các tư liệu khác của “thời hoàng kim” [33, tr.38] Ion Maye đại
diện tiêu biểu của trường phái Đức quan niệm folklore bao gồm “làng xóm,kiến trúc nhà cửa, cung điện; cây cỏ; tín ngưỡng; tiếng nói; truyền thuyết;truyện cổ tích; dân ca; thư mục” V Ia Propp quan niệm “folklore chỉ là nhữngsáng tạo tinh thần, hơn nữa chỉ là những sáng tạo nghệ thuật ngôn từ” (Dẫn theoNgô Đức Thịnh [33, tr.15])
Nhìn chung, trên thế giới có hai xu hướng quan niệm về khái niệmfolklore: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng, trong đó xu hướng hiểu theo nghĩarộng chiếm ưu thế Theo nghĩa rộng, folklore được quan niệm là toàn bộ nhữnggiá trị vật chất và tinh thần của cộng đồng người thời xưa, tương ứng với kháiniệm văn hóa dân gian được sử dụng ở Việt Nam hiện nay
Ở Việt Nam, khái niệm văn học dân gian xuất hiện vào những năm 1950của thế kỷ XX Đến những năm 1960, thuật ngữ văn học dân gian mới đượcđịnh hình trong giáo trình của các trường Đại học tại Hà Nội và trở thành têngọi chính thức của bộ phận văn học truyền miệng ở nước ta
Trong các cách hiểu về văn học dân gian, khái niệm trong Giáo trình củaChu Xuân Diên được xem là có tầm bao quát, đầy đủ, cập nhật và ngắn gọn
hơn cả Văn học dân gian được quan niệm: “Là sáng tác tập thể, truyền miệng
của nhân dân lao động, ra đời từ thời công xã nguyên thủy, trải qua các thời kì phát triển lâu dài trong các chế độ xã hội có giai cấp, tiếp tục tồn tại trong thời đại ngày nay” [13, tr.17].
Văn học dân gian xuất hiện từ khi chưa có văn học viết, nó chính là nềnvăn học sơ khai của mỗi dân tộc Văn học dân gian mang tính truyền miệng, là
Trang 20ra đời, đánh dấu sự xuất hiện của chữ viết và tên tuổi của nhiều tác giả, trêntinh thần lấy văn học dân gian làm gốc rễ, cơ sở để phát triển Trong hành trìnhphát triển của văn học Việt Nam thì văn học dân gian và văn học viết luôn pháttriển song song, tương quan lẫn nhau là tiền đề cho sự ra đời của các dòng vănhọc sau này.
Văn học viết hiện đại các dân tộc thiểu số đã và đang nảy mầm từ nhữngvườn ươm sáng tạo của văn học dân gian các dân tộc thiểu số Như vậy, vănhọc viết hiện đại các dân tộc thiểu số có mối quan hệ bền chặt với văn học dângian từ khi mới xuất hiện Nói về mối quan hệ này, nhà nghiên cứu Lâm Tiến
đã nhận định: “Truyền thống văn hóa dân gian hàng ngàn năm và những điều
kiện kinh tế, văn hóa, xã hội ở miền núi ảnh hưởng không nhỏ tới văn học các dân tộc thiểu số Những dấu ấn đó thể hiện rất rõ trong tác phẩm của Nông Minh Châu, Nông Viết Toại, Vi Hồng…” [34, tr.196] Với sự vận dụng tối đa
vốn văn hóa dân gian, Vi Hồng đã sáng tạo và khởi xướng một cách viết mới
về miền núi, mà có nhà văn đã nhận định đó là cách viết hiện đại hóa dân gian.
Điều đáng lưu ý nữa là vai trò, vị trí của văn học dân gian trong tiến trình lịch
sử dân tộc, trong mối quan hệ với văn hóa dân gian và văn học viết Như đãbiết, văn học dân gian có mối quan hệ hữu cơ văn học viết Đó là những mốiquan hệ tác động qua lại Nếu văn hóa dân gian được hiểu là toàn bộ những giátrị vật chất và tinh thần mà cộng đồng đã tạo ra trong quá trình lịch sử thì vănhọc dân gian là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong hệ thống giá trịtinh thần ấy Văn hóa dân gian chính là môi trường sinh thành, nuôi dưỡng vănhọc dân gian Ở chiều ngược lại, văn học dân gian có vai trò thể hiện các giá trịtinh hoa, tiêu biểu của văn hóa dân gian Do vậy, văn học dân gian với văn hóadân gian có những mối quan hệ hữu cơ hết sức chặt chẽ, khiến cho văn học dângian có một vị trí đặc biệt trong nền văn hóa dân gian Văn học là lĩnh vực cógiá trị bền vững trên nhiều mặt từ nhận thức, giáo dục đến giá trị thẩm mỹ Văn học phản ánh hiện thực theo nghĩa khám phá và lí giải hiện thực đời sống
Vì vậy, văn học là một bức tranh rộng lớn, phong phú, đa dạng, đem lại chongười đọc những điều mới lạ mà họ chưa biết để họ hiểu thêm về cuộc sống và
Trang 21con người Đó là giá trị nhận thức của văn học Văn học cũng là kho tri thức vôcùng phong phú về đời sống, là cuốn sách bách khoa về cuộc sống Từ giá trịnhận thức mà văn học có giá trị giáo dục Đó là truyền thống dân tộc, nhữngphẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam, là truyền thống nhân đạo, truyềnthống yêu nước và những phẩm chất tốt đẹp trong cách sống, cách ứng xử củacon người Việt Nam.
Trong văn hóa các dân tộc thiểu số, văn học còn có giá trị, ý nghĩa về mặttôn giáo, triết học, tâm linh, tinh thần văn hóa bản địa của đồng bào Với nhữnggiá trị to lớn như vậy, văn học là di sản tinh thần rất quan trọng mà các dân tộcViệt Nam từ xa xưa đã sáng tạo ra và để lại cho đời sau Vì vậy, văn học cổtruyền cần phải được bảo tồn và phát huy, được kế thừa và phát triển trongnhững điều kiện lịch sử mới, đặc biệt là văn học của các dân tộc thiểu số
Văn hóa được chia thành 3 loại: văn hóa vật chất (bao gồm công cụ sảnxuất, phương tiện đi lại, làng mạc, nhà cửa, quần áo, giày dép, đồ trang sức,các thức ăn, thức uống,…); văn hóa xã hội (bao gồm thiết chế xã hội: hônnhân, gia đình, dòng họ, làng bản, mối quan hệ giữa các thành viên trong cộngđồng,…); văn hóa tinh thần (bao gồm các tri thức khoa học: phong tục tậpquán, tín ngưỡng tôn giáo, lễ hội, văn học nghệ thuật dân gian,…) Chính từđặc trưng văn hóa, các thuộc tính văn hóa, văn học có thể xem xét mối quan hệgiữa chúng ảnh hưởng và tác động qua lại với nhau như thế nào Văn học làmột bộ phận của văn hóa, nằm trong văn hóa vì thế chịu sự chi phối của vănhóa Những nhân tố như: ngôn ngữ, hoạt động kinh tế, lao động sản xuất, ăn,mặc, ở, đi lại, sự phát triển của khoa học kỹ thuật đều là điều kiện quan trọngtrong môi trường nảy sinh và hình thành tác phẩm văn học
Văn học là một bộ phận, là thành tố của văn hóa Vì vậy, nghiên cứu vănhọc cũng là nghiên cứu văn hóa Xét trong mối quan hệ giữa văn học và vănhoá, có thể thấy văn học là một bộ phận của văn hoá Đây là mối quan hệ biệnchứng, phản ánh đặc điểm có tính quy luật của quan hệ riêng chung có tầm cấptriết học Khi nghiên cứu văn học không thể tách rời văn học với những mối
Trang 22quan hệ với văn hoá (cái chung) với tư cách là toàn bộ sáng tạo vật chất và tinhthần của nhân loại Không được tách nó khỏi các bộ phận khác của văn hóa,cũng như không được trực tiếp gắn nó với các nhân tố xã hội, kinh tế vượt quađầu văn hóa Văn hóa có khả năng quyết định sự phát triển của văn học trongmột giới hạn, một mức độ nhất định; ngược lại, sự tác động ảnh hưởng trở lạivới văn hóa của văn học cũng không nhỏ.
Nếu văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội thì văn học chính là bộ phậnquan trọng, nòng cốt của văn hóa Văn học có khả năng truyền cảm mạnh mẽ
và sức sống lâu bền khi biết đi sâu vào tư tưởng đạo đức và đời sống bên trongcon người Bởi thế văn học là yếu tố nổi trội nhất cấu thành nên văn hóa, cókhả năng chủ động tích cực trong công việc xây dựng một nền văn hóa tiêntiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng văn hóa và văn học có mối quan hệ mậtthiết với nhau Văn hóa là bệ đỡ để văn học phát triển đồng thời văn học cũnggóp phần quan trọng làm rạng rỡ, tôn cao văn hóa
Văn hóa của mỗi dân tộc là tấm gương phản chiếu đời sống sinh hoạtcũng như những thói quen hàng ngày của đồng bào dân tộc mỗi vùng Đối vớingười Dao, địa bàn cư trú chủ yếu là ở vùng Đông Bắc miền Bắc Việt Nam(phần lớn ở các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Sơn La, Lạng Sơn, Thái Nguyên,Phú Thọ) Môi trường sống của họ là ở vùng núi cao, nên phương thức canhtác của dân tộc Dao nói chung là làm nương rẫy trên đất dốc Là một dân tộc từphía Bắc thiên di xuống phía Nam nên trước đây người Dao sử dụng chữ Hán
để ghi chép những câu ca, những mẩu chuyện để răn dạy con cháu, về sau dựavào những ký tự tiếng Hán người Dao đã sáng tạo ra loại chữ viết cho riêngdân tộc mình (chữ Nôm Dao) Cũng chính vì thế, dân tộc Dao có những nétbản sắc văn hoá riêng biệt không giống với bất kỳ dân tộc nào
Bản sắc văn hoá dân tộc Dao được lưu giữ và thể hiện ở một số phươngdiện như: ngôn ngữ và chữ viết Dân tộc Dao từ xa xưa họ đã biết sử dụngtiếng Hán để tạo ra ngôn ngữ và chữ viết riêng (Nôm Dao) Chữ Nôm Daođược người Dao dùng trong việc ghi chép gia phả của dòng họ, ghi chép lờicác bài hát tiếng Dao, các bài hát nghi lễ, cúng bái, các bài hát giao duyên…
Trang 23Ngoài ra chữ Nôm Dao cũng còn được dùng để ghi chép lại những câu chuyệnthơ cổ của người Dao Người đàn ông Dao muốn được mọi người kính nể thìphải biết đọc, biết viết chữ Nôm Dao Có thể khẳng định, dân tộc Dao là dântộc thiểu số nhưng họ đã có ngôn ngữ, chữ viết riêng từ rất sớm.
Bản sắc văn hoá dân tộc Dao còn được thể hiện ở các phong tục tập quáncủa người Dao, đó là các tục lệ, tín ngưỡng được đồng bào Dao gìn giữ và pháthuy trong những ngày lễ tết, đám cưới, đám ma… Và điều này thể hiện kháđộc đáo qua văn học, đặc biệt là văn học dân gian Nhưng những phong tục tậpquán nặng nề về hình thức cần được loại bỏ ra khỏi cuộc sống Đó là: Lối sống
du canh, du cư của đồng bào dân tộc Dao Lối sống đó được coi là một nétriêng trong phong tục tập quán của người Dao nhưng nó cũng là một trongnhững nguyên nhân gây ra tình trạng đói nghèo, lạc hậu Người Dao thườngsống ở lưng núi, nguồn sống chính của họ là nông nghiệp, nhưng hình thức làmnông nghiệp của họ lại là làm nương rẫy du canh Đồng bào Dao làm ăn theolối du canh, du cư nên có hạn chế là họ không thể nào thâm canh tăng năngsuất để trên cơ sở đó, mở rộng qui mô sản xuất, tổ chức cuộc sống ổn định Vìthế, họ luôn sống trong tình trạng không ổn định vì tục du canh du cư từ tồn tại
từ rất lâu đời và để lại hậu quả nghiêm trọng với người Dao, với cộng đồng;phá hoại môi trường sống, làm chậm quá trình phát triển kinh tế xã hội và phảnánh nền văn hoá rất đặc trưng - văn hoá nương rẫy người Dao Việt Nam Trên
cơ sở đó nhà nước đã có những chính sách khuyến khích người Dao định cư ổnđịnh để tập trung phát triển kinh tế
Trong kho tàng văn hóa dân gian của Việt Nam thì văn học dân tộc Dao
có khá nhiều đóng góp Văn học Dao đã tái hiện một cách thú vị đời sống tinhthần hết sức phong phú, độc đáo của người Dao, từ tập quán sinh sống, laođộng sản xuất, cách thức bài trí nhà cửa, trang phục cho đến các hình thứcsinh hoạt văn hóa, văn nghệ Cũng như nhiều đồng bào dân tộc thiểu số khác,
người Dao sống chủ yếu dựa vào núi rừng “Sớm ngẩng mặt là thấy núi,cúi
mặt lại thấy rừng” Rừng núi không chỉ là nguồn sống mà còn là nơi để bà
Trang 24con dân tộc Dao trú tránh những cơn gió độc, những cơn lũ dữ đồng thời cũng
là nơi để người Dao gửi gắm nhiều tâm tình
Các đề tài như: lao động sản xuất, quan hệ xã hội và gia đình được phảnánh cụ thể trong thơ ca, truyện kể của người Dao Nó thể hiện ước vọng cócuộc sống hạnh phúc và khả năng nhận thức về tự nhiên và xã hội của ngườiDao Về chữ viết người Dao mượn chữ Hán để phiên âm ra tiếng Dao và lưugiữ giá trị văn hóa của dân tộc mình Đây được coi là thành tựu của cộng đồngdân tộc Dao từ lâu đời Bàn Vương là nhân vật huyền thoại tổ tiên của người
những câu chuyện luôn được người Dao lưu truyền qua nhiều thế hệ Concháu người Dao luôn phải ghi nhớ công ơn của tổ tiên mình để biết cố gắngvươn lên trong cuộc sống không phụ công cha ông, tổ tiên đời trước Chữ viếtcủa người Dao đóng vai trò rất quan trọng, nhờ có chữ viết sớm mà những câuchuyện của người Dao đã được ghi lại và truyền dạy qua nhiều thế hệ hiện nayvẫn được duy trì
Dân tộc Dao sống tập trung nhiều ở một số tỉnh như Hà Giang, Sơn La,Tuyên Quang, Thái Nguyên, Cao Bằng Tuy nhiên về văn hóa cộng đồng dântộc Dao mỗi vùng luôn giữ được những nét văn hóa độc đáo Từ chữ viết, thơ
ca, trang phục truyền thống cho tới thói quen sinh hoạt hàng ngày luôn được họcoi trọng và thực hiện nghiêm túc Nét đặc sắc trong văn hóa Dao phải kế đến
là tục hát Páo dung vào các dịp lễ tết, tục thờ Bàn Vương, cúng ma nhà Cáctục lệ này phản ánh sâu sắc đời sống tinh thần của người Dao, văn hóa tâm linhcủa người Dao Có thể nói, người Dao đang rất nỗ lực khẳng định bản sắc vănhóa dân tộc mình trong đời sống cộng đồng các dân tộc thiểu số
Không gian văn hóa Dao được tạo nên bởi nhiều yếu tố, trong đó truyện
cổ đóng vai trò quan trọng góp phần làm phong phú kho tàng văn hóa, văn họcDao Người Dao sống chủ yếu bằng canh tác nông nghiệp và thủ công nêntruyện kể của họ đều rất gần gũi và gắn liền với cuộc sống hàng ngày Truyện
cổ của dân tộc Dao là sản phẩm được đúc kết từ nhiều thế hệ, mỗi câu chuyệnđều thấm đượm những bài học nhân văn sâu sắc
Trang 25TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Diện mạo dân tộc Dao được phác họa qua nhiều nét đặc trưng cơ bản baogồm nguồn gốc lịch sử, phương thức sinh hoạt, sản xuất và trang phục dân tộc.Đặc biệt là truyện cổ, nơi phản ánh quan niệm của người Dao về nguồn gốc vũtrụ và các hiện tượng tự nhiên, về nguồn gốc của loài người Người Dao sốngchủ yếu bằng canh tác nông nghiệp và thủ công nên mỗi câu truyện của họ đềurất gần gũi và gắn liền với cuộc sống hàng ngày Nó diễn tả mọi sự thay đổi của
sự vật, hiện tượng qua thời gian Tuy nhiên, truyện cổ của dân tộc Dao là sảnphẩm được đúc kết từ nhiều thế hệ và mang giá trị tinh thần rất lớn trong mạchchảy của văn hóa, văn học học dân tộc thiểu số Nó không chỉ góp phần làm đadạng không gian văn hóa dân tộc mà còn góp phần làm giàu vốn văn học dân tộcthiểu số trong thời kì hội nhập và phát triển Văn học dân tộc Dao chỉ được biếtđến nhiều qua thơ ca, vì vậy tìm hiểu về truyện cổ dân tộc Dao sẽ giúp ngườiđọc biết tới văn học dân tộc Dao nhiều hơn, qua nhiều góc nhìn để đánh giá vàđối sánh văn học dân tộc Dao với các dân tộc thiểu số khác trong không gianvăn hóa, văn học đa dạng của nước nhà Cũng như cộng đồng các dân tộc thiểu
số khác, đồng bào dân tộc Dao luôn ý thức phục dựng những nét đẹp văn hóadân tộc mình qua nhiều phong tục tập quán Đó là những yếu tố tô đậm đặctrưng văn hóa Dao Nói cách khác không gian văn hóa Dao được dệt nên bởinhững giá trị truyền thống từ phong cách sinh hoạt đến những hoạt động tínngưỡng lâu đời Không gian văn hóa Dao đã trở thành một bảo tàng thu nhỏ vớichức năng bảo tồn đi cùng với phát huy để khẳng định những nét văn hóa tiêubiểu của đồng bào dân tộc Dao trong cộng đồng 54 dân tộc anh em
Trang 26CHƯƠNG 2 TRUYỆN CỔ DÂN TỘC DAO NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG
2.1 Bức tranh sinh hoạt độc đáo của người Dao
Đồng bào dân tộc Dao có đời sống văn hóa tinh thần rất phong phú vớinhiều phong tục, nghi lễ, nghệ thuật đặc sắc Mỗi truyện cổ của người Dao nhưmột nốt nhạc trong bản hòa tấu của núi rừng Một trong những yếu tố tạo nênbản sắc riêng của người Dao chính là hoạt động sinh hoạt trong cuộc sống hàngngày Đó là tục lệ thờ cúng, những món ăn đặc trưng trong ngày lễ tết, những
lễ hội mang đặc trưng của dân tộc Dao Giống như những dân tộc thiểu sốkhác, đồng bào dân tộc Dao rất chú trọng đến nếp sống sinh hoạt hàng ngày Vìvậy tín ngưỡng, tục lệ trong đời sống tinh thần đều được người Dao nghiêm túcthực hiện Người Dao quan niệm đời sống tinh thần có tốt đẹp thì con ngườimới thấy yên cái bụng để làm ăn Có thể nói, các phong tục và thói quen trongđời sống sinh hoạt của người Dao là những nét đẹp góp phần làm nên diện mạovăn hóa, văn học dân tộc Dao qua nhiều thời kì Chúng tôi nhận thấy nhiều nétđẹp phong tục tập quán của người Dao được phản ánh khá rõ nét trong truyệncổ
Thứ nhất, phải kể đến lễ cưới của người Dao Đây là một trong những
nghi lễ phổ biến của đồng bào các dân tộc thiểu số, tuy nhiên mang những sắcthái khác nhau Lễ cưới là nghi lễ trọng đại của đời người, một trong những nétsinh hoạt văn hóa đặc sắc, in đậm dấu ấn tín ngưỡng của tộc người
Trong phạm vi sáu đời, con cháu người Dao không được kết hôn vớinhau, không vi phạm quan hệ cận huyết Nghi lễ cưới của mỗi nhóm Dao đều
có những nét riêng nhưng chủ yếu gồm các nghi thức như: Lễ dạm ngõ, lễ ănhỏi, lễ cưới, lễ lại mặt Trong văn hóa truyền thống của người Dao, hôn nhân làviệc trọng đại của gia đình và dòng họ Việc tổ chức hôn lễ cho con cái tronggia đình phải có sự nhất trí, tham gia của cả dòng họ, đồng thời gia đình cũngphải làm lễ báo cáo gia tiên và các vị thần nhà về sự việc trọng đại trên Trong
truyện “Chuyện tình Txiều Hầu và Lò Xử Ní”[24, tr.26] miêu tả một cách chân
Trang 27thực về đám cưới giữa hai nhân vật Txiều Hầu và Lò Xử Ní Txiều Hầu là conmột gia đình giàu có trong vùng chàng đã gặp gỡ và đem lòng yêu mến Lò Xử
Ní con một gia đình làm nghề dệt vải Được sự đồng ý của hai gia đình họ đã
tổ chức hôn lễ Thời gian tiến hành hôn lễ phải được thầy cúng lựa chọn,khoảng 6 giờ tối, đoàn đón dâu nhà Txiều Hầu gồm 9 người bước vào trướcmâm cúng tổ tiên Sau khi diễn ra các nghi lễ như lễ trình hồng thư, lễ hồnglạy, lễ bản mệnh, lễ qua ải bố mẹ, đến lễ hợp duyên thì các thầy bên nhà gáicùng với đoàn đón dâu bên nhà trai tổ chức lễ hợp duyên cho cô dâu, chú rể
Lễ hợp duyên và các vị thần linh chứng giám, công nhận lễ hợp duyên thành
vợ chồng của cô dâu và chú rể Ông trưởng phán Hùng Nhây ngồi trước mâmchủ trì lễ cúng và làm phép
Lò Xử Ní được trang điểm rất đẹp, đội mũ, khăn màu đỏ, có hoa văn; cổ vàtay đeo nhiều vòng bạc Đoàn đưa cô dâu, có cả thầy cúng và đoàn người đánhchiêng, khua trống, rung nhạc Lò Xử Ní được người nhà dắt từ buồng của cô dâu
ra, trùm khăn đỏ kín mặt, ngồi sau bà đoong bu Txiều Hầu theo phù rể vào dự
lễ Trước khi bước vào trong chú rể cũng phải dùng khăn hoặc áo phủ lên đầu vàlặng lẽ ngồi bên phải ông Hùng Nhây Toàn bộ hội hôn ngồi im lặng, ông thầytrưởng phán thực hiện lễ thỉnh gia tiên và các vị thần thánh Tam Thanh, TamNguyên, Bàn Vương, Lôi Vương, Thổ Địa về ngự tại mâm, ngoài ra còn mờithêm Bà Mụ, thần vía để chứng kiến lễ hợp duyên của cô dâu và chú rể
Theo tục lệ của người Dao sau khi đã đón dâu người con trai phải sang nhàgái ở rể từ hai đến ba tuần hoặc kéo dài đến một năm để trả ơn cha mẹ đã sinhthành và nuôi nấng vợ mình Điều này khác với đám cưới của người Việt, cô dâu
đi lấy chồng sẽ không được ở nhà cha mẹ đẻ mà phải phụng dưỡng nhà chồng
Truyện “Quả dưa thối”[24, tr.29] phản ánh tục dùng bạc trắng để định
giá cô dâu, (theo nghĩa đen là mua và gả bán) của người Dao qua chi tiếtngười cha của cô gái yêu cầu phải có mười nén bạc trắng mới đồng ý gả con
gái cho hai anh em mồ côi.“Các ngươi có gì mà đòi lấy con gái ta, hãy về nhà
chuẩn bị mười nén bạc trắng, hai con lợn to và năm vại rượu lớn mang đến
Trang 28bằng hiện vật của người Dao Mỗi cô gái trong bản được coi như tặng phẩm,khi gả chồng họ sẽ bắt đầu một cuộc sống mới Vì thế công dưỡng dục của cha
mẹ là rất lớn Để đền đáp công ơn sinh thành, các cô gái khi đi lấy chồng phảiđược thách cưới với lễ vật lớn Ngày nay, lễ vật hỏi vợ của người Dao khôngcòn đặt nặng về vật chất nhưng vẫn được duy trì như một tục lệ truyền thống
Lễ cưới được người Dao chuẩn bị kĩ lưỡng nhất trong các ngày lễ trọngđại Trang phục của cô dâu được thêu dệt tỉ mỉ và phải là màu đỏ Lễ vật chuẩn
bị cho lễ cưới phải tươm tất và phải đủ gà, rượu, thịt Lễ cưới là sự chứng giámtình yêu của hai vợ chồng trẻ Kể từ đây, họ phải sống có trách nhiệm yêuthương và đùm bọc lẫn nhau Vợ chồng phải sinh con đẻ cái để kế nghiệp tổtiên Lễ cưới của người Dao là một trong những hoạt động sinh hoạt văn hóacủa đồng bào dân tộc Dao
Như người Dao, đám cưới của người Mông thường được tổ chức vào mùaxuân hay cuối đông Hôn nhân của người Mông cũng tuân theo những lễ nghinhư dạm hỏi, ăn hỏi (hẹn cưới) và lễ đón dâu Trước đây người Mông rất phổ
biến tục “bắt vợ” Khi chàng trai Mông ưng một cô gái nào đó thì tổ chức đón đường, “bắt” cô gái về làm vợ mình.
Ngày nay, lễ cưới của người Dao và người Mông vẫn giữ được những néttruyền thống dân tộc về trang phục và nghi lễ rước râu Đồng thời trai gái yêunhau dựa trên sự tự nguyện, ít trường hợp bị ép gả Ngày nay một số thủ tụcrườm rà như thách bạc trắng, ăn cỗ ba ngày trong đám cưới của người Dao đãkhông còn được duy trì mà thay vào đó là những nghi thức đơn giản hơn nhưngvẫn giữ được truyền thống dân tộc Do vậy, chúng tôi nhận thấy bảo tồn và pháthuy những nét đẹp trong lễ cưới của người Dao là việc làm cần thiết góp phầnlàm phong phú những sinh hoạt văn hoá của các tộc người trong cộng đồng cácdân tộc Việt Nam
Thứ hai, nhắc tới những nghi lễ đặc sắc của Người Dao phải kể đến Lễ
Cấp sắc Người Dao quan niệm, đàn ông nếu chưa trải qua Lễ Cấp sắc thì dùgià vẫn coi là trẻ con vì chưa có thầy Cấp sắc, chưa được cấp đạo sắc, chưa cótên âm Người đã qua Cấp sắc dù ít tuổi vẫn được coi là người trưởng thành,được tham gia vào các công việc hệ trọng của làng, được giúp việc cho thầy
Trang 29cúng, được cúng bái Họ cũng quan niệm rằng có trải qua Lễ Cấp sắc mới biết
lễ phải trái ở đời, mới đích thực là con cháu Bàn Vương, khi chết hồn mớiđược đoàn tụ với tổ tiên Nếu gạt bỏ những yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng thì lễCấp sắc có tính giáo dục rất lớn, thể hiện qua những lời giáo huấn hướng tớiviệc thiện, không làm điều ác Các điều giáo huấn được thực hiện bằng lời thềdưới sự chứng kiến của tổ tiên và các quan âm binh nên tính giáo dục càng cógiá trị
Khi đọc và tìm hiểu chúng tôi được biết lễ Cấp sắc thường được tổ chứcvào tháng 11, tháng 12 hoặc tháng Giêng hàng năm, vì đây là thời gian nhànrỗi Ngày thụ lễ được lựa chọn rất kĩ, người Dao Đỏ, Dao Tiền thường làm lễcấp sắc từ độ tuổi 12-30, có khi đến già, trong khi đó ở người Dao Áo Dài là11-19 tuổi
Một số truyện như “Tráng sĩ Nhân Quý”,“Anh em nhà Tam Bá”,“Ton
Dất và Ton Nhậy” [3, tr.27] phản ánh rõ nét về tục lệ này Có thể thấy tục cấp
sắc của người Dao là một trong những phong tục độc đáo mang ý nghĩa nhânvăn, hướng con người trở về với cội nguồn của dân tộc Nhân vật trong các câuchuyện trên muốn trưởng thành và vượt qua khó khăn đều phải làm lễ cấp sắc
Ví dụ: anh em Tam Bá, anh em Ton Dất Họ là những chàng trai ưu tú, có sức
khỏe và biết làm việc thiện Đây là những nhân vật điển hình của Lễ Cấp sắc,trải qua nghi lễ này nam nhi trong vùng sẽ trưởng thành và trở thành điểm tựacủa đồng bào dân tộc Dao
“ Nhân Quý lại lang thang mọi chốn không có cơm ăn Bất lực chàng tìm cách thắt cổ tự tử Tuy nhiên được vợ chồng Mậu Sinh ở trên núi cứu sống.
Họ thấy chàng to khỏe nhưng chưa được thần linh chứng giám không phát huy được sức mạnh nên bèn lập đàn làm lễ cấp sắc Trong vùng nạn cướp ngày một táo tợn, chúng khiêu khích những nhà giàu phải giao nộp con gái nếu không sẽ giết sạch cả gia tộc Nghe vậy Nhân Quý rất tức giận bèn xin dân làng chuẩn bị rượu thịt, chàng hứa sẽ đánh đuổi bọn cướp Dân làng lấy làm
lạ nhưng cũng gom góp hết mọi thứ cho chàng Đêm đó toán cướp đến cửa nhà
Trang 30Quý mới vùng dậy cùng trai bản quyết một trận sinh tử Chàng nhổ cọc quật mạnh làm cho chúng khiếp sợ, lăn quay ra đất Chỉ một đêm chàng đã đánh đuổi được bọn cướp Đem lại sự bình yên cho dân làng”[3, tr.27].
Lễ Cấp sắc của người Dao nói riêng và bản sắc văn hóa của các dân tộcthiểu số nói chung là hồn cốt của dân tộc, cần phải gìn giữ và phát huy Đâychính là nét văn hóa điển hình trong đời sống tinh thần của đồng bào Dao, gópphần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm bản sắc dân tộc trên vùngnúi cao phía bắc của Tổ quốc
Thứ ba là lễ Nhảy lửa của người Dao Xuất phát từ quan niệm xa xưa của
người Dao là trừ ma diệt quỷ, bảo vệ cuộc sống ấm no, hạnh phúc Mỗi độxuân về khi hoa ban nở trắng cánh rừng, đồng bào dân tộc Dao lại quây quầnbên những lò than rực hồng Đây là thời điểm thích hợp để họ thực hiện nghithức nhảy lửa - một trong những hoạt động văn hóa đặc sắc của đồng bào dântộc Dao
Một đống than củi to được soạn sẵn, phải là loại than hồng, đang bùngcháy ở giai đoạn rực rỡ nhất Khi đống củi đã trở thành một đống than hồngrừng rực cháy, thầy cúng bắt đầu làm nghi lễ Khi thầy cúng gõ đàn và làmnghi lễ, những thanh niên tham gia nhảy lửa sẽ ngồi quanh thầy cúng và đâycũng chính là thời điểm quyết định những thanh niên này có tham gia nhảy lửađược hay không Khi thầy cúng bắt đầu đọc tên của tất cả những người thamgia nhảy lửa (tên đặc biệt để giới thiệu những người đàn ông với các vị thần,không phải tên thật), cơ thể những người tham gia nhảy lửa rung lên, thời điểmnày báo hiệu họ sắp có sức mạnh và sự dũng cảm của thần linh ban cho để cóthể nhảy vào những đám lửa đang độ nóng nhất Lúc này, những chàng traiđược chọn sẽ nhảy lò cò trước bàn thờ rồi lao vào giữa đống than lửa đỏ rực.Những chàng trai người Dao như đang trong cơn mê say, họ nhảy múa với đôichân trần của mình trong đống than lửa mà không hề có cảm giác rát bỏng hay
sợ hãi Những người xung quanh vùa reo hò vừa hát ca:
Người vừa thông minh lời ý đẹp Câu nói thành thơ đầy ắp tình
Trang 31Nam nữ đua nhau bày lễ hội Như những bông hoa rực ánh hồng Giang đón cánh hoa én hiện đến Từng đôi bay lượn giữa bầu trời Dòng người già trẻ về trẩy hội Từng đôi bay lượn giữa bầu trời
Nụ cười vẫy gọi én bay về [24, tr.38]
Không chỉ nhảy, họ còn dùng tay hất tung đống than củi ra tứ hướng.Mỗi người thường nhảy lửa trong vòng 3 - 4 phút, sau đó tiếp tục nhảy lò cò
về làm lễ tại bàn thờ trước khi trở lại bình thường Những người tham gia lễnhảy lửa phải là những người dũng cảm và có ý chí Đây là nghi thức thể hiệnniềm hy vọng vào một thế hệ thanh niên trưởng thành, dám đương đầu vớikhó khăn, thử thách và sẵn sàng bảo vệ đồng bào dân tộc mình Lễ nhảy lửa
xuất hiện trong một số truyện:“Tráng sĩ Nhân Quý”,“Con cáo mèo” [3, tr27 35] Trong truyện “Con cáo mèo” lễ nhảy lửa được tái hiện một cách chân
-thực: Người em mồ côi từ ngày có con cáo mèo làm bạn chăm chỉ hẳn lên.Anh ta làm nương, đợi đến đầu xuân sẽ bán thóc lấy tiền mua quần áo đẹp đitrẩy hội Người em vốn mê tục nhảy lửa nên ngày ngày ở nhà cùng con cáomèo tập luyện Lạ thay con cáo mèo bước một bước anh ta bước theo sau, bànchân trần lướt băng băng trên than hồng Đến lễ nhảy lửa anh cùng trai bảntham gia, mọi người không ai dám nhảy đầu vì sợ thần linh chưa phù phépnếu sảy chân sẽ bị thương Duy chỉ có người em xung phong nhảy đầu Anh
ta ôm con cáo mèo lẩm nhẩm một điều gì đó, con cáo xoay một vòng rồi đẩyanh vào đống than Chàng trai trẻ như có thêm sức mạnh nhảy qua nhảy lại
vừa nhảy vùa hát:“Lúa đã chín kéo đầy bồ, nhanh nhanh đi hội kẻo thóc nảy
mầm ”.! Chàng trai vừa dứt lời những chàng trai khác cũng thi nhau bước
nhanh trên dải than hồng Họ nối tiếp nhau như đàn chim rừng, vượt qua thửthách mong thần linh chứng giám
Lễ nhảy lửa là nghi thức minh chứng cho sức mạnh của những người đàn
Trang 32không chỉ là hoạt động tăng tình đoàn kết đồng bào dân tộc Dao mà còn là sânchơi cho những ai ưa mạo hiểm và muốn khám phá giá trị bản thân Tuy nhiênngười Dao có một loại nước được chưng cất từ lá cây rừng, nếu thoa vào lòngbàn chân khi nhảy qua lửa sẽ có cảm giác tê tê chứ không bỏng rát chân.
Những ai có lòng thành và chăm chỉ làm ăn sẽ được trưởng bản phát cho “nước
thần” này Vì vậy, đồng bào Dao thường khuyên nhủ nhau làm ăn để được
trưởng bản ban cho nhiều đồ quý Họ luôn kính trọng già làng, trưởng bản vàtuân thủ nghiêm ngặt luật lệ của làng bản Đồng bào dân tộc Dao cho rằng đã
là nam nhi khi trưởng thành phải có sức mạnh phi thường, chính vì vậy trongcác truyện cổ họ thường xây dựng các nhân vật mang vẻ đẹp khỏe khoắn và
đầy sức sống “Hai anh em Ton Dậy và Ton Dất từ nhỏ đã năng vào rừng,
chăm chỉ trồng ngô, trồng lúa Chẳng mấy chốc họ đã trở thành hai chàng trai đẹp nhất vùng Bắp tay Ton Dậy to và cuồn cuộn như dòng thác đổ bên kia núi, đôi chân Ton Dất vững chãi phát nương ngày đêm không biết mỏi [24,tr.36].
Sức mạnh của con người được sánh ngang vớithiên nhiên Đồng bào dân tộcDao luôn trân trọng và nâng tầm giá trị con người với khát vọng chinh phục và
làm chủ tự nhiên Lễ nhảy lửa được tái hiện qua một số truyện cổ: Anh em mồ
côi, Ton Dậy và Ton Dất, Con cáo mèo [24, tr.32 - 36].
Lễ nhảy lửa là một trong những nét đẹp truyền thống mang bản sắc riêngcủa dân tộc Dao, chứng kiến tận mắt những đôi chân trần băng qua lò thanrực hồng mới thấy được sự khéo léo và khả năng tuyệt vời của đồng bào Dao
“Đôi bàn chân thô ráp hàng ngày lên rừng làm rẫy giờ lướt nhẹ trên những đốm than hồng, đôi mắt chàng trai ánh lên niềm hy vọng và xung quanh là ánh lửa bập bùng soi sáng những nếp nhà ” [24, tr.35] Như những nhà ảo
thuật tài năng, họ đã thể hiện sức mạnh phi thường của mình và cho thấy nétđẹp vốn có của người Dao, đó là nghị lực, niềm tin và sự dũng cảm NgườiDao sống gắn bó với tự nhiên, nên bản thân họ luôn tiềm tàng khả năng chốngchọi và đấu tranh bảo vệ cuộc sống Lễ nhảy lửa không chỉ là một lễ hội đơnthuần mà còn là hoạt động tín ngưỡng lâu đời của đồng bào dân tộc Dao
Trang 33Thứ tư là lễ cúng Bàn Vương, đây là một tục lệ khá điển hình trong sinh
hoạt của đồng bào Dao nói chung Ở bất cứ nhóm Dao nào, họ nào cũng đềuchú trọng đến việc thờ cúng này Người Dao coi việc thờ cúng Bàn Vương làmột việc làm có liên quan đến vận mệnh của mỗi người, mỗi dòng họ và của cảdân tộc Đây là một nét văn hóa đặc sắc cần được bảo tồn, lưu giữ.Bàn Vươngđược đồng bào Dao coi là thủy tổ của các dòng họ của mình nên cũng được coi
là loài ma nhà (ma tốt) và được cúng bái chung với tổ tiên của từng dòng họ,từng gia đình Thường ngày, Bàn Vương được thờ cúng với gia tiên và năm vịthần khác là: thần thóc gạo; thần coi sóc việc ca hát, văn nghệ; thần săn bắn vàhai vị thần trông nom việc chăn nuôi Trong các nghi lễ lớn như lễ cấp sắcđồng bào Dao đều phải cúng Bàn Vương Mỗi nhóm Dao có một số chi tiếtriêng, nhưng tục cúng Bàn Vương căn bản vẫn giống nhau Nó bao gồm nhữngnghi lễ chính gồm: Lễ khất, lễ cúng Bàn Vương và lễ tiễn đưa Bàn Vương
được coi là tổ tiên của người Dao Những người nông dân trong truyện“Nhà
vua và nông dân” [24, tr.25] sau khi thu được nhiều nông sản đã tổ chức lễ ăn
mừng và thịt trâu để cúng Bàn Vương, tạ ơn Bàn Vương đã giúp đỡ họ trongcuộc sống
Những nông dân trong truyện “Được vua cảm ơn” [3, tr.43] khi thực hiện
lễ cúng Bàn Vương phải tách thành hai hàng, đàn ông đứng một hàng và phụ
nữ đứng một hàng Kể từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc nghi lễ cúngBàn Vương họ phải thực nghiêm ngặt Không phải chỉ có các thầy cúng mà tất
cả mọi người trong buổi lễ đó phải ăn chay Nếu là vợ chồng phải cách li,không
được ăn nằm với nhau, nam nữ không được ngồi lẫn lộn, không được nóinhững điều không đứng đắn, lúc ra về không được bàn tán chê bai, trách mócđiều gì
Hiện nay, nghi lễ cúng Bàn Vương không còn phổ biến nhiều trong đồngbào dân tộc Dao Tuy vậy, lễ cúng Bàn Vương là nghi lễ mang đậm tính nhânvăn vì nó hướng con người luôn nhớ đến nguồn cội và con người luôn được
Trang 34trấn an tinh thần bởi bên cạnh mình đã có tổ tiên là Bàn Vương linh thiêng đầysức mạnh bảo trợ Đồng thời, nghi lễ này còn là sợi dây liên kết cộng đồng
Trang 35trong mối quan hệ dòng họ, làng bản, tạo nên sức mạnh để bảo vệ và xây dựng cuộc sống.
Được coi như một trong những món ăn tinh thần làn điệu Páo dung (Pảdung) đã trở thành nét văn hóa đặc sắc của đồng bào người Dao trong đời sốngvăn hóa 54 dân tộc anh em Nếu người Tày nổi tiếng với những điệu Then nhẹnhàng, người Nùng tạo nên nét độc đáo qua điệu Sli mượt mà thì người Daolại tạo nên bản sắc của mình bằng những câu hát Páo dung ngọt ngào Hát Páodung được coi là một trong những báu vật văn hóa của dân tộc Dao Hát Páodung thể hiện những tâm tư, tình cảm và ước muốn của người Dao trong cuộcsống thường ngày
Trong các đại lễ, theo phong tục của người Dao các bài hát bài có thể chiathành hình thức: Độc thoại và đối thoại Độc thoại là hình thức pả dung (hátcúng) trong lễ cấp sắc Đặc biệt hát trong khi tế thần, khi cúng Lời hát có vần
có điệu, giọng gọn chỉ kéo dài một chút ở các tiếng thứ ba, thứ năm hoặc ởcuối câu Nội dung chủ yếu là tế thần linh, cầu bình an hoặc kể lại cuộc thiên
di lịch sử của dân tộc Dao Đối thoại là kẻ hát, người ví đối đáp với nhau ngườiDao còn gọi là hát chơi Thể loại này phần lớn là “ngôn ngữ Dao” gần vớingôn ngữ hàng ngày Tùy theo đối tượng của cuộc hát mà chia các loại hát ví.Khi Tết đến, xuân về, nam thanh nữ tú người Dao lại rủ nhau đi hát từ bảnnày sang bản khác Cuộc hát say sưa khiến họ như quên ngày, quên tháng HátPáo dung được chia thành các loại hình: Hát Páo dung sinh hoạt gồm các bàihát ru, hát vui chơi, hát giao duyên, hát đối đáp nam nữ, hát than…, hát Páodung là lễ nghi tín ngưỡng - phong tục gồm các bài hát được sử dụng trong cácnghi lễ truyền thống của đồng bào Dao như lễ cấp sắc, lễ cưới, đám tang, cúngđầy tháng…Với mỗi ngành Dao, lối hát Páo dung có sự khác biệt trong âm
hưởng của làn điệu Điển hình như trong truyện: “Cô gái và yêu tinh”[24,
tr.19] có những khúc hát giao duyên trong quan hệ tình cảm giữa nam và nữ
Hỡi anh ơi Rảo bước nhanh nhanh đến nơi đâu
Trang 36Xin mách quý nàng được biết rõ Cũng vì ca hát vội lên đường Mong được quý nàng lòng đã sẵn Cùng đường đến hội hát tình ca [24, tr.19]
Nhân vật trong truyện cổ dân tộc Dao nếu là con trai phải được làm lễ cấp
sắc, nếu là con gái phải học hát Páo dung Trong các truyện cổ như: “Cô gái
và yêu tinh,“Fụ Hây - Chấy Mụi và nạn đại hồng thủy”,“Mồ côi và nàng tiên”
[24, tr.42 - 48], ở phần kết sau khi các nhân vật vượt qua khó khăn và ở bên
nhau họ đều cùng nhau hát Páo dung Điệu hát này giúp họ lạc quan và cóthêm niềm tin vào cuộc sống
Những bài hát hát Páo dung thường mang chủ đề ca ngợi lao động sản xuất, ca ngợi cảnh đẹp thiên nhiên hay những kinh nghiệm về thời tiết, mùa vụđược các thế hệ người Dao tích lũy và truyền lại cho thế hệ sau Nét độc đáotrong hát Páo dung là đề cao tinh thần lao động sáng tạo, đạo đức, lẽ sống,phép ứng xử, ca ngợi thiên nhiên, tình yêu đôi lứa Hát Páo dung mang chất trữtình đằm thắm, mượt mà, thể hiện nét tươi sáng và giản dị của tâm hồn ngườiDao Giá trị văn hóa lớn nhất được thể hiện trong những làn điệu Páo dungchính là định hướng giáo dục con người hiểu biết cội nguồn dân tộc, quêhương Nhiều nội dung sâu sắc được chuyển tải trong những làn điệu dân ca,
đề cập sâu sắc mối quan hệ trong gia đình, họ hàng, anh em, cha con Nhân vật
người cha trong truyện “Cha hổ” đã ru đứa con nhỏ bị bỏ rơi ngoài cửa hang
bằng những lời Páo dung mượt mà, sâu lắng:
Trắng xinh như bột như bông Đồng tiền chúm chím má hồng con yêu
À ơi con hãy ngoan nhiều
Để cha lên rẫy sớm chiều lòng vui Một mai con lớn lên rồi
Dòng sông, ngọn núi, đất trời của con Ngàn năm nước chảy đá mòn
Công cha nghĩa mẹ vẫn còn mai sau
Trang 37À ơi, chữ “hiếu” làm đầu Chữ “trung” với nước khắc sâu lời thề [3, tr.31]
Hình ảnh người cha trong sinh hoạt gia đình dân tộc Dao muốn dạy con ýthức về cuộc sống và trách nhiệm đối với việc gìn giữ và bảo vệ từng ngọn núi,con sông của làng bản Không những thế người cha còn mong con luôn ghi nhớcông ơn sinh thành và dưỡng dục của cha mẹ Đặc biệt là sự hiếu thảo và hơnhết là sự tận trung, tận hiến với non sông, đất nước Những lời hát giản dị màgần gũi, mộc mạc mà chân chất như chính tâm hồn những người dân tộc miềnnúi Họ không chỉ dạy con yêu quê hương, yêu đất nước mà còn dạy con vănhóa ứng xử Sự nỗ lực vươn lên hoàn cảnh để có cuộc sống tốt hơn Dù khácnhau về ngôn ngữ, chữ viết và phong tục nhưng tấm lòng và nhận thức củanhững người con dân tộc thiểu số luôn được soi sáng Chính vì thế, trong mỗisáng tác của họ đều không có những nội dung tiêu cực hay có sự xuyên tạc nào
đó ngược lại rất ý nghĩa và lắng đọng Người Dao vốn trải qua cuộc thiên dilớn nên họ rất quý trọng sự sống và đặc biệt là nơi ở Vì lẽ đó, trong những lờihát Páo dung luôn chan chứa tình cảm như nguồn sữa mát trong nuôi lớnnhững em bé Dao Và để rồi khi lớn lên, các em sẽ lại mang những lời hay ýđẹp trong từng câu hát nuôi dưỡng tâm hồn những mầm non tương lai Cứ thế
sự nối tiếp truyền thống tốt đẹp của cộng đồng người Dao qua những làn điệuPáo dung mãi còn vang vọng khắp núi rừng
Hát Páo dung giao duyên của người Dao cũng có những nét tương đồngvới lối hát đối (hát ví, hát đúm) của người Mường Đó là cuộc hát giữa nam với
nữ, xoay quay chủ đề về tình yêu đôi lứa; không bị giới hạn về thời gian Lốihát giao duyên của người Dao có những nét rất khác biệt Theo tìm hiểu chúngtôi được biết khi hát họ phải xin phép hàng xóm, láng giềng, vì người Dao chorằng, khi họ cất lên tiếng hát nghĩa là đã làm ảnh hưởng đến thần linh và mọingười Sau khi hát xong, người hát không quên cảm ơn đến thần linh và hàngxóm, đó là nguyên tắc bắt buộc trong hát Páo dung giao duyên
Trang 38Trong những câu hát giao duyên, sự đối đáp linh hoạt là yếu tố tạo nên sựhấp dẫn đối với người nghe và đó cũng là yếu tố để người hát tạo dấuấnvới đối
Trang 39phương Có những chàng trai, cô gái ở các bản Dao đã nên duyên vợ chồngnhờ say mê tiếng hát của nhau Truyện cổ của đồng bào dân tộc Dao diễn tảchân thực bức tranh sinh hoạt văn hóa độc đáo của người Dao Có thể kể tên một
số truyện tiêu biểu như: “Mồ côi và nàng tiên, “nàng ve cô đơn”,“chuyện tình
của Txiều Hầu - Lò Xử Ní…” [24,tr.34 - 39].
Truyện “Nàng ve cô đơn” [3, tr.37] lí giải khá rõ nét về tục hát Páo dung
của dân tộc Dao Chuyện kể rằng, vợ chồng nhà nọ sinh được một con gái rất
dễ thương Cô gái lớn nhanh, thông minh và xinh đẹp Đặc biệt cô có giọng hát
Pả dung (Páo dung) trong trẻo, ngọt ngào Người nào được nghe cô hát Pảdung (Páo dung) một lần thì trong lòng xao xuyến nhớ nhung không quênđược Bố mẹ cô lấy làm vui lắm vì con gái vừa xinh đẹp lại tài năng Họ hyvọng sẽ tìm được một chàng rể, một người chồng xứng với con gái mình Điđâu họ đều cho con gái đi cùng Các cô gái trong vùng rất ghen tị với tiếnghát của cô Nhiều chàng trai nhà giàu đã mang sính lễ đến hỏi cô về làm vợnhưng cô gái đều từ chối, bởi cô chỉ yêu anh chàng nghèo hát Pả dung (Páodung) rất hay ở làng bên Mỗi lần họ gặp nhau lại cùng cất tiếng hát khôngngừng nghỉ Bố mẹ cô gái chê anh chàng nghèo không xứng với gia đình mìnhnên không đồng ý Do tình yêu quá sâu nặng, tâm hồn của họ đồng điệu qualàn điệu Pả dung (Páo dung), nhưng không được kết duyên vợ chồng nênchàng trai nghèo buồn bã, ốm nặng hồn lìa khỏi xác bay theo lời ca vào cõitrời Khi chàng trai mất cô gái cũng không còn ước muốn lấy chồng, ngàyngày cô đến nhà chàng trai giúp bố mẹ chàng làm nương làm cỏ Một lần lênnương cô bị kiệt sức và đã từ biệt trần gian Dân làng tiếc thương cho cô gáixinh đẹp và tài năng nên an táng cho cô ngay cạnh mộ chàng trai nghèo
Vào một ngày hè nóng nực, mộ cô gái nứt ra và một con ve bay vút rangoài Con ve to hơn ve sầu, thân và cánh màu đen, ngang thân có thắt lưng
trắng, dân làng gọi là “nàng ve cô đơn” Hàng năm vào tháng sáu âm lịch tiếng
ve lại râm ran cả một vùng, người ta nói đó là tiếng hát Pả dung của cô gái nămnào vừa ngọt ngào lại vừa xót xa
Trang 40Tục hát Páo dung đã trở thành di sản văn hóa phi vật thể, nó không đơnthuần là một hoạt động sinh hoạt văn hóa mà là sản phẩm tinh thần được lưutruyền qua nhiều thế hệ Bởi vậy, hiện nay nhiều bản làng của người Dao vẫndạy nhau hát Páo dung để duy trì nét đẹp dân tộc mình Tiếng hát Páo dung cấtlên cũng là lúc người Dao hòa mình với núi rừng, trải lòng với thiên nhiên.
“Nàng ve cánh bay ra khỏi tấm mộ cất tiếng kêu râm ran lắng tai nghe sẽ thấy
như tiếng Páo dung đầy tâm trạng Một đời không được thành đôi, đời sau xin nguyện tự do giữa trời, chân tình không gặp được chàng, giữ ở trong lòng đợi ngày xuân sang, ơ lơ ”[3, tr.40] Nội dung mỗi bài hát thường bộc lộ cảm xúc
của chủ thể trữ tình Hát Páo dung là hoạt động thu hút nhiều đồng bào dân tôcDao Họ học hát Páo dung để được giao duyên, tìm bạn hoặc để thể hiện tâmtrạng qua lời ca, tiếng hát Đây là nét văn hóa đặc sắc tạo nên dấu ấn cho bảnsắc văn hóa dân tộc Dao
Những lễ hội được tái hiện trong truyện cổ mang nét đẹp tiêu biểu trongvăn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Dao Đó là giá trị tốt đẹp được lantỏa từ quá khứ tới hiện tại Truyện cổ dân tộc Dao tuy có số lượng không nhiềunhưng chúng tôi nhận thấy những di sản về văn hóa, cụ thể là các lễ hội đượcphản ánh với mật độ dày đặc trong truyện cổ Cùng với đó là các giá trị vănhóa được đề cao như tình cảm gia đình, đạo lí làm người, Tuy nhiên nhiềutục lệ được phản ánh trong truyện cổ thì hiện nay đã không còn được thực hiệnnhiều nữa Ví dụ như tục cúng ma nhà chỉ còn là nghi thức được tổ chức đạidiện trong lễ hội lớn vào dịp tết Nguyên Đán với các dân tộc khác Lễ cưới củamột số bộ phận người Dao đã bắt đầu du nhập với phong cách hiện đại giốngnhư người Kinh Đây vừa là sự cách tân nhưng cũng vừa là nỗi trăn trở đối vớicông tác bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc thiểu số Tìm hiểu mỗi truyện cổ
là hành trình khám phá bức tranh sinh hoạt độc đáo của người Dao Chúng tôikhai thác truyện cổ dựa trên những tác phẩm đã được dịch là chủ yếu, tuy chưa
có cơ hội được khai thác trên chính kênh tiếng dân tộc của người Dao nhưngchúng tôi đã cố gắng bám sát nội dung được tái hiện trong truyện cổ của đồngbào người Dao để có được cái nhìn chân thực nhất về đời sống cũng như văn