1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thánh tông di thảo nhìn từ truyền thống truyện dân gian việt nam và từ đặc điểm truyện truyền kỳ

90 855 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thánh Tông Di Thảo Nhìn Từ Truyền Thống Truyện Dân Gian Việt Nam Và Từ Đặc Điểm Truyện Truyền Kỳ
Tác giả Vũ Thị Phương Thanh
Người hướng dẫn TS. Phạm Tuấn Vũ
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý luận Văn học
Thể loại Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 419,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chỉ ra những đặc điểm của truyện dân gian đợc bảo lu trong Thánh Tông di thảo nhất là ở các truyện mà theo một số nhà nghiên cứu, cha phải là truyện truyền kỳ đích thực ở các phơng diện:

Trang 2

mở đầu 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Mục đích nghiên cứu 6

4 giới hạn nghiên cứu 7

5 Phơng pháp nghiên cứu 7

6 bố cục luận văn 7

Chơng 1: Nghệ thuật tự sự của Thánh Tông di thảo 8

1.1 Cấu trúc tuyến tính trong tự sự 8

1.1.1 Khái niệm cấu trúc tuyến tính 8

1.1.2 Mô hình cấu trúc tuyến tính phổ biến trong Thánh Tông di thảo 9

1.1.3 Sự tơng đồng và khác biệt với cấu trúc tuyến tính trong cổ tích thần kỳ 9

1.2 Cấu trúc phi tuyến tính 17

1.2.1 Cấu trúc phi tuyến tính ở Thánh Tông di thảo 17

1.2.2 Lý giải sự khác biệt với cấu trúc phi tuyến tính ở cổ tích thần kỳ .20

Chơng 2: Phơng thức thể hiện phẩm chất và số phận nhân vật 22

2.1 Vai trò của hành động đối với việc thể hiện phẩm chất và số phận nhân vật 22

2.1.1 Sự tơng đồng và khác biệt với cổ tích thần kỳ 22

2.1.2 Sự tuân thủ những phơng thức của truyện truyền kỳ 28

2.2 Việc thể hiện nội tâm nhân vật 31

2.2.1 Đối sánh nội tâm nhân vật trong Thánh Tông di thảo với nội tâm nhân vật cổ tích thần kỳ 31

2.2.2 Nội tâm nhân vật trong Thánh Tông di thảo nhìn từ đặc điểm của nội tâm nhân vật truyện truyền kỳ 34

Trang 3

so với của cổ tích thần kỳ 42

3.1.1 Cái kỳ trong nghệ thuật 42

3.1.2 Cái kỳ trong truyện truyền kỳ 43

3.1.3 Tơng đồng và khác biệt ở vai trò yếu tố kỳ ở Thánh Tông di thảo và cổ tích thần kỳ 46

3.1.4 Lý giải sự tơng đồng và khác biệt 48

3.2 Sự tơng đồng và khác biệt so với của Truyền kỳ mạn lục 50

3.2.1 Sự tơng đồng và khác biệt ở vai trò của cái kỳ lạ 50

3.2.2 Sự khác biệt 56

3.2.3 Lý giải sự tơng đồng và khác biệt 61

Chơng 4: Sự dung hợp thể loại trong Thánh Tông di thảo 64

4.1 Dung hợp thể loại, một đặc điểm của truyện truyền kỳ 64

4.1.1 Phối hợp u thế của các loại văn 64

4.1.2 Dung hợp thể loại nhìn từ phơng diện thể hiện nhân vật tự sự 66

4.2 Đối sánh sự dung hợp thể loại trong Thánh Tông di thảo và trong Truyền kỳ mạn lục 70

4.2.1 Thống kê, phân loại các truyện có sự dung hợp thể loại ở hai tác phẩm 70

4.2.2 Vai trò của dung hợp thể loại trong Thánh Tông di thảo và trong Truyền kỳ mạn lục 71

4.3 Sự tơng đồng về mặt dung hợp thể loại so với Truyền kỳ mạn lục 86

4.4 Sự khác biệt 88

4.5 Chất lợng dung hợp thể loại ở hai tác phẩm 90

Kết luận 93

Tài Liệu Tham Khảo 97

Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Đặc điểm phổ biến của những tác phẩm văn xuôi ra đời sớm trong văn học trung đại các dân tộc là liên hệ mật thiết với truyện dân gian và sử ký Có

ba truyện của Thánh Tông di thảo đợc đa vào Tổng tập truyện dân gian ngời Việt, tập 6 - Truyện cổ tích thần kỳ, Nxb KHXH, 2004) Nghiên cứu đề tài này

Trang 4

nhằm tìm hiểu mối quan hệ thứ nhất ở một tác phẩm văn học trung đại Việt

Nam, cụ thể là nghiên cứu ảnh hởng của cổ tích thần kỳ đối với Thánh Tông

di thảo.

1.2 Văn học Việt Nam thời trung đại chịu ảnh hởng lâu dài, phổ biến toàndiện và sâu sắc của văn học Trung Quốc cổ - trung đại, nhất là những tácphẩm sử dụng thể loại văn học Trung Quốc và viết bằng chữ Hán Nghiên cứu

đề tài này góp phần nghiên cứu ảnh hởng của truyện truyền kỳ Trung Quốc

đối với tác phẩm truyền kỳ đầu tiên của Việt Nam

1.3 Nghiên cứu đề tài góp phần xác định giá trị của Thánh Tông di thảo đối

với truyện truyền kỳ Việt Nam

1.4 Giải quyết đề tài này sẽ có ý nghĩa làm rõ hơn những đặc trng của truyện

truyền kỳ, góp phần dạy- học tốt hơn các truyện truyền kỳ Con hổ có nghĩa, Ngời con gái Nam Xơng, Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, Dế chọi trong

chơng trình ngữ văn trờng phổ thông

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Về tác giả Thánh tông di thảo đến nay đã có ba loại ý kiến:

Loại ý kiến thứ nhất căn cứ vào lối tự xng của tác giả phù hợp với lối tự

xng của Lê Thánh Tông trong Thiên Nam d hạ Khi tác giả nói về mình thờng xng “tôi lúc tại Đông cung”, hoặc “tôi, lúc ở tiềm để” Trong một số trờng

hợp, Lê Thánh Tông đặt mình vào truyện Các nhà nghiên cứu đó đánh giá caotác phẩm về mặt văn chơng, kết luận rằng sách này do Lê Thánh Tông viết

Loại ý kiến thứ hai nhận định đây không phải là tác phẩm của Lê ThánhTông vì một số lý do sau:

Trong truyện Duyên lạ nớc hoa, có nói đến tên đất Hà Nội; trong các truyện Yêu nữ Châu Mai và Bài ký một giấc mộng có nói đến Đoái Hồ (tức Hồ

Tây ngày nay) Mãi năm Minh Mệnh thứ mời hai (1831) mới có địa danh HàNội Mời hai thừa tuyên thời Lê cũng không có phủ huyện nào tên là Hà Nội

Hồ Tây đã mang nhiều tên khác nhau Đời Lý gọi là Dâm Đàm, sau đổi thành

Hồ Tây, về sau vì phải kiêng tên hiệu Tây Vơng của Trịnh Tạc, đổi thành Đoái

Hồ Sau khi Trịnh Tạc mất mới gọi là Hồ Tây Tóm lại, đời Lê Thánh Tôngcha có địa danh là “Hà Nội” và “Đoái Hồ”

Trong truyện Hai Phật cãi nhau có nói đến năm lụt Quý Tỵ, là năm

Hồng Đức thứ t (1873) Năm Quý Tỵ lại có hai lần hạn, lần thứ nhất vào thánghai, tháng ba, lần thứ hai vào tháng bảy, tháng tám Tuy tháng t và tháng chín

Trang 5

năm ấy có ma to mấy ngày nhng không lụt Nh vậy, cái lụt năm Quý Tỵkhông xảy ra vào đời Lê Thánh Tông

Ngoài ra, trong truyện Ngời trần ở thuỷ phủ có nói đến các học vị phó bảng và cử nhân Học vị này đến đời Minh Mệnh mới đặt ra Sách Quốc triều khoa lục chép rằng, năm Quang Thái thứ chín đời Trần Thuận Tông có định

cách thức thi cử nhân Các khoa triều Lê có nhiều năm chép là “hội thí thiên hạ

cử nhân” Cử nhân ở đây không phải là một học vị mà là “ngời đi thi” (ứng cửthi nhân) Nh vậy vào đời Lê Thánh Tông cha có các học vị trên

Trong một số truyện tác giả viết là “Tôi lúc ở đông cung”, hoặc “Tôi lúc

ở tiềm để” Thực ra Lê Thánh Tông không làm thái tử, cũng không ở đông

cung ngày nào Hơn nữa, trong Thiên Nam d hạ không có chỗ nào Lê Thánh

Tông tự xng nh trên cả Nh vậy, lối tự xng nh trên không hợp với Lê ThánhTông

Về mặt văn chơng, nói chung đây không phải là bút pháp của một “đạigia văn hào” Có nhiều trờng hợp nhất là những h tự nh “chi”, “nhi”, dùngkhông chính xác Có nhiều câu cha đợc già dặn, có nhiều điển tích dùngkhông đúng chỗ

Đem so sánh thì thấy lối văn đây nói chung yếu hơn so với Liệt truyện tạp chí của Lê Thánh Tông trong Thiên Nam d hạ Nh vậy, đây không phải là

bút pháp của Lê Thánh Tông

Trong bài Ngời trần ở thuỷ phủ, tác giả oán trách triều đại đơng thời, ca

ngợi lòng trung của một tên Việt gian làm tớng cho Vơng Thông Lẽ nào LêThánh Tông lại đả kích triều đại của mình? Và lẽ nào một ngời nối nghiệp Lê

Lợi lại có thể ca ngợi một tên Việt gian? Trong truyện Gặp tiên ở hồ Lãng Bạc, tác giả tỏ thái độ coi thờng cuộc sống trần gian và hết lời ca ngợi cuộc

sống thần tiên, lẽ nào một ông vua yêu đời, rất tự mãn với công nghiệp củamình lại có thể có quan điểm ấy?

Nh vậy, theo một số nhà nghiên cứu, về mặt nội dung và hình thức đều

có những điểm làm ngời ta ngờ rằng đây không phải là tác phẩm của LêThánh Tông, hơn nữa không phải là tác phẩm đợc viết trong thời cực thịnh củanhà Lê và của Nho giáo

Loại ý kiến thứ ba thấy trong sách xen vào những tác phẩm yếu kém lại

có những văn phẩm cứng cáp, có những tác phẩm phản ánh xã hội thịnh trịthời Lê sơ (ví dụ: đề cao đạo Nho, đả kích đạo Phật, miêu tả quang cảnh thái

Trang 6

bình thịnh trị sau khi đại định, ), có những tác phẩm phù hợp với việc LêThánh Tông thờng cố ý dùng khẩu khí thiên tử trong thơ văn, cho rằng trong

Thánh Tông di thảo, có cả tác phẩm của Lê Thánh Tông, có cả những tác

phẩm của đời sau

Lời giới thiệu Thánh Tông di thảo có viết: “Một số nhà nghiên cứu căn

cứ vào lối xng hô trong sách (dùng lại từ nhân xng d = tôi), cho rằng cách gọi

này phù hợp với cách tự xng của Lê Thánh Tông trong Thiên Nam d hạ Tác phẩm Thiên Nam d hạ đã đợc xác định của Lê Thánh Tông, nên Thánh Tông

di thảo cũng là của Lê Thánh Tông” [68,5].

Đinh Gia Khánh viết: “Thánh Tông di thảo do ngời đời sau tập hợp lại

và tơng truyền là của vua Lê Thánh Tông Hiện nay cũng cha rõ ai là ngời tậphợp và biên soạn ấy Cuối mỗi truyện có lời bàn của Sơn Nam Thúc nhng Sơn

Nam Thúc là ai thì cũng cha thể khẳng định đợc Thánh Tông di thảo có đúng

là của Lê Thánh Tông viết ra hay không? Hiện nay cha giải đáp đợc đích xácvấn đề này Một số truyện đã do ngời đời Nguyễn chữa lại và một số truyện dongời đời Nguyễn viết ra” [46,484]

Bùi Duy Tân viết: “Bản thảo để lại của Thánh Tông Tên do ngời đời sau

đặt ra một tập truyện ký văn học viết bằng chữ Hán tơng truyền của nhà văn

và hoàng đế Việt Nam Lê Thánh Tông” [46,492]

2.2 Đã có nhiều ý kiến khẳng định giá trị của Thánh Tông di thảo và mối

quan hệ của nó với truyện dân gian Thế kỉ X-XV văn xuôi tự sự cha tách khỏivăn học dân gian và văn học chức năng Tác phẩm gồm hai loại chính Một làtruyện dân gian (gồm su tầm, nghi chép, chỉnh lí) hai là truyện lịch sử và

truyện tôn giáo Tác phẩm Thánh tông di thảo xuất hiện vào thời kỳ đột khởi

của văn xuôi tự sự (thế kỉ XV- XVI) ở giai đoạn này tự sự văn xuôi đã thoátkhỏi mối ràng buộc của văn học dân gian và văn học chức năng Tác phẩmthời kỳ này vừa mang đậm sắc thái dân tộc, vừa phản ánh hiện thực đơng thời

Thánh Tông di thảo là thành tựu nổi bật

Dờng nh truyện nào của Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ cũng có một vàibài văn vần xen vào Có nhiều cách giải thích về hiện tợng này Ngời thì chorằng tài hoa của tác giả đợc thể hiện ở chính những bài thơ, từ; ngời nhận thấy,

đó là dung hoà giữa tự sự và trữ tình Có ngời khẳng định nếu không thôngqua ngôn ngữ thơ ca khó mà miêu tả đợc các cuộc hoan lạc của các nhân vậttrong truyện

Trang 7

2.3 Về thể loại của các truyện

Giới nghiên cứu văn học ngày càng nhận rõ vai trò của thể loại trong

đời sống văn học, nói nh M.M Bakhtin, thể loại là “nhân vật chính của lịch sửvăn học” Bởi vậy nghiên cứu tác phẩm từ đặc trng thể loại là phơng hớng

nghiên cứu hiệu quả Về Thánh Tông di thảo, dễ dàng nhận thấy sự không

thuần nhất về phơng diện thể loại: có truyền kỳ, ngụ ngôn, tạp ký Bốn truyện

có tính chất ngụ ngôn: Truyện hành khất giàu, Trận cời ở Vũ Môn, Dòng dõi loài thiềm thừ, Bức th của con muỗi Mời truyện có tính chất truyền kỳ: Yêu nữ Châu Mai, Truyện hai gái thần, Duyên lạ nớc hoa, Truyện lạ nhà thuyền chài,Ngọc nữ về tay chân chủ, Truyện hai thần hiếu đễ, Truyện chồng dê, Truyện tinh chuột, Một dòng chữ lấy đợc gái thần, Ngời trần ở thuỷ phủ Năm văn bản có tính chất tạp ký: Hai Phật cãi nhau, Phả ký Sơn quân, Lời phân xử cho anh điếc và anh mù, Gặp tiên ở hồ Lãng Bạc, Bài ký một giấc mộng.

Do cha thật quán triệt đặc điểm của truyện truyền kỳ nên có ý kiến

đánh giá tiêu cực về yếu tố kỳ:

“Khổng Tử không bao giờ nói đến chuyện quái dị, thần kỳ vì nhữngtruyện ấy mắt không trông thấy, mọi ngời sinh ra ngờ vực

Nhng thử nghĩ xem: Trong bốn bể, chín châu, biết bao núi thẳm, đầm

to, thì những truyện thần kỳ quái dị kể sao hết đợc? Kìa những truyện BáHữu nớc Trịnh khi chết hoá thành quỷ dữ, Hoàn Công nớc Tề trông thấy yêuquái trên núi, Ông bạc đầu ăn thịt con trai con gái, không phải là truyện quáilạ hay sao? Lại nh khách chơi bề theo chim âu Đinh Lệch Uy cỡi hạc, giócủa Liệt tử, bè của Trơng Kiên, không phải là chuyện dị thờng hay sao? Nàonuốt trứng chim huyền điểu rồi sinh ra ông tổ nhà Thơng, nào ớm chân vàovết chân lớn rồi sinh ra ông tổ nhà Chu, nằm mộng thấy đi lại với thần nhânrồi sinh ra ông tổ nhà họ Hán, những truyện ấy khồng phải là thần kỳ cả sao?

Những truyện ta chép ra nh “Duyên lạ nớc hoa”, “Truyện lạ nhà thuyền chài” Đều là những truyện có kê cứu, không giống với những loại truyện tề

hài Những ngời chấp nhất cho những truyện ấy là có việc mà không có lý,hoặc có lý mà không có việc Đó chỉ là kiến thức của bọn ngồi đáy giếng,không đủ bàn đến những sự vật trong bầu trời rộng lớn” [68,7]

Trong truyện truyền kỳ h cấu đóng vai trò quan trọng, tác giả sử dụng phổ

biến yếu tố kỳ và thờng kết hợp nhiều thể loại Theo ba tiêu chí đó trong Thánh Tông di thảo có 13 truyện đích thực là truyện truyền kỳ:

Trang 8

1 Truyện yêu nữ Châu Mai.

2 Hai Phật cãi nhau.

3 Truyện hai gái thần.

4 Duyên lạ nớc hoa

5 Truyện lạ nhà thuyền chài.

6 Hai thần hiếu đễ.

7 Truyện chồng dê.

8 Ngời trần ở thuỷ phủ.

9 Gặp tiên ở hồ Lãng Bạc.

10 Bài ký một giấc mộng.

11 Phụ lục - Truyện con tằm vàng

12 Truyện tinh chuột.

13 Một dòng chữ lấy đợc gái thần.

3 Mục đích nghiên cứu

3.1 Chỉ ra những đặc điểm của truyện dân gian đợc bảo lu trong Thánh Tông

di thảo (nhất là ở các truyện mà theo một số nhà nghiên cứu, cha phải là

truyện truyền kỳ đích thực) ở các phơng diện: nghệ thuật tự sự, việc thể hiệnphẩm chất và số phận nhân vật

3.2 Nhận thức những đặc trng của truyện truyền kỳ ở Thánh Tông di thảo,

chủ yếu là các phơng diện: sử dụng yếu tố kỳ, nghệ thuật biểu hiện tâm trạngnhân vật, sự dung hợp thể loại

3.3 Lý giải và đánh giá sự tích hợp những giá trị thuộc hai hệ thống văn họctrong một tác phẩm văn chơng Việt Nam thời trung đại

4 giới hạn nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các phơng diện nghệ thuật tự sự, phơng thức thể

hiện nhân vật, yếu tố kỳ, sự dung hợp thể loại của Thánh Tông di thảo từ hệ

quy chiếu cổ tích thần kỳ và truyện truyền kỳ

Trang 9

Chơng 4: Sự dung hợp thể loại trong Thánh Tông di thảo

Chơng 1

Nghệ thuật tự sự của Thánh Tông di thảo

1.1 Cấu trúc tuyến tính trong tự sự

1.1.1 Khái niệm cấu trúc tuyến tính

Thánh Tông di thảo là một tác phẩm văn xuôi trung đại ở loại tác

phẩm này, cấu trúc tự sự chủ yếu theo tuyến tính

Văn xuôi tự sự Việt Nam những thế kỷ đầu chịu ảnh hởng lớn của tự sựdân gian và sử ký, bởi vậy chủ yếu có cấu trúc tuyến tính Chúng ta tập trung

nghiên cứu đặc điểm này ở Thánh Tông di thảo.

Cấu trúc tuyến tính là cách tổ chức, sắp xếp các chi tiết, sự kiện theotrục thời gian, không gian xuôi chiều, liên tiếp

Thời gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của hình tợng nghệ thuật, thểhiện tính chỉnh thể của nó Thời gian nghệ thuật có nguồn gốc từ thế giớikhách quan, khi trở thành hình tợng thời gian trong nghệ thuật thì thời gian vật

lý trải qua độ khúc xạ lớn Thời gian nghệ thuật đợc đo bằng nhiều thớc đo,bằng sự lặp lại các hiện tợng trong đời sống Các thời đại văn học khác nhau,thể loại văn học, các tác giả có quan niệm về thời gian nghệ thuật khác nhau.Tác giả văn học trung đại thờng thể hiện thời gian theo trật tự xuôi chiều(tuyến tính)

Không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tợng nghệ thuật,thể hiện tính chỉnh thể của nó Không gian trong thế giới khách quan là khônggian địa lý đợc đo bằng số đo chính xác, không gian nghệ thuật cũng cónguồn gốc từ không gian thế giới khách quan Không gian nghệ thuật làkhông gian mang tính thẩm mỹ, tái hiện đời sống Không gian nghệ thuật làthế giới tinh thần có cách biểu hiện riêng và ý nghĩa riêng Cũng nh thời gian

Trang 10

nghệ thuật, không gian nghệ thuật chịu ảnh hởng của quan niệm từng thời kỳnên ở từng thể loại khác nhau.

Không gian và thời gian là hai chiều tồn tại của hình tợng góp phần thểhiện quan niệm nghệ thuật về con ngời và cuộc đời của nhà văn Cấu trúctuyến tính hớng ngời đọc hiểu cách thể hiện không gian và thời gian trong tácphẩm

1.1.2 Mô hình cấu trúc tuyến tính phổ biến trong Thánh Tông di thảo

Có ba mô hình cấu trúc tuyến tính phổ biến:

Qúa khứ - hiện tại - tơng lai Mô hình này phổ biến trong văn học dângian, văn học trung đại

Mô hình cấu trúc theo hiện tại - quá khứ chủ yếu có trong văn học trung

đại ví dụ trong thơ của Bà Huyện Thanh Quan

Mô hình hiện tại - tơng lai xuất hiện trong thơ mới rất phổ biến

1.1.3 Sự tơng đồng và khác biệt với cấu trúc tuyến tính trong cổ tích thần kỳ

Điểm tơng đồng và khác biệt về cấu trúc tuyến tính của Thánh Tông di thảo và truyện cổ tích thần kỳ đợc thể hiện rõ qua diễn biến về thời gian và

không gian trong tác phẩm

Thánh Tông di thảo chịu ảnh hởng rất rõ của truyện dân gian, trực tiếp

nhất là truyện cổ tích thần kỳ nên nhiều điểm tơng đồng trong cách xử lý thờigian và không gian của truyện

1.1.3.1 Sự tơng đồng

Trong Thánh Tông di thảo và trong truyện cổ tích lối kết cấu theo trật tự

thời gian xuôi chiều là chủ yếu Trong truyện cổ tích thần kỳ trình tự thời gian

đợc tuân thủ chặt chẽ, ví dụ trong truyện Cây tre trăm đốt:

“Anh lực điền làm đầy tớ cho nhà giàu, anh siêng năng nên đợc phú ônghứa sẽ gả con gái cho Anh tin lời phú ông nên làm rất chăm chỉ Sau ba nămanh cũng không thấy ông nhà giàu nói gì đến việc gả con gái cho mình mà lạigả cho con nhà phú ông khác giàu có Anh rất buồn và hỏi phú ông thì đợccâu trả lời là hãy đi kiếm cây tre trăm đốt về ta sẽ gả con gái cho Anh lênrừng đi kiếm mãi vẫn không có, sau đó gặp ông lão và đợc cho câu thần chú.Khắc nhập! khắc nhập! Anh đã chặt trăm khúc tre về và làm nh lời dặn và anh

đã lấy đợc con gái phú ông, sống hạnh phúc”

Truyện Hoá thành dê cũng có kết cấu trật tự thời gian tơng tự: “Nhà nọ

sinh đợc ba cô gái, ba cô lại đòi hỏi cao nên nhà giàu không chịu nổi, nhà

Trang 11

nghèo cũng không dám trèo Trong làng có ngời đàn bà sinh đợc đứa con là dê,

dê lớn lên và bà mẹ nghĩ nên lấy vợ cho con Bà đi hỏi và cô út đồng ý lấy dê Họsống hạnh phúc còn hai cô chị ghen với hạnh phúc của hai em nên đi tìm dê lấylàm chồng nhng không đợc nh ý”

Truyện chồng dê trong Thánh Tông di thảo cũng sắp xếp theo trật tự

thời gian nh thế: “Sau khi mẹ mất cô đã lo ma chay rồi hơng khói cho mẹ rấtchu đáo trong suốt ba năm, nên cô không muốn kết duyên cùng ai Khi hếttang mẹ cô buồn rầu khi nghĩ phận gái rồi cũng phải theo chồng, lúc đó ai sẽ

là ngời thờ phụng mẹ Sau đó gặp chàng dề, cô đồng ý kết duyên, trải qua khókhăn và họ đợc hạnh phúc”

Truyện Tinh chuột cũng có kết cấu thời gian theo trật tự xuôi chiều nh

trong truyện cổ tích thần kỳ: “Sau khi lấy vợ anh quyết định đi học để lậpthân Trong lúc anh đi học thì đã có con chuột già thành tinh biến hoá thànhanh và lẻn vào phòng của vợ anh mỗi khi đêm xuống Đợc một thời gian ông

bố mới thấy con dâu có nhiều biểu hiện khác lạ thì ông đã quyết định gọi contrai về Xa cách lâu ngày nên anh rất mong gặp vợ và thể hiện nỗi nhớ thơngqua các bài thơ rất nho nhã, tế nhị nhng nói mãi vợ cũng không hiểu vì vợ chorằng ngày nào cũng gặp mà anh nói những lời văn hoa đó đâm thừa Sau đóphát hiện ra có con chuột thành tinh đã biến hoá thành anh và gây ra sự việc.Nhờ sự giúp đỡ của tác giả và thần linh thì họ đã phá đợc án ma, vợ chồng anhlại sống hạnh phúc”

ở truyện Hai Phật cãi nhau, câu chuyện đợc thuật lại với thời gian tuânthủ trật tự trớc sau: “Ngày hai bảy tháng tám nớc rút Ta đi thuyền xem xét nơinào bị thiệt hại thì chẩn cấp cho dân Buổi chiều, đến bến đò Văn Giang Tabuộc thuyền rồi nằm ngủ Đến canh ba, bốn bên im lặng nh tờ Ta đẩy cửatrông vào ”

Hầu hết trong các truyện khác thời gian, đều đợc thể hiện theo trật tự

xuôi chiều, điều này cũng thấy trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ Thời

gian của truyện đều không có sự xáo trộn, hay xen kẽ hiện tại, quá khứ, tơnglai Các sự việc đợc kể liên tiếp nhau theo dòng thời gian Thời gian của

chuyện trùng với thời gian trong truyện, ở Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục đều theo thời gian tuyến tính Điều này bị chi phối bởi nguyên tắc

cảm thụ thế giới và t duy nghệ thuật cha phong phú của thời trung đại

Trang 12

Thời gian đợc tổ chức theo trật tự xuôi chiều làm cho cốt truyện đơngiản hơn, nội tâm nhân vật cũng đơn giản và mờ nhạt.

Thời gian trong Thánh Tông di thảo còn tơng đồng với, thời gian trong

truyện cổ tích thần kỳ ở chỗ hay sử dụng thời gian quá khứ Đây là mô hìnhcấu trúc phổ biến của văn học trung đại và văn học dân gian

Truyện cổ tích thần kỳ luôn dẫn ngời nghe về quá khứ xa xôi Thánh Tông di thảo cũng đa ngời đọc vào quá khứ Đó là những năm mà tác giả trải

qua và chứng kiến các sự kiện đợc kể lại Hầu hết các truyện truyền kỳ trong

Thánh Tông di thảo nhìn đơn thuần từ kết cấu thời gian khá giống với truyện

cổ tích thần kỳ, nhng khi đi vào lời đối thoại hay các sự kiện sẽ thấy thời giankhông hoàn toàn nh vậy

Hai thể loại này cũng có sự tơng đồng về không gian nghệ thuật kỳ ảo.Không gian kỳ ảo là không gian thợng giới, không gian âm phủ, không gianthuỷ phủ Tác giả đã h cấu nên không gian thuỷ phủ đầy kỳ ảo trong truyện

Ngời trần ở thuỷ phủ Có anh học trò nghèo ở miền núi Vũ Ninh, rất giỏi văn

thơ, sống dựa vào bút nghiên Đi thăm nhà bạn ở làng Phơng-xá, huyện minh, rợu say anh ta đã nằm ngủ ở ngay cầu Ninh Chúc sông Hát Giang, đã bịbọn quỷ bắt đa xuống thuỷ phủ Nơi đây: “chung quanh nhà tranh, trong cólâu đài lộng lẫy ”

Sơn-ở đây anh ta đợc gặp ông tam đại của mình Sống Sơn-ở thế giới khác lạ đónhng những sinh hoạt của anh ta vẫn diễn ra bình thờng, lấy vợ và sinh đợc haicon Khi thuỷ phủ gặp cơn tai biến, anh ta dùng các vị thuốc của ngời trần đểchống độc cho dòng nớc ít lâu sau anh học trò trở về dơng gian Anh họchành tấn tới nên, thi đỗ đợc làm quan nhng vẫn không quên lời ông dặn: “Khítiết của ta cũng trờng thọ với trời đất giang sơn này Nhng cháu đã có lòngthành thì ta cũng bảo cho cháu biết cách bến sông này năm mơi bớc, ở gốcbên tả con thổ tinh, cỏ tốt hoa nhiều, bên dới là hài cốt ta đó Bao giờ cháutrên dới bốn mơi tuổi thì cho cháu lập một ngôi đền nhỏ ở bến đò đằng trớc

mộ Hai cột gian giữa viết một đôi câu đối:

“Việc trớc không bàn, tâm địa sạch trong nh nớc lã”

ở thế giới thuỷ phủ đó chàng th sinh nghèo này đã có những thứ mà ởcuộc sống trần thế không có Chí ít, không đói khát và cô độc, đợc hởngnhững quyền cao hơn vì là cháu quan rằng những ngời có tài, hiền lành sẽ đợchởng thụ xứng đáng

Trang 13

Chàng Chu sinh trong truyện Duyên lạ nớc hoa lạc vào không gian

hoành tráng, lộng lẫy của đất nớc loài bớm ở đó anh ta có mọi thứ mà ở cuộcsống trần gian không có Không gian kỳ ảo có quan hệ mật thiết với thế giớithực của nhân vật Hai cuộc sống, hai không gian đôi khi là một, chỉ có điềukhông xảy ra đồng thời và không phải ai cũng chứng kiến đợc Không gian kỳ

ảo tạo nên nghệ thuật đẹp và nội dung phong phú, sâu sắc hơn Không gian kỳ

ảo trong Thánh Tông di thảo còn đợc tạo nên từ chính không gian trần thế,

nh-ng đợc Lê Thánh Tônh-ng miêu tả rất tài tình Ví dụ khônh-ng gian tronh-ng nh-ngôi chùa

ở bến Văn giang trong truyện Hai Phật cãi nhau

Khi trú ma gió ở bến đò để nghỉ ngơi, vào canh ba, canh bốn, Lê ThánhTông bỗng nghe đợc trong chùa có tiếng động lạ nên đã lén đẩy cửa ngó vào,cuộc trò chuyện của tợng Phật bằng gỗ và tợng Phật bằng đất Không gian đócũng chính là nơi để tác giả chuyển tải những t tởng, thái độ của mình đối vớitín ngỡng nhà Phật Tác giả bộc lộ thái độ chê bai bằng câu nói của Phật ThíchCa:

“Chao ôi! Hai ngời đều có lỗi cả! Trong khi nớc lớn mênh mông, cácngơi đã không biết vận ngũ thông, dùng lục trí, thét lui muôn dòng nớc vềbiển Đông Mà chỉ biết giữ cái hình hài bằng gỗ đất, ngồi hởng rợu thịt củadân chúng, nh thế đã không biết xấu hổ lại còn đấu khẩu với nhau, không sợvách có tai ”

Không gian kỳ ảo tạo điều kiện cho tác giả bộc lộ những nghĩ suy củamình thoải mái, điều mà ở hoàn cảnh thực cha hẳn đã nói ra đợc Không gian

kỳ ảo trong Thánh Tông di thảo là để nhân vật và tác giả bộc lộ những ớc mơ,

t tởng của mình

Trong truyện cổ tích thần kỳ, không gian kỳ ảo để thực hiện mơ ớc củangời xa Đó là nơi ngời nghèo khổ đợc tôn trọng, đợc sống hạnh phúc trongngọc ngà châu báu, con cháu đề huề Là nơi cái ác phải trả giá đích đáng Thếgiới đó hoàn toàn khác lạ so với trần thế Đó là thế giới của ớc mơ của sự côngbằng sung sớng, nhân vật có thể thoả nguyện mọi ớc mơ của mình trong thếgiới cổ tích

Tác giả dân gian cũng cho rằng thế giới thần tiên đó dù đẹp đẽ đến đâu,

dù hạnh phúc sung sớng đến thế nào đi nữa thì đó cũng chỉ là ớc mơ, khátvọng Các nhân vật trong truyện cổ tích thần kỳ luôn hớng mình về thế giớihiện tại, ở đó có hạnh phúc đích thực của con ngời Nhng nếu thiếu thế giới

Trang 14

không gian tráng lệ với những ngôi nhà nguy nga đầy châu báu, vờn hoa quảtrĩu nặng có thể ăn thoả thích thì không còn truyện cổ tích nữa

Truyện cổ tích cũng nh truyện truyền kỳ không thể thiếu thế giới kỳ ảo,

đó là đặc trng, là thuộc tính thẩm mỹ của hai thể loại, là không gian là miền

đất để các tác giả tha hồ h cấu

Không gian trong Thánh Tông di thảo và trong truyện cổ tích đều có

ranh giới rất mờ nhạt giữa thực và ảo Các mô típ xuất hiện trong truyện cổtích thần kỳ rất gần gũi với miền quê Việt Nam nh hình ảnh cây đa, miếu, cây

tre, cái rìu, con trâu (trong các truyện Cây tre trăm đốt, Hoá thành dê, Chàng đốn củi, Chim đa đa ).

Trong Thánh Tông di thảo, không gian sông nớc, thuỷ phủ, núi cũng

đợc thể hiện nhiều nh: Truyện lạ nhà thuyền chài, Truyện ngời trần ở thuỷ phủ, Truyện hai Phật cãi nhau, Ngọc nữ về tay chân chủ, Một dòng chữ lấy đ-

ợc gái thần

Sự mờ nhạt về ranh giới giữa không gian thực và siêu thực khiến cho thầnlinh, ma quỷ và ngời bình thờng gặp nhau rất dễ Ngời bình thờng có thể gặp ng-

ời ở cõi âm và đợc họ đa vào thế giới kỳ ảo chính tại thế giới thực Không gian ấy

đặc biệt ở chỗ nó tồn tại khi cuộc gặp gỡ giữa ngời - ma quỷ - thần tiên diễn ra,

và biến mất khi trần và âm kết thúc trò chuyện

Trong truyện cổ tích thần kỳ, dờng nh ranh giới giữa ngời và lực lợngthần kỳ không có hoặc rất mờ nhạt Trong thế giới quan thời trung đại, có haithế giới song hành, xâm nhập vào nhau

1.1.3.2 Nguyên nhân của sự tơng đồng

Văn học dân gian có ảnh hởng đối với văn học viết Thánh Tông di thảo

không phải là tác phẩm ghi chép, mà là tác phẩm đợc Lê Thánh Tông sángtác, Lê Thánh Tông là một vị vua có tài năng và uy quyền tuyệt đối nên nhiềutác phẩm văn chơng của ông cũng thể hiện cái uy lực của đấng minh quân Sửdụng không gian kỳ ảo là phơng tiện hữu hiệu để các tác giả bộc lộ gửi gắm, ttởng tình cảm của mình

1.1.3.3 Sự khác biệt

Truyện cổ tích thần kỳ và Thánh Tông di thảo là hai loại tác phẩm, thuộc

hai hệ thống văn học nên phơng thức thể hiện thời gian, không gian ở chúng cónhững đặc điểm là điều hiển nhiên Điều này do nhiều nguyên nhân thuộc văn

Trang 15

học (phơng thức nguồn gốc, tác giả, ngời thởng thức ) là những nguyên nhânphi văn học.

Thời gian và không gian trong truyện Thánh Tông di thảo xác định hơn so

với không gian phiếm chỉ trong truyện cổ tích thần kỳ

Truyện cổ tích thần kỳ đều bắt đầu với sự hồi tởng về thời gian xa xôi

“ngày xửa ngày xa, thời xa xa, hoặc ngày ấy không biết tự bao giờ ”, vớikhông gian phiếm chỉ ở “có gia đình nhà nọ, xa có một gia đình nhà giàu nọ

Trong khi đó, hầu hết các truyện trong Thánh Tông di thảo đều có thông

tin triều đại, năm và địa điểm cụ thể Đây cũng là yếu tố tạo nên tính phi

tuyến tính của truyện Trong truyện Yêu nữ Châu Mai tác giả viết: “Cuối niên

hiệu Nguyên phong đời nhà trần ở Châu mai có một nữ yêu tinh biến hiện

nhiều hình quái gở” Truyện Hai Phật cãi nhau cho biết: “Năm quý tỵ lụt to

Buổi chiều đến bến đò Văn Giang gió ma mờ mịt”

Duyên lạ nớc hoa, Truyện chồng dê tác giả đều cho biết thời gian và

địa điểm xảy ra câu chuyện Một số truyện còn gắn với các sự kiện lịch sử

(Hai gái thần, Hai thần hiếu đễ ) nên thời gian và không gian càng xác thực hơn Trong Thánh Tông di thảo thời gian và không gian còn đợc gắn với diễn biến và hành động của các nhân vật Chu sinh trong truyện Duyên lạ nớc hoa

nằm ngủ mơ, lạc vào thế giới Hoa quốc trong căn nhà cũ nát mà bố mẹ để lại.Thời gian đợc ghi rõ qua cuộc trò chuyện của các nhân vật

Hoặc trong truyện Ngời trần ở thuỷ phủ, tác giả cho biết thời gian và

không gian khi chàng học trò nghèo bớc vào thế giới kỳ ảo: “Năm thứ 31, sauthời bình Ngô mùa hạ tháng sáu, anh đi thăm bạn ở Phơng xá huyện Sơn ninh.Rợu say, đêm ra về qua cầu Ninh chúc sông Hát giang, thấy gió mát ngả mìnhxuống ván cầu nằm ngủ”

Trong truyện cổ tích thần kỳ, không gian trần thế là chủ yếu, vì thế mà

ta luôn bắt gặp khung cảnh của làng quê Việt Nam Đó là cảnh ruộng đồng,rừng tre trúc, bến nớc

Không gian trong Thánh Tông di thảo là không gian h cấu mang màu

sắc sáng tạo cá nhân

Không gian mở ra qua hành trình số phận của các nhân vật Trong

truyện Tinh chuột không gian lúc đầu bó hẹp qua các lần con chuột thành tinh

biến dạng và lẻn vào phòng của vợ anh học trò Không gian đợc mở rộng qua

Trang 16

sự việc xử án vì cần có sự giúp đỡ của thần linh Không gian đợc mở rộng lên

tận triều đình Hình thức biến hoá trong chuyện Tinh chuột đóng vai trò quan

trọng để mở ra không gian h cấu Không gian còn đợc mở ra qua hình thức đi

vào cõi lạ nh trong Truyện lạ nhà thuyền chài, Duyên lạ nớc hoa

Thánh Tông di thảo là tác phẩm văn học trung đại nên việc thời gian,

không gian ở đó rất cụ thể, xác thực, phù hợp với phơng thức tồn tại củatruyện bằng chữ viết, với tác giả và độc giả khác

Thánh Tông di thảo, các tác phẩm hầu hết do Lê Thánh Tông sáng tác,

thuộc văn học trung đại nên quan điểm thẩm mỹ cũng khác Yếu tố này quyết

định cách viết, với cái nhìn mang tính cá nhân Thời gian, không gian xác địnhlàm cho ngời đọc tin vào câu chuyện đồng thời phản ánh thực tại

Trang 17

1.2 Cấu trúc phi tuyến tính

1.2.1 Cấu trúc phi tuyến tính ở Thánh Tông di thảo

Cấu trúc phi tuyến tính là kiểu tổ chức tác phẩm không lấy trình tự thời

gian làm trục tổ chức tác phẩm Thánh Tông di thảo không miêu tả thời gian

theo một trật tự nh trong truyện cổ tích thần kỳ mà biến hoá phong phú phứctạp hơn Điều này làm cho các yếu tố khác của truyện nh nhân vật, cốt truyện,nghệ thuật h cấu trở nên độc đáo, cụ thể hơn, tạo ra nét khác biệt rõ rệt so vớicấu trúc của truyện cổ tích thần kỳ

Trong Thánh Tông di thảo, diễn biến thời gian phức tạp hơn nhiều so

với trong truyện cổ tích thần kỳ, tác giả không biến chuyển về tâm lý của nhânvật trong đan xen giữa hiện tại và quá khứ

Trong truyện của Lê Thánh Tông thời gian, xác định, cũng là thờigian trong quá khứ nhng không bị đẩy về xa xăm nh trong truyện cổ tích

Lê Thánh Tông đã giới thiệu thời gian ngay ở đầu truyện là vào triều đại

nào, năm nào ví dụ trong truyện Hai gái thần: “Hồi ấy là năm thứ t niên hiệu Thuận Thiên” Trong truyện Yêu nữ Châu Mai: “Cuối niên hiệu

Nguyên phong đời nhà Trần, ở Châu Mai có một nữ yêu tinh biến nhiềuhình quái gở”

Trong hai loại tính năng phơng thức thể hiện thời gian khác nhau, mangmục đích khác nhau Truyện cổ tích sử dụng không gian quá khứ để hớng ngời

đọc về nơi xa xôi, trong đó có những ớc mơ đựơc sống hạnh phúc, cái thiện

luôn thắng cái ác, thì thời gian trong Thánh Tông di thảo lại hớng ngời đọc về

thực tại, để phản ánh cuộc sống hiện thời

Trong truyện Duyên lạ nớc hoa, tiến trình thời gian có sự đan xen của

thời gian thực tại và thời gian của giấc mơ Thời gian cõi trần đợc sắp đặt theonhững giấc mơ khi Chu sinh về thế giới của loài bớm Giấc mơ là cầu nối gữathế giới thực và h, những diễn biến của thế giới h quyết định những hành động

ở thể giới thực Tơng lai của Chu sinh đợc quyết định bởi những diễn biến của

đất nớc hoa quốc, hành động của Chu sinh luôn đợc mách bảo trứơc Ví dụ:

“Mộng Trang vội nâng dậy:

Trớc tạm chia ly sau lại hợp, đó là lẽ thờng trong đời Thiếp lo chochàng cô đơn lạnh lẽo, đã cho Đồng Nhân đi theo hầu hạ, sao phải oán hậnquá nh thế? Đêm qua nghe Quốc mẫu hạ lệnh khởi hành, thiếp trằn trọc thâucanh Của riêng thiếp có một lá ngọc mềm, thiếp đã đề một bài thơ tỏ ý Gìơ

Trang 18

xin tặng lang quân Lang quân luôn đeo trong mình thì cũng nh có thiếp ởluôn bên cạnh ”

Sau khi trở về với chú, Chu sinh đã nghe chú kể về ngời con gái ngồikhóc bên đờng họ Đồng tên Nhân, hợp với lời dặn của Mộng Trang nên đã lấycô ta về làm thiếp

Trong truyện Hai thần hiếu đễ, tơng lai đợc biết trớc qua lần gặp gỡ

tình cờ và trò chuyện giữa Nguyễn Tử Khanh và anh trai đã mất:

“Mời năm sau tháng giêng đúng ngày thợng nguyên Hai miếu thờ đốinhau, thì giờ đi lại chuyện trò còn nhiều

Đoạn bảo quân hầu lánh ra ngoài, cởi cẩm nang lấy ra hai phong th traocho Tử Khanh, dặn rằng:

- Cung mệnh em vất vả, anh cũng không làm thế nào đợc Ba tháng nay,hết sức mu toan, chỉ có thể giúp cho con và cháu thành danh thôi Hai phong

th này em nên giẫu kỹ Đợi đến ba ngày trớc khi vào trờng thi, xem chữ ghi ởtrên, bắt con và cháu học thuộc và có thể đỗ nhỏ đấy Luật trời rất nghiêm,nếu để lộ cho ngời ngoài biết, thì hai bên đều tội nặng”

Và tơng lai đã diễn ra nh đúng lời anh đã dặn trớc:

“ đến khi kỳ thi nhất nhất làm theo lời đã dặn Qủa nhiên khoa ấy concháu đều đỗ tú tài Gia t cũng trở nên giàu có Đúng mời năm sau vào hôm trớcngày thợng nguyên, mới họp con cháu nói rõ việc ấy Nói xong thì tắt nghỉ”

Thời gian của tơng lai đợc báo trớc đó tạo sự hấp dẫn đồng thời cũnglàm cho cốt truyện trở nên phức tạp Sự đan xen thời gian hiện tại, quá khứ, t -

ơng lai này không có trong truyện cổ tích Việc thể hiện thời gian đa chiềunày cũng thể hiện tài năng sáng tạo của tác giả

Việc sử dụng thời gian đa chiều hầu nh có trong tất cả các truyện:

Truyện tinh chuột, truyện chồng dê, Truyện yêu nữ Châu Mai, Truyện hai gái thần

Nhân vật trong truyện truyền kỳ có thể tồn tại ở cả thế giới thực và h,

điều này nó làm cho thời gian và không gian trong truyện trở nên phức tạp và

phá vỡ tuyến tính nh trong truyện cổ tích thần kỳ.Ví dụ trong truyện Hai Phật cãi nhau tác giả đã sáng tạo ra một không gian rộng lớn và đầy những đe doạ

của trận lụt, không gian đợc xác định:

Trang 19

“Ta đi thuyền xem xét nơi nào bị thiệt hại thì khẩn chấp cho dân Buổichiều đến bến đò Vân giang gió ma mờ mịt” Sự việc kỳ ảo diễn ra tại bến đòVân giang

Trong truyện Ngọc nữ về tay chân chủ, không gian rộng lớn vì có sự

xuất hiện của cả Sơn thần và Thuỷ thần, bao gồm cả núi sông của đất trời.Không gian cuộc thi tài đợc chỉ rõ là trớc sân rồng Nhng khi cuộc thi diễn rathì Sơn thần đã mở rộng không gian đến vô tận Thuỷ thần “biến vạn ngõ,ngàn cửa biến thành biển Nớc bạc vỗ trời, sóng to xoáy đất ”

Trong truyện Duyên lạ nớc hoa, không gian h cấu bắt đầu từ giấc mơ

của Chu sinh ở căn nhà nát của cha mẹ để lại thuộc động Sơn la, tỉnh Hng hoá.Không gian thực tại là căn nhà nhỏ cũ nát nhng mở ra cả vơng quốc của thếgiới loài bớm Không gian thực tại và h ảo đợc liên kết với nhau qua giấc mơcủa Chu sinh Chu sinh đợc no đủ khi ở trong không gian h ảo và điều này tiếpdiễn ở không gian thực tại, còn quyền lực và vợ con có trớc ở không gian h ảosau đó mới diễn ra ở thực tại

Nh vậy hai không gian trong truyện liên hệ mật thiết với nhau nên nhânvật trong tác phẩm của Lê Thánh Tông có khả năng sống ở cả hai thế giới,

điều này tạo nên tính phức tạp đa dạng cho cốt truyện, số phận nhân vật cũngkhông đơn giản nh trong truyện cổ tích nữa

1.2.2 Lý giải sự khác biệt với cấu trúc phi tuyến tính ở cổ tích thần kỳ

Làm nên sự khác biệt về thời gian nghệ thuật trong Thánh Tông di thảo

và trong truyện cổ tích thần kỳ là do phơng thức sáng tác của hai loại truyện

Thánh Tông di thảo đợc sáng tác theo phơng thức văn xuôi tự sự trung

đại, tồn tại trên văn bản, hơn nữa nhu cầu thẩm mỹ của độc giả cũng cao hơntrớc vì thế nó đòi hỏi cốt truyện diễn biễn phức tạp hơn, thời gian đa chiềuhơn

Truyện cổ tích thần kỳ là truyền miệng nên cốt truỵên phải sơ lợc, đơngiản, tình tiết gọn nhẹ và thời gian tuyến tính mới dễ lu truyền và tiếp nhận.Các chi tiết rờm rà bị lợc bỏ qua các lần kể

Thánh Tông di thảo và cổ tích thần kỳ là hai thể loại nên mang quan

điểm thẩm mỹ khác nhau Nhân vật trong truyện cổ tích chủ yếu là nhân vậtphiếm chỉ (đây là đặc điểm chung của truyện cổ tích thế giới), thời gian cũngthờng không xác định (ngày xửa ngày xa đã lâu lắm rồi ) đa ngời đọc vàotrong “trờng cổ tích”

Trang 20

Đặc trng của truyện truyền kỳ là sử dụng các yếu tố ly kỳ, h ảo nên tácgiả đã vận dụng tối đa thời gian ban đêm làm cho màu sắc kỳ ảo thêm đậm nét,

ví dụ trong truyện Hai Phật cãi nhau, tác giả đã h cấu thời gian ban đêm:

“Ngày hai mơi bảy tháng tám, nớc rút Ta đi thuyền xem xét nơi nào bịthiệt hại thì chẩn cấp cho dân Buổi chiều, đến bến đò Văn Giang, gió ma mờmịt Ta cho buộc thuyền trớc chùa rồi nằm ngủ Đến canh ba, bốn bên im lặng

nh tờ, ta bỗng nghe trong chùa có tiếng nói xì xào, lúc bấy giờ quan hầu đềungủ say Ta lén đi lên bờ tựa cửa chùa dòm trộm ”

Thời gian và nhân vật của nhiều truỵên cổ tích có tính phiếm chỉ cũngkéo theo không gian của truyện không xác thực Ngời kể và ngời nghe truyện

cổ tích nh thoát khỏi không gian thực tại để đi vào không gian cổ tích đầy sự

mơ hồ Đó là thế giới riêng của truyện cổ tích trong Thánh Tông di thảo,

không gian trong truyện luôn đợc xác định đó là không gian của triều đại, của

vị trí địa lý cụ thể nơi xảy ra câu chuyện Thời gian cụ thể cũng là một đặc

điểm của truyện truyền kỳ Không gian nghệ thuật trong Thánh Tông di thảo

mang yếu tố kỳ ảo tạo sự hấp dẫn cho câu chuyện Không gian kỳ ảo đợc thể

hiện thành công qua các truyện Duyên lạ nớc hoa, Truyện lạ nhà thuyền chài, Truyện tinh chuột

Đây là không gian hung tợn trong Truyện lạ nhà thuyền chài: “Mọi

ng-ời cùng ra cổng xem thấy sóng to cuồn cuộn tràn đến Dù có mọc lông mọccánh cũng không bay ra khỏi ngoài nớc đợc”

Điều này làm tăng sự hấp dẫn cho tác phẩm và góp phần thể hiện tàinăng sử dụng yếu tố kỳ nh một phạm trù nghệ thuật trong tác phẩm của LêThánh Tông

Sự độc lập với văn xuôi lịch sử cũng nh việc dần thoát khỏi những ảnhhởng của văn học dân gian đã làm xuất hiện những tự sự thuần tuý văn học

trong Thánh Tông di thảo nh: Duyên lạ nớc hoa, Hai Phật cãi nhau, Thánh Tông di thảo xây dựng đợc các nhân vật h cấu Chính điều này cũng tạo nên

sự phi tuyến tính của tác phẩm vì khi nhân vật đa dạng về nội tâm cần có sựphức tạp của thời gian và không gian

Nghệ thuật thể hiện thời gian và không gian đầy sáng tạo đã đem lại

thành công và sự tồn tại cho tác phẩm Thánh Tông di thảo Nó thực sự mở đầu

cho thể loại truyền kỳ và là cơ sở vững chắc cho các tác phẩm sau này hoànchỉnh hơn

Trang 22

Thánh Tông di thảo trong sự đối sánh với nhân vật của cổ tích thần kỳ (loại

nhân vật chủ yếu cha có tính cách) Chúng tôi chỉ nghiên cứu ở phơng diệnphẩm chất và số phận

Nhân vật của tác phẩm văn học viết, tuỳ thuộc tài năng tác giả, thể loại,thời đại mà tính cách đợc khắc hoạ khác nhau Trong truyện cổ tích thần kỳ,lời đối thoại giữa các nhân vật cha nhiều nên để nhận thức nhân vật chủ yếu

dựa vào hành động của nhân vật Chú bé trong truyện Sự tích cây vú sữa,

nghịch ngợm, trêu chọc mọi ngời không nghe lời mẹ nên trong mắt mọi ngờicậu là đứa bé h Sau lần mẹ ốm cậu bớt nghịch nhng chẳng mấy chốc tính nàotật ấy:

“Một hôm nhân lúc mẹ vắng nhà, cậu rủ bạn bè đến chơi, phá pháchchán trong nhà, ngoài sân, cậu ta trốn mẹ và rừng theo những ngời đốn củi.Thế rồi mải miết trèo cây, hái trái lạ cậu ta đã lạc rất xa” Hành động này càngchứng tỏ cậu là đứa con h, mặc dù mẹ đã thơng yêu cậu hết mực

“Đêm đến cậu phải nhét lỗ tai để khỏi nghe thấy những âm thanh rùngrợn Ban ngày cậu phải lang thang bên bờ suối để bắt những con cua, con tôm

ăn cho đỡ đói Rồi lúc mệt quá cậu nằm vật ra, vớ đợc lá gì ăn lá đó Rồi cho

đến khi ăn phải lá độc, cậu lên cơn đau bụng quằn quại vật vã và ngất đi”

Trải qua những đói khát khó khăn cậu đã trởng thành và đã bắt đầu biếtnghĩ về mẹ Cậu ớc ao có mẹ bên cạnh, mà trớc kia cha khi nào cậu thấy đợcgiá trị của điều đó Cậu cố gợng và tìm đờng để trở về với mẹ, rồi gọi mẹ:

“Mẹ ơi ! con đói quá Con không bỏ Mẹ đi nữa đâu!”

Lúc này ta đã thấy một cậu bé với tính cách hoàn toàn khác, biết ăn năn

và thơng mẹ Hành động sai lầm của cậu không chỉ đơn thuần biểu lộ phẩmchất mà quyết định số phận bất hạnh của cậu

Trang 23

Truyện Bánh chng bánh dầy, diễn tả nhiều hành động của Tiết Liêu:

“Nói rồi bèn theo lời dặn trong mộng mà làm, chọn thứ gạo trắng tinh,lặt lấy những hạt tròn mẩy không bị vỡ, vo cho thật sạch, lấy lá xanh bọc xungquanh thành hình vuông, cho trân cam mỹ vị vào bên trong cho việc đại địa chấtchứa vạn vật rồi nấu chín, gọi là bánh chng Lại lấy gạo nấu chín giã cho nát, nặnthành hình tròn, tợng trng cho trời, gọi là bánh dầy”

Những hành động đó đã làm cho vua cha hiểu và cảm nhận đợc tấmlòng của chàng, vua cha đã quyết định truyền ngôi cho Tiết Liêu Các hành

động đó thể hiện phẩm chất của Tiết Liêu và đã đem đến cho chàng cuộc sốnghạnh phúc

ở các truyện Hòn trống mái, Hai anh em và cục vàng, Dã tràng, Ngời

con út hiếu thảo, Tham vàng bỏ ngãi phẩm chất và số phận của nhân vật đều

đợc quyết định bởi hành động của nó

Trong Thánh Tông di thảo, hành động cũng đóng vai trò quan trọng

trong việc thể hiện phẩm chất và số phận nhân vật Hành động của ngời con

dâu trong Truyện lạ nhà thuyền chài biểu hiện khi bố mẹ chồng và chồng gặp

- Thiếp vốn là nữ học sỹ ở Long cung, cùng chàng gặp gỡ nhữnh hẹntrăm năm Hay đâu vạ từ ngoài đến, nên không lộ bản hình sao giữ đựơc tínhmạng nhà chồng ? Nhng đã làm thiên cơ tiết lộ thì đoàn tụ với nhau là sự rấtkhó Từ nay trở đi thiếp không thể cùng chàng chung mộng đẹp đợc nữa Một lát hoá rồng theo phơng Tây Bắc bay đi ”

Nhng hành động đó cho thấy Ngoạ Vân là cô con dâu hiếu thảo, hy sinhcả hạnh phúc của mình để bảo vệ gia đình nhà chồng, cũng vì thế mà NgoạVân có số phận bất hạnh, phải chia lìa chồng

Trong Truyện chồng dê, ngời con gái thể hiện lòng hiếu thảo của mình

qua hành động:

“Làm ma mẹ xong, mợn tiếng đến nơng nhờ ngời chú họ, kỳ thực làdời đi một nơi xa, khâu vá kiếm ăn Thờng mỗi ngày hai buổi cúng cơm, khóc

Trang 24

lóc rất thảm thiết Tuần trăm ngày cũng thế, ngày giỗ đầu và ngày giỗ hết tangcũng gào khóc nh thế Tiếng khan, ngời gầy ai nghe tiếng hoặc trông thấydáng, đều khen là ngời có hiếu” Ba năm hết tang mẹ, đi tảo mộ mà lòng xótthơng, thầm nghĩ mình đi lấy chồng thì ai sẽ là ngời hơng khói cho mẹ nàng lobuồn trăm ngả, ngậm ngùi không nói lên lời.

Duyên kiếp trời định đa nàng gặp chàng trai đội lốt dê Chàng vốn làngời đánh xe cho ngọc hoàng, chẳng may làm vỡ viên ngọc sa kim nên bị đàyxuống hạ giới nàng còn là ngời rất chung thuỷ nên đã từ bỏ thế giới trần gian

để xum họp với chồng nơi thiên giới

Trong những truyện trên hành động luôn để thể hiện phẩm chất vàquyết định số phận của nhân vật

2.1.1.2 Lý giải sự tơng đồng

Nhân vật của Thánh Tông di thảo gần gũi với nhân vật của truyện cổ

tích thần kỳ vì đây là tác phẩm truyền kỳ đầu tiên của Việt Nam, vì hai loạitác phẩm này đều thực hiện chức năng giáo huấn Xa kia ngời lao động ViệtNam sử dụng truyện cổ tích (trong đó có cổ tích thần kỳ) nh một phơng tiệnhữu hiệu để điều chỉnh hành vi của cá nhân và cộng đồng

Còn ở văn học viết, trong các chức năng của văn học, Nho giáo đề caochức năng giáo huấn, tức là chức năng hớng con ngời đễn những giá trị đạo

đức mà họ mong muốn một cách trực tiếp và u mê Lê Thánh Tông là một vịvua ở thời kỳ cực thịnh của phong kiến Việt Nam nên càng làm g ơng ở mặtnày

2.1.1.3 Sự khác biệt

Thánh Tông di thảo xây dựng nhân vật có tính cách, diễn biến tâm lý

phức tạp hơn, mang nét phức tạp của nhân vật văn học viết

Cách thức xây dựng nhân vật ở 13 truyện truyền kỳ trong Thánh Tông di thảo đều thuộc hai phơng thức xây dựng nhân vật phổ biến của truyện truyền

kỳ, hoặc nhân hoá hoặc thần kỳ hoá Sự nhân hoá thể hiện bằng việc cho cácloại con vật và sự vật nói năng, hành xử nh con ngời, giao thiệp đợc với con

ngời (Hai Phật cãi nhau, Truỵên chồng dê, Truyện tinh chuột ).

Sự thần kỳ hoá thể hiện ở chỗ các nhân vật có thể tiên đoán, có thể biến

hoá hoặc giao tiếp với những loài phi nhân (Truyện yêu nữ Châu Mai, Truyện hai gái thần, Duyên lạ nớc hoa, Hai thần hiếu đễ, Gặp tiên ở hồ Lãng Bạc, Một dòng chữ lấy đợc gái thần ) Thủ pháp này rất phổ biến trong truyện,

Trang 25

làm cho các truyện có thuộc tính của truyện truyền kỳ đích thực “kỳ văn dịsự” (văn lạ việc lạ).

Truyện cổ tích thần kỳ nói riêng và truyện dân gian nói chung cũng thểhiện phơng thức nhân hoá và thần kỳ hóa để xây dựng nhân vật Tuy nhiênngay ở chỗ tơng đồng chúng ta cũng thấy sự khác biệt Truyện dân gian diễntả biến hoá một cách ngắn gọn, ví dụ: “Chẳng bao lâu ở chỗ chôn lông chimmọc lên một cây xoan đào thật đẹp” Hoặc: “Bà cụ vừa đi khỏi nhà, thì một côgái bé tý từ trong quả thị chui ra và chỉ phút chốc cô bé đã trở thành cô Tấmxinh đẹp”

Chuyện dân gian kể hành động một cách ngắn gọn và nêu ngay kết quả

Còn đây là sự biến hoá mà Thánh Tông di thảo diễn tả: “Ngoạ Vân thấy tình

thế nguy bách quá, vội giơ tay bắt quyết, hô to một tiếng: “biến!” Tức thìnàng hoá ra một con cá to dài độ ngàn thớc, mình lớn ớc tới ba mơi quầng,

nằm chắn chỗ ngọn nớc tràn vào” (Truyện lạ nhà thuyền chài).

Chúng ta thấy cả hành động cả kết quả đều đợc tác giả miêu tả cụ thểhơn, sinh động hơn Điều này thích ứng với phơng thức lu truyền bằng văn tự

và đáp ứng thị hiếu của ngời thởng thức có học vấn cao hơn

2.1.1.4 Lý giải sự khác biệt

So với nhân vật truyện cổ tích thần kỳ, nhân vật của Thánh Tông di thảo

đã có những biến đổi về chất do thuộc về văn học viết, với ý thức văn học caohơn, với phơng thức lu truyền khác, kiểu tác giả và ngời đọc đều khác.N.I.Niculin cho rằng một thành tựu của tập sách này là “đã cắt đứt những liên

hệ truyền thống với sử ký và đã xây dựng nên những nhân vật h cấu” Sự khácbiệt này chính là sự sáng tạo trong cách kế thừa trong nghệ thuật xây dựngnhân vật của truyện cổ tích, và nguyên nhân tạo nên khác biệt là: Do phơngthức sáng tác và phơng thức tồn tại của hai loại truyện này khác nhau Truyện

cổ tích tồn tại bằng truyền miệng nên nội dung phải đơn giản để dễ nhớ và dễ

lu hành Hành động nhân vật và cốt truyện đợc lu giữ, còn các yếu tố khác bịthanh lọc Để đảm bảo đợc điều này nhân vật phải đợc xây dựng khái quát nên

cả ngoại hình cả nội tâm nhân vật đợc tỉnh lợc Thánh Tông di thảo thuộc thể

loại truyện truyền kỳ, tác giả có thể tha hồ sáng tạo và ghi lại những điều phứctạp nhất

Ngoài ra còn do phơng tiện tác giả: truyện cổ tích là do tập thể sáng tạonên, là sự kết tinh của cả cộng đồng, mang trong mình nhiều quan điểm đạo

Trang 26

đức, t tởng của cộng đồng Nhân vật dân gian là nhân vật chức năng thực hiệncác hành động theo mục đích sáng tạo “Hạt nhân của truyện nhân vật chứcnăng là vai trò mà chức năng của chúng thực hiện trong truyện và trong côngviệc phản ánh hiện thực Do điểm ấy, mà chúng trở thành cái tợng trng trong

đời sống tinh thần và đợc hình thức hoá trong sáng tác” [14,197] Chẳng hạnnhân vật anh hùng xuất hiện là để tiêu diệt yêu quái giải cứu công chúa, còncông chúa thờng bị nạn và đợc anh hùng giải thoát sau trở thành phần thởngcho anh hùng Ông Bụt là ngời xuất hiện để giúp đỡ, an ủi những ngời tốt bấthạnh Do chức năng đó nên có những nhân vật truyện cổ tích không có têntuổi lai lịch rõ ràng, đợc giới thiệu không cụ thể Nhân vật trong truyện cổ tíchchủ yếu không có đời sống nội tâm mà chỉ hành động Nhân vật cổ tích ít suynghĩ và phát ngôn mà chủ yếu đợc miêu tả thông qua hành động Ngời đời sau

đọc truyện phải thốt lên: “sao mà dại thế” Ngời ta chê con cọp dại để cho

ng-ời trói vào gốc cây, trách cô Tấm cả tin, ngay kẻ lắm mu nh Cám cũng dại,rằng tin tắm nớc sôi sẽ đẹp lên “Dại’’ gần nh là thuộc tính phổ biến của nhânvật truyện cổ” [11,93]

Thánh Tông di thảo đợc sáng tác với t duy nghệ thuật khác Các tác

phẩm của Lê Thánh Tông thể hiện những t tởng Nho giáo, mang tính cá nhân.Tác phẩm đánh dấu sự thành công truyện truyền kỳ, thành công trong việc hcấu rất độc đáo Tuy còn nhiều tranh cãi về vấn đề tác giả của tập tuyện này,nhng không thể phủ nhận những thành công, những điều thú vị, độc đáo màtác phẩm mang lại

Tác phẩm cùng thể loại ra đời sau sẽ chịu ảnh hởng của tác phẩm ra đờitrớc đồng thời tác giả tài năng đời sau sẽ có những sáng tạo không ngừng để

phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ thời đại Tác phẩm Thánh Tông di thảo là tiêu

biểu cho quy luật đó

Con ngời với đời sống nội tâm của nó đã trở thành đối tợng phản ánh

của Thánh Tông di thảo Nhà văn chú ý trớc tiên đến nhân vật của mình không

phải là số phận của nhân vật mà là cái bí ẩn, kỳ lạ trong cuộc đời của họ

Nhân vật trong Thánh Tông di thảo thờng có hành vi bí hiểm (đây là sáng tạo

quan trọng, về mặt nhân vật so với truyện cổ tích), ví dụ nhân vật bà già ăn xin

trong Ngời hành khất giàu, mãi đến khi bà ta chết mọi ngời mới vỡ lẽ là bà ta chôn rất nhiều của cải Cô kỹ nữ trong truyện Yêu nữ Châu Mai cũng là nhân

vật kỳ lạ, không ai biết cô là ai từ đâu phiêu bạt đến lầu xanh, không thể hiểu

Trang 27

nổi những câu hát và tâm trạng của cô Đại đa số nhân vật của Thánh Tông di thảo đã mang tính chất của nhân vật văn học viết trung đại.

2.1.2 Sự tuân thủ những phơng thức của truyện truyền kỳ

Phơng thức thể hiện phẩm chất và số phận nhân vật là con đờng, cáchthức nhà văn tạo nên nhân vật Hoặc thông qua miêu tả nội tâm, hoặc thôngqua việc tạo dựng tình huống để từ đó nhân vật bộc lộ phẩm chất, tính cách, sốphận Nhân vật giữ vai trò quan trọng hàng đầu tạo nên tác phẩm văn học,nên nhà văn rất chú trọng để xây dựng

Truyện truyền kỳ rất chú trọng đến xây dựng phẩm chất và số phậnnhân vật đây là sự khác biệt so với truyện cổ tích Tài năng của tác giả bộc lộ

rõ hơn và thể hiện rõ hơn t tởng tác phẩm Các tác giả, chú trọng đến miêu tả

ngoại hình, tạo tình huống và miêu tả nội tâm của nhân vật Tác phẩm Thánh Tông di thảo của Lê Thánh Tông đã thể hiện sự tuân thủ phơng thức xây dựng

nhân vật qua các khía cạnh: miêu tả ngoại hình, miêu tả nội tâm và đặc biệtbằng yếu tố kỳ ảo

2.1.2.1 Thể hiện phẩm chất và số phận nhân vật qua miêu tả ngoại hình

Lê Thánh Tông rất chú trọng đến việc miêu tả ngoại hình nhân vật để

gây sự chú với ngời đọc Trong truyện Hai gái thần, hai nhân vật nữ đợc tác

giả miêu tả: “Nhìn kỹ hình dung thì thấy một ngời ớc ngoài bốn mơi, tóc xanh

đã điểm sơng trắng, mặt ngọc đã nhạt màu hồng, nhng cái vẻ phơng phi thuỳ

mị còn đủ làm cho thiên hạ siêu lòng Còn cô gái trẻ thì đang tuổi kệp kê, mặthoa da tuyết Thực là:

Triệu Yến cùng xe hờn kém sắc Thôi Oanh đối diện thẹn thua xinh

Tuy ăn mặc mộc mạc, quần nâu áo vải, mà khuôn mặt sáng sủa a nhìn.Nhiều chàng trai ham sắc sinh lòng mơ tởng”

ở truyện Yêu nữ Châu Mai, tác giả cũng rất chú tâm đến miêu tả ngoạihình của yêu nữ: “Khi nó hiện ra đầu ngời to bằng bánh xe, hoặc hai đầu sáumình ai trông thấy cũng phát khiếp Khi nó biến thành gái đẹp, hoặc nhẹ nhPhi Yến, hoặc béo tốt nh Dơng Phi, ai say mê tất phải thiệt mạng Đến nămHồng Đức thứ sáu nó lại hiện thành một ngời con gái đẹp tuyệt trần, trạc mờisáu tuổi, mắt long lanh nh nớc mùa thu, môi đỏ nh son vẽ, tóc mày mặt hoa, c-

ời nói duyên dáng làm cho ngời ta phải động lòng”

2.1.2.2 Thể hiện phẩm chất và số phận nhân vật qua việc miêu tả nội tâm

Trang 28

Nội tâm nhân vật đợc Lê Thánh Tông thể hiện qua đối thoại, và qua sự

dung hợp thể loại, đặc điểm này cũng thấy ở Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn

Dữ sau này Đây là phơng thức cơ bản để thể hiện đợc tính cách, phẩm chấtcủa nhân vật

Truyện chồng dê là một trong những truyện Lê Thánh Tông miêu tả nội

tâm nhân vật rất thành công Ngời con gái trong truyện rất hiếu thảo với mẹ,

đã hơng khói cho mẹ suốt ba năm, xót xa khi mình là phận gái mà đi lấychồng thì ai sẽ thờ phụng mẹ Phẩm chất tốt đẹp của nàng còn đợc thể hiệnbằng tình yêu chung thuỷ với ngời chồng đội lốt dê

Văn xuôi không phải khi nào cũng thể hiện đợc hết nội tâm của con

ng-ời nên nhiều khi các tác phẩm thơ hay phú lại là phơng tiện u thế Trong

Thánh Tông di thảo, tác giả đã sử dụng đặc điểm của truyện truyền kỳ rất

thành công Trong số 13 văn bản truyện truyền kỳ thì có tới 11 văn bản có sử

dụng các bài đoản thi Đặc biệt truyện Ngời trần ở thuỷ phủ có tới 15 đoản thi

và hai bài phú, chiếm khoảng một nửa số dòng của truyện Chúng thể hiệntính cách của nhân vật tinh vi, tế nhị hơn, miêu tả phong cảnh cách ý vị hơn.Dung hợp thể loại đó là đặc điểm và là u thế của truyện truyền kỳ so vớitruyện cổ tích thần kỳ

2.1.2.3 Thể hiện phẩm chất và số phận nhân vật bằng yếu tố kỳ ảo

Kỳ ảo là một phơng diện nghệ thuật có tính đặc thù Theo quan niệmtruyền thống, văn chơng muốn đi xa phải chắp đôi cánh của cái kỳ Nhà vănTrung Quốc Nghê Trác nói: “Vô truyền bất kỳ, vô kỳ bất truyền” Tính chấtkhác lạ của ngời, sự việc, hiện tợng đợc phản ánh là đặc điểm chi phối các đặc

điểm khác Trong truyện truyền kỳ, con ngời có khả năng giao tiếp với thếgiới siêu thực, phổ biến là ma quỷ

Các nhân vật trong Thánh Tông di thảo đều đợc tác giả đặt vào thế giới

kỳ ảo, qua đó phẩm chất và số phận nhân vật bộc lộ rõ hơn Ngoạ Vân trong

Truyện Lạ nhà thuyền chài đợc tác giả thể hiện bằng nhiều yếu tố kỳ lạ Nàng

là nữ học sỹ ở Long cung, gặp chàng Thúc Ng con ông bà thuyền chài và kếtduyên cùng chàng Từ khi Ngoạ Vân về nhà chồng thì kinh tế gia đình đã khágiả, có của ăn của để, nàng sống đúng đạo làm dâu và là ngời vợ hiền Bỗng

đâu tai hoạ ập đến, nớc biển dâng rất to, cây cối đổ xuống làng nớc bị cuốntrôi đi Lúc này tác giả đã sáng tạo ra chi tiết thần kỳ: Ngoạ Vân hô to “biến”lập tức biến thành một con cá to, độ dài ngàn thớc, mình lớn tới khoảng ba

Trang 29

quầng, nằm chán chỗ ngọn nớc tràn vào để bảo vệ gia đình nhà chồng khỏicơn tai hoạ.

Nhờ có Ngoạ Vân mà vợ chồng ông thuyền chài đã thoát khỏi nguy nan.Chi tiết Ngoạ Vân khóc mà từ biệt Thúc Ng và gia đình nhà chồng cũng kỳ ảo.Sau lời hát yêu thơng, Ngoạ Vân đã hoá rồng theo phơng Bắc bay đi Hành

động đó cho thấy phẩm chất tốt đẹp của Ngoạ Vân, đã từ bỏ hạnh phúc riêng

t của mình để cứu gia đình chồng

Trang 30

2.2 Việc thể hiện nội tâm nhân vật

2.2.1 Đối sánh nội tâm nhân vật trong Thánh Tông di thảo với nội tâm nhân vật cổ tích thần kỳ

2.1.1.1 Sự tơng đồng

Nhân vật là yếu tố không thể thiếu trong tác phẩm tự sự, nó là cơ sở tạonên tiếng nói của tác phẩm, nó là nơi để tác giả thể hiện những nội dung màmình muốn gửi đến ngời đọc

Nhân vật là yếu tố cơ bản trong tác phẩm tự sự, tiêu điểm để bộc lộ t ởng chủ đề, đợc các yếu tố hình thức của tác phẩm tập trung khắc hoạ Nhânvật, do đó, là nơi tập trung giá trị t tởng, nghệ thuật của tác phẩm văn học

t-Truyện cổ tích chủ yếu là nhân vật phiếm chỉ hoặc đồ vật, loài vật

Loại nhân vật này cũng có trong Thánh Tông di thảo Sự phiếm chỉ đợc thể

hiện ngay từ đầu tác phẩm, qua tên tuổi, nguồn gốc Nhân vật trong truyện

cổ tích phần lớn họ không có tên, họ là những ngời anh, ngời em (trong

truyện Cây khế, Hà rầm hà rạc), là mụ dì ghẻ (trong truyện Tấm Cám), là

anh chèo thuyền, là quan huyện Hoặc nhân vật là những con vật, loài vậttruyện cổ tích thờng chú trọng hành động Từ những hành động đó có thểbộc lộ đợc nhân vật chính diện, phản diện Hành động chi phối toàn bộ diễnbiến câu chuyện

Trong Thánh Tông di thảo, ngoài một số nhân vật có tên trong các truyện Yêu nữ Châu Mai, Hai thần hiếu đễ, còn đa số là không có tên hoặc

nhân vật là những con vật, loài vật

Cũng nh trong truyện cổ tích thần kỳ, Thánh Tông di thảo chú ý đến việc miêu tả hành động của các nhân vật Trong truyện Hai Phật cãi nhau tác

giả miêu tả cuộc tranh luận của các tợng Phật nhng lại không thể hiện nội tâm

nhân vật Hay trong truyện Duyên lạ nớc hoa, Chu sinh là nhân vật chính

trong truyện nhng ít đợc miêu tả những cảm xúc, suy nghĩ mà chủ yếu là kểlại những diễn biến qua các sự việc ly kỳ diễn ra trong cuộc đời

2.2.1.2 Lý giải sự tơng đồng

Thánh Tông di thảo là tác phẩm đầu tiên mở đầu cho thể loại truyện

truyền kỳ Tác phẩm ra đời sớm nên chịu ảnh hởng lớn của truyện dân gianbởi thế nhân vật trong một số truyện còn đơn giản về nội tâm Trong số 20

truyện của Thánh Tông di thảo chỉ có 13 truyện truyền kỳ Truyện truyền kỳ

Trang 31

của tác giả đã khác biệt rõ rệt so với truyện cổ tích thần kỳ Những truyệnkhông phải truyền kỳ thì tơng đồng về nhiều mặt với truyện cổ tích.

2.2.1.3 Sự khác biệt

Trong Thánh Tông di thảo cuộc sống đợc tái hiện, đợc nhìn nhận bằng con

mắt riêng của tác giả Vì thế mà nội tâm nhân vật đợc thể hiện sâu sắc hơn,nhất là so với truyện cổ tích thần kỳ

Trong truyện Gặp tiên ở hồ Lãng Bạc, tâm trạng của nhân vật và nhà văn đồng nhất ở truyện này, nghệ thuật kể chuyện của tác giả Thánh Tông di thảo còn hớng tới việc miêu tả tâm lý nhân vật Đây là tâm trạng băn khoăn,

xúc động của hoàng tử sau lần giáp mặt với ngời thổi địch - khách tiên:

“Ta ngồi nghĩ: đêm nay có khánh tiết gì mà ngời ấy lại nói nh thế?Hoặc giả nói khác để lấy cớ từ chối chăng? Hay là thần thánh gì đây?”

Kinh rợn lạnh toát cả ngời ta bèn sai tiểu tốt quay thuyền lên bờ về phủnằm nghỉ Nhng nằm không yên giấc, thắp đèn lên ngồi Một mình bângkhuâng nghĩ rằng:

“Tại sao chỉ nửa thuyền trăng tỏ, khúc địch véo von, đã làm cho ta thay

đổi, coi thờng mọi vị trân cam không bằng một bầu mây nớc Nỗi lòng này là

từ do đâu?”

Văn phong mà tác giả khác với truyện kể dân gian Dung lợng tự sựtăng lên rõ rệt và ngòi bút hớng nội, đây là tiền đề cho những truyện ngắn tâm

lý đạt tới đỉnh cao trong văn xuôi của Nguyễn Dữ sau này

Nhân vật trong Thánh Tông di thảo có nhiều yếu tố kỳ lạ Đây là điềutạo nên sự khác biệt so với nội tâm nhân vật trong truyện cổ tích Con ngờitrong truyện truyền kỳ có khả năng sống và giao tiếp với thế giới thần tiên, maquỷ Điều đó tạo nên quan hệ đa dạng phức tạp hơn và vì thế mà tâm lý nhânvật cũng diễn biến với các chiều hớng khác nhau, nội tâm thì phức tạp hơn.Nhân vật trong tác phẩm hầu hết mang màu sắc kỳ lạ, h ảo và Lê Thánh Tôngluôn tạo cho chúng đời sống riêng Lê Thánh Tông đã khắc hoạ những chi tiếtthần kỳ để làm phong phú thêm nội tâm của nhân vật

Ngoạ Vân trong Truyện lạ nhà thuyền chài là một nữ học sĩ ở Long

cung, gặp chàng Thúc Ng con ông thuyền chài và kết duyên vợ chồng NgoạVân rất ngoan hiền, bắt cá giỏi Từ ngày có nàng dâu, gia đình Thúc Ng đã trởnên giàu có chi tiết hấp dẫn và bộc lộ rõ nhất nội tâm, tấm lòng hiếu thảo, th-

ơng chồng của Ngoạ Vân là khi có cơn tai biến xảy ra Yếu tố kỳ ảo xuất hiện

Trang 32

khi Ngoạ Vân biến thành con cá khổng lồ để bảo vệ gia đình nhà chồng và

đau đớn khi phải tiết lộ thiên cơ vì đó cũng là lúc phải từ biệt mọi ngời LêThánh Tông đã khắc hoạ nội tâm nhân vật Ngoạ Vân thành công với sự miêutả đầy xúc động

Nhân vật trong Thánh Tông di thảo thể hiện nội tâm thông qua độc

thoại và đối thoại Điều này đã thể hiện sự khác biệt so với nhân vật trongtruyện cổ tích thần kỳ Hầu hết nhân vật trong các truyện đều thể hiện tính

cách, phẩm chất và những suy nghĩ của mình, cho dù cha sâu sắc nh Truyền

kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ hay với các tác phẩm văn học sau này nhng khác

biệt với truyện cổ tích thần kỳ Nhân vật của Lê Thánh Tông còn đợc thể hiệnnội tâm thông qua những bài thơ Bởi đôi khi văn xuôi không thuận lợi để bộc

lộ tâm trạng của con ngời còn thơ ca, phú lại có u thế Đây là đặc điểm củatruyện truyền kỳ khi thể hiện nội tâm nhân vật

Trang 33

2.2.1.4 Lý giải sự khác biệt

Thánh Tông di thảo là tác phẩm văn học trung đại nhân vật đợc giới

thiệu về ngoại hình, tính cách, phẩm chất để gây ấn tợng ngay từ đầu Nộitâm nhân vật là phơng diện quan trọng mà bất kỳ tác giả nào cũng hớng tới

Lê Thánh Tông đã thể hiện nội tâm nhân vật trong tác phẩm của mình rấtsinh động

2.2.2 Nội tâm nhân vật trong Thánh Tông di thảo nhìn từ đặc điểm của nội tâm nhân vật truyện truyền kỳ

Nhân vật truyện truyền kỳ có diện mạo, đợc tạo nên bằng nhiều phơngthức, có sự kết hợp nhiều thể loại Nhà văn cũng biểu hiện nội tâm nhân vậtbằng ngôn ngữ ngời kể chuyện nhng biện pháp hay sử dụng nhất là bằng độcthoại nội tâm và đối thoại nội tâm Với Lê Thánh Tông nội tâm nhân vật đợcbiểu hiện bằng những diễn biến tâm trạng của mình qua những cảm xúc,

những suy nghĩ Trong Ngọc nữ về tay chân chủ, sau khi nghe cuộc trò

chuyện và chủ yếu là màn biểu diễn thể hiện tài năng của Sơn thần và Thuỷthần, Ngọc Hoàng rất ngạc nhiên và hài lòng nhng bất ngờ thay khi có sự xuấthiện của ngời trần Cuộc đối thoại giữa Ngọc Hoàng và ngời trần đầy bất ngờ:

“Ngời ấy chắp tay tha rằng:

- Phợng lâu ứng tuyển, nào phải là lễ nghi chốn triều đình? Mắt sẻ chaxuyên, đâu dám vội làm lễ chào ông nhạc? Xin Ngọc Hoàng hãy khoan thứcho

Ngọc Hoàng nghe nói thấy làm lạ, cho ngồi ghế bên hữu khoan thaibảo rằng:

- Hai vị ở chiếu bên tả đều là ngời ứng tuyển vào lầu phợng Giang sơn

đã đẹp, nghệ thuật lại cao Thực là ngời thứ nhất trong thiên hạ Khách quý ờng đông, phi ngời ấy thì còn ai? Ngơi có tài năng gì mà giám đến tranh vớingời ta? Trẫm rất buồn cời nhà ngơi là con ngời bất trí

gi-Ngời ấy ung dung đứng lên nói:

- Bệ hạ nhầm rồi Quỷ thần ở núi sông chỉ là một vật ở nơi đó thôi Múatrí khoe tài, sao đáng đếm xỉa trong trời đất? Sao không xem: ngôi cao vòi vọi

mà những ngời chiêm ngỡng chỉ sợ đi sau; lợng biển bao la, mà những kẻ lạichầu tranh nhau đến trớc Tài trí trong thiên hạ đều là tài trí của một ngời Núi

đúc khí thiêng, mong đợc tận trung mọi việc; sông theo dòng lớn, đâu khônghiếu thuận một niềm Thảng hoặc có thỏ nấp trong núi, kình múa ngoài khơi,

Trang 34

thì sai ngời văn thần trọng vọng, cử ngời võ tớng lợc thao Bày trận theo thếrắn trờng sơn, hành quân nh nớc dòng Giang - hán Núi có thể gạt đi, gò cóthể san bằng, nớc lớn có thể bắt lui, sông to có thể cắt đứt Bấy giờ sông yên,núi vững chỉ thấy một vẻ thanh cao Thái - sơn, Hoàng - Hà nghi thề đới lệ;Ngũ nhạc Tứ độc, giữ lễ công hầu Bớc lên núi cao tỏ lòng trung với trời, oaitrùm biển rộng nào ai dám chống Thiên tử trị bên ngoài, hoàng hậu trị bêntrong, hải vật sơn hào hởng những vị quý, ngon trong thiên hạ So với bọn mộtgáo nớc đã khoe nhiều, một nấm đá đã khoe lớn, khác nhau biết là chừng nào.

Ngọc Hoàng đẹp lòng, giơ tay nói:

- Giai tế! giai tế! nếu ngơi không nói ra, trẫm sẽ bị những kẻ khoekhoang làm mê hoặc”

Qua cuộc đối thoại tác giả đã làm nổi bật sự tài năng của chân chủ,khéo léo thông minh ứng phó, phân tích cho Ngọc hoàng thấy đợc đúng - sai,rằng quyền lực vô hạn của con ngời có thể chiến thắng tất cả Lời đối thoại đãkhắc hoạ khí phách của đấng nam nhi, tin vào sức mạnh của bản thân, của conngời không hề e ngại trớc thần thánh

Trong các truyện khác nh: Yêu nữ Châu Mai, Truyện hai gái thần, Duyên lạ nớc hoa, Truyện lạ nhà thuyền chài, Truyện hai thần hiếu đễ, Truyện tinh chuột, Truyện ngời trần ở thuỷ phủ ta cũng thấy đợc tâm trạng

nhân vật diễn biễn, nội tâm nhân vật dù đợc tác giả thể hiện độc đáo

Một phơng diện quan trọng đợc tác giả Lê Thánh Tông sử dụng mộtcách nhuần nhuyễn, linh hoạt để thể hiện nội tâm nhân vật là sự dung hợp cácthể loại thơ, phú, từ, văn tế vào văn xuôi, nhân vật của Lê Thánh Tông hay làm

thơ, phú, chính vì thế nội tâm đợc khắc hoạ rõ Trong Truyện lạ nhà thuyền chài Ngoạ Vân đợc miêu tả là ngời vợ hiền, ngời con dâu tháo vát, khi từ biệt

chồng, Ngoạ Vân lau nớc mắt mà hát rằng:

Từ ngày thay áo lạy cô chơng, Cách tháng về nhà chàng, Trăm năm ân ái ngày còn trờng.

Bỗng đâu cơn báo táp, Biển cả sóng điên cuồng, Rào rạt mênh mang

Thời ấy, thế ấy, Không lấy thân dơng

Trang 35

Thì cô chơng, thì hiền lang, Chôn trong bụng cá rất bi thơng, Thiên cơ đã lộ,

Lại e cha mẹ mắc tai ơng, Làm sao giữ đợc cảnh đồng sàng?

Thúc Ng lang!

Trời một phơng!

Ngi nhớ trong tâm trờng:

Trớc song chẳng quản trăng soi bóng, Nhắn nhủ hoa mai tựu chủ trơng.

Ông xanh, ông xanh sao phũ phàng!

“ Đọc bài ca để lại, tởng nh trông thấy ngời vậy? Thế gian làm gì cónàng dâu nh thế ” (trích lời bàn của Sơn Nam Thúc) Ngoạ Vân đã thể hiệntâm trạng của mình qua các câu hát, đó là sự đau khổ tiếc thơng khi phải rời

xa chồng, nhng lại không nhẫn tâm để cho cha mẹ chồng và chồng chôn thântrong bụng cá Nàng ra đi mà tâm can nặng trĩu nhớ thơng Không biết cầucứu phơng nào nàng trách ông xanh sao quá phũ phàng đã chia lìa gia đìnhhạnh phúc Lời hát chất chứa nỗi đau vô hạn

Trong Truyện Hai gái thần xuất hiện những bài hát Ngời nhiều tuổi hát

rằng:

Ngựa không vẩy! Ngựa không vẩy!

Con báo thù cha, ai rằng không phải?

Thấm thoát giáp hoa gần nửa đấy!

Mẹ vậy, mẹ vậy!

Gío cuốn không thể nhờ, Cánh bay không thể cậy.

Mối giận Kim lân dốc sông ngòi,

Đêm ngày tóc bạc lo ngay ngáy.

Ngựa không vẩy! Ngựa không vẩy!

Trang 36

Thế nào ru? thế nào ru?

Khua ngọc chơi đế đô, Cha thể chừa cơm lên thiên cù Lên thiên cù, cùng hoan ngu.

Kìa kìa đỉnh núi tợng nàng Tô.

Câu hát làm ngời nghe hiểu và thơng cảm với nỗi lòng của hai ngời phụnữ Ngời nhiều tuổi đau xót vì mất đứa con, đứa con bà vì báo thù cho cha đã

đi qua “giáp hoa gần nửa” vẫn không về, để cho bà đêm ngày lo lắng, nhớ

th-ơng Còn ngời phụ nữ ít tuổi lại mang nỗi buồn xa chồng, chồng cô vì trả thùcho mẹ và đầu quân vào nghĩa quân Lam Sơn hẹn ba năm sau trở về nhng đãhai t năm cha về khiến cô ngày đêm thơng nhớ

Những bài hát, bài thơ thể hiện nội tâm nhân vật còn có những bài phú

nh trong Gặp Tiên ở hồ Lãng Bạc, Ngời trần ở thuỷ phủ

Trong truyện Gặp tiên ở hồ Lãng Bạc xuất hiện nhiều bài thơ và phú,

thể hiện đợc tài năng của anh học trò nghèo ở núi Vũ - ninh Hơn nữa nội tâmnhân vật này cũng đợc khắc hoạ rõ nét nh bài phú giữ răng cho ngời bạn già:

Ta tính tuổi ta:

Mới đợc hai trăm tám mơi tám giáp tý.

Răng tha mà rỗng, Hầu long mà rụng.

Trớc lấy thế công đe doạ, liệu có chuyển không?

Sau đem miếng ngọt giỗ dành, tốn công chẳng bõ.

Trên giờng nằm ngủ, đã muốn đi rồi lại dừng.

Từ xuân đến đông,

Mu kế đã cùng.

Bèn gõ ba tiếng mà bảo rằng:

Ngơi hãy lại đây,

Để ta tỏ bày:

Ôi nh ta với ngơi,

Từ trớc đến nay, Sớm tối có nhau,

Đời đã mấy ai?

Nhớ từ lúc:

Ta lọt lòng mới đợc tám tháng,

Trang 37

Ngơi đã vội từ đâu đến ngay.

Làm ta đau buốt,

Kêu khóc đêm ngày.

Qua tám năm liền,

Ngơi lại không yên,

Thay cũ đổi mới,

Tính bậc đạt tôn thiên hạ, đã chiếm ngôi cao;

Gặp khi bày tiệc yến mao, lại giành cỗ nhất.

Lòng ta mến thơng,

Nhuộm biếc bịt vàng.

Hai môi khép chặt, sợ nhà ngơi rét vậy!

Sáng ngày súc miệng, sợ nhiều cáu gét vậy!

Không hám trâu non, sợ mòn vẹt vậy!

Không màng thịt ớp, sợ có khuyết vậy!

Nhân tình ấm lạnh, không cần xỉa xói thêm phiền;

Thế thái nhạt nồng, chẳng bõ hé ra cho mệt!

Khi ăn khi uống,

Thời đã hết rồi, ta nguyện trút thế ta để ngơi ở lại;

Sao không dựng nổi, ta nguyện hói tóc ta để ngơi vững lòng.

Trang 38

Thần răng nghe xong, Hàm nghiên hững hờ, Mấy lời lủng củng, Rằng: oan ta cha?

Từ nay về sau, Xin chừa, không đau;

Cửa hàm đứng vững, Trái, phải hàng đều.

Thơ vịnh răng mòn, sắn đợi hồng lăng bánh ngọt;

Tụng khen răng trẻ, lại thêm hoàng phát tuổi cao.

May ra:

Gốc thêm vững, Chân thêm sâu, Trên thì tóc mây phủ kín, Dới thì nguyên khí dồi dào, Bạn cùng tam thọ,

Ngời chẳng còn oán trách đợc nào!

Bài phú đã chứng tỏ khả năng học rộng “tự trong huyết tính toát ra”, lờilời búa rìu, câu chữ rất sắc sảo, châm biếm, phần nào thể hiện tính cách củachàng nho sinh tài giỏi, sâu sắc, hài hớc

Lê Thánh Tông đã dùng ngôn ngữ của nhân vật để bộc lộ nội tâm, đồngthời sử dụng sự dung hợp thể loại khắc hoạ nhân vật rõ nét hơn Đây cũng lànét đặc trng trong miêu tả nội tâm nhân vật của truyện truyền kỳ

Trang 40

Chơng 3

Yếu tố kỳ trong thánh tông di thảo

3.1 Sự tơng đồng và khác biệt của yếu tố kỳ của Thánh Tông di thảo so

với của cổ tích thần kỳ

3.1.1 Cái kỳ trong nghệ thuật

Cái kỳ làm nên sự hấp dẫn trong tác phẩm Trong các thủ pháp nghệthuật yếu tố kỳ là thủ pháp đặc trng

Thời trung đại chúng ta có truyện “truyền kỳ” truyện “chí quái”, “chínhân” Đầu thế kỷ XX, khi văn học phát triển theo hớng hiện đại hoá Tản Đà

cho ra đời tác phẩm Giấc mộng con Tác giả đã kể những truyện dong ruổi đến

những vùng đất chỉ có trong tởng tợng, rồi lên thiên đình gặp Đông Phơng

Sóc, Tây Thi, Dơng Quý Phi Sau đó có truyện đờng rừng, truyện ma của nhiều

cây bút lãng mạn

Cái kỳ ảo xuất hiện từ thời viễn cổ, khi nhân loại biết tự nhận thức, cái

kỳ ảo hoà nhập tự nhiên vào đời sống tinh thần con ngời

Theo Todorov: “Cái kỳ ảo không phải là thuộc tính của văn bản, mà là

đặc trng cảm thụ nằm trong tâm lý ngời tiếp nhận Dựa vào tâm lý tiếp nhậnngời ta có thể dễ dàng phân biệt văn học kỳ ảo với thi ca và ngụ ngôn Ngụngôn là lời nói bóng và thi ca là lãnh địa của h cấu, tởng tợng Ai cũng biết

nh thế nên khi đọc ngời ta tiếp nhận mọi chuyện trong thơ ca một cách tựnhiên, chẳng phải bận tâm suy nghĩ xem đó là thật hay giả Nhng tiếp xúc vớinhững gì đợc kể trong văn học kỳ ảo, ngời đọc lúc nào cũng bị gằng xé, phânvân không biết có nên tin vào những chuyện ấy Gợi dậy cho ngời đọc hồnghi, ấy là đặc trng quan trọng nhất của thế giới văn học kỳ ảo” [16,105].Todoror khẳng định: “Cái kỳ ảo đợc chúng tôi định nghĩa nh là sự thụ cảm đặcbiệt với các sự kiện khác thờng” [16,105]

Cái kỳ không chỉ đợc thể hiện trong văn học mà còn có trong nhiềunghệ thuật khác, góp vai trò thành công cho nhiều tác giả, nhiều thể loại, trởthành truyền thống của văn học nhiều nớc trong đó có Trung Quốc - đặc biệt

là thể loại tiểu thuyết Tiểu thuyết Trung Quốc rất phong phú đa dạng, thậtkhó có thể khái quát đầy đủ ở đặc điểm nào Theo Nguyễn Thị Bích Hải: “Thịhiếu thẩm mỹ của tiểu thuyết Trung Quốc nổi bật lên ba chữ “hiếu’’ (thích,chuộng), (tam hiếu, hay có thể gọi là thị hiếu bộ ba”), đó là hiếu sự, hiếu sử vàhiếu kỳ trong đó hiếu kỳ là đặc điểm xuyên suốt tiểu thuyết Trung Quốc từ

Ngày đăng: 22/12/2013, 12:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Huyền Anh (1967), Việt Nam danh nhân từ điển, Nxb Khai Trí, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam danh nhân từ điển
Tác giả: Nguyễn Huyền Anh
Nhà XB: Nxb Khai Trí
Năm: 1967
2. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
3. Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Trọng Cờng (biên soạn)(2005), Từ điển văn học Việt Nam: từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX, tái bản, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học Việt Nam: từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX
Tác giả: Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Trọng Cờng (biên soạn)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2005
4. Lê Huy Bắc (2004), Truyện ngắn: Lý luận, tác gia và tác phẩm, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn: Lý luận, tác gia và tác phẩm
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
5. Anh Chi (2005), “Vũ Trinh và bớc phát triển mới của truyện truyền kỳ Việt Nam”, Tạp chí Văn nghệ, (32) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Trinh và bớc phát triển mới của truyện truyền kỳ Việt Nam”, Tạp chí" Văn nghệ
Tác giả: Anh Chi
Năm: 2005
6. Trần Bá Chi (2006), “Về sách Thánh Tông di thảo”, Tạp chí Hán Nôm, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về sách "Thánh Tông di thảo"”, Tạp chí" Hán Nôm
Tác giả: Trần Bá Chi
Năm: 2006
7. Nguyễn Đổng Chi (1958), Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, quyển 2 (Từ thế kỷ X đến hết thể kỷ XVIII), Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: Nxb Văn Sử Địa
Năm: 1958
8. Nguyễn Huệ Chi (chủ biên)(1999), Hoàng đế Lê Thánh Tông - nhà chính trị tài năng, nhà văn hoá lỗi lạc, nhà thơ lớn, Nxb Khoa học Xãhội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng đế Lê Thánh Tông - nhà chính trị tài năng, nhà văn hoá lỗi lạc, nhà thơ lớn
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1999
9. Phan Huy Chú (1961), Lịch triều hiến chơng loại chí, bản dịch, Nxb Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chơng loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Sử học
Năm: 1961
10. Lý Duy Côn (chủ biên), Trung Quốc nhất tuyệt (tập 1), Nxb Văn hoá Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc nhất tuyệt
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
11. Chu Xuân Diên, Lê Chí Quế (biên soạn) (1996), Tuyển tập truyện cổ tích ngời Việt (phần Truyện cổ tích ngời Việt), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện cổ tích ngời Việt "(phần" Truyện cổ tích ngời Việt
Tác giả: Chu Xuân Diên, Lê Chí Quế (biên soạn)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1996
12. Lê Tiến Dũng (2004), “Đặc điểm nhân vật truyện cổ và việc hiện đại hoá truyện cổ dân gian”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm nhân vật truyện cổ và việc hiện đại hoá truyện cổ dân gian”, Tạp chí "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Năm: 2004
13. Phan Cự Đệ (2004), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
14. Nguyễn Xuân Đức (2003), Những vấn đề thi pháp văn học dân gian, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp văn học dân gian
Tác giả: Nguyễn Xuân Đức
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2003
15. Nguyễn Xuân Đức (2007), Thi pháp thể loại văn học dân gian (chuyên đề cho hệ sau Đại học), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp thể loại văn học dân gian
Tác giả: Nguyễn Xuân Đức
Năm: 2007
16. Nguyễn Thị Bích Hải (2007), “Truyền thống ‘‘hiếu kỳ’’ trong tiểu thuyết Trung Quốc ”, Tạp chí Hán Nôm, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thống ‘‘hiếu kỳ’’ trong tiểu thuyết Trung Quốc ”, Tạp chí" Hán Nôm
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hải
Năm: 2007
17. Hồ Sỹ Hiệp (1997), Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nxb Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm
Tác giả: Hồ Sỹ Hiệp
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 1997
18. Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu... (chủ biên) (2004), Từ điển học (bộ mới), Nxb Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ "điển học
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu... (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004
19. Hội Nhà văn Việt Nam, “Chùm truyện ngắn của các tác giả Mỹ - Latinh, chùm thơ thiếu nhi thế giới, văn học kỳ ảo nhìn từ hệ hình thế giới quan”, Tạp chí văn học nớc ngoài, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùm truyện ngắn của các tác giả Mỹ - Latinh, chùm thơ thiếu nhi thế giới, văn học kỳ ảo nhìn từ hệ hình thế giới quan”, Tạp chí" văn học nớc ngoài
20. Nguyễn Thị Huế (chủ biên)(2004), Tổng tập văn học dân gian ngời Việt (tập 6 - Truyện cổ tích thần kỳ), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập văn học dân gian ngời Việt "(tập 6" - Truyện cổ tích thần kỳ
Tác giả: Nguyễn Thị Huế (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w