1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng nhiễm HIV STI, một số yếu tố liên quan và hiệu quả can thiệp dự phòng ở người dân tộc dao tại 3 xã của tỉnh yên bái, 2006 2012

192 122 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 192
Dung lượng 3,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam hiện có 53 dân tộc thiểu số và vấn đề dân tộc đã được Đảng, nhànước xác định là “vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài đồng thời cũng là vấn đề cấpbách hiện nay của cách mạng Việt N

Trang 1

VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG

-* -TRẦN ĐẠI QUANG

THỰC TRẠNG NHIỄM HIV/STI, MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN VÀ HIỆU QUẢ CAN THIỆP DỰ PHÒNG Ở NGƯỜI DÂN TỘC DAO TẠI 3 XÃ CỦA TỈNH YÊN BÁI,

2006-2012

LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG

-* -TRẦN ĐẠI QUANG

THỰC TRẠNG NHIỄM HIV/STI, MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN VÀ HIỆU QUẢ CAN THIỆP DỰ PHÒNG Ở NGƯỜI DÂN TỘC DAO TẠI 3 XÃ CỦA TỈNH YÊN BÁI,

2006-2012

CHUYÊN NGÀNH: Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ: 62 72 03 01

LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

Người hướng dẫn khoa học:

1 GS.TS NGUYỄN TRẦN HIỂN

2 PGS.TS NGUYỄN ANH TUẤN

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kếtquả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ côngtrình nào khác

Tác giả luận án

Trần Đại Quang

Trang 4

LỜI CẢM ƠNHoàn thành luận án này, trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tớiGiáo sư – Tiến sỹ Nguyễn Trần Hiển, Viện trưởng Viện Vệ sinh Dịch tễ Trungương và Phó giáo sư – Tiến sỹ Nguyễn Anh Tuấn, Trưởng khoa HIV/AIDS, Viện

Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, là những người thầy hướng dẫn trực tiếp, đã tận tìnhgiúp đỡ, truyền đạt kiến thức trong suốt quá trình học tập, thực hiện và hoàn thànhluận án

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo, Bộ môn Y tế Công cộng, Phòng Đàotạo sau đại học của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, đã luôn quan tâm, giúp đỡ,tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận án

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến tập thể Khoa HIV/AIDS –Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương đã trực tiếp giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện

và hoàn thành luận án

Tôi xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo, các cán bộ Cục Phòng chống HIV/AIDS– Bộ Y tế, Ban Quản lý Chương trình Phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam đã hỗ trợ kỹ thuật và tài chính trong quá trình triển khai nghiên cứu

Xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo, các cán bộ Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnhYên Bái, Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh Yên Bái, Trung tâm Y tế Dựphòng huyện Văn Chấn đã hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu, thu thập

số liệu cho luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sỹ trong các hộiđồng khoa học chấm luận án đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi có thêm kiếnthức và hoàn thiện luận án đạt chất lượng tốt hơn

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cha mẹ, vợ, các con vàcác anh chị em, bạn bè, đồng nghiệp thân thiết, đã hết lòng ủng hộ, động viên, chia

sẻ trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận án tốt nghiệp

Trần Đại Quang

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II MỤC LỤC ……… III DANH MỤC VIẾT TẮT VII DANH MỤC BẢNG IX DANH MỤC BIỂU ĐỒ XI DANH MỤC HÌNH XII

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 CÁC KHÁI NIỆM VỀ CHỦNG TỘC VÀ DÂN TỘC THIỂU SỐ 4

1.1.1 Khái niệm chủng tộc 4

1.1.2 Dân tộc, tộc người và dân tộc thiểu số 5

1.1.3 Các nhóm dân tộc thiểu số và đặc điểm dân tộc Dao tại Việt Nam 6

1.2 TÌNH HÌNH NHIỄM HIV/STI Ở NHÓM DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM 9

1.2.1 Trên thế giới 9

1.2.2 Tại Việt Nam 12

1.3 NGUY CƠ NHIỄM HIV/STI Ở NHÓM DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM 16

1.3.1 Trên thế giới 16

1.3.2 Tại Việt Nam 19

1.4 CAN THIỆP DỰ PHÒNG LÂY NHIỄM HIV/STI TRONG NHÓM DÂN TỘC THIỂU SỐ 32

1.4.1 Trên thế giới 32

1.4.2 Tại Việt Nam 34

1.5 TÌNH HÌNH NHIỄM HIV/STI TẠI YÊN BÁI 40

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 45

Trang 6

2.2 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 45

2.3 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 45

2.4 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 46

2.5 CỠ MẪU NGHIÊN CỨU 46

2.6 PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU 47

2.7 NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH CAN THIỆP 47

2.7.1 Xây dựng hệ thống tổ chức, quản lý các chương trình can thiệp 49

2.7.2 Chương trình truyền thông thay đổi hành vi và giảm phân biệt kỳ thị 51

2.7.3 Chương trình Tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện 56

2.7.4 Chương trình khám và quản lý các nhiễm trùng STI 58

2.7.5 Chương trình cấp phát bao cao su 59

2.8 CÁC CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU 60

2.9 CÔNG CỤ NGHIÊN CỨU 61

2.10 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU 61

2.10.1 Thu thập số liệu thứ cấp 61

2.10.2 Điều tra thu thập số liệu 61

2.11 LẤY MẪU MÁU VÀ XÉT NGHIỆM 62

Xét nghiệm HIV 63

Xét nghiệm giang mai 63

2.12 PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 63

Nhập số liệu 63

Phân tích số liệu 64

Phân tích đa biến 64

Phân tích chỉ số hiệu quả 64

2.13 ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU 65

2.14 SAI SỐ NGHIÊN CỨU 656

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 67

3.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 67

3.2 THỰC TRẠNG NHIỄM HIV/STI VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI DÂN TỘC DAO 15-49 TUỔI NĂM 2006 71

Trang 7

3.2.1 Thực trạng nhiễm HIV/STI 71

3.2.2 Thực trạng về kiến thức và nhận thức dự phòng lây nhiễm HIV/STI 75

3.2.3 Thực trạng về thái độ với người nhiễm HIV/AIDS 77

3.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ của đối tượng nghiên cứu 78

3.2.5 Các nguồn cung cấp thông tin và hỗ trợ phòng lây nhiễm HIV/STI 87

3.2.6 Hành vi QHTD và sử dụng BCS với các loại bạn tình 88

3.2.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng BCS với các loại bạn tình 90

3.2.8 Hành vi sử dụng ma túy 92

3.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CAN THIỆP DỰ PHÒNG LÂY NHIỄM HIV/STI Ở NGƯỜI DÂN TỘC DAO 15-49 TUỔI GIAI ĐOẠN 2006-2012 93

3.3.1 Các hoạt động chương trình phòng chống HIV/AIDS thực hiện tại địa bàn nghiên cứu năm 2006 93

3.3.2 Đánh giá kết quả thực hiện các hoạt động can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV/STI tại địa bàn nghiên cứu giai đoạn 2006-2012 94

3.3.3 Hiệu quả thay đổi kiến thức, thái độ trong phòng lây nhiễm HIV 98

3.3.4 Hiệu quả thay đổi hành vi phòng lây nhiễm HIV 101

3.3.5 Hiệu quả thay đổi trong tỷ lệ nhiễm HIV/STI 103

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 106

4.1 THỰC TRẠNG NHIỄM HIV/STI VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI DÂN TỘC DAO 15-49 TUỔI NĂM 2006 106

4.1.1 Thực trạng nhiễm HIV/STI 106

4.1.2 Thực trạng kiến thức và nhận thức dự phòng lây nhiễm HIV/STI 106

4.1.3 Thực trạng về thái độ với người nhiễm HIV/AIDS 114

4.1.4 Thực trạng về các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV/STI 116

4.2 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CAN THIỆP DỰ PHÒNG LÂY NHIỄM HIV/STI Ở NGƯỜI DÂN TỘC DAO 15-49 TUỔI GIAI ĐOẠN 2006-2012 119

4.2.1 Kết quả thực hiện các hoạt động can thiệp 119

4.2.2 Hiệu quả can thiệp phòng lây nhiễm HIV/STI 120

4.3 HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU 127

Trang 8

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 130

5.1 THỰC TRẠNG NHIỄM HIV/STI VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI DÂN TỘC DAO 15-49 TUỔI NĂM 2006 1305.2 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CAN THIỆP DỰ PHÒNG LÂY NHIỄM HIV/STI Ở NGƯỜI DÂN TỘC DAO 15-49 TUỔI GIAI ĐOẠN 2006-2012 130

CHƯƠNG 6: KHUYẾN NGHỊ 132 DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ 133 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC VIẾT TẮT

Trang 10

Adjusted Odd Ratio

Tỷ suất chênh hiệu chỉnh

Vi rút gây suy giảm miễn dịch

LTQĐTD Lây truyền qua đường tình dục

Men who have sex with men

Trang 11

SCT Sau can thiệp

Standard Deviation

SD

Độ lệch chuẩn

TCT Trước can thiệp

TTN Thanh thiếu niên

TVXNTN Tư vấn xét nghiệm tự nguyện

United Nations Programme on HIV/AIDS

Trang 12

Nations

Children

’s

F

und Quỹ Nhiđồng Liên Hợp QuốcUnited Nations Office on Drugs and CrimeVăn phòng Liên Hợp Quốc về tội phạm và

ma túyVoluntary Counseling andTesting Tư vấn xét nghiệm tự nguyện World Bank

Ngân hàng Thế giớiWorld Health Organization

Tổ chức Y tế thế giới

Trang 13

DANH MỤC BẢNGBảng 1.1 Các dân tộc thiểu số đông dân nhất ở Việt Nam 7Bảng 3.1 Thông tin cơ bản của đối tượng nghiên cứu tại 2 cuộc điều tra 68Bảng 3.2 Tiếp cận các phương tiện truyền thông – Điều tra TCT năm 2006 70Bảng 3.3 Tỷ lệ hiện nhiễm HIV, giang mai theo nhóm tuổi, giới và tình trạng hônnhân – Điều tra TCT (2006) 71Bảng 3.4 Tự báo cáo mắc các nhiễm trùng STI theo nhóm tuổi và giới – Điều traTCT (2006) 72Bảng 3.5 Phân tích hồi quy logistic các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu ảnhhưởng đến tỷ lệ hiện nhiễm giang mai năm 2006 73Bảng 3.6 Phân tích hồi quy logistic các yếu tố về kiến thức, hành vi và tiếp cậndịch vụ dự phòng ảnh hưởng đến tỷ lệ hiện nhiễm giang mai năm 2006 74Bảng 3.7 Thực trạng kiến thức phòng lây nhiễm HIV – Điều tra TCT năm 2006 75Bảng 3.8 Nhận thức được nguy cơ lây nhiễm HIV/STI – Điều tra TCT năm 2006 76Bảng 3.9 Thực trạng về thái độ với người nhiễm HIV/AIDS – Điều tra TCT năm

2006 77Bảng 3.10 Phân tích hồi quy logistic các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu ảnhhưởng đến kiến thức đúng phòng lây nhiễm HIV/STI năm 2006 78Bảng 3.11 Phân tích hồi quy logistic các yếu tố về tiếp cận dịch vụ và hỗ trợ dựphòng ảnh hưởng đến kiến thức đúng phòng lây nhiễm HIV/STI năm 2006 79Bảng 3.12 Phân tích hồi quy logistic các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu ảnhhưởng đến thái độ đúng với người nhiễm HIV/AIDS năm 2006 81Bảng 3.13 Phân tích hồi quy logistic các yếu tố về kiến thức, tiếp cận dịch vụ và hỗtrợ dự phòng ảnh hưởng đến thái độ đúng với người nhiễm HIV/AIDS năm 2006 82Bảng 3.14 Phân tích hồi quy logistic các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu ảnhhưởng đến nhận thức nguy cơ nhiễm HIV/STI năm 2006 84Bảng 3.15 Phân tích hồi quy logistic các yếu tố về kiến thức, tiếp cận dịch vụ và hỗtrợ dự phòng ảnh hưởng đến nhận thức nguy cơ nhiễm HIV/STI năm 2006 85

Trang 14

Bảng 3.16 Tiếp cận các nguồn thông tin và hỗ trợ trong phòng chống lây nhiễm

HIV/STI – Điều tra TCT năm 2006 87

Bảng 3.17 Đặc điểm hành vi QHTD của đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi và giới tính – Điều tra TCT năm 2006 88

Bảng 3.18 Phân tích hồi quy logistic các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu ảnh hưởng đến hành vi luôn dùng BCS khi QHTD với các loại bạn tình trong 12 tháng qua năm 2006 90

Bảng 3.19 Phân tích hồi quy logistic các yếu tố về kiến thức, tiếp cận dịch vụ và hỗ trợ dự phòng ảnh hưởng đến hành vi luôn dùng BCS khi QHTD với các loại bạn tình trong 12 tháng qua năm 2006 91

Bảng 3.20 Hành vi sử dụng ma túy trong nhóm đối tượng nghiên cứu năm 2006 92 Bảng 3.21 Kết quả hoạt động truyền thông thay đổi hành vi 94

Bảng 3.22 Kết quả hoạt động tư vấn xét nghiệm tự nguyện 94

Bảng 3.23 Kết quả hoạt động khám và quản lý các nhiễm trùng STI 95

Bảng 3.24 Kết quả hoạt động cấp phát bao cao su 95

Bảng 3.25 Nhận được thông tin truyền thông về phòng lây nhiễm HIV/STI trong 12 tháng 96

Bảng 3.26 Nhận được hỗ trợ trong phòng lây nhiễm HIV/STI trong 12 tháng qua 96 Bảng 3.27 Tiếp cận các dịch vụ trong phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS 97

Bảng 3.28 Thay đổi về kiến thức phòng lây nhiễm HIV 98

Bảng 3.29 Thay đổi về thái độ với người nhiễm HIV/AIDS 99

Bảng 3.30 Thay đổi về nhận thức nguy cơ lây nhiễm HIV/STI 100

Bảng 3.31 Thay đổi về đặc điểm hành vi QHTD 101

Bảng 3.32 Thay đổi về đặc điểm hành vi sử dụng ma túy 102

Bảng 3.33 Thay đổi về tỷ lệ hiện nhiễm HIV/STI theo nhóm tuổi và giới tính

103 Bảng 3.34 Thay đổi về chỉ số tự báo cáo mắc các nhiễm trùng STI theo nhóm tuổi và giới 104

Trang 15

DANH MỤC BIỂU ĐỒBiểu đồ 1.1 Phân bố các ca nhiễm HIV/AIDS và tử vong (1993 – 2011) 42Biểu đồ 1.2 Phân bố nhiễm HIV theo giới tính (1999 -2011) 42Biểu đồ 1.3 Tỷ lệ ca nhiễm HIV theo nhóm tuổi và thời gian (1998–2011) 43Biểu đồ 1.4 Phân bố mắc các nhiễm trùng STI tại Yên Bái (2002–2007) 60

Trang 16

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Cây vấn đề về nguy cơ lây nhiễm HIV/STI trong nhóm dân tộc thiểu số

31Hình 1.2 Bản đồ hành chính huyện Văn Chấn, Yên Bái

41Hình 2.1 Mô hình thiết kế nghiên cứu 49

Hình 2.2 Mô hình tổ chức, quản lý các chương trình can

thiệp 51Hình 2.3 Khung chương trình can thiệp dự phòng giảm nguy cơ lây nhiễmHIV/STI

56

Trang 17

ĐẶT VẤN ĐỀĐại dịch HIV/AIDS đang là vấn đề y tế và xã hội nghiêm trọng trên toàn cầu.Theo ước tính của Chương trình Phối hợp của Liên Hợp quốc về HIV/AIDS(UNAIDS), tính đến cuối năm 2012, toàn thế giới có khoảng 35,3 triệu người nhiễmHIV, trong đó 2,3 triệu người nhiễm mới, 1,6 triệu người chết vì AIDS Mỗi ngàytrôi qua, có 14.000 trường hợp nhiễm (trong đó có 2.000 trẻ em) và 95% các trườnghợp nhiễm mới xảy ra ở các nước đang phát triển và gần 1% số người nhiễm HIVcòn sống nằm trong độ tuổi từ 15-49 [123].

Theo số liệu của Cục phòng chống HIV/AIDS Việt Nam, đến tháng 12/2013,lũy tích các trường hợp nhiễm HIV còn sống được báo cáo trên toàn quốc là197.335 người (48.720 trường hợp tiến triển thành AIDS còn sống và 52.325 người

đã chết vì AIDS) Trong năm 2013, cả nước đã phát hiện 14.125 trường hợp nhiễmHIV mới, trong đó có 6.432 bệnh nhân AIDS và 2.413 trường hợp tử vong do AIDS[21] Dịch HIV ở Việt Nam hiện vẫn trong giai đoạn tập trung, với tỷ lệ hiện nhiễmcao nhất được phát hiện trong các nhóm quần thể có nguy cơ cao chính, đó là nhữngngười nghiện chích ma túy (NCMT), phụ nữ bán dâm (PNBD) và nam quan hệ tìnhdục đồng giới (QHTDĐG) Nguy cơ lây nhiễm HIV ở Việt Nam chủ yếu qua đườngtiêm chích ma túy và quan hệ tình dục Người nhiễm HIV tập trung chủ yếu trongnhóm đối tượng từ 15-49 tuổi, trong đó nhóm 20-39 tuổi chiếm đến 79% Phần lớnngười nhiễm HIV là nam giới (trên 80%) Theo kết quả ước tính dự báo nhiễmHIV/AIDS giai đoạn 2007-2012, tỷ suất nam nữ nhiễm HIV đã giảm từ 3 lần năm

2007 xuống còn 2,6 lần năm 2012 do việc lây nhiễm HIV từ nam giới sang vợ, bạntình của họ [20] Cho đến nay dịch đã lan ra với quy mô toàn quốc và đã có mặt ở

63 tỉnh/thành phố, phân bố trên 97% quận/huyện và trên 70% xã/phường [21]

Không giống như trước năm 2000, dịch HIV chỉ tập trung chủ yếu ở các khuvực thành thị và đô thị lớn, hiện nay đại dịch HIV có mặt gần như mọi vùng miềnđất nước kể cả những khu vực khó khăn, các thôn bản ở vùng núi cao, vùng sâuvùng xa.Phần lớn các tỉnh có tỷ suất người nhiễm HIV cao tập trung ở các tỉnh miềnnúi phía Bắc và các tỉnh biên giới Việt-Lào có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số

Trang 18

(DTTS) sinh sống, nơi phần lớn người nhiễm HIV là người nghiện chích ma túy.Đối với những tỉnh này số trường hợp nhiễm HIV phát hiện được hàng năm tăngnhanh từ năm 2005 đến nay trong đối tượng nghiện chích ma túy, phụ nữ bán dâm

và đang có dấu hiệu lây lan ra cộng đồng, đặc biệt vợ con người nghiện chích matúy và khách làng chơi của phụ nữ bán dâm [21]

Việt Nam hiện có 53 dân tộc thiểu số và vấn đề dân tộc đã được Đảng, nhànước xác định là “vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài đồng thời cũng là vấn đề cấpbách hiện nay của cách mạng Việt Nam” với chủ trương phát triển toàn diện về mọimặt trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi trong đó có vấn đề về sức khỏe và y tế.Đồng bào dân tộc Dao có dân số đông thứ 8 trong nhóm các dân tộc thiểu số, cóphong tục, tập quán, văn hóa đặc trưng riêng và trong đó có những đặc điểm tiềm ẩnnguy cơ về sức khỏe sinh sản và lây truyền các bệnh HIV/STI như phóng khoángtrong quan hệ tình dục qua việc quan hệ tình dục sớm và có nhiều bạn tình, vấn đềtảo hôn khá phổ biến Sau một thời gian dài các hoạt động phòng chốngHIV/AIDS cũng như các nghiên cứu trong lĩnh vực này tập trung chủ yếu vào cácnhóm nguy cơ cao tại các địa bàn trọng điểm về HIV/AIDS, hiện nay các hoạt độngphòng lây nhiễm HIV/STI trong nhóm dân tộc thiểu số đã và đang được xác định làmột trong các ưu tiên hàng đầu trong công tác phòng chống HIV/AIDS tại ViệtNam Việc tìm hiểu thực trạng các vấn đề nhiễm HIV/STI, một vấn đề y tế côngcộng rất cần được quan tâm trong các nhóm dân tộc thiểu số sẽ giúp các nhà lãnhđạo, quản lý, nhà chuyên môn trong việc định hướng, lập kế hoạch, hoạch địnhchính sách trong việc thực hiện các chủ trương của Đảng và nhà nước với các nhómdân tộc thiểu số nói chung và nhóm dân tộc Dao nói riêng

Với các lý do này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu "Thực trạng nhiễmHIV/STI, một số yếu tố liên quan và hiệu quả can thiệp dự phòng ở người dân tộcDao tại 3 xã của tỉnh Yên Bái, 2006-2012"

Trang 19

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng nhiễm HIV/STI và các yếu tố liên quan ở người dân tộcDao 15-49 tuổi tại 3 xã của tỉnh Yên Bái năm 2006

2 Đánh giá hiệu quả can thiệp dự phòng nhiễm HIV/STI ở người dân tộc Dao15-49 tuổi tại 3 xã của tỉnh Yên Bái trong giai đoạn 2006-2012

Trang 20

CHƯƠNG 1TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 CÁC KHÁI NIỆM VỀ CHỦNG TỘC VÀ DÂN TỘC THIỂU SỐ

để phân biệt các nòi giống, chủng tộc trong nhân loại [88] [83]

Chủng tộc được hình thành theo yếu tố địa lý là một quần thể nhân loại sinhsống trong một khu vực lục địa hay một dãy quần đảo, trong một thời gian dài đủ đểphát triển một tổng hợp di truyền của riêng mình và khác biệt với những yếu tố ditruyền của các quần thể dân cư các lục địa khác [84] [113] [128] [89]

Khi nói về chủng tộc, theo ý nghĩa thông thường nhất chúng ta thường nghĩđến một quần thể dân cư bao gồm một tập hợp những người đã sinh sống với nhau

từ xưa đến nay, trong một phạm vi lớn hơn ở một lục địa nào đó hay một khu vựcrộng lớn của lục địa Những quần thể như vậy thường có khuynh hướng sống biệtlập, vì vậy họ thường chỉ có một nguồn gốc tổ tiên chung và chỉ giữa họ với nhauchứ không chia sẻ nguồn gốc với bất kỳ quần thể nào của các lục địa khác Ngượclại, sẽ không có gì đặc thù trong tổng hợp di truyền để họ được xem là một chủngtộc riêng biệt Tuy nhiên, dù có những biến động di trú lớn xảy ra với các dân tộc,vẫn có các quần thể dân cư giữ được nguồn gốc gen của mình (tổng hợp di truyền)

Vì vậy chúng ta dễ dàng nhận ra nguồn gốc chủng tộc Caucasoid của những dân tộchiện nay ở khắp Bắc Phi, Úc và New Zealand, dù họ đã từng định cư ở những nơinày từ năm 1960 và phát triển thành những quần thể khác nhau Tương tự các dântộc chủng Negro vùng sa mạc Sahara ở Nam Phi được nhận dạng và phân loại từ lâu

Trang 21

vì yếu tố địa lý đặc biệt của họ Và chủng tộc Mông Cổ của châu Á cũng vậy, rõ ràng chỉ có sự kết hợp theo tính cách cục bộ lục địa [84] [113] [128] [89].

1.1.2 Dân tộc, tộc người và dân tộc thiểu số

Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy, các khái niệm dân tộc và tộc người đều đã,đang và sẽ đồng thời tồn tại Khái niệm dân tộc được dùng để chỉ Dân tộc ViệtNam (tất cả những người là công dân Việt Nam, sinh sống trên đất Việt Nam vàViệt kiều ở nước ngoài) Tuy thế, dân tộc cũng được dùng để chỉ các cộng đồng tộcngười cụ thể như dân tộc Dao, dân tộc Tày, dân tộc Kinh,…Như vậy trong thực tiễnViệt Nam, dân tộc có hai nội hàm: chỉ dân tộc ở cấp độ quốc gia - dân tộc Việt Nam

và chỉ cộng đồng tộc người cụ thể - dân tộc Dao [49] [23] [33] [25]

Thuật ngữ Dân tộc xuất hiện, bắt nguồn từ tiếng Latinh: Natio là cộng đồngngười có chung một thể chế chính trị, được thiết lập trên một lãnh thổ nhất định,được điều khiển bởi một nhà nước Cũng có thể hiểu đó là một cộng đồng nhân dân

ổn định được phát triển trong lịch sử, với một lãnh thổ riêng, với một nền kinh tếthống nhất, với các đặc trưng văn hóa thống nhất, cùng có tiếng mẹ đẻ thống nhất

và được chỉ đạo bởi một nhà nước [40] [39] [53]

Thuật ngữ tộc người xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XIX, ban đầu nó đượcdùng để chỉ các nhóm tộc người (groupe ethnie), hay đơn vị tộc người (unitéEthnie) Trong dân tộc học, khi đó Ethnie tương ứng như ethnic, ethnos, ethikum,ethnea,…Cho đến khoảng những năm sáu mươi của thế kỷ XX, thuậtngữ Ethnie mới được sử dụng rộng rãi Tuy vậy, trong thực tiễn cũng như khoahọc dân tộc và tộc người không thể là một, mà là hai khái niệm hoàn toàn khácnhau Trong khi dân tộc phải là một cộng đồng chính trị, bao gồm cư dân của mộtquốc gia có chung một nhà nước, một chính phủ, có luật pháp thống nhất,…thì tộcngười là cộng đồng cùng văn hóa, phong tục tập quán, không nhất thiết phải cư trútrên một cùng lãnh thổ, một nhà nước hay dưới sự quản lý điều hành của một chínhphủ với những đạo luật chung thống nhất [40] [53]

Với nhận thức trên, trong thế giới hiện đại của chúng ta ngày nay, đang tồntại các loại hình cộng đồng dân tộc và cộng đồng tộc người Trên thế giới, đa số

Trang 22

các quốc gia đều là đa dân tộc, tức là cộng đồng cư dân ở đó gồm nhiều tộc người.Tuy vậy cũng có quốc gia chỉ có một tộc người (Triều Tiên,…), trong trường hợpnày dân tộc được hiểu là tộc người cũng không sai [24].

Tại Việt Nam, tiêu chí xác định dân tộc bắt đầu được đề cập từ 1960 và năm

1973 tại Hà Nội đã tiến hành hai cuộc Hội thảo khoa học (vào tháng 6 và tháng 11).Các hội thảo đã thống nhất lấy dân tộc/tộc người làm đơn vị cơ bản trong xác địnhthành phần dân tộc ở Việt Nam Ba tiêu chí để xác định dân tộc/tộc người, đượcthống nhất sử dụng: có chung tiếng nói (ngôn ngữ mẹ đẻ); có chung những đặcđiểm sinh hoạt văn hóa (đặc trưng văn hóa), có cùng ý thức tự giác, tự nhận cùngmột dân tộc Với các tiêu chí này, thành phần dân tộc tại Việt Nam khi đó được xácđịnh bao gồm 59 dân tộc (ở miền Bắc có 36 dân tộc và ở miền Nam có 23 dân tộc)[24] [60] [33]

Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trênphạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Dân tộc thiểu số rất ítngười là dân tộc có số dân dưới 10.000 người [17] [59]

Vùng dân tộc thiểu số là địa bàn có đông các DTTS cùng sinh sống ổn địnhthành cộng đồng trên lãnh thổ đất nước Đối với vùng DTTS phía Bắc có 132/140đơn vị cấp huyện, thị có cộng đồng DTTS với số lượng 10.000 người trở lên (trừ 03huyện của Bắc Giang và 05 huyện của Phú Thọ), chiếm 94,16% đơn vị hành chính

và 98% diện tích toàn vùng Tại khu vực nông thôn, miền núi, có 110/140 huyện có

từ 10.000 người DTTS trở lên với tổng số người DTTS là 5.704.903 người chiếm67,6% [17] [59]

1.1.3 Các nhóm dân tộc thiểu số và đặc điểm dân tộc Dao tại Việt NamTính đến năm 2009, Việt Nam hiện có 54 dân tộc trong đó dân tộc Kinhchiếm tỷ lệ đông nhất (85,7%) Như vậy, các nhóm DTTS chỉ chiếm 14,5% dân số

cả nước và các nhóm DTTS đông dân nhất bao gồm Tày, Thái, Mường, Khmer vàH’mong Các nhóm DTTS này sống tập trung ở miền núi, vùng sâu, vùng xa tại cáckhu vực miền Bắc, Tây Nguyên và đồng bằng sông Mê Kông [66]

Trang 23

Bảng 1.1 Các dân tộc thiểu số đông dân nhất ở Việt Nam [76]

T ỷ l

1 , 0 M

0 , 5 H

0 , 4

Các nhóm DTTS tại Việt Nam hiện đang phải đối mặt với những vấn đề khókhăn trong kinh tế, giáo dục và y tế Theo kết quả Tổng điều tra hộ nghèo năm

2011, người nghèo tập trung phần lớn ở khu vực nông thôn với khoảng 90%, tậptrung chính tại một số tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, miền núi Duyên hảimiền Trung, Tây Nam Bộ và người DTTS chiếm gần 50% số người nghèo trong cảnước [19] Về giáo dục, tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông trung học trong các dân tộc ítngười đặc biệt là các em gái còn quá thấp Theo thống kê năm 2010, số ngườikhông biết đọc, biết viết chiếm 19% của cả nước và chiếm 39% trong nhóm cácDTTS Về y tế, tỷ lệ suy dinh dưỡng vẫn ở mức cao, đặc biệt là suy dinh dưỡng trẻ

em với 32% số trẻ em không đủ cân nặng cần thiết Các nhóm DTTS không nhữngphải đối mặt với một số căn bệnh thường gặp mà còn cả những căn bệnh nghiêmtrọng như HIV/AIDS [19] [18] [71]

Tính đến năm 2009, nhóm đồng bào dân tộc Dao hiện đang đứng thứ 8 trongnhóm những DTTS đông dân nhất tại Việt Nam với 751.067 người (0,9%) Ngườidân tộc Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu hết các tỉnh miền núi miềnBắc Một số nhóm Dao Quần trắng sống ở thung lũng, còn Dao Đỏ sống trên núicao Người Dao có nhiều tên gọi khác nhau dựa trên các đặc điểm về trang phục,phong tục tập quán,… như Dao Tiền, Dao Quần Chẹt, Dao Đỏ, Dao Lô Gang, Dao

Trang 24

Áo Dài,…Thực tế, người Dao là một dân tộc có chung nguồn gốc, truyền thuyết thờBản Vương và chung ngôn ngữ [72] [76].

Số lượng người Dao tăng lên nhanh chóng qua 2 cuộc tổng điều tra 1979 và

1989, bình quân mỗi năm tăng 3,3% Đó là do mức sinh bình quân cho một phụ nữtrong độ tuổi sinh đẻ cao (1980-1985: 7 con) Số con đã sinh bình quân của phụ nữDao là 2,42 con (trong đó người Kinh là 1,68), Số con hiện còn sống bình quân ởmức 2,27 con (người Kinh là 1,62), tổng tỷ suất sinh giảm từ 6,90 năm 1989 xuốngcòn 3,62 vào năm 1999 [76]

Tại Yên Bái, nhóm đồng bào dân tộc Dao có khoảng 83.342 người, chiếmkhoảng 11% dân số toàn tỉnh Yên Bái và phần lớn sống tại huyện Văn Chấn NgườiDao sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nương, trồng quế và từ lâu đã có sự giao lưurộng rãi với các đối tượng buôn bán quế, gia súc, gia cầm

Đồng bào dân tộc Dao ở Văn Chấn có lịch sử lâu đời về việc trồng cây thuốcphiện Cùng với người Mông, người Dao là một trong hai dân tộc duy nhất ở khuvực Đông Dương trong quá khứ đã từng được phép trồng thuốc phiện cho tiêu dùngtrong nước do đó thuốc phiện xâm nhập vào cuộc sống kinh tế và xã hội của hainhóm DTTS trên Tuy nhiên, do sự gia tăng sử dụng ma tuý bất hợp pháp nên năm

1995, Chính phủ đã triển khai một chiến dịch rộng lớn liên tục cấm trồng cây thuốcphiện [55] [69]

Một tập tục khác của nhóm DTTS nói chung và dân tộc Dao nói riêng có ảnhhưởng tới sức khoẻ sinh sản của cộng đồng là tập tục kết hôn sớm vẫn phổ biến Nữthanh niên dân tộc Dao thường thôi học vào lớp 7, lớp 8 để chuẩn bị kết hôn Tuổikết hôn trung bình là từ 16-18 tuổi, đôi khi ít hơn Đặc biệt, quan điểm quan hệ tìnhdục rộng rãi được coi là rất bình thường với người dân tộc Dao Một người nam giớihay một người phụ nữ thường có nhiều bạn tình, chỉ đơn thuần là thích nhau Saukhi đã lập gia đình thì ngoại tình thường vẫn xảy ra kín đáo và tương đối phổ biến ởngười Dao Các phong tục trong hôn nhân nêu trên của của dân tộc Dao tiềm ẩnnhững nguy cơ về sức khoẻ sinh sản của thanh thiếu niên, đặc biệt là dẫn tới hành vi

Trang 25

QHTD không an toàn và nguy cơ lây nhiễm HIV và các nhiễm trùng qua đường tình dục [69] [101] [115] [94].

1.2 TÌNH HÌNH NHIỄM HIV/STI Ở NHÓM DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM

1.2.1 Trên thế giới

1.2.1.1 Tình hình nhiễm HIV

Kết quả tổng hợp từ các nghiên cứu và các hệ thống giám sát trên thế giới đãcho thấy có sự ảnh hưởng lớn của dịch HIV/AIDS/STI đến các nhóm dân tộc khácnhau Nghiên cứu của Mark Cichoki và cộng sự được thực hiện tại Mỹ năm 2008 vềảnh hưởng của HIV/AIDS lên các nhóm chủng tộc và DTTS cho kết quả là chủngtộc và DTTS chiếm 71% các trường hợp mắc AIDS mới và đại diện cho 64% nhữngngười hiện đang sống chung với AIDS Tại Mỹ, có khoảng 2% người Mỹ gốc Phinhiễm HIV dương tính Tỷ lệ này cao hơn nhiều lần so với các nhóm chủng tộckhác Số lượng các trường hợp AIDS trên 100.000 dân trong nhóm người Mỹ gốcPhi cao hơn 9 lần so với người da trắng Người Mỹ gốc Phi chiếm 55% các ca tửvong do AIDS Những người Mỹ gốc Phi có tỷ lệ sống sót sau khi chẩn đoán AIDSthấp hơn so với các nhóm chủng tộc hoặc dân tộc khác AIDS là nguyên nhân thứ 4gây ra tử vong ở nam giới người Mỹ gốc Phi và là nguyên nhân thứ 3 gây ra tửvong ở phụ nữ Mỹ gốc Phi Xếp hạng này là cao hơn so với bất kỳ nhóm chủng tộchoặc dân tộc khác Cũng trong nghiên cứu của Mark Cichocki, phụ nữ da màuchiếm 79% của tất cả các ca nhiễm mới ở độ tuổi từ 13 đến 19 tuổi và 75% ở phụ

nữ từ 20 đến 24 tuổi Trong tất cả những người từ 50 tuổi trở lên hiện đang nhiễmHIV/AIDS, hơn một nửa (52%) là người Mỹ gốc Phi và gốc Tây Ban Nha Trongtất cả những nam giới từ 50 tuổi trở lên hiện đang nhiễm HIV/AIDS, 49% là người

Mỹ gốc Phi và gốc Tây Ban Nha Trong tất cả những nữ giới từ 50 tuổi trở lên hiệnđang nhiễm HIV/AIDS, 70% là người Mỹ gốc Phi và gốc Tây Ban Nha Số lượngcác trường hợp nhiễm HIV/AIDS tiếp tục gia tăng trong cộng đồng da màu [111]

Tại Trung Quốc, HIV/AIDS bắt đầu có tỷ lệ nhiễm HIV đáng báo động ởtỉnh miền núi Vân Nam với số lượng lớn các ca nhiễm mới Cũng như với các quốc

Trang 26

gia khác trong cùng khu vực, DTTS là một trong các nhóm dễ bị tổn thương nhấttrong các nhóm quần thể Đặc biệt, các nhóm DTTS sống ở khu vực biên giới cónguy cơ cao tiếp xúc dễ dàng với sự sẵn có của ma túy Tính đến tháng 9 năm 2006,tỉnh Vân Nam có 47.314 người sống chung với HIV/AIDS Con số này chiếm gần25% tổng số quốc gia Giám sát trọng điểm ở tỉnh Vân Nam bắt đầu vào năm 1992với năm nhóm là người sử dụng ma túy, người khám các bệnh LTQĐTD, PNBD,phụ nữ mang thai và các nhóm quần thể khác Năm 1990, tỷ lệ nam giới nhiễm HIVtrên nữ giới ở mức 40:1 và năm 2000 là 6:1 Khoảng 95% những người bị nhiễmHIV có độ tuổi dưới 30 Năm 1990, những người từ các cộng đồng dân tộc thiểu sốchiếm 81% của tất cả các trường hợp nhiễm HIV nhưng đến năm 2000, nó chiếmchỉ có 11% cho thấy sự gia tăng nhanh chóng lây nhiễm trong dân số đô thị Tổngcộng có 7.973 ca nhiễm HIV được báo cáo từ 1988 đến 2000 ở Vân Nam chiếm50% tổng số báo cáo nhiễm HIV ở Trung Quốc [82] [81].

Trong những năm của thập kỷ 1990, tại tỉnh miền núi Chiang Rai, Thái Lan

đã có tỷ lệ hiện nhiễm HIV cao nhất tại Thái Lan trong giám sát trọng điểm với cácnhóm PNBD trực tiếp, nam giới khám các bệnh STI Trong khi tỷ lệ hiện nhiễm đãđược giảm ở Thái Lan trong những năm gần đây, thì tại các nước láng giềng vẫn cómột số lượng lớn những người bị nhiễm HIV tính đến thời điểm hiện tại Dịch tễhọc HIV/AIDS ở Thái Lan được biết đến với xu hướng lây nhiễm và tử vong đượcghi nhận và phân tích như các mô hình cho việc so sánh với xu hướng của các nướckhác trong khu vực Dịch tễ học HIV/AIDS tại Thái Lan đã được bổ sung một phầnquan trọng là hình ảnh chi tiết tỷ lệ nhiễm HIV trong các nhóm DTTS Khoảng 1triệu người tại Thái Lan đã bị nhiễm kể từ khi đại dịch được phát hiện đầu tiên vàocuối những năm 1980 và gần 300.000 người đã chết vì AIDS Trong số này, cáctỉnh miền núi phía Bắc đã bị ảnh hưởng nặng nề nhất với tỷ lệ tử vong cao đáng kểlàm giảm tuổi thọ ở khu vực này Mặc dù số liệu cụ thể cho các nhóm DTTS chưađược tổng hợp từ kết quả giám sát trọng điểm, tuy nhiên một số điểm nghiên cứu có

tỷ lệ hiện nhiễm HIV cao là ở các làng DTTS Theo số liệu của một cuộc giám sátdịch tễ học được tiến hành bởi Trung tâm Điều trị Ma túy khu vực phía Bắc vào

Trang 27

năm 1994 cho thấy rằng 52% người sử dụng ma túy khu vực miền núi bị nhiễmHIV [82] [81] [80].

1.2.1.2 Tình hình mắc các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STI)Trong nghiên cứu về HIV, các nhiễm trùng STI và các hành vi tình dục củanhóm khách làng chơi tại vùng có đông người DTTS sinh sống tại Ấn Độ, tỷ lệnhiễm HIV trong khoảng từ 2,0 % đến 10,9% , bệnh giang mai dao động từ 3,1%đến 10,1% ; bệnh lậu và chlamydia dao động từ 0% đến 4,5% Các yếu tố liên quanchính đến kết quả này là sử dụng bao cao su không phù hợp với gái mại dâm liênquan đáng kể với các khách hàng lớn tuổi hơn (OR=4,2 , 95 % CI: 3,33-5,29 ) vàquan hệ với nhiều PNBD trong tháng vừa qua (OR=1,64 , 95 % CI: 1,23-2,18 )[116]

Trong điều tra cắt ngang về tỷ lệ nhiễm các nhiễm trùng STI ở 505 PNBD làngười DTTS tại tỉnh miền núi Vân Nam, Trung Quốc, các vi khuẩn phổ biến nhấttrong các nhiễm trùng STI là Chlamydia trachomatis (58,6%), Trichomonasvaginalis (43,2%) và Neisseria gonorrhoeae (37,8%) Có 65,1% PNBD đã có bằngchứng huyết thanh tiếp xúc với nhiễm HSV-2 Tỷ lệ nhiễm HIV là 10% và tất cảđều có tiêm chích ma túy và 9,5% đã bị nhiễm giang mai [131]

Trong phân tích các nghiên cứu dựa vào cộng đồng trên nhóm 15-49 tuổi tạivùng có người DTTS sinh sống ở Yangon, Myanmar, kết quả thu được cho thấy sựphổ biến của các nhiễm trùng lây nhiễm không gây loét qua đường tình dục với11,9% nhóm đối tượng nghiên cứu tại thành thị và 14,1% tại ven đô mắc bệnh.Phân tích một nghiên cứu khác trên nhóm phụ nữ có chồng thuộc nhóm di biếnđộng và không có triệu chứng bệnh sinh dục nào, kết quả cho thấy 44,7% ngườitham gia mắc các nhiễm trùng STI Một nghiên cứu khác trên nhóm lái xe đườngdài, năm 2008-2009, có 9,8% mắc trùng roi, 4,3% mắc bệnh lậu, 4,8% mắc giangmai và 5,7% mắc Clamydia [130]

Trang 28

1.2.2 Tại Việt Nam

1.2.2.1 Tình hình nhiễm HIV

Trong 10 tỉnh, thành phố có tỷ lệ nhiễm HIV hiện đang còn sống cao nhất cảnước thì có đến 7 tỉnh là nơi tập trung nhiều đồng bào DTTS: Thái Nguyên, Sơn La,Nghệ An, Đồng Nai, Điện Biên, Thanh Hóa và An Giang [20] [15] Tại khu vựcmiền núi phía Bắc, Sơn La là tỉnh có trên một triệu dân gồm 12 dân tộc cùng sinhsống Đông nhất là dân tộc Thái chiếm 54,7%, dân tộc Kinh chỉ chiếm 17,4%, dântộc Mông chiếm 13%, dân tộc Mường chiếm 8,2% và các dân tộc khác Tỷ lệ nhiễmHIV/100.000 dân ở Sơn La đứng thứ 5 trong toàn quốc với 6.294 trường hợp mắcHIV Tính đến 31/12/2012 đã có 8.837 trường hợp HIV lũy tích được phát hiện, sốnhiễm HIV còn sống là 6.408 trường hợp, trong đó có 4.861 người chuyển sang giaiđoạn AIDS và 2.429 người đã tử vong do AIDS Dịch tập trung chủ yếu trong nhómngười NCMT với 89,2% Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT cao hơn nhiều kếtquả điều tra IBBS năm 2009 tại Sơn La (31,1%) Người NCMT ở Sơn La có cáchành vi nguy cơ lây nhiễm HIV cao với trên 27% người NCMT sử dụng chungBKT trong 1 tháng qua Tỷ lệ người NCMT không thường xuyên sử dụng BCS khiQHTD với PNBD và bạn tình thường xuyên cũng rất cao, tương ứng là 61,1% và61,8% Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm PNBD là 4,5% cũng cao hơn tỷ lệ trung bìnhtrong toàn quốc Mặc dù chưa có nhiều nghiên cứu về hành vi và tỷ lệ lây nhiễmHIV trong nhóm DTTS tại Sơn La, nhưng qua các số liệu về tình hình dịch toàn tỉnhvới đa số người dân thuộc các nhóm DTTS do đó nhóm này cũng chịu tác độngkhông nhỏ của dịch [27] [54] [36]

Tại Thanh Hóa, từ ca nhiễm đầu tiên phát hiện năm 1995 tại huyện ĐôngSơn, tính đến cuối năm 2012, số người nhiễm HIV còn sống của toàn tỉnh là 5.089người, số bệnh nhân AIDS còn sống là 2.340 và số người tử vong do AIDS là 1.000người Trong 10 huyện/ thành phố trực thuộc tỉnh có số nhiễm HIV cao nhất làThành phố Thanh Hóa (1.678), Quan Hóa (593), Thọ Xuân (420), Mường Lát(409), Quảng Xương (313), Bỉm Sơn (236), Tĩnh Gia (222), Bá Thước (204), SầmSơn (169), Hà Trung (159), HIV có mặt tại 100% huyện, thị xã, thành phố; 86,8%

Trang 29

(551/637) xã, phường Trong số này, hai huyện Quan Hóa và Mường Lát là haihuyện miền núi trọng điểm về tình hình ma túy và HIV/AIDS Tại hai huyện này,cũng có rất đông người DTTS sinh sống trong đó chủ yếu là dân tộc Thái [32][33].Trước năm 2005, các ca nhiễm HIV được phát hiện hàng năm chỉ dưới 300 người.

Từ năm 2006 đến 2010 số phát hiện mới nhiễm HIV công khai danh tính trên địabàn toàn tỉnh liên tục tăng theo năm, tăng từ 459 trường hợp năm 2006 đến 771trường hợp trong năm 2008 Từ năm 2009 số phát hiện mới nhiễm HIV, bệnh nhânAIDS và tử vong có xu hướng giảm dần [29] [30]

Tại khu vực miền Nam, Đồng Nai có dân số là 2.486.154 người với 4 nhómdân tộc trên địa bàn Nhóm DTTS đông nhất là dân tộc Hoa chiếm 3,8%, Tày chiếm0,6% Đồng Nai cũng là một trong 10 tỉnh có tỷ lệ nhiễm HIV trong 100.000 dânnhiều nhất trong toàn quốc Chủ yếu tập trung ở nhóm NCMT, PNMD Tính đếntháng 9/2012, toàn tỉnh có 6.431 người nhiễm HIV, 2.476 người chuyển sang AIDS

và số người tử vong do AIDS là 1.500 người và một trong những huyện có tỷ lệmắc cao là Trảng Bom có đông đồng bào DTTS sinh sống [6] [31] Dân tộc Khmersống chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng sông Mê kông: Sóc Trăng, Vĩnh Long, Cần Thơ,

An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang và Trà Vinh Dân tộc Khmer chiếm tới 30% dân

số tỉnh Sóc Trăng, hơn 12% dân số tỉnh Kiên Giang và khá đông ở những tỉnh lâncận Đây cũng là địa bàn có tỷ lệ nhiễm HIV cao và diễn biến phức tạp, tỷ lệ lâynhiễm HIV chính qua đường tình dục [6] [31] [44] Số liệu liên quan đến đồng bàodân tộc Khmer liên quan đến ma túy và mại dâm còn rất thiếu Tuy nhiên, đã cónghiên cứu của UNODC chỉ ra rằng phụ nữ và trẻ em gái ở nhiều tỉnh đồng bằngsông Cửu Long có biên giới với Campuchia là đối tượng của nạn buôn bán qua biêngiới Một số người trong số đó đã trở thành mại dâm ở các nước khác và sau mộtthời gian bỏ trốn về Việt Nam chưa có công ăn việc làm lại tiếp tục hành nghề mạidâm Việc có đầy đủ kiến thức về phòng lây nhiễm HIV/AIDS cũng như có sẵnBCS trong lúc phải đi bán dâm chưa được trang bị đầy đủ là nguyên nhân gây lâynhiễm HIV cho những nhóm đối tượng này [27]

Trang 30

Theo kết quả giám sát trọng điểm, dù chiều hướng lây nhiễm HIV trongnhóm NCMT của các tỉnh thuộc khu vực Tây Bắc đang có xu hướng giảm từ 24,2%(năm 2006) xuống 18,4% (năm 2011), nhưng nếu so sánh với các khu vực khác, tỷ

lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT khu vực này vẫn là cao nhất Bên cạnh đó, nguy

cơ dịch tăng cao trong nhóm NCMT dùng chung BKT là rất lớn Qua kết quả giámsát trọng điểm năm 2011, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT dao động từ 23,7%tại Ðiện Biên đến 35,3% tại Lào Cai, cao hơn hai lần so với mức 12% ở Hà Nội Ởnhóm PNBD, tỷ lệ nhiễm HIV tại khu vực này là 4,5%, cao hơn tỷ lệ chung củatoàn quốc (2,9%) và chỉ thấp hơn tỷ lệ của khu vực đồng bằng Bắc Bộ (5,2%) [6][27] [77]

Dự án “Phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam” do Ngân hàng thế giới tài trợ

đã tiến hành điều tra IBBS nhóm NCMT, PNBD năm 2006-2007 tại một số tỉnhmiền núi phía Bắc (Sơn La và Lai Châu), có trên 75% là người DTTS trong tổng sốmẫu điều tra Kết quả HIV dương tính 40,6% ở nhóm NCMT và 4,5% ở nhómPNBD [27] Trong nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm HIV và hành vi nguy cơ ở nhómNCMT tại tỉnh miền núi Cao Bằng năm 2009, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm đốitượng nghiên cứu là 24,2% [37]

Kết quả điều tra "Tỷ lệ nhiễm HIV và hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trongmột số nhóm DTTS từ 15-49 tuổi" năm 2006 cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở nhómdân tộc Thái huyện Quan Hoá (Thanh Hoá) là 6%, trong đó hầu hết là ngườiNCMT Cũng trong nghiên cứu này, ở một số nhóm dân tộc khác có tỷ lệ nhiễmHIV dưới 1% như dân tộc dân tộc Tày, Nùng (Đồng Nai) là 0,8%; H'Mông (LaiChâu) là 0,6%; dân tộc Sán Chay, Sán Dìu (Thái Nguyên) là 0,5% và dân tộcKhmer tại Hậu Giang, Kiên Giang và An Giang lần lượt là 0,5%; 0,2% và 0,1% [6]

Theo kết quả điều tra cặp vợ chồng người NCMT tại hai huyện miền núi củatỉnh Thanh Hóa cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV cao trên nhóm NCMT tại cả huyệnMường Lát (46,0%) và huyện Quan Hóa (63,0%) Tỷ lệ nhiễm HIV trên nhóm vợcủa người NCMT cũng rất cao tại huyện Mường Lát (19,0%) và Quan Hóa (11,0%)[78]

Trang 31

Điều tra kết hợp các chỉ số hành vi và sinh học được Dự án phòng chốngHIV/AIDS khu vực châu Á tại Việt Nam (HAARP) triển khai tại 3 tỉnh Hòa Bình,Tuyên Quang, Bắc Kạn năm 2009-2010 trên 200 người NCMT (chủ yếu là ngườicác DTTS) để thu thập các thông tin cơ bản về tình hình sử dụng ma túy, lây nhiễmHIV và các hành vi nguy cơ cao trong nhóm NCMT Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệhiện nhiễm HIV rất cao tại Bắc Kạn 42%, cao tại Hòa Bình 25% và Tuyên Quang20% [26].

1.2.2.2 Tình hình mắc các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục

Trong điều tra tỷ lệ nhiễm HIV và hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong một

số nhóm DTTS từ 15-49 tuổi năm 2006, tỷ lệ các nhóm DTTS tự khai báo có mắccác triệu chứng các nhiễm trùng STI trong 12 tháng qua không quá 4,7% Các tỉnh

có tỷ lệ tự báo cáo cao nhất là dân tộc Nùng ở Bắc Giang (4,7%), dân tộc Khmer ởHậu Giang (4,0%), An Giang (3,3%) và Kiên Giang (3,1%) và dân tộc Raglay ởKhánh Hòa (3,0%) Cũng trong điều tra này, kết quả xét nghiệm giang mai cho tỷ lệmắc giang mai khá thấp trong nhóm dân tộc Khmer với khoảng 1,6% tại An Giang,1,5% tại Hậu Giang và 1,4% tại Kiên Giang Đặc biệt là tại các tỉnh miền Bắc nhưCao Bằng, Bắc Giang, Thái Nguyên và Lai Châu, không phát hiện ra trường hợpmắc giang mai nào [6]

Trong nghiên cứu đánh giá kiến thức, thái độ, hành vi và hiệu quả can thiệpgiảm thiểu nguy cơ lây nhiễm HIV trong một số nhóm DTTS 15-49 tuổi tại ViệtNam năm 2012 của Dự án Phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam do, tỷ lệ mắc giangmai của đồng bào dân tộc Thái ở Sơn La là 1,4% Các tỉnh còn lại trong nghiên cứunày đều có tỷ lệ nhiễm giang mai thấp dưới 1% Tuy nhiên, tỷ lệ các nhóm DTTS tựkhai báo có mắc các triệu chứng các nhiễm trùng STI trong 12 tháng qua lại khácao Các tỉnh có tỷ lệ tự báo cáo cao nhất là dân tộc Raglay ở Khánh Hòa (9,2%),dân tộc Khmer ở Kiên Giang (6,0%), dân tộc Sán Chay, Sán Dìu ở Thái Nguyên(4,7%) [31]

Theo báo cáo của Trung tâm phòng chống bệnh xã hội tỉnh Yên Bái từ năm2007-2012, tỷ lệ nhiễm giang mai trong nhóm đồng bào dân tộc Dao tại huyện Văn

Trang 32

Yên là 1,1% và tỷ lệ này cao hơn so với tỷ lệ nhiễm giang mai trong quần thể nhân dân nói chung của cả nước (khoảng 1%) [67]

Nghiên cứu về các nhiễm trùng STI trong nhóm PNBD dân tộc Khmer tạiSóc Trăng cho kết quả khá cao với tỷ lệ mắc lậu hoặc Clamydia Trong đó, tỷ lệnhiễm là 14,9% cho bệnh lậu, 48,4% cho Clamydia, 54,9% nhiễm lậu hoặcClamydia, 3,8% đối với bệnh giang mai, 8,9% nhiễm Trichomonas và 12,2% mắcnấm [109]

Nghiên cứu về các nhiễm trùng STI trong nhóm PNBD dân tộc Khmer tại 5tỉnh biên giới là Lai Châu, Quảng Trị, Đồng Tháp, An Giang và Kiên Giang cũng

có tỷ lệ mắc lậu hoặc Clamydia khá cao Tỷ lệ nhiễm giang mai, lậu, Chlamydia vàlậu/Chlamydia trong nhóm PNBD ở năm tỉnh biên giới là 10,7% , 10,7% , 11,9% và19,9% Tỷ lệ mắc lậu/chlamydia cao hơn ở khu vực phía Bắc và miền Trung (27-33

%) so với khu vực phía Nam (11-24%) Sự phổ biến của bệnh giang mai thấp ở LaiChâu (1%), nhưng lại ở mức cao với 10% trong bốn tỉnh biên giới còn lại [110]

Theo kết quả nghiên cứu năm 2012 trên 513 bệnh nhân người DTTS từ

15-49 tuổi tại 5 tỉnh miền Trung và Tây Nguyên, tỷ lệ nhiễm lậu là 24,4%, nhiễmClamydia Trachomatis là 13,8% [57]

1.3 NGUY CƠ NHIỄM HIV/STI Ở NHÓM DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM

1.3.1 Trên thế giới

1.3.1.1 Nguy cơ lây nhiễm HIV/STI qua hành vi sử dụng ma túy

Tại Mỹ, trong tất cả những người từ 50 tuổi trở lên hiện đang nhiễmHIV/AIDS, hơn một nửa (52%) là người Mỹ gốc Phi và gốc Tây Ban Nha Trongtất cả những nam giới từ 50 tuổi trở lên hiện đang nhiễm HIV/AIDS, 49% là người

Mỹ gốc Phi và gốc Tây Ban Nha Trong tất cả những nữ giới từ 50 tuổi trở lên hiệnđang nhiễm HIV/AIDS, 70% là người Mỹ gốc Phi và gốc Tây Ban Nha Số lượngcác trường hợp nhiễm HIV/AIDS tiếp tục gia tăng trong cộng đồng da màu Hệthống giáo dục, các nhân viên y tế, và các nhà lãnh đạo cộng đồng đã được thôngbáo và cảnh báo cho người dân về HIV, sự nguy hiểm của việc QHTD mà không

Trang 33

dùng BCS, sự nguy hiểm của tiêm chích ma túy và sử dụng kim tiêm nhiễm trùng

và tầm quan trọng của việc xét nghiệm [111]

Tại CHDCND Lào, việc di chuyển của các nhóm đồng bào dân tộc miền núithông qua các chương trình tái định cư, xoá bỏ thuốc phiện, xây dựng đường xá và

du lịch đã làm gia tăng sự khó khăn của người dân địa phương Tình trạng này đãđẩy nhiều cô gái DTTS vào hoạt động mại dâm chính thức và không chính thức,đồng thời họ có nguy cơ tiếp xúc với việc sử dụng ma túy và rủi ro lớn hơn là thamgia vào việc buôn bán, vận chuyển ma túy Ngày càng có nhiều chất kích thích loạiamphetamine được sử dụng, đặc biệt trong nhóm nam thanh niên Trong một sốtrường hợp, người sử dụng lao động còn khuyến khích việc sử dụng chất kích thích

để giúp cho công nhân của họ sản xuất nhiều sản phẩm hơn Mặc dù tỷ lệ nhiễmHIV tổng thể của cả nước thấp, nhưng đã xuất hiện mối đe dọa ngày càng tăng rằngCHDCND Lào sẽ tiếp bước mô hình dịch của các nước láng giềng [82] [81] [118]

Tại tỉnh miền núi Vân Nam, Trung Quốc trước khi xuất hiện trường hợpnhiễm HIV đầu tiên năm 1989 đã tìm thấy trong số lượng lớn những người tiêmchích ma túy ở mức tỷ lệ 40-80% Có hơn 900.000 người sử dụng ma túy đượcquản lý ở Trung Quốc vào năm 2001, tuy nhiên, con số thực tế của người nghiện matúy có lẽ là nhiều lần cao hơn Theo số liệu từ hệ thống giám sát trong năm 2001, tỷ

lệ người sử dụng ma túy bằng đường tiêm chích là khoảng 60%, nhiều người trong

số họ dùng chung kim chích Cũng như với các quốc gia khác trong cùng khu vực,DTTS là một trong các nhóm dễ bị tổn thương nhất trong các nhóm quần thể Đặcbiệt, các nhóm DTTS sống ở khu vực biên giới có nguy cơ cao tiếp xúc dễ dàng với

sự sẵn có của ma túy Tính đến tháng 9 năm 2006, tỉnh Vân Nam có 47.314 ngườisống chung với HIV/AIDS Con số này chiếm gần 25% tổng số quốc gia [82] [81][80] [95]

Nghiên cứu về nguy cơ lây nhiễm HIV cao trong số người nghiện ma túythuộc nhóm DTTS Uigur ở vùng tây bắc Trung Quốc, nghiên cứu cho thấy rằngngười dân tộc Uigur có nguy cơ lây nhiễm HIV cao và cần có các biện pháp can

Trang 34

thiệp dự phòng lây nhiễm HIV cụ thể tập trung cho nhóm nghiện ma túy và cộngđồng của họ [99].

1.3.1.2 Nguy cơ lây nhiễm HIV/STI qua hành vi quan hệ tình dục

Giám sát trọng điểm ở tỉnh Vân Nam bắt đầu vào năm 1992 với năm nhóm làngười sử dụng ma túy, người khám các nhiễm trùng STI, PNBD, phụ nữ mang thai

và các nhóm quần thể khác Năm 1990, tỷ lệ nam giới nhiễm HIV trên nữ giới ởmức 40:1 và năm 2000 là 6:1 Khoảng 95% những người bị nhiễm HIV có độ tuổidưới 30 Năm 1990, những người từ các cộng đồng dân tộc thiểu số chiếm 81% củatất cả các trường hợp nhiễm HIV nhưng đến năm 2000, nó chiếm chỉ có 11% chothấy sự gia tăng nhanh chóng lây nhiễm trong dân số đô thị Tổng cộng có 7.973 canhiễm HIV được báo cáo từ 1988 đến 2000 ở Vân Nam chiếm 50% tổng số báo cáonhiễm HIV ở Trung Quốc Hiện nay, 60% các ca tử vong liên quan đến AIDS xảy

ra ở Vân Nam Trong khi các đường lây truyền chủ yếu vẫn thông qua việc sử dụngchung BKT trong nhóm NCMT với 85% trường hợp nhiễm HIV được tìm thấytrong số người NCMT Bằng chứng cho thấy lây nhiễm HIV qua đường QHTD bắtđầu tăng từ giữa năm 1997 Trong năm 2001, QHTD là nguyên nhân của 8,4% cáctrường hợp nhiễm HIV và 1% do lây truyền từ mẹ sang con [80] [82] [81] [95]

Tại khu vực châu Á, thập kỷ qua đã chứng kiến một sự gia tăng rất lớn trongviệc buôn bán trẻ em gái và phụ nữ từ Myanmar và Vân Nam (Trung Quốc) vàoThái Lan để làm việc trong ngành công nghiệp tình dục Phụ nữ và trẻ em gái từTrung Quốc và Myanmar được tìm thấy làm việc trong các nhà thổ, tiệm massagetại miền Bắc Thái Lan Tuy nhiên, tác động tập thể lớn nhất chủ yếu là nhóm DTTSvùng cao của biên giới Thái Lan - Myanmar - Lào - Trung Quốc Nhiều mạng lướiđược hình thành đi vào các làng miền núi xa xôi để mua bán, bắt cóc, hoặc thu hútphụ nữ và trẻ em gái vào các đường dây cung cấp lao động cho ngành công nghiệptình dục tại Thái Lan Bên cạnh đó, tình trạng nghèo đói, chiến tranh, cưỡng bức laođộng và đàn áp cũng đã làm cho nhiều gia đình chạy trốn qua biên giới Myanmar vàviệc vào ngành công nghiệp tình dục là một sự lựa chọn hợp lý cho phụ nữ trẻ mongmuốn đóng góp kinh tế cho gia đình [82] [81] [121]

Trang 35

Nghiên cứu từ 2004-2008 trong số người DTTS từ 15-49 tuổi sống ở khuvực đường cao tốc xuyên Á đi qua Lào nơi tiếp giáp với Thái Lan và Trung Quốc,kết quả nghiên cứu cho thấy nguy cơ lây nhiễm HIV trong số những người dân tộc

về hành vi tình dục không an toàn, có 61,9% người trả lời không sử dụng BCS tronglần QHTD gần nhất với bạn tình bất chợt, đặc biệt tỷ lệ này cao trong nhóm phụ nữ

và người lớn tuổi Do đó nghiên cứu cũng cảnh báo nguy cơ lây nhiễm HIV trongnhóm người dân tộc thiểu số sống dọc đường cao tốc xuyên Á [92]

Kết quả từ nghiên cứu phân tích tổng hợp các điều tra cắt ngang tại Myanmartrên nhóm 15-49 tuổi là những đối tượng có nhiều mối quan hệ tình dục có khảnăng nhiễm ít nhất một nhiễm trùng STI và những người không sử dụng BCS liêntục trong 2 tuần hoặc có nhiều mối quan hệ tình dục có khả năng bị đa nhiễm trùnglây truyền qua đường tình dục (p<0,05) [130]

1.3.2 Tại Việt Nam

Tại Việt Nam, phần lớn khu vực DTTS sinh sống lại có nhiều nguy cơ tiềmtàng làm lây lan HIV/AIDS như trồng và sử dụng cây thuốc phiện, buôn bán vậnchuyển ma tuý, lạm dụng chất ma túy Tình hình tiêm chích ma tuý trong nhómđồng bào DTTS nhất là vùng sâu vùng xa và biên giới đang gia tăng Những vấn đềcủa phụ nữ DTTS bao gồm gánh vác các công việc nặng nhọc, ít có quyền ra quyếtđịnh liên quan đến vấn đề sinh sản và ít có cơ hội học tập, nâng cao kiến thức Một

số phụ nữ DTTS đi tới các vùng khác, đô thị hành nghề mại dâm [76] [72] [71][120]

Theo kết quả tổng điều tra hộ nghèo (62/63 tỉnh, thành) theo chuẩn nghèomới (năm 2011), tổng số hộ nghèo của cả nước là khoảng trên 3,3 triệu hộ (chiếm tỷ

lệ 15,25%) [65] Người nghèo tập trung phần lớn ở khu vực nông thôn (90%); ởmột số tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, miền núi Duyên hải miền Trung, TâyNam Bộ, là những nơi đồng bào DTTS sinh sống, tỷ lệ hộ nghèo còn cao (trên50%) Sự đa dạng của các dân tộc sống ở Việt Nam với các yếu tố văn hóa, xã hội

và kinh tế ở mức độ khác nhau giữa các nhóm DTTS dẫn đến dễ bị tổn thương đốivới HIV/AIDS và việc tiếp cận các dịch vụ y tế cũng tương ứng với nguồn lực còn

Trang 36

tương đối yếu và đây là vấn đề mà chương trình và các dự án cần nỗ lực để giảmbớt lỗ hổng này Dịch HIV trong nhóm DTTS đang diễn ra hết sức phức tạp và khókiểm soát Tác động của dịch HIV đối với nhóm DTTS đã ảnh hưởng lớn đến cộngđồng và người dân trong nhóm này đang phải đối mặt với nhiều thách thức xã hội

và kinh tế, chẳng hạn như nghèo đói, lạm dụng chất ma túy, mại dâm, bất bình đẳng

về chăm sóc sức khỏe [65] [72] Với mức độ di biến động dân cư ngày càng tăng vàphát triển kinh tế đang diễn ra tại một số khu vực DTTS, tương ứng các chính sáchphát triển quốc gia thúc đẩy nền kinh tế làm gia tăng động lực cho thương mại vàgiao lưu, góp phần gia tăng nhanh chóng tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS [91] Sự lây lannhanh chóng của HIV, các mối tương quan của đói nghèo, hạn chế tiếp cận với cácdịch vụ giáo dục và y tế Áp lực phải thay đổi lối sống sinh hoạt truyền thống dẫnđến dễ bị tổn thương với HIV/AIDS [65] [64] Những rào cản đối với việc tiếp cậnphòng chống HIV/AIDS của đồng bào DTTS bao gồm: Hạn chế tiếp cận các dịch

vụ phòng lây nhiễm HIV như vấn đề địa hình và giao thông khó khăn, kinh tế nghèonàn và thiếu giáo dục dẫn đến dân trí thấp, kiến thức về HIV/AIDS thấp, mặt khácviệc truyền đạt kiến thức và nâng cao hành vi dự phòng rất khó khăn do lối sống địaphương và phong tục tập quán; Tiếp xúc với nguy cơ cao dễ bị tổn thương như tìnhdục không an toàn và sử dụng bơm kim tiêm không an toàn có liên quan với một sốnhóm nguy cơ cao tác động đến cuộc sống của các DTTS như: áp lực phải rời khỏibản làng của họ để tìm kiếm việc làm và mức sống khá hơn ở các thị trấn, thànhphố; xuất hiện tình trạng nhiều nữ thanh niên DTTS bị lạm dụng tình dục trong khikiến thức về dự phòng lây nhiễm HIV chưa đầy đủ và thiếu phương tiện hỗ trợ hành

vi an toàn như bao cao su (BCS) và áp lực thay đổi thói quen sử dụng ma túy, thamgia buôn bán vận chuyển ma túy và chuyển sang tiêm chích các loại ma túy thay thếtrong điều kiện thiếu bơm kim tiêm (BKT), thiếu kiến thức tiêm chích an toàn [64][65]

1.3.2.1 Nguy cơ lây nhiễm HIV/STI qua hành vi sử dụng ma túy

Nguy cơ bùng nổ trong việc lây truyền HIV ở đồng bào dân tộc Thái tạiQuan Hóa (Thanh Hóa) là rất cao với tỷ lệ tiêm chích ma túy lên tới 93,3% trong

Trang 37

nhóm người đã từng sử dụng ma túy và tỷ lệ hiện nhiễm HIV là 6% Tại Lai Châu,

tỷ lệ sử dụng ma tuý trong nhóm 15-49 tuổi rất cao chiếm 10,5% trong nhóm đồngbào dân tộc H’mông, trong đó có 3,4% có tiêm chích ma túy [6]

Điều tra lồng ghép các chỉ số hành vi và sinh học HIV/STI được tiến hànhnăm 2009 tại Yên Bái trên hai nhóm nguy cơ cao là người NCMT và PNBD chothấy tỷ lệ dùng chung BKT trong 6 tháng qua ở nhóm NCMT là 25% [32]

Trong điều tra kết hợp các chỉ số hành vi và sinh học cũng đã được Dự ánphòng chống HIV/AIDS khu vực châu Á tại Việt Nam (HAARP) triển khai tại 3tỉnh Hòa Bình, Tuyên Quang, Bắc Kạn năm 2009-2010 để thu thập các thông tin cơbản về tình hình sử dụng ma túy, lây nhiễm HIV và các hành vi nguy cơ cao trongnhóm NCMT, đa số người NCMT tại 3 tỉnh thuộc độ tuổi trên 30, có thời gian sửdụng và tiêm chích ma túy kéo dài (6-7 năm), tần xuất tiêm chích ma túy cao (trungbình 2 lần/ngày), khoảng một nửa đã từng cai nghiện tại các trung tâm 06/côngtrường 06 Tỷ lệ người NCMT có hành vi dùng chung BKT rất cao, đặc biệt tại HòaBình và Tuyên Quang Tại hai tỉnh trên, có từ 36- 37% người NCMT cho biết có sửdụng lại BKT đã qua sử dụng và 36%-41% có hành vi đưa cho người khác BKT củamình sau khi tiêm chích [26]

Một nghiên cứu của cơ quan liên hiệp quốc về ma túy và tội phạm (UNODC)

về sử dụng ma tuý trong các DTTS tại các tỉnh Sơn La, Lai Châu và Lào Cai đã chỉ

ra rằng “các phương tiện tiêu dùng truyền thống vùng núi đã dần dần thay đổi vàđược thay thế bằng cảnh tượng sử dụng ma tuý gần hơn với thực trạng ở thành thịcủa Việt Nam Người sử dụng ma túy có xu hướng trẻ hơn; heroin ở mức độ ít hơn

là amphetamine đang thay thế thuốc phiện một cách nhanh chóng” [27] [107].Nghiên cứu này khẳng định rằng: những người già dùng ma tuý thường có xuhướng sử dụng thuốc phiện như là lựa chọn duy nhất; việc sử dụng thuốc phiệnhàng thế kỷ trong các DTTS như một công cụ xã hội càng ngày càng ít đi; sự xuấthiện người tiêm chích ma túy đã được khẳng định là nguyên nhân xuất hiện thôngtin về đường lây truyền HIV; các dịch vụ để phát hiện HIV trong nhóm người

Trang 38

TCMT và vợ/chồng họ, và việc phân phối các dụng cụ BKT và BCS chưa được phát triển [27].

Kết quả điều tra tỷ lệ nhiễm HIV và hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trongmột số nhóm dân tộc thiểu số từ 15-49 tuổi năm 2006 cho thấy tỷ lệ sử dụng ma tuýcủa đối tượng trong nghiên cứu là 1,6%; trong số những đối tượng đã sử dụng matuý, tỷ lệ đã tiêm chích ma tuý là 20,1% [6]

1.3.2.2 Nguy cơ lây nhiễm HIV/STI qua hành vi quan hệ tình dục

Lây nhiễm HIV trong quan hệ bạn tình là việc người phụ nữ bị lây nhiễmHIV từ BTTX của họ là những người NCMT, nam giới có QHTD với nam hoặcnam giới là khách hàng mua dâm [121] Số liệu thực tế về số trường hợp nhiễmHIV mới ở phụ nữ tại Việt Nam chưa được báo cáo đầy đủ cho thấy một đại dịch cóthể xảy ra trong nhóm bạn tình của nhóm nam giới có nguy cơ cao, đặc biệt là vớinhóm NCMT Trong số này những trường hợp được báo cáo vẫn còn thiếu các sốliệu thực nghiệm thể hiện rõ sự lây nhiễm này là từ bạn tình nam hay chính từ hành

vi nguy cơ cá nhân của phụ nữ như việc sử dụng ma túy, bán dâm hoặc là do cả hai[122]

Vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân của các nhóm thanh thiếu niên(TTN) DTTS là cao hơn hẳn nhóm dân tộc Kinh Trong điều tra quốc gia về Vịthành niên và Thanh niên Việt Nam (SAVY) năm 2005, có 39,8% nam thanh niên

và 26,1% nữ thanh niên DTTS đã từng QHTD và tỷ lệ này ở nhóm TTN dân tộcKinh là 11,1% ở nam và 4% ở nữ Lý do được giải thích cho việc này là có thể dophong tục tập quán của các DTTS coi việc QHTD trước hôn nhân là hành vi bìnhthường Tần suất QHTD trong một tháng của thanh thiếu niên DTTS cũng cao hơntần suất trung bình của các nhóm khác là 7,3 ở nam và 6,1 ở nữ nhóm DTTS so với5,0 tần suất trung bình Cũng trong điều tra này, có 5,3% số thanh niên trong nhómDTTS trả lời đã có QHTD với PNBD và trong số đó tỷ lệ sử dụng BCS khi QHTDvới PNBD là 90% [14] Một nghiên cứu trong nhóm học sinh ở các trường dân tộcnội trú tại Sơn La công bố 32,8% học sinh đã có QHTD Điều này cho thấy việc

Trang 39

không giáo dục đầy đủ về hành vi an toàn tình dục thì nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm thanh thiếu niên DTTS [14].

Hiện có rất ít dữ liệu liên quan tới hoạt động mại dâm trong các nhóm DTTS.Tại khu du lịch miền núi phía Bắc, Sapa, có hai nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trẻ emgái dưới 16 tuổi đang tham gia công việc mại dâm, phần lớn họ là người dân tộcMông Nghiên cứu của UNODC chỉ ra rằng không có PNBD là người dân tộc hoạtđộng mại dâm trong các xã được nghiên cứu Tuy nhiên, nghiên cứu đó cũng xácnhận sự có mặt của PNBD người dân tộc tại các xã lớn hơn và các thị trấn huyện lỵ.Phụ nữ và trẻ em của các nhóm DTTS đang sống tại các tỉnh biên giới là đối tượngcho việc buôn bán qua biên giới [27]

Điều tra lồng ghép các chỉ số hành vi và sinh học HIV/STI được tiến hànhnăm 2009 tại Yên Bái trên hai nhóm nguy cơ cao là người NCMT và PNBD chothấy, tỷ lệ dùng BCS thường xuyên với khách hàng trong một tháng qua là 52% vớinhóm PNBD nhà hàng và 58% với nhóm PNBD đường phố Mặc dù nghiên cứunày không đề cập cụ thể tỷ lệ người dân tộc Dao trong nhóm PNBD, tuy nhiên vớiđịa bàn triển khai tại thị xã Nghĩa Lộ và huyện Văn Chấn, thì hoạt động bán dâm rất

có khả năng có sự tham gia của nhóm dân tộc Dao [32]

Kết quả điều tra tỷ lệ nhiễm HIV và hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trongmột số nhóm dân tộc thiểu số từ 15-49 tuổi năm 2006 cho thấy tỷ lệ nam giới cóquan hệ với bạn tình bất chợt (BTBC) trong 12 tháng qua cao nhất ở nhóm đồngbào H'mông (Lai Châu) là 21,1% Trong đó, tỷ lệ luôn sử dụng BCS với BTBC chỉdưới 30% Tỷ lệ những người đã từng QHTD không sử dụng BCS trong lần quan hệgần đây nhất là 91,4% ở nam và 93,8 ở nữ Thanh thiếu niên người DTTS 15-24tuổi có QHTD sớm hơn, trung vị tuổi QHTD lần đầu tiên là 17 tuổi (11-23) và hầunhư không sử dụng BCS Tập quán QHTD ngoài hôn nhân ở một số nhóm DTTS làphổ biến, do đó tỷ lệ mắc các nhiễm trùng STI cao Cũng trong điều tra này, một sốtỉnh có trường hợp mắc bệnh giang mai được phát hiện là An Giang (1,6%), HậuGiang (1,5%), Kiên Giang (1,4%), Khánh Hòa (0,3%) và Thanh Hóa (0,2%) [6]

Trang 40

Trong nghiên cứu cặp vợ chồng người NCMT tại hai huyện miền núi củatỉnh Thanh Hóa, có tới 28,5% người vợ không sử dụng BCS trong lần QHTD lầngần đây nhất với chồng và tới 61,5% người vợ không sử dụng BCS khi QHTD vớichồng trong 12 tháng qua Trong nhóm người vợ có chồng đã nhiễm HIV, chỉ có81,7% người vợ sử dụng BCS trong lần QHTD lần gần đây nhất với chồng và40,4% người vợ thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD với chồng Trong nhómngười vợ biết nguy cơ nhiễm HIV của chồng, vẫn chỉ có 79,3% người vợ sử dụngBCS trong lần QHTD lần gần đây nhất với chồng và 41,4% người vợ thường xuyên

sử dụng BCS khi QHTD với chồng [78]

Trong nghiên cứu về thực trạng hôn nhân và gia đình của người nhiễmHIV/AIDS tại huyện miền núi Quảng Uyên, Cao Bằng, tỷ lệ người hiện đang sốngcùng vợ/chồng là 83,5% và trong số này tỷ lệ thường xuyên sử dụng BCS khiQHTD với vợ/chồng chỉ là 68,6% [50]

Trong nghiên cứu đánh giá kiến thức, thái độ, hành vi và hiệu quả can thiệpgiảm thiểu nguy cơ lây nhiễm HIV trong một số nhóm DTTS 15-49 tuổi tại ViệtNam năm 2012 của Dự án Phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam do WB&DFID tàitrợ, tại Lai Châu có 4,4% đồng bào dân tộc Hmông có QHTD với bạn tình ngoàihôn nhân và tỷ lệ sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất với nhóm này là 25,8%.Ngoài ra, một số tỉnh khác trong nghiên cứu có tỷ lệ người DTTS QHTD với bạntình ngoài hôn nhân hoặc với PNBD thấp hơn kết quả trong nghiên cứu này [31]

Trong nghiên cứu trên nhóm DTTS tại Đắk Lắk năm 2012, có tới 86,6%người tham gia trả lời không sử dụng bao cao su khi QHTD với các bạn tình của họ[62]

Theo số liệu của Uỷ ban Dân Số Gia Đình và Trẻ Em Việt nam năm 2006,nhận thức về sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình của thanh thiếu niên nóichung hiện rất thấp Có 22,2% thanh thiếu niên chưa lập gia đình có QHTD trướchôn nhân và 21,5% nam thanh niên chưa lập gia đình có QHTD với PNBD [6] [74]

Một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ QHTD trước hôn nhân của thanh niênnhóm DTTS đã lập gia đình 15-24 tuổi tương ứng là 39,8% và 26,1% cho nhóm

Ngày đăng: 15/01/2019, 08:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w