1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiến thức bản địa của dân tộc dao trong hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp ở tỉnh yên bái

130 222 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 3,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu KTBĐ trong hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp còn ẩn chứatrong nền văn hoá của dân tộc Dao, từ đó phát huy tính tích cực và có sự kết hợp vớinhững kiến thức khoa học sẽ

Trang 1

ĐẠ HỌC THÁ NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

DƯƠNG THỊ THANH VÂN

KIẾN THỨC BẢN ĐỊA CỦA DÂN TỘC DAO TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP Ở

TỈNH YÊN BÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC

THÁI NGUYÊN - 2015

I I

Trang 2

ĐẠ HỌC THÁ NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

DƯƠNG THỊ THANH VÂN

KIẾN THỨC BẢN ĐỊA CỦA DÂN TỘC DAO TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP Ở TỈNH

YÊN BÁI Chuyên ngành: ĐỊA LÍ HỌC

Mã ngành: 60.31.05.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS DƯƠNG QUỲNH PHƯƠNG

THÁI NGUYÊN - 2015

I I

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu trích dẫn cónguồn gốc rõ ràng Kết quả trong luận văn chưa được công bố trong bất cứ công trìnhnghiên cứu nào khác

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2015

Tác giả luận văn

Dương Thị Thanh Vân

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTNii ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của Ban chủ nhiệm khoa Địa lí,các Thầy, Cô giáo khoa Địa lí, trường Đại Học Sư Phạm Thái Nguyên đã tạo mọi điềukiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn.Tôi xin cảm ơn các cơ quan, Ban, ngành tỉnh Yên Bái và các cá nhân đã đã tạođiều kiện và tận tình giúp đỡ tôi trong thời gian tiến hành nghiên cứu, thu thập tài liệu

và thực địa tại địa phương

Tôi xin bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành cảm ơn TS Dương QuỳnhPhương đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất tận tình trong suốt thời gian thựchiện và hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, những người thân và bạn bè luôn độngviên, ủng hộ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2015

Tác giả luận văn

Dương Thị Thanh Vân

Trang 5

MỤC LỤC

i LỜI CẢM ƠN ii MỤC LỤC

iii DANH

MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU v DANH

MỤC HÌNH VẼ vi

MỞ ĐẦU .1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài .2

3 Mục tiêu, nhiệm vụ, giới hạn và phạm vi nghiên cứu 5

4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 6

5 Những đóng góp của đề tài 9

6 Cấu trúc của đề tài 9

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KIẾN THỨC BẢN ĐỊA CỦA CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC 10

1.1 Cơ sở lí luận 10

1.1.1 Tổng quan về dân tộc 10

1.1.2 Tổng quan về KTBĐ 13

1.2 Cơ sở thực tiễn 19

1.2.1 Khái quát về KTBĐ của các dân tộc ở Việt Nam 19

1.2.2 Đôi nét về dân tộc Dao ở Việt Nam 20

Tiểu kết chương 1 .27

Chương 2 CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC DAO VÀ KIẾN THỨC BẢN ĐỊA TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP CỦA TỈNH YÊN BÁI 28

2.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên 28

Trang 6

2.1.3 Tài nguyên thiên nhiên 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –

ht

t p : / / www lrc.tnu e du v n

Trang 7

2.2 Dân cư và thành phần dân tộc 37

2.2.1 Dân cư 37

2.2.2 Thành phần dân tộc 39

2.3 Tổng quan về dân tộc Dao ở Yên Bái 41

2.3.1 Tên gọi và nguồn gốc của dân tộc Dao 41

2.3.2 Địa bàn cư trú 42

2.3.3 Phong tục tập quán của dân tộc Dao 44

2.4 Kiến thức bản địa trong hoạt động sản xuất nông nghiệp 46

2.4.1 Trong hoạt động trồng trọt 46

2.4.2 Trong hoạt động chăn nuôi 62

2.5 Kiến thức bản địa trong hoạt động lâm nghiệp 67

2.5.1 Khai thác gỗ và các lâm sản ngoài gỗ 67

2.5.2 Hoạt động bảo vệ tài nguyên rừng 74

Tiểu kết chương 2 76

Chương 3 NHỮNG BIẾN ĐỔI VỀ KTBĐ CỦA DÂN TỘC DAO Ở TỈNH YÊN BÁI VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GIỮ GÌN, PHÁT HUY KTBĐ 77

3.1 Những yếu tố tác động đến sự biến đổi của KTBĐ trong hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp hiện nay của người Dao ở tỉnh Yên Bái 77

3.1.1 Các nhân tố bên ngoài 77

3.1.2 Nhân tố bên trong 84

3.2 Những biến đổi của KTBĐ trong hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp hiện nay của người Dao ở tỉnh Yên Bái 86

3.2.1 Những biến đổi trong hoạt động trồng trọt 86

3.2.2 Những biến đổi trong hoạt động chăn nuôi 95

3.2.3 Những biến đổi trong khai thác và bảo vệ rừng 97

3.3 Một số giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy KTBĐ của dân tộc Dao 99

3.3.1 Giữ gìn và phát huy mặt tích cực của KTBĐ trong tập quán sản xuất và sinh hoạt của dân tộc Dao tỉnh Yên Bái .99

3.3.2 Hỗ trợ cộng đồng bảo tồn KTBĐ của các dân tộc 101

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN5 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

3.3.3 Kết hợp kiến thức bản địa và kiến thức mới 102Tiểu kết chương 3 105

KẾT LUẬN 106 CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 108 TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

BVMT Bảo vệ môi trường

ĐKTN Điều kiện tự nhiên

Trang 10

DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 2.1 Số đơn vị hành chính có đến 31/12/2013 phân theo huyện/quận/thị

xã/thành phố thuộc tỉnh 28Bảng 2.2 Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2013 phân theo huyện/quận/thị

xã/thành phố thuộc tỉnh 37Bảng 2.3 Thành phần các dân tộc tỉnh Yên Bái năm 2009 39Bảng 2.4 Dân tộc Dao của tỉnh Yên Bái phân theo huyện/thị xã/thành phố thuộc

tỉnh năm 2009 43Bảng 2.5 Cơ cấu dân tộc Dao phân theo theo huyện/thị xã/ thành phố trong cộng

đồng các dân tộc tỉnh Yên Bái năm 2009 43Bảng 2.6 Các xã có đông dân tộc Dao cư trú 44Bảng 2.7 Tên gọi và đặc điểm của một số giống lúa nương địa phương của đồng

bào Dao Yên Bái 51Bảng 3.1 Diện tích cây quế tại các huyện Văn Yên, huyện Trấn Yên và huyện

Văn Chấn của tỉnh Yên Bái giai đoạn 2005 - 2012 92

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTNv ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

Trang 11

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Yên Bái 30Hình 2.2 Bản đồ phân bố dân cư tỉnh Yên Bái 38Hình 2.3 Bản đồ phân bố một số dân tộc tỉnh Yên Bái .40Hình 2.4 Biểu đồ thể hiện cơ cấu dân tộc Dao trên địa bàn tỉnh Yên Bái năm

2009 44

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Kiến thức bản địa (KTBĐ) còn được gọi là tri thức bản địa hay kiến thứctruyền thống, kiến thức địa phương đã được khai thác trên phạm vi toàn cầu từ hàngngàn năm nay và được cộng đồng quốc tế nghiên cứu từ những thập niên cuối của thế

kỉ XX Ngày nay, thế giới đã công nhận KTBĐ là nguồn tri thức có tính hữu dụngcao trong sản xuất cũng như cuộc sống hàng ngày của con người và được xem là cơ

sở cho những sáng tạo kế tiếp của nhiều ngành khoa học khác nhau Những kiến thứcnày bao gồm trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, sinh học, trong sử dụng và quản

lý TNTN, chăm sóc sức khỏe con người, giáo dục và xóa đói giảm nghèo

KTBĐ đã và đang được biết đến nhiều hơn, điều này đồng nghĩa với việc vaitrò của nó ngày càng được nhìn nhận đúng hơn Tuy nhiên, có một thực tế là khi nhậnthức về giá trị của KTBĐ được nâng cao thì cũng là lúc những kiến thức này rơi vàotình trạng bị đe dọa nghiêm trọng, chúng có nguy cơ bị mất đi không chỉ bởi sự tácđộng của sự phát triển như vũ bão của KHKT và công nghệ hiện đại, mà còn bởi sựthiếu hụt khả năng và điều kiện cần thiết để ghi nhận, đánh giá, bảo tồn và phát triểnchúng của cộng đồng thế giới

Việt Nam có một nền văn hóa đa dạng mà thống nhất, đậm đà bản sắc từ cộngđồng 54 dân tộc, trong đó những giá trị văn hóa của cộng đồng các dân tộc ít người

có vị trí quan trọng Với điều kiện địa lí tự nhiên khác nhau, mỗi dân tộc đã tìm raphương thức ứng xử với tự nhiên khác nhau, hình thành nên những tập quán sản xuấtriêng biệt, góp phần tạo ra một kho tàng kiến thức dân gian đặc sắc và phong phú trênnhiều lĩnh vực Tuy nhiên hiện nay những giá trị văn hóa truyền thống ấy đang dần bịmai một, thậm chí là biến mất, hay những kiến thức truyền thống của đồng bào cácdân tộc chưa được sử dụng tương xứng với giá trị mà chúng có thể mang lại Vì vậy

mà vấn đề nghiên cứu KTBĐ và bảo tồn nó đang trở thành một yêu cầu cấp thiết.Yên Bái là một tỉnh miền núi thuộc vùng Trung du miền núi Bắc Bộ, có đôngđồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) sinh sống như Tày, Mông, Dao, Thái, Mường,Nùng Mỗi dân tộc đều mang một bản sắc văn hóa riêng và rất độc đáo Trong đó,người Dao là dân tộc di cư đến Yên Bái đã tạo dựng được nền văn hóa truyền thốngđặc sắc, mang đậm dấu ấn của dân tộc vùng cao

Trang 13

Đặc điểm nổi bật về KTBĐ của dân tộc Dao đó là trong thế ứng xử văn hóa vớimôi trường tự nhiên, thể hiện qua các hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp Họ luônvượt khó khăn, linh hoạt và tạo ra khả năng thích ứng văn hóa cao Tuỳ theo từngĐKTN, môi trường sinh thái, người Dao đã tích lũy được một kho tàng rất phong phú

về kiến thức dân gian trong việc lựa chọn đất đai, địa hình canh tác và các giống câytrồng, vật nuôi phù hợp

Việc nghiên cứu KTBĐ trong hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp còn ẩn chứatrong nền văn hoá của dân tộc Dao, từ đó phát huy tính tích cực và có sự kết hợp vớinhững kiến thức khoa học sẽ giữ một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc sử dụng vàquản lý TNTN cũng như việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở khu vựcmiền núi nói chung và của tỉnh Yên Bái nói riêng Từ những lí do trên, tôi chọn

nghiên cứu đề tài “Kiến thức bản địa của dân tộc Dao trong hoạt động sản xuất

nông, lâm nghiệp ở tỉnh Yên Bái”.

tổ chức quốc tế đã tích cực ủng hộ các chương trình nghiên cứu KTBĐ nhằm tăng tínhhiệu quả cho các dự án phát triển nông thôn Hiện nay trên thế giới có trên 3000chuyên gia tại khoảng

124 nước hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu KTBĐ Một mạng lưới quốc tế nghiêncứu và sử dụng và sử dụng KTBĐ đã được thành lập năm 1987 thông qua Trung tâmnghiên cứu KTBĐ phục vụ phát triển nông nghiệp (CIKARD) tại Đại học IowaState, Hoa Kỳ [39, tr 40]

Ngoài mục đích làm tăng tính hiệu quả trong phát triển nông nghiệp và nôngthôn, quản lí bền vững TNTN và BVMT, nhiều quốc gia còn chú trọng khai thácdạng tài nguyên này để phục vụ mục đích thương mại, mang lại hiệu quả kinh tế cao,như trong lĩnh vực y học cổ truyền hay mỹ phẩm

Trang 14

“Tri thức bản địa cho sự phát triển” nhằm mục đích học tập từ các hệ thống tri thứcđịa

Trang 15

phương phục vụ phát triển tại các cộng đồng đó và từ đó mở rộng tính ứng dụng của tri thức này.

Sự quan tâm ngày càng lớn đến KTBĐ của cộng đồng, của các tổ chức trên thếgiới được thể hiện rõ trong những báo cáo của các tổ chức Chính phủ và phi Chínhphủ ở nhiều quốc gia Cùng với đó là sự thừa nhận rõ ràng về những đóng góp củaKTBĐ trong PTBV của các tổ chức Quốc tế như Ngân hàng thế giới, Tổ chức Laođộng thế giới, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc và Tổ chứcNông lương thế giới

2.2 Ở Việt Nam

Hiện nay vấn đề nghiên cứu KTBĐ đã và vẫn đang được các nhà khoa học ViệtNam quan tâm và nghiên cứu rất nhiều, với đủ các lĩnh vực, nhiều trung tâm nghiêncứu đã ra đời như: Trung tâm Bảo tồn và Phát triển Tài nguyên Nước (WARECOD)với hai lĩnh vực chủ yếu là: nghiên cứu tri thức bản địa, nghiên cứu về sinh kế và tiếpcận nước sạch của cộng đồng ven sông WARECOD đã đi tiên phong trong việc thựchiện và nhân rộng mô hình nghiên cứu tri thức địa phương ra các địa bàn khác nhautrong cả nước [37]; Viện Y học bản địa Việt Nam là nơi nghiên cứu và phát triển giátrị những kinh nghiệm chữa bệnh và kiến thức về các phương pháp phòng bệnh, chữabệnh của người bản địa

Ngoài ra còn nhiều bài viết, báo cáo, các tài liệu nghiên cứu về nhiều góc độcủa KTBĐ như KTBĐ về nguồn nước, về nông nghiệp, về y học của các tổ chức,tập thể và cá nhân trên hầu khắp các vùng miền đất nước, nổi bật là các công trìnhnghiên cứu:

“Kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên” (1998), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội của các tác giả Hoàng Xuân

Tý, Lê Trọng Cúc (Chủ biên) đã đưa ra các nội dung nghiên cứu của KTBĐ trong cáclĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, quản lý rừng và tài nguyên cộng đồng, kiến thức vềdinh dưỡng và sức khỏe con người, về tổ chức cộng đồng và truyền thụ kinh nghiệmcho con cháu Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam trong quá trình nghiên cứu vàphát triển KTBĐ ở Việt Nam đã dịch toàn văn cuốn “Sổ tay: thu thập và sử dụng kiến

thức bản địa” của Viện quốc tế tái thiết nông thôn (1996) với nhan đề “Phương pháp

thu thập và sử dụng kiến thức bản địa (tập II)” (2001) nhằm đẩy mạnh quá trình

nghiên cứu và phát triển KTBĐ ở Việt Nam, phục vụ tích cực trong các chương trìnhphát triển nông thôn nước ta

Trang 16

Trong những năm gần đây, các công trình nghiên cứu về người Dao nói riêng ởnước ta cũng như những KTBĐ của họ ở các khía cạnh khác nhau xuất hiện ngàycàng nhiều và được trình bày dưới dạng các đề tài, các bài báo khoa học, báo cáo tổng

kết Có thể kể tới như: Cuốn sách “Người Dao trong cộng đồng các dân tộc Việt

Nam”, Nxb Văn hóa Dân tộc (2010) của tác giả Đỗ Quang Tụ và Nguyễn Liễn đã cho

cung cấp cho bạn đọc một cách tổng thể về người Dao về nhiều mặt như nguồn gốc,quá trình hình thành dân tộc Dao ở Việt Nam và sự phân bố các nhóm Dao ở ViệtNam, văn hóa dân tộc Dao và những đóng góp của họ trong quá trình đấu tranh bảo vệ

Tổ quốc Các tác giả Hà Thị Thu Thủy, Dương Quỳnh Phương, Vũ Như Vân cũng đã

có những công trình nghiên cứu về dân tộc Dao ở nhiều khía cạnh, tiêu biểu như cuốn

sách “Các dân tộc Mông, Dao: Góc nhìn đa chiều từ địa lý dân tộc học lịch sử - sinh

thái nhân văn miền núi phía Bắc Việt Nam”(2012) đã mang đến cho người đọc cách

nhìn đa chiều hơn về dân tộc Dao trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, những tri

thức và kinh nghiệm bản địa trong sản xuất của người Dao Hay như cuốn sách “Tri

thức dân gian của dân tộc Dao tỉnh Thái Nguyên” (2012), đã làm rõ hơn hững tri

thức truyền thống được lưu truyền trong dân gian của dân tộc Dao, đặc biệt là tronghoạt động sản xuất nông nghiệp

2.3 Ở tỉnh Yên Bái

Có thể nói nghiên cứu về người Dao ở Yên Bái mới chỉ dừng lại ở mức độkhái quát chung hay tìm hiểu về từng khía cạnh nhỏ như địa vực cư trú, các nét vănhóa, phong tục tập quán và các tập quán chăm sóc sức khỏe

Cuốn sách “Tỉnh Yên Bái một thế kỷ (1900 - 2000)” do Tỉnh ủy, Hội đồng

nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái biên soạn dưới dạng thông sử đã thể hiệnkhá rõ nét và toàn diện về con người và lịch sử Yên Bái, trong đó có giới thiệu nhữngđặc điểm cơ bản về dân tộc Dao như địa bàn cư trú, các nhóm người Dao, nét vănhóa, phong tục tập quán, các hoạt động kinh tế nổi bật của người Dao Yên Bái… đemtới cho bạn đọc một cái nhìn toàn cảnh về Yên Bái trên hành trình phát triển và đổi

mới Quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Dao còn có trong cuốn sách “Yên

Bái - Đất và người trên hành trình phát triển” nằm trong khuôn khổ chương trình dự

án “Gương mặt Việt Nam” Ngoài ra, nghiên cứu về văn hóa, đời sống sản xuất củadân tộc Dao Yên Bái còn có trong các báo cáo, hội thảo khoa học, các bài báo trongcác trang báo và trang thông tin điện tử của tỉnh Yên Bái (htt p ://w w w y e nbai g ov.v n ,http://w w w.ba o y e nbai c o m .vn) Bài viết “Tri thức bản địa của người Dao ở Yên

Trang 17

Bái” (2009), Tạp chí Văn hóa văn nghệ, số 300 của tác giả Lê Thanh Hòa đã đề cập

tới địa bàn cư trú và những tri thức dân gian của người Dao trong hoạt động canh tácnông, lâm nghiệp, trong việc sử dụng và giữ gìn nguồn nước cùng một số nghi lễ, tínngưỡng liên quan đến các hoạt động sản xuất của người Dao

Nhìn chung, cho đến nay chưa có một nghiên cứu chuyên sâu nào trình bàychi tiết và có hệ thống về KTBĐ nói chung cũng như trong hoạt động sản xuấtnông, lâm nghiệp của dân tộc Dao ở tỉnh Yên Bái nói riêng, đặc biệt là dưới góc

độ nghiên cứu của Địa lí học Chính vì thế tác giả nhận thấy hướng nghiên cứucủa đề tài là mới mẻ và cấp thiết Các kết quả nghiên cứu về KTBĐ của cộngđồng các dân tộc Việt Nam nói chung và của người Dao nói riêng sẽ là những sựgợi mở hữu ích, những tư liệu tham khảo quý báu để tác giả tiếp cận và thực hiện

nghiên cứu về “Kiến thức bản địa của người Dao trong hoạt động sản xuất

nông, lâm nghiệp ở tỉnh Yên Bái”.

3 Mục tiêu, nhiệm vụ, giới hạn và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn về KTBĐ của dân tộcDao ở tỉnh Yên Bái trong hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp, đề xuất một số giảipháp nhằm bảo tồn và phát huy hiệu quả các KTBĐ, hướng tới mục tiêu PTBV

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan cơ sở lí luận về dân tộc và KTBĐ của các dân tộc

- Nghiên cứu tổng quan về tỉnh Yên Bái

- Khái quát về đặc điểm cấu trúc cộng đồng và bản sắc văn hóa của dân tộcDao ở tỉnh Yên Bái

- Phân tích những KTBĐ trong hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp củangười Dao ở tỉnh Yên Bái

- Làm rõ được những biến đổi của các KTBĐ trong hoạt động sản xuất nông,lâm nghiệp của người Dao hiện nay

- Đề xuất các giải pháp nhằm phát huy tính tích cực của KTBĐ trong sản xuấtnông, lâm nghiệp của người Dao, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và đảmbảo sự PTBV cho khu vực miền núi

3.3 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Đề tài tập trung tìm hiểu về KTBĐ trong hoạt động sản xuấtnông, lâm nghiệp, bao gồm các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi, trồng rừng, khai

Trang 18

thác và bảo vệ rừng của người Dao ở tỉnh Yên Bái Bên cạnh đó phân tích sự biến đổi của một số KTBĐ trong giai đoạn hiện nay.

- Về nguồn tư liệu: Bao gồm các công trình nghiên cứu khoa học, các sách,báo, tạp chí đã xuất bản có liên quan đến dân tộc Dao và hoạt động nông, lâmnghiệp của đồng bào trên phạm vi cả nước nói chung và của tỉnh Yên Bái nói riêng.Cùng với đó là sưu tầm, tập hợp các nguồn tài liệu liên quan tại các Sở, Ban , ngànhcủa tỉnh Yên Bái; Phòng thống kê của UBND các huyện có đông người Dao sinhsống Ngoài ra để làm phong phú nguồn tài liệu và có ý nghĩa minh họa cho nộidung đề tài, tác giả sẽ phải thực hiện thực địa, phỏng vấn…

- Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu tại các huyện có đông dân tộcDao sinh sống như Văn Yên, Yên Bình, Lục Yên, Văn Chấn và Trấn Yên

- Về thời gian: Nghiên cứu những KTBĐ trong sản xuất nông, lâm nghiệptrong truyền thống và hiện tại của dân tộc Dao ở tỉnh Yên Bái

4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

4.1 Quan điểm nghiên cứu

4.1.1 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ

Việc nghiên cứu KTBĐ của dân tộc Dao trong sản xuất nông, lâm nghiệp ởYên Bái không thể tách rời khỏi các vấn đề nghiên cứu về KTBĐ của các dân tộc kháctrên đất nước ta, đặc biệt là các DTTS ở vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ, nhất làtại một số tỉnh có đông dân tộc Dao sinh sống như Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai,Quảng Ninh, Cao Bằng Nghiên cứu KTBĐ của dân tộc Dao trong sản xuất nông,lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh cần dựa trên cơ sở xem xét tác động tổng hợp của các yếu

tố vị trí địa lí, ĐKTN, điều kiện KT - XH Bên cạnh đó là đề cập đến sự tác động trởlại của KTBĐ trong sản xuất nông, lâm nghiệp của người Dao đối với các nhân tố này

để vấn đề nghiên cứu được xem xét một cách toàn diện và khách quan

4.1.2 Quan điểm hệ thống

KTBĐ là một hệ thống các tri thức đặc trưng của các cộng đồng người địaphương, liên quan đến cách cộng đồng này tương tác với môi trường tự nhiên như cácphương thức sử dụng, quản lí và bảo tồn nguồn tài nguyên nước, đất đai, động thựcvật; cách thức sử dụng và bảo quản dược liệu Nghiên cứu KTBĐ trong sản xuấtnông, lâm nghiệp của dân tộc Dao bao gồm có hệ thống kiến thức trong trồng trọt,trong chăn nuôi và trong lâm nghiệp Các hệ thống này có mối quan hệ tương tác,chặt chẽ với nhau và tác động lớn đến đời sống của dân tộc Dao Vì vậy cần tìm hiểu

rõ mối quan hệ qua lại

Trang 19

giữa chúng, đánh giá được tác động của các yếu tố đó đến đời sống kinh tế hiện naycủa người Dao trên địa bàn tỉnh.

4.1.3 Quan điểm lịch sử

Mọi sự vật, hiện tượng địa lí đều hình thành và phát triển trong một khoảngthời gian nhất định Do đó, trong quá trình nghiên cứu đề tài không thể bỏ qua quanđiểm lịch sử Dựa trên quan điểm lịch sử, khi nghiên cứu vấn đề KTBĐ của dân tộcDao trong sản xuất nông, lâm nghiệp sẽ xem xét, đánh giá được vấn đề quản lí, sửdụng và bảo tồn KTBĐ trong một thời gian liên tục, kéo dài từ quá khứ đến hiện tại

và hướng tới tương lai

4.1.4 Quan điểm phát triển bền vững

Việc nghiên cứu đề tài về KTBĐ cần dựa trên quan điểm PTBV bởi trước sựphát triển như vũ bão của KHKT hiện đại hiện nay, nhiều tri thức dân gian của cáctộc người đang đứng trước nguy cơ bị mai một, nhất là trong hoạt động sản xuất nông,lâm nghiệp Vì vây, nghiên cứu KTBĐ trong sản xuất nông, lâm nghiệp theo quanđiểm bền vững sẽ góp phần bảo tồn, phát huy và phát triển những tri thức dân gian ấynhằm đảm bảo sử dụng hợp lí và hiệu quả nguồn TNTN, BVMT, nâng cao mức sống

và đảm bảo sự PTBV cho các tộc người

4.1.5 Quan điểm viễn cảnh

Đề tài nghiên cứu có thể nhìn nhận và đánh giá được vai trò của KTBĐ trongsản xuất nông, lâm nghiệp đối với đời sống kinh tế của dân tộc Dao, qua đó đánh giáđược tác động của các nhân tố ĐKTN và KT - XH đến việc giữ gìn, phát triển nguồnKTBĐ đó trong hiện tại và tương lai cần phải dựa trên quan điểm viễn cảnh Từ quanđiểm này sẽ thấy được ý nghĩa của KTBĐ trong việc phát triển KT - XH và đảm bảo

sự PTBV cho dân tộc Dao tại Yên Bái

4.2 Phương pháp nghiên cứu

4.2.1 Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp, xử lí các số liệu, tài liệu

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp thu thập tài liệu từnhiều nguồn khác nhau trên cơ sở có chọn lọc để đảm bảo tính đa dạng và chínhxác của thông tin Từ đó thực hiện các phương pháp phân tích, tổng hợp, xử lícác tài liệu, số liệu để đưa ra được cái nhìn hệ thống và khách quan nhất vềnhững KTBĐ có trong sản xuất nông, lâm nghiệp của dân tộc Dao ở Yên Báicũng như thực trạng sử dụng và phát triển các nguồn kiến thức đó

Trang 20

4.2.2 Phương pháp thực địa

Là phương pháp quan sát trực tiếp tại một số địa điểm trên địa bàn tỉnhYên Bái nhằm xác minh tính chính xác, đánh giá và thu thập, bổ sung nguồn tưliệu nghiên cứu Đồng thời qua đó nâng cao sự hiểu biết về địa phương để từ đó

có thể đưa ra một số đề xuất, giải pháp nhằm đóng góp một phần công sức nhỏ

bé của tác giả cho việc bảo tồn và phát huy những điểm tích cực tron g KTBĐ củadân tộc Dao trên mảnh đất quê hương

4.2.3 Phương pháp thống kê toán học

Từ những số liệu đã được thu thập, tác giả sử dụng phương pháp thống kê toánhọc để xử lí số liệu, so sánh và đánh giá để thấy được vai trò của ngành nông, lâmnghiệp trong đời sống kinh tế của các huyện, các xã có đông dân tộc Dao sinh sống

4.2.4 Phương pháp bản đồ - GIS

Đây là phương pháp quan trọng trong nghiên cứu địa lí, giúp các vấn đềnghiên cứu trở nên cụ thể, trực quan và toàn diện hơn Các biểu đồ là hình ảnh trựcquan sinh động, được xây dựng dựa trên cơ sở các nguồn tư liệu mà tác giả thu thập

và xử lí, phản ánh rõ được quy mô, cơ cấu, hiện trạng và sự biến động trong ngànhnông, lâm nghiệp của dân tộc Dao Các bản đổ, lược đồ sẽ phản ánh rõ nét hơn sựphân bố không gian của các đối tượng địa lí cần nghiên cứu

4.2.5 Phương pháp phỏng vấn

Phương pháp này được thực hiện bằng cách gặp gỡ trực tiếp một số người Daobản địa trong nhóm độ tuổi lao động và trên độ tuổi lao động để có được những thôngtin chân thực nhất về những KTBĐ được lưu truyền trong dân gian, cũng như làm rõđược sự biến đổi của chúng trong giai đoạn hiện nay Cách thức thực hiện là dựa theomột hệ thống các câu hỏi với đầy đủ thông tin của đối tượng được hỏi và nội dungnghiên cứu theo các khía cạnh sản xuất nông nghiệp, hoạt động lâm nghiệp Cáchđiều tra phỏng vấn chủ yếu dựa trên những câu hỏi mở để tạo được tính linh hoạttrong quá trình thực hiện điều tra phỏng vấn

4.2.6 Phương pháp dự báo

Đây là phương pháp giúp cho ta khẳng định được vị trí và vai trò của KTBĐtrong cộng đồng các dân tộc nói chung và của dân tộc Dao nói riêng trong công cuộcphát triển kinh tế hiện nay, từ đó xác định được mục tiêu bảo tồn và phát triển nguồnKTBĐ trước mắt cũng như lâu dài, phù hợp với các điều kiện và xu thế phát triển củathời đại

Trang 21

- Phân tích được đặc điểm cấu trúc cộng đồng của dân tộc Dao ở tỉnh Yên Bái,thể hiện ở các khía cạnh: nguồn gốc lịch sử, tên gọi, số lượng, các nhóm chính và địabàn cư trú, phong tục tập quán

- Làm nổi bật được những phương thức ứng xử văn hóa với môi trường tựnhiên trong hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp của người Dao ở tỉnh Yên Bái,thông qua hệ thống KTBĐ

- Làm rõ được những biến đổi của các KTBĐ trong hoạt động sản xuất nông,lâm nghiệp của người Dao hiện nay, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát huy tínhtích cực của KTBĐ trong sản xuất nông, lâm nghiệp của người Dao, góp phần nângcao chất lượng cuộc sống và đảm bảo sự PTBV cho đồng bào

6 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chínhcủa đề tài được chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về KTBĐ của cộng đồng các dân tộcChương 2: Cộng đồng dân tộc Dao và KTBĐ trong hoạt động sản xuất nông,lâm nghiệp của tỉnh Yên Bái

Chương 3: Những biến đổi về KTBĐ của dân tộc Dao ở tỉnh Yên Bái và một

số giải pháp nhằm giữ gìn, phát huy KTBĐ

Trang 22

có tính bền vững, giống như là những quy tắc, các tộc người tồn tại hàng nghìn, hàngnghìn năm [6, tr 8].

Cho đến nay, khái niệm “dân tộc” được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, bởidân tộc là sản phẩm của lịch sử, quá trình phát triển dân tộc phức tạp nên vấn đề vềdân tộc cũng phức tạp Theo nghĩa rộng thì dân tộc được hiểu là cộng đồng các dântộc - chính trị, tức là dân tộc - quốc gia (Nation), trong đó có nhiều dân tộc cùng sinhsống, có nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung, ý thức tự giác dân tộc và gắn bó vớinhau bởi các lợi ích về chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấutranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước Theo nghĩahẹp thì thuật ngữ “dân tộc” dùng để chỉ một cộng đồng người được đặc trưng bởinhững dấu hiệu như cùng chung tiếng nói, lãnh thổ, lối sống văn hóa và ý thức tự giácdân tộc Trong một số trường hợp, những dấu hiệu cùng chung lãnh thổ có thể đóngvai trò kém quan trọng hơn

Ở Việt Nam, thuật ngữ “dân tộc” được hiểu theo nhiều cấp độ, nhiều phươngdiện khác nhau Theo “Từ điển Tiếng Việt” thì có những nghĩa về dân tộc như sau,một là: “Cộng đồng người hình thành trong lịch sử có chung một lãnh thổ, các quan

hệ kinh tế, một ngôn ngữ văn học và một số đặc trưng văn hóa và tính cách”; hai là

“Tên gọi chung những cộng đồng người cùng chung một ngôn ngữ, lãnh thổ, đờisống kinh tế và văn hóa, hình thành trong lịch sử từ sau bộ lạc”; ba là “Cộng đồngngười ổn định làm thành nhân dân một nước, có ý thức về sự thống nhất của mình,gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thốngđấu tranh chung” [23, tr 255] Như vậy ta có thể hiểu, dân tộc là hình thái đặc biệt

Trang 23

của những cộng đồng người tương đối ổn định hoặc ổn định được hình thành và phát triển trong quá trình lâu dài của lịch sử.

Một dân tộc được gọi là thiểu số hay đa số là căn cứ vào số lượng chứ khôngphải căn cứ vào trình độ phát triển của dân tộc đó Theo Từ điển Tiếng Việt thì dân tộc

đa số là “dân tộc chiếm số đông nhất so với các dân tộc chiếm số ít trong một nước cónhiều dân tộc” [23], còn DTTS là “dân tộc chiếm số ít so với dân tộc chiếm số đôngnhất trong một nước có nhiều dân tộc” [23] Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó có cảdân tộc đa số và những DTTS Nhưng dù thuộc nhóm nào họ cũng đều đã tạo dựngđược truyền thống gắn bó keo sơn, đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau trong suốt quá trình lịch

sử dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước Mỗi dân tộc đều góp phần to lớn vàoviệc hình thành, củng cố và phát triển cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Cộng đồng các dân tộc có thể hiểu là sự kết hợp hơn một đến nhiều dân tộctrên một không gian lãnh thổ nhất định Mỗi một dân tộc được hình thành và phát triểntrong những điều kiện lịch sử nhất định, với những đặc trưng cơ bản là cùng chungngôn ngữ, đặc điểm văn hóa, địa bàn cư trú và ý thức tự giác dân tộc Tất cả hợpthành một cộng đồng tộc người gắn bó với nhau trong truyền thống, nghĩa vụ vàquyền lợi Từ điển Tiếng Việt định nghĩa cộng đồng tộc người là “cộng đồng người cónhững đặc trưng về tên gọi, ngôn ngữ, văn hóa.v.v giống nhau, có thể gồm một haynhiều tộc người thân thuộc” [23] Cộng đồng 54 dân tộc của Việt Nam cư trú phântán, đan xen nhau trên khắp đất nước với quy mô dân số và trình độ phát triển khôngđồng đều nhưng các dân tộc đều có những kinh nghiệm phong phú và quý báu trongquá trình dựng nước và giữ nước, trong chinh phục tự nhiên, khắc phục thiên tai vàphát triển quê hương, đất nước

1.1.1.2 Các tiêu chí xác định dân tộc

Theo Bế Viết Đẳng, cộng đồng tộc người hay dân tộc phải được coi là đơn vị

cơ bản để tiến hành xác minh thành phần các dân tộc Có thể coi khối cộng đồng tộcngười hay dân tộc là một tập đoàn người tương đối ổn định hoặc ổn định được hìnhthành trong quá trình lịch sử dựa trên những mối liên hệ chung về địa vực cư trú, sinhhoạt kinh tế, tiếng nói, những đặc điểm sinh hoạt - văn hóa và dựa trên ý thức vềthành phần và tên gọi dân tộc chung [5, tr 26] Tại nhiều hội thảo khoa học về dântộc học hầu hết ý kiến đều tán thành các chỉ tiêu xác định thành phần dân tộc là: tiếngnói, đặc điểm văn hóa và ý thức tự giác dân tộc Các nhà dân tộc học đều thống nhấtrằng: các cộng đồng dân tộc khác nhau không phải theo một đặc trưng nào đó mà

Trang 24

- Cùng nói một ngôn ngữ hay nói cách khác mỗi dân tộc đều có tiếng nói riêngcủa mình Ngôn ngữ có liên quan mật thiết đến bản sắc tộc người, là một phương tiện

để phát triển các hình thái quan trọng nhất đối với đời sống văn hóa tinh thần của từngtộc người Đây là đặc điểm ít bị phân hóa rõ nét hơn cả

- Đặc điểm văn hóa: là những đặc điểm riêng có mà mỗi dân tộc xây dựng nêntrong quá trình hình thành và phát triển

- Ý thức dân tộc hay sự tự giác dân tộc: đây là kết quả sự tác động lẫn nhaucủa các yếu tố cơ bản hình thành nên một cộng đồng dân tộc, là tiêu chí quan trọngkhi xác định thành phần dân tộc

- Cùng cư trú trên một phạm vi lãnh thổ nhất định Lãnh thổ như một điều kiệnvật chất cơ bản để hình thành các cộng đồng dân tộc

Ngoài những đặc trưng trên, các nhà nghiên cứu còn đề cập tới một số khíacạnh khác khi xác định dân tộc, như việc coi cộng đồng kinh tế như một dấu hiệu đểhình thành cộng đồng dân tộc hay dấu hiệu tâm lí của mỗi cộng đồng người cũng nhưcách ứng xử và phản ứng khác nhau trước mỗi tình huống, hoàn cảnh đều là các tiêuchí để xác định dân tộc

1.1.1.3 Quan niệm về dân tộc bản địa

Khái niệm “dân tộc bản địa” đã được ghi nhận trong các văn bản pháp luậtquốc tế và được sử dụng như một khái niệm chung chính thức Các văn kiện quốc tếquan trọng nhất hiện hành về vấn đề này bao gồm Công ước 169 của Tổ chức Laođộng Quốc tế (ILO) tại Điều 1, dân tộc bản địa được định nghĩa là: “Các dân tộc ởnhững nước độc lập được coi là bản địa vì họ là hậu duệ của những nhóm dân cưsống ở nước đó, hay một khu vực địa lý mà quốc gia đó thuộc về, vào thời điểm bịxâm lược hay thuộc địa hoá hay thiết lập các biên giới nhà nước hiện tại và nhữngngười, không phân biệt địa vị pháp lý, gìn giữ một số hay tất cả thể chế xã hội, kinh

tế, văn hoá và chính trị” [26] Liên Hợp Quốc quan niệm: “Dân tộc bản địa hay còngọi là thổ dân là nhóm người đã từng có mặt trên một lĩnh vực đất đai, trước ngày didân của nhóm dân tộc khác vào lãnh thổ của họ” [19] Như vậy có thể hiểu người bảnđịa hay dân tộc bản địa là nhóm người có sự đồng nhất và đặc trưng về văn hóa cùngvới nguồn gốc định cư

Ở nước ta thuật ngữ “dân tộc bản địa” hoặc “người bản xứ” được sử dụngtrong thời kỳ Pháp thuộc, dùng để chỉ tất cả các cộng đồng dân tộc Việt Nam (kể cảngười Kinh và các DTTS) Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân

Trang 25

chủ Cộng hòa ra đời, người dân Việt Nam làm chủ đất nước của mình, không còn là

“dân bản địa” hay “bản xứ nữa” Trong Tuyên ngôn Độc lập khẳng định: Nhà nướctôn trọng quyền bình đẳng của tất cả các công dân thuộc các dân tộc sinh sống trênđất nước Việt Nam Hiến pháp năm 1946 đã quy định “Tất cả các công dân Việt Namđều ngang quyền về mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa” Đối với các DTTS,Hiến pháp cũng đã quy định: “Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết,tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc”

Từ năm 1945 đến nay, thuật ngữ “dân tộc bản địa” hay “người bản xứ” chỉ còndùng trong văn bản lịch sử hoặc trong ký ức Hiện tại trong tất cả các văn bản hànhchính và đời sống văn hóa xã hội nước ta không còn sử dụng thuật ngữ “dân tộc bảnđịa” để chỉ vị thế của người dân hoặc nói về các dân tộc thiểu số hiện đang sinh sốngtrên đất nước Việt Nam [19]

1980 và tiếp tục phát triển cho đến ngày nay [39]

KTBĐ là hệ thống kiến thức của các dân tộc bản địa hoặc của một cộng đồngtại một khu vực cụ thể nào đó Nó tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhấtđịnh với sự đóng góp của mọi thành viên trong cộng đồng (người già, trẻ, đàn ông,phụ nữ) ở một vùng địa lí xác định (Louise G.1996) [39, tr 12]

KTBĐ là thuật ngữ được các nhà nghiên cứu, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuấtnông nghiệp dùng phổ biến trong những năm gần đây để khu biệt với hệ thống trithức “chính quy”, “khoa học”, “phương Tây”, “quốc tế” hay “hiện đại” KTBĐ lànguồn tài nguyên phi vật thể quý giá và quan trọng của từng địa phương, từng quốcgia và của toàn cầu

Tổ chức UNESCO đã định nghĩa: “KTBĐ liên quan đến kiến thức, sáng kiến, kỹnăng và các hoạt động của người dân bản địa và các cộng đồng địa phương, nhữngngười đã phát triển, đã lưu truyền những kiến thức đó bên ngoài hệ thống giáo dụcchính thức Những kiến thức truyền thống gắn liền với nền văn hoá lâu đời và là đặc

Trang 26

có những quyết định đảm bảo an toàn lương thực, đảm bảo sức khoẻ cho chính mình cũng như vật nuôi; để giáo dục và quản lý thiên nhiên” [11].

Khác với “kiến thức hàn lâm” (Academic Knowledge) được hình thành chủ

yếu của các nhà thông thái, được hệ thống hóa và truyền lại qua sách, các KTBĐđược hình thành trực tiếp từ lao động của mọi người dân trong cộng đồng, được hoànthiện dần dần và truyền thụ cho các thế hệ tiếp sau bằng truyền khẩu trong gia đình,trong thôn bản, hoặc thể hiện trong ca hát, ngạn ngữ, trường ca, tập tục [39, tr 12].Như vậy KTBĐ là một dạng kiến thức sinh kế, gắn liền với kinh nghiệm trong sinhhoạt và ứng xử với môi trường tự nhiên, cách thức sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt củangười dân địa phương KTBĐ mang tính đặc thù cho mỗi cộng đồng và mỗi khu vựcnhất định, được hình thành, tích lũy, kế thừa và tiếp tục phát triển kiến thức này:

- Dựa vào kinh nghiệm

- Đã được thử nghiệm qua nhiều thế kỉ áp dụng

- Phù hợp với văn hóa môi trường của từng địa phương

- Thay đổi theo cuộc sống của người bản xứ [40]

Tuy nhiên, KTBĐ không chỉ đơn thuần là kiến thức của một số bộ tộc haynhóm người bản xứ của một vùng và KTBĐ cũng không chỉ giới hạn trong khu vựcdân cư nông thôn Chính xác hơn, KTBĐ thuộc sở hữu tất cả cộng đồng: nông thôn,thành thị, định cư và du cư, người bản xứ và người di cư đến Khái niệm KTBĐ baohàm rất nhiều lĩnh vực liên quan đến đời sống, sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp,quản lý tài nguyên và quản lý cộng đồng

Ngày nay, trong thời đại của KHKT phát triển, KTBĐ vẫn đang được các nhàkhoa học quan tâm và nghiên cứu rất nhiều Chúng ta có thể tìm thấy ở KTBĐ mộtnguồn trí tuệ to lớn và cũng chính nhờ kho kiến thức này mà nhiều giải pháp côngnghệ mới ra đời

1.1.2.2 Vai trò của KTBĐ

Trong vài thập kỉ trở lại đây, KTBĐ đã được các nhà nghiên cứu tập trung chú

ý Qua phân tích những thành tựu và thất bại của nhiều dự án phát triển nông thôn vàmiền núi tại châu Á, châu Phi và Mỹ La Tinh, KTBĐ đã được thừa nhận như mộtnguồn tài nguyên quan trọng để đưa ra các quyết định đúng đắn cho các dự án tại cộngđồng [39] Đã có nhiều ý kiến khẳng định rằng KTBĐ đã và đang góp một phần quantrọng vào việc giải quyết các vấn đề của địa phương

Trang 27

Trong cuốn sách “Tri thức dân gian người Dao tỉnh Thái Nguyên” (2012), đã

trình bày những vai trò cơ bản của KTBĐ như sau [33, tr 10-11]:

- Hệ thống KTBĐ có vai trò rất quan trọng trong việc quản lý và sử dụngnguồn tài nguyên Các ĐKTN, TNTN và trạng thái môi trường là cơ sở vật chấtkhách quan tác động tới các dân tộc sinh tụ và phát triển trong môi trường tự nhiên

đó Trong quá trình phát triển, cộng đồng các dân tộc đã tích lũy được những kinhnghiệm cũng như những ứng xử phù hợp với điều kiện môi trường họ sinh sống, đặcbiệt là tài nguyên đất và rừng

- KTBĐ đã hỗ trợ cho công tác nghiên cứu khoa học và có một phần vai tròtrong các sáng kiến phát triển

- KTBĐ được sử dụng để đánh giá tác động của quá trình phát triển, là mộtphương án thay thế có hiệu quả công nghệ KHKT hiện đại, cung cấp cho người dânđịa phương và cán bộ triển khai các dự án phát triển những giải pháp bổ sung Thay vìviệc tìm kiếm những công nghệ hiện đại cho những giải pháp khả thi

- KTBĐ được sử dụng như một công cụ để lựa chọn, quyết định, là cơ sở đểnâng cao năng lực và khả năng cạnh tranh của địa phương Tuy nhiên, KTBĐ cũngcần phải có sự giao thoa với tri thức khoa học, cái này dựa trên cái kia để có sự thíchứng bền vững và hiệu quả với các môi trường tự nhiên và KT - XH khác nhau

Ngoài ra KTBĐ còn giúp các nhà khoa học nắm được những vấn đề về đadạng sinh học và quản lý rừng tự nhiên, đóng góp vào khoa học những hiểu biết sâusắc, giúp các nhà khoa học nhận thức đúng đắn về những kiến thức trong khai thác,bảo vệ và PTBV TNTN Đồng thời KTBĐ còn có những đóng góp quan trọng cho sựphát triển kinh tế của cộng đồng, địa phương, quốc gia và khu vực Một tài liệu chobiết: “Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), chỉ tính riêng trong lĩnh vực

y học cổ truyền, năm 1999 Trung Quốc đã thu được 6 tỷ USD, châu Âu thu được 11,9

tỷ USD Ở Việt Nam, riêng năm 2003, sản lượng xuất khẩu dược liệu cổ truyền đạtkhoảng

10.000 tấn, đóng góp kim ngạch xuất khẩu 10 triệu - 20 triệu USD Giá trị thươngmại của KTBĐ trên thực tế còn lớn hơn rất nhiều, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay,với khoảng 80% dân số thế giới sử dụng thuốc cổ truyền để chăm sóc sức khỏe Cácsản phẩm khai thác tri thức truyền thống khác (như các sản phẩm lưu niệm thủ công,các sản phẩm của làng nghề truyền thống, các tác phẩm văn hóa dân gian ) cũng

mang lại những lợi ích kinh tế to lớn” (TSKH Trần Công Khánh: Cây thuốc dân tộc

Trang 28

và vấn đề bảo tồn tri thức bản địa về cách sử dụng cây thuốc, Tạp chí Y học và Đời

sống online - 4/2005) [30, tr 22]

1.1.2.3 Phân loại KTBĐ

Có nhiều cách phân loại KTBĐ, tùy thuộc vào từng chuyên ngành khoa học sẽ

có các tiêu chí phân loại khác nhau Trong cuốn sách: “Kiến thức bản địa của đồng

bào vùng cao trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên” (1998), PGS.PTS Hoàng

Xuân Tý và PGS.PTS Lê Trọng Cúc đã đưa ra các nội dung nghiên cứu của TTBĐtrong các lĩnh vực sau đây [39, tr 13-14]:

- Kiến thức về trồng trọt: Các giống cây trồng bản địa, kinh nghiệm xác

định đất nào cây ấy, lịch thời vụ và dự đoán thời tiết, các kinh nhiệm tưới tiêu,

sử dụng phân bón và các thuốc trừ sâu từ cây cỏ, cách thu hoạch và cất trữ lươngthực, hạt giống, các kinh nghiệm sản xuất trên đất dốc, luân canh nương rẫy

- Kiến thức về chăn nuôi: kinh nghiệm chọn giống gia súc, quản lý bãi chăn

thả theo mùa, các cây thức ăn cho gia súc địa phương, phòng và chữa bệnh cho giasúc, các cây thuốc chữa bệnh cho gia súc truyền thống

- Kiến thức về quản lý rừng và tài nguyên cộng đồng: khai thác chế biến lâm

sản, quản lý nguồn nước sinh hoạt và tưới ruộng, kinh nghiệm bắt thú, kinh nghiệmthu hái, sử dụng các sản phẩm trong thiên nhiên như nấm, rau rừng, củ trong rừng,hoa quả dại và nhiều lâm sản khác

- Kiến thức về dinh dưỡng và sức khoẻ con người: bao gồm các kinh nghiệm

lựa chọn, chế biến và bảo quản thức ăn Phòng chữa các bệnh cho cá nhân và cộngđồng, thu hái và quản lý cây thuốc thiên nhiên

- Kiến thức về tổ chức cộng đồng và truyền thụ kinh nghiệm cho con cháu: đó

là hình thức tổ chức cộng đồng, các tập tục, hương ước nhằm đảm bảo các hoạt độngsản xuất và duy trì nền văn hoá truyền thống

Trong cuốn “Phương pháp thu thập và sử dụng kiến thức bản địa” (tập II) do

Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam biên dịch từ bản tiếng Anh của Viện quốc tếTái thiết nông thôn thì KTBĐ không chỉ là công nghệ và kinh nghiệm, nó bao gồmcác dạng KTBĐ sau: [40, tr 8-9]

- Thông tin: Những loài cây trồng có thể xen canh với nhau; Những loài câychỉ thị (là những cây thể hiện độ mặn của đất hay nở hoa vào đầu mùa mưa)

- Kinh nghiệm và kỹ thuật: Phương pháp xử lí và cất giữ hạt giống; Phươngpháp nắn xương; Cách điều trị bệnh

Trang 29

- Tín ngưỡng: đóng vai trò nền tảng trong đời sống của người dân, trong việcbảo vệ sức khỏe và môi trường Những khu rừng linh thiêng được bảo vệ vì những lí

do tín ngưỡng Người dân cũng thường bảo vệ những khu vực rừng đầu nguồn quantrọng, có tính chất sống còn; Những lễ hội tín ngưỡng có thể là một nguồn lương thựcquan trọng đối với những người không đủ thực phẩm

- Công cụ: Thiết bị trồng trọt và thu hoạch; Dụng cụ nấu bếp; Nguyên liệu(nguyên vật liệu xây nhà, nguyên liệu song mây và cho các ngành thủ công khác)

- Kinh nghiệm: Kinh nghiệm của nông dân về trồng xen canh các loài cây với

hệ thống canh tác hiện có; Kinh nghiệm của các thầy lang để thử nghiệm các loài câythuốc mới

- Nguồn sinh học: Giống động vật; Các loài cây bản địa

- Nguồn nhân lực: Các chuyên gia: thầy lang, thợ rèn; Các tổ chức địa phươngnhư nhóm dòng tộc, hội đồng các già làng hoặc những nhóm cùng sử dụng chungnguồn nhân lực

- Giáo dục: Các phương pháp hướng dẫn truyền thống; Các trung tâm dạynghề; Học bằng trực quan

- Giao tiếp: Các câu chuyện khắc trên lá cọ; Các phương tiện truyền thông dângian; Cơ chế trao đổi thông tin truyền thống

Tác giả Ngô Đức Thịnh sau khi đồng nhất khái niệm KTBĐ với tri thức dângian cho rằng: Tri thức dân gian có thể chia thành 4 loại: 1/ Tri thức về tự nhiên vàmôi trường 2/Tri thức về bản thân con người 3/ Tri thức về sản xuất 4/ Tri thức vềquản lý xã hội và cộng đồng [33]

Các nhà dân tộc học thì thường phân loại KTBĐ dựa trên sự nhận biết các yếu

tố tự nhiên (đặc điểm, địa hình, địa mạo, thổ nhưỡng, các đặc tính sinh học của động thực vật, khí hậu - thời tiết, nguồn nước ), các kinh nghiệm khai thác, sử dụng vàquản lý các yếu tố đó, các kiến thức liên quan đến quá trình mưu sinh (các phươngthức sinh kế cụ thể, các giống cây trồng - vật nuôi, mùa vụ, công cụ), các kiến thứcliên quan đến đời sống vật chất (thôn làng, nhà cửa, trang phục, đồ ăn, thức uống,phương tiện vận chuyển), các kiến thức trong việc quản lí xã hội (thiết chế tự quảnthôn làng với vai trò của luật tục, người già và các thủ lĩnh, dòng họ và gia đình), cáckiến thức trong đời sống tinh thần (tín ngưỡng, lịch pháp, y dược thuật, các chuẩnmực trong ứng xử và giao tiếp xã hội, các loại hình văn học, nghệ thuật dân gian) Sựphân loại theo phương pháp dân tộc học không mâu thuẫn với cách phân loại của các

Trang 30

-ngành khoa học khác Nó có một ưu điểm là mang tính bao quát toàn diện hơn hẳn sovới các ngành khoa học chuyên sâu Tuy nhiên trong bối cảnh của một nền khoa họcliên - đa ngành, sự kết hợp giữa công tác nghiên cứu cơ bản về dân tộc học với cácngành khoa học chuyên sâu là hết sức cần thiết [33, tr 16].

1.1.2.4 Đặc điểm của

KTBĐ

Theo PGS.PTS Hoàng Xuân Tý và PGS.PTS Lê Trọng Cúc viết trong cuốn

“Kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên”

(1998) thì các đặc điểm cơ bản của KTBĐ là: [39]

- KTBĐ được hình thành và biến đổi liên tục qua các thế hệ trong một cộng

đồng địa phương nhất định KTBĐ là sản phẩm được tạo ra trong quá trình lao động

sản xuất của toàn cộng đồng Theo thời gian các kinh nghiệm truyền thống này đượccải biến để ngày càng hoàn thiện hơn, nghĩa là có hiệu quả và thích ứng cao hơn vớicác thay đổi của môi trường tự nhiên và xã hội

- KTBĐ có khả năng thích ứng cao với môi trường riêng của từng địa phương

- nơi đã hình thành và phát triển kiến thức đó Đây là một ưu điểm quan trọng mà các

hệ thống kỹ thuật nhập từ bên ngoài không có được

- KTBĐ do toàn thể cộng đồng sáng tạo ra qua lao động trực tiếp KTBĐ

được hình thành một cách tự nhiên trong quá trình lao động của cả cộng đồng gồm cảđàn ông, đàn bà, trẻ em, người già Tuy nhiên, mỗi nhóm người sẽ có những điểmmạnh riêng trong một vài lĩnh vực

- KTBĐ được lưu giữ bằng trí nhớ và truyền bá từ thế hệ này qua thế hệ khác bằng truyền miệng, thơ ca, tế lễ và nhiều tập tục khác nhau Đây là điểm

khác biệt so với kiến thức khoa học và thường gây khó khăn cho người nghiên cứuKTBĐ, nhất là người ngoài cộng đồng, người không cùng ngôn ngữ và văn hóa

- KTBĐ luôn gắn liền và hòa hợp với nền văn hóa, tập tục địa phương; vì vậy,

khả năng tiếp thu và ứng dụng trong cộng đồng là rất dễ dàng Trong thực tế chúng ta

đã từng thấy rằng có những kỹ thuật mới đưa lại hiệu quả cao hơn nhưng không đượcdân chúng chấp nhận vì trái với tập tục văn hóa của địa phương

- KTBĐ có giá trị cao trong việc xây dựng các mô hình phát triển nông thôn bền vững theo hướng có người dân tham gia và ít tốn kém Một số nhà nghiên cứu đã

coi KTBĐ là cơ sở để đề xuất các quyết định tại địa phương trong các lĩnh vực nôngnghiệp, y tế, giáo dục, quản lý tài nguyên (Warren D.M 1991) Ngoài ra hệ thống

Trang 31

KTBĐ còn là một kho thông tin quý giá để gợi ý các giải pháp kỹ thuật mới cho cácnhà khoa học cũng như các chuyên gia lập kế hoạch và cán bộ xây dựng chính sách.

- KTBĐ có tính đa dạng rất cao Vì KTBĐ được hình thành trong những

ĐKTN khác nhau và được mọi thành viên trong cộng đồng sáng tạo ra nên sự khácbiệt về giới tính, tuổi tác, kỹ năng, kinh nghiệm, tình trạng kinh tế đã làm cho hệthống này hết sức phong phú

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Khái quát về KTBĐ của các dân tộc ở Việt Nam

Cộng đồng các dân tộc Việt Nam ngoài 4 dân tộc là Kinh (Việt), Hoa, Khơ Me

và Chăm, cư trú chủ yếu ở đồng bằng, ven biển và trung du, sống định cư và canh táclúa nước là chính (trừ một số người Hoa), còn 50 dân tộc khác sống hầu hết ở khuvực miền núi, cơ bản phân bố theo kiểu sinh thái - tộc người Chính vì sinh sống lâuđời trong môi trường tự nhiên quen thuộc như vậy nên mỗi tộc người đã tìm ra chomình những phương thức ứng xử với tự nhiên khác nhau, hình thành nên những tậpquán sản xuất riêng biệt, góp phần tạo ra một kho tàng kiến thức dân gian đặc sắc vàphong phú trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong sinh kế, quản lý và bảo vệ TNTN

Nhiều nhà nghiên cứu về KTBĐ ở Việt Nam như PGS Lê Trọng Cúc,Đào Thế Tuấn, Nguyễn Tất Cảnh đều khẳng định rằng: trải qua quá trình hàng trămnăm, người dân các DTTS Việt Nam cũng đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm trongcanh tác Họ rất giỏi trong việc nhận biết tự nhiên, đoán định thời tiết Họ có thể dựđoán mưa sớm, mưa muộn để gieo trồng cho thích hợp, biết trồng gối để tận dụng độ

ẩm còn trong đất sau khi kết thúc mưa Đồng thời, họ cũng sử dụng các giống câytrồng, vật nuôi phù hợp Tất cả các loại cây trồng truyền thống của họ đều có khảnăng thích ứng với ĐKTN nơi cư trú, các giống vật nuôi của địa phương đã qua chọnlọc tự nhiên, có khả năng chịu được thời tiết và có khả năng sinh sản tương đối tốt.Trong các hệ canh tác, họ cũng sử dụng những công thức luân canh thích hợp, bố trícây trồng trong hệ thống cây trồng theo sự giảm dần mức độ dinh dưỡng trong đất

Sử dụng những loại cây trồng có thời gian thu hoạch biến động, có thời gian sinhtrường rất khác nhau

Những tộc người cư trú ở vùng miền núi phía Bắc Việt Nam như Mông, Dao,Tày, Thái, từ bao đời nay đã có những phương thức canh tác nông nghiệp thích ứngvới điều kiện đất dốc, vừa phát triển nông nghiệp mà vẫn góp phần bảo vệ đất đai, sửdụng hợp lí TNTN như làm ruộng bậc thang, chọc lỗ tra hạt, thổ canh hốc đá, hay hệthống thủy lợi với mương, phai, lái, lin, cọn

Trang 32

Những tộc người cư trú ở khu vực Trường Sơn - Tây Nguyên như M’nông,

Tà-ôi, Cơ-tu, Gia-rai, Ê-đê, theo thời gian đã tích lũy được rất nhiều kiến thức địaphương liên quan đến sản xuất, khai thác và bảo vệ tài nguyên rừng cũng như BVMTthông qua các bộ luật tục được truyền miệng trong dân gian từ thế hệ này sang thế hệkhác

Còn bộ phân các DTTS cư trú ở khu vực duyên hải cực Nam Trung Bộ vàNam Bộ như Chăm, Khơ-me do những đặc điểm tự nhiên có nhiều sự khác biệt sovới các vùng kể trên, hầu hết đất đai đều là cát trắng, diện tích đất trồng trọt ít nênnguồn nước có vai trò rất quan trọng trong đời sống của cư dân nơi đây Để chinhphục và thích ứng với sự khắc nghiệt của tự nhiên, cộng đồng các DTTS vùng duyênhải cực Nam Trung Bộ đã biết khai mương, đắp đập, dẫn nước vào ruộng với một hệthống thủy lợi khá hoàn chỉnh, gồm có đập, kênh, mương, hồ chứa, mương lớn,mương dẫn, mương tiêu với phương thức đưa dẫn nước hợp lí, phù hợp với từng địahình Ngoài ra, KTBĐ của các dân tộc nơi đây còn được thể hiện qua các nghi lễ liênquan chặt chẽ đến nguồn nước như cúng đầu nguồn và cuối nguồn nước, cầu mưa, tếthủy thần

Như vậy, cộng đồng các dân tộc Việt Nam sinh sống ở những vùng sinhthái rất đa dạng nên đã sáng tạo và tích lũy cho mình những kho tàng kiến thứcdân gian đồ sộ, quý giá Đây chính là một trong những nền tảng quan trọng để đưa

ra các giải pháp quản lý, sử dụng và bảo vệ TNTN, đảm bảo sự phát triển ổn định

và bền vững cho đồng bào các dân tộc Việt Nam

1.2.2 Đôi nét về dân tộc Dao ở Việt Nam

1.2.2.1 Tên gọi và nguồn gốc hình thành dân tộc Dao

Về tên gọi: Người Dao được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau như Động, Dao

Xá, Mán Động là tên gọi một đơn vị cư trú tương đối phổ biến ở các dân tộc thiểu số

Nam Trung Quốc, Đông Bắc Việt Nam Mỗi “Động” thường có một người đứng đầu, gọi là chúa động Theo một số học giả, đơn vị này có thể là dạng công xã nông thôn như làng của người Việt, bản của dân tộc Tày, Thái hay buôn của các dân tộc Tây

Nguyên [34]

Tên gọi Mán có lẽ bắt nguồn từ chữ Man mà ra Người Hán xưa thường gọi

các dân tộc thiểu số phương Nam là Man (Đông Di, Tây Nhung, Bắc Địch, NamMan) Tên gọi này luôn xuất hiện trong chính sử Trung Quốc với thái độ khinh miệt

Tên gọi Xá của người Dao chỉ thấy ở Yên Bái, Lào Cai Đây chỉ là tên gọi mà người

Thái ở Tây Bắc Việt Nam thường dùng để chỉ các dân tộc có dân số ít Không chỉ với

Trang 33

người Dao mà cả các dân tộc khác như La Hủ, Khơ Mú, Xinh Mun, Kháng cũng

được gọi chung là người Xá.

Tất cả những tên gọi trên đều không được người bản tộc chấp nhận Họ tự gọi

mình là Kìm Miền, Kìm Mùn, Dìu Miền, Yù Miền, Bèo Miền Cách phát âm ở mỗi

nhóm, mỗi địa phương một khác Chẳng hạn người Dao ở Na Hang - Tuyên Quang,được các dân tộc láng giềng gọi là Động hoặc Mán, nhưng người Dao tự gọi mình là

Kiềm Miền, theo nghĩa đen Kiềm là rừng còn Miền nghĩa là người Kiềm Miền là người ở rừng Hiện tượng người dân miền núi tự nhận mình là người ở rừng là cách

danh xưng tương đối phổ biến ở nhiều DTTS Việt Nam, từ Bắc vào Nam chứ không

riêng với người Dao Đây là một phiếm xưng.

Trong thời kỳ xác định danh mục tộc danh Việt Nam vào những năm 60

-70 của thế kỷ XX, Viện Dân tộc học đề xuất và được Chính phủ chấp nhận “ Dao”

là tộc danh chính thức trong danh mục 54 dân tộc trong cộng đồng các dân tộcViệt Nam Tộc danh “Dao” được dùng làm căn cứ, làm chính sách đối với dân tộcDao trong Tổng điều tra dân số và nhà ở các năm 1979, 1989, 1999 và 2009 với

mã số dân tộc là 08 Người Dao cũng là một trong những DTTS ở Trung Quốc,Lào, Myanma và Thái Lan

Về nguồn gốc hình thành: Để giải thích về lịch sử phát tích của mình, người

Dao ở Việt Nam thường kể lại những câu chuyện Quả bầu tiên hay truyền thuyết về

Bàn Hồ Quả bầu tiên là truyện truyền khẩu, kể rằng xưa kia loài người gặp cơn đại

hồng thủy, nhân loại chết hết, chỉ còn hai chị em nhà kia sống sót Cuối cùng, haingười đành phải lấy nhau đẻ ra một bọc thịt Họ bèn bổ dọc bọc thịt đó ra, đem nhữngmảnh vụn rải khắp trần gian Những mảnh rơi lên núi hóa thành người Dao, những

mảnh rơi xuống đồng ruộng sinh ra các dân tộc khác Truyền thuyết về Bàn Hồ là

được ghi chép trong các cuốn sách của người Dao Bàn Hồ là con của Long Khuyển

từ trên trời giáng xuống và được Bình Hoàng nuôi trong cung Vì có công giúp BìnhHoàng dẹp giặc Thổ Phồn, nên Bàn Hồ lấy công chúa (có sách chép là cung nhân).Hai người đem nhau lên núi Cối Kê (Triết Giang - Trung Quốc) ở và sinh hạ được 12người con (6 trai, 6 gái) Bình Hoàng ban sắc cho con cháu Bàn Vương thành 12 họ:Bàn, Lan, Mãn, Đặng, Trần, Lương, Tống, Phượng, Đối, Lưu và Triệu Những dòng

họ đó vẫn tồn tại phổ biến hiện nay ở người Dao [34, tr 83-84]

Về lịch sử phát tích, các nhà dân tộc học Việt Nam đều khẳng định, ngườiDao có nguồn gốc từ Trung Quốc, có quan hệ thuộc tộc với các nhóm Dao hiện nay

Trang 34

đang sinh sống ở Hoa Nam Theo Trần Quốc Vượng, địa bàn cư trú cổ của ngườiDao là vùng đất Châu Dương và Châu Kinh - một phần đất nay thuộc các tỉnhGiang Tô, An Huy, Triết Giang, Giang Tây và Hồ Nam của Trung Quốc [34, tr 84-85] Họ mới chỉ có mặt ở Việt Nam từ sau thế kỷ XIII do sự đàn áp của các triều đạiphong kiến Trung Quốc và do chiến tranh liên miên, hạn hán, mất mùa liên tiếpnhiều năm , tổ tiên của người Dao phải di cư dần về miền núi phía nam và một bộphận đã vào đất Việt Nam.

Việc thiên di sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu

thế kỷ XX bằng nhiều con đường khác nhau Theo các tác giả của công trình “Người

Dao ở Việt Nam”, người Dao hiện đến Tây Bắc Việt Nam bằng đường bộ vào khoảng

thế kỷ XIII; đến vùng Đông Bắc bằng đường bộ và đường thủy trong thời gian dài từcuối thế kỷ XIII đến đầu thế kỷ XX [34, tr 85] Sau nhiều đợt chuyển cư đến ViệtNam, giờ đây người Dao đã định cư ở cả vùng cao, vùng giữa và vùng thấp tại cáctỉnh thuộc biên giới Việt - Trung, Việt - Lào và một số tỉnh Trung du miền núi phíaBắc như Thái Nguyên, Bắc Giang Người Dao thường xen cư với các dân tộc ở mức

độ khác nhau, dẫn tới sự xuất hiện các nhóm Dao địa phương với các đặc trưng vănhóa khác nhau

1.2.2.2 Các nhóm dân tộc Dao và địa bàn cư

trú

Theo kết qủa của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 của Việt Nam thìdân tộc Dao có dân số 751.067 người, cư trú tại 61/63 tỉnh, thành phố của nước ta.Những địa phương tập trung đông dân tộc Dao gồm có: tỉnh Hà Giang với 109.708người, chiếm

15,1% dân số toàn tỉnh và 14,6% tổng số người Dao ở Việt Nam; tỉnh Tuyên Quangcó

90.618 người, chiếm 12,5% dân số toàn tỉnh và 12,1% tổng số người Dao ở ViệtNam; tỉnh Lào Cai có 88.379 người, chiếm 14,4% dân số toàn tỉnh và 11,8% tổng sốngười Dao ở Việt Nam; tỉnh Yên Bái có 83.888 người, chiếm 11,3% dân số toàn tỉnh

và 11,2% tổng số người Dao ở Việt Nam

Theo các tác giả Đỗ Quang Tụ, Nguyễn Liễn viết trong cuốn sách “Người Dao

trong cộng đồng dân tộc Việt Nam” thì các nhóm dân tộc Dao được phân chia thành

nhóm nhỏ hay nhóm lớn là căn cứ vào phong tục tập quán, đặc trưng trang phục và

phương ngữ Bảng phân loại nhóm Dao qua phương ngữ in trong “Các dân tộc ít

Trang 35

người ở Việt Nam” xuất bản năm 1978, tính đến 31 - 12 - 1978 cho biết nước ta có 54

dân tộc

Trang 36

mà Dao là dân tộc thứ 9 Đồng thời, theo giáo sư dân tộc học Đặng Nghiêm Vạn, ta cóbảng phân loại với các chi tiết về tên gọi và địa bàn cư trú như sau [38, tr 63]:

b Dao Coóc Mùn, Dao LôGang (Ô Gang, Lù Gang),Dao Thanh Phán (ThanhPhán Lớn, Thanh PhánCon) c Dao Quần Chẹt,Dao Sơn Đầu, Dao TamĐảo, Dao Nga Hoàng, Dao

Hà Giang, TuyênQuang, Yên Bái, LàoCai, Cao Bằng, LạngSơn, Bắc Thái, LaiChâu, Sơn La, HàTây, Hòa Bình, ThanhHóa, Hà Bắc, QuảngNinh, Vĩnh Phú

B Tiểu Bản Dao Tiền, Dao Đeo Tiền

Nhóm II

“Kìm Mùn”

C QuầnTrắng

a Dao Quần Trắng

b Dao Họ

D Dao LànTiẻn

a Dao Làn Tỉen (LamĐĩnh), Dao Thanh Y, DaoTuyển

b Dao Áo Dài, Dao BìnhĐầu, Dao Slan Chí

Nguồn: [38] 1.2.2.3 Đặc điểm về đời sống văn hóa - xã hội và kinh tế của dân tộc Dao

Về đời sống văn hóa - xã hội: Dân tộc Dao có nền văn hóa lịch sử lâu đời và

hệ thống tri thức dân gian vô cùng phong phú Họ không có văn tự riêng mà sử dụngchữ Hán đã được Dao hóa gọi là chữ Nôm Dao

Về ngôn ngữ: Theo những nghiên cứu của tác giả Đỗ Quang Tụ và Nguyễn

Liễn công bố trong cuốn sách “Người Dao trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam” thì

“Tất cả các nhóm Dao đều nói chung một thứ tiếng là tiếng Dao, ngôn ngữ Dao rất gầnvới ngôn ngữ Mèo (tên gọi của dân tộc Mông trước cách mạng tháng 8 năm 1945),hợp với ngôn ngữ Mèo thành nhóm ngôn ngữ Mèo - Dao, do các tộc người này khôngchỉ gần nhau về

Trang 37

ngôn ngữ mà còn có một số nét tương đồng về văn hóa, phong tục tập quán Sự khácnhau về tiếng nói giữa các nhóm Dao ở Việt Nam không đáng kể, chỉ ở một số ít từ vị

cơ bản và thanh điệu, còn cấu tạo ngữ pháp không có gì thay đổi” [38, tr 66]

Về trang phục: Trang phục phản chiếu đời sống xã hội Dao nói chung và từng

ngành Dao nói riêng trong bối cảnh lịch sử nhất định [38, tr 120] Trước đây đàn ông

để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn Cácnhóm dân tộc Dao thường có cách đội khăn khác nhau Áo có hai loại, áo dài và áongắn Người phụ nữ dân tộc Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặcquần áo ngắn hay dài màu chàm và đầu đội khăn Y phục rất sặc sỡ Hiện nay, trangphục người Dao vẫn giữ được các nét hoa văn truyền thống Họ không theo mẫu vẽsẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lêntrên mặt phải Nhiều loại hoa văn được sử dụng như chữ vạn, cây thông, hình chim,người, động vật, lá cây Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong của người Dao rất độcđáo Muốn hình gì, họ dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chảy rồi inlên vải Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn màu xanh lơ do phủ lớp sáp ongkhông bị thấm tràm [34, tr

155-156]

Về phong tục tập quán: Người Dao rất coi trọng việc xây dựng - củng cố gia

đình truyền thống, vì vậy, việc dựng vợ gả chồng được coi là mở đầu của sự hìnhthành gia đình và được thực thi rất thận trọng và trang nghiêm Hôn nhân và gia đìnhluôn là vấn đề gắn bó mật thiết, chiếm vị trí quan yếu trong kho tàng văn hóa Dao [38,

tr 141] Chế độ phụ quyền của người Dao được thể hiện rõ qua vai trò quyết định củangười cha và người con trưởng được đề cao gần như tuyệt đối Còn nếu đàn ông cưới

vợ mà ở rể vĩnh viễn thì phải đổi họ của mình theo họ bên nhà vợ Theo quan niệmtruyền thống, người đàn ông Dao phải được giáo dục, rèn luyện về nhiều mặt để làmtrụ cột gia đình, dòng họ và cộng đồng Phẩm chất của họ được kiểm nghiệm quanhững lễ thức đặc biệt chỉ dành cho nam giới [34, tr 120], đó là lễ cấp sắc Đàn ôngDao phải qua một lần cấp sắc mới được coi là trưởng thành Lễ cấp sắc của người Dao

có giá trị nhân văn cao Tính giáo dục của lễ tục đó được thể hiện ở chỗ các điều giáohuấn ghi trong sắc cấp cho người thụ lễ đều hướng tới những điều thiện Bên cạnh đó,việc tang sự cũng được người Dao hết sức coi trọng Trong tất cả các trường hợp, đámtang chỉ được tiến hành khi con cháu và anh em xa gần đã tập trung đầy đủ Sau khiphát tang và khâm liệm xong, gia đình sẽ cử người con trai hoặc cháu trai mời thầy

Trang 38

cúng Nghi lễ làm ma thường có ba thầy cúng tiến hành, thầy chính làm nhiệm vụcúng mở đường tiễn đưa người chết, thầy hai thì cúng

Trang 39

đếm tiền của và tư trang cho người chết, thầy ba sẽ là người đưa cơm và rượu chongười chết Theo tập quán, trước khi khiêng người chết ra huyệt, gia đình làm lễ chiacủa với ngụ ý để người chết có đủ những thứ thiết yếu sử dụng hàng ngày ở thế giớibên kia như bát, đũa, chén, cơm, rượu, dao, cuốc [34, tr 126].

Về tín ngưỡng: Người dân tộc Dao thờ cúng tổ tiên (Bàn Hồ), ông bà, cha mẹ

và những người cùng dòng họ đã chết với niềm tin là tổ tiên sẽ phù hộ che chở chocon cháu đang sống Do vậy mà gia đình nào cũng có bàn thờ tổ tiên được đặt trangtrọng trong nhà Người Dao còn thờ cúng Bàn Vương - được coi là thủy tổ của ngườiDao, tuy nhiên lại không có miếu thờ hay bàn thờ mà chỉ có 2 lễ lớn là Chẩu đàng (tức

là cúng âm hồn Bàn Vương theo định kỳ: cứ ba năm phải cúng một lần và khi cúng thìphải cúng ba năm liền, hai năm đầu cúng nhỏ, năm thứ ba cúng to) và Tết nhảy haycòn gọi là Nhiàng chầm đao (mục đích là cầu xin sự phù hộ, che chở cho mọi thànhviên trong gia đình khỏe mạnh, làm ăn phát đạt, lễ này thường diễn ra vào mồng Mộthoặc mồng Hai tháng Giêng âm lịch) Họ không ăn thịt chó vì họ coi Long Khuyểnchính là tổ tiên của mình Bên cạnh đó, người Dao còn thờ thần bản mệnh của gia đình

và làng bản, với các lễ cúng thổ thần, lễ cúng thần Sấm, lễ cúng Ngọc Hoàng

Người Dao quan niệm rằng luôn tồn tại một lực lượng siêu nhiên chi phối trờiđất và vạn vật “Vạn vật hữu linh”, chúng đều có linh hồn, có nhiều thần linh và maquỷ tác động đến cuộc sống con người Có loại ma lành bảo vệ cuộc sống của conngười như Bàn Vương, tổ tiên, thần Nông nhưng cũng có loại ma ác chuyên làm hạicon người, gia súc, làm thiệt hại mùa màng như ma sông, ma suối, ma rừng Vì thế

mà cần cúng bái để cuộc sống được an lành Trong nông nghiệp cũng tồn tại nhiều lễcúng như lễ cúng hồn lúa (tiến hành trước khi đem thóc giống ra gieo và trước khigặt), lễ cầu mùa (vào mùng 5 tháng 5 âm lịch hàng năm), lễ cúng cơm mới (vào tháng

9 âm lịch hàng năm)

Về văn học - nghệ thuật: Người Dao có một kho tàng văn nghệ dân gian phong

phú với truyện cổ, tục ngữ, văn xuôi, thơ ca được truyền từ đời này sang đời khác.Theo Đỗ Quang Tụ và Nguyễn Liễn “người Dao có ba loại nghệ thuật đặc trưng:Nghệ thuật cắt giấy trang trí bàn thờ và phục vụ tang lễ; nghệ thuật chạm bạc nữtrang; nghệ thuật nhảy múa lễ hội, thổi kèn cưới” [38, tr 229]

Ca múa nhạc là một hình thức sinh hoạt văn nghệ thường thấy trong đời sốngcủa cộng đồng dân tộc Dao, cùng với đó là hệ thống các nhạc cụ tương đối đa dạngnhư sáo

Trang 40

trúc (tũa tị), kèn đồng (phằn tị), thanh la, não bạt, trống Nghệ thuật múa và nhảy của người Dao chỉ ứng dụng trong lễ nghi, lễ cưới.

Đối với nghệ thuật cắt giấy thì “các nhóm - ngành Dao đều có cách cắt giấyriêng của mình, mục đích chỉ để trang trí trong lễ nghi, lễ cưới, lễ tang” [38, tr 234].Các họa tiết được thể hiện trên giấy thường là Mặt Trời, cỏ cây, động vật, lễ cụ,đường kỷ hà (là hoa văn tôn vinh và kết nối sự vật)

Nghệ thuật chạm bạc của người Dao rất tinh xảo với hoa văn, họa tiết phongphú và được cách điệu hóa cao, thể hiện qua việc trang trí trên ngực áo, các đồ nữtrang

Về nhà ở: Người Dao thường sống ở lưng chừng núi, nửa sau nhà tựa vào núi,

nửa trước nhà thì dựng cột chống Tuy nhiên có một số nhóm dân tộc như Dao QuầnTrắng thì ở thung lũng, còn Dao Đỏ thì ở trên núi cao Thôn, bản người Dao thườngphân bố phân tán, rải rác chưa đến chục nóc nhà Về nhà ở, do điều kiện và môitrường sống có sự khác biệt nhau giữa các nhóm Dao nên đồng bào Dao tồn tại nhiềuloại hình nhà ở như nhà trệt (nền nhà đất bằng) phổ biến ở người Dao Đỏ, Dao Tiền,Dao Quần Chẹt, Dao Họ; nhà sàn của người Dao Quần Trắng; nhà nửa sàn nửa đấtcủa người Dao Đỏ, Dao Tuyển Hầu hết toàn bộ nhà của người Dao đều làm bằng tre,nứa, tranh, lá, những cột cái trong nhà đều được dựng bằng gỗ quý lâu năm Trongnhà thường được chia thành hai khu vực: nửa trong là nơi nấu nướng và nơi ở của phụ

nữ, nửa ngoài là nơi tiếp khách và nơi nam giới ở Bàn thờ tổ tiên thường được đặtcùng với hướng nhà, cùng quay lưng tựa vào núi

Về tổ chức xã hội: Người Dao có tập quán cư trú theo thôn bản Trong xã hội

truyền thống cũng như hiện nay, già làng, trưởng họ và thầy cúng có vai trò quantrọng trong đời sống cộng đồng Họ là những người có uy tín và được mọi người kínhtrọng Già làng là người đứng đầu và điều hành những công việc chung trong mộtcộng đồng thông qua luật tục, còn trưởng họ là người đứng đầu một dòng họ, điềuhành những công việc chung trong dòng họ của mình Trong thôn xóm tồn tại chủ yếucác quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ Các dòng họ, chi họ thường có gia phảriêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khácnhau

Về đặc điểm kinh tế của cộng đồng dân tộc Dao: Sinh kế chủ yếu của họ là

dựa vào canh tác lúa nương và lúa nước với kỹ thuật canh tác khá tiến bộ Người Daocũng như nhiều DTTS ở nước ta có truyền thống du canh du cư, phát nương làm rẫy

để trồng lúa, ngô, khoai và rau đậu bằng những công cụ lao động thô sơ, sau năm bảy

Ngày đăng: 27/12/2018, 16:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w