Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu vấn đềTrong đề tài: Nghiên cứu Hán văn Đông Kinh nghĩa thục, chúng tôi sẽ hướng đến làm sáng tỏ những vấn đề sau: Hán văn Đông Kinh nghĩa thụcbao gồm những
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -NGUYỄN THỊ MAI
NGHIÊN CỨU HÁN VĂN ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÁN NÔM
HÀ NỘI - 2011
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2. Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu vấn đề………4
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3.1 Các công trình nghiên cứu có tình chất sử liệu, sử học, văn học, văn hóa về Đông Kinh nghĩa thục 4
3.2 Các công trình nghiên cứu về Hán văn Đông Kinh nghĩa thục 6
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Bố cục Luận văn 8
CHƯƠNG 1 ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC VÀ HÁN VĂN ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC 10
1.1 Đông Kinh nghĩa thục 10
1.2 Hán văn Đông Kinh nghĩa thục 17
1.2.1 Danh mục sách Hán văn Đông Kinh nghĩa thục trong Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm 18
1.2.2 Danh mục sách Hán văn Đông Kinh nghĩa thục ở Thư viện Viện sử học Việt Nam 23
1.2.3 Hán văn Đông Kinh nghĩa thục theo Văn thơ Đông Kinh nghĩa thục 詩詩詩詩詩詩
27 1.3 Sự vận động về văn thể của Hán văn Việt Nam đầu thế kỷ XX 29
1.4 Một số đặc trưng của Hán văn Đông Kinh Nghĩa thục 31
1.4.1 Hán văn Đông Kinh nghĩa thục là Hán văn nhà trường 32
1.4.2 Hán văn Đông Kinh nghĩa thục là Hán văn giác thế, Hán văn khải mông, nâng cao dân trí, dân khí 37
Trang 31
Trang 41.4.5 Hán văn Đông Kinh nghĩa thục là Hán văn phi kinh điển, Hán
văn sử Việt 50
1.4.6 Hán văn Đông Kinh nghĩa thục là Hán văn đổi mới, cách tân ngữ pháp 54
Tiểu kết Chương 1 56
CHƯƠNG 2 HÁN VĂN ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC QUA QUỐC DÂN ĐỘC BẢN 詩詩詩詩 57 2.1 Quốc dân độc bản 詩詩詩詩 - sách giáo khoa cho quốc dân 57
2.2 Hệ vấn đề nội dung của Quốc dân độc bản 詩詩詩詩 60
2.2.1 Tư tưởng cộng đồng 60
2.2.2 Tư tưởng quốc gia dân tộc 62
2.2.3 Tư tưởng về quốc dân 63
2.2.4 Các thiết chế của nhà nước hiện đại 64
2.2.5 Hệ vấn đề về pháp luật: 65
2.2.6 Hệ vấn đề về giáo dục 65
2.2.7 Hệ vấn đề về kinh tế 65
2.3. Quốc dân độc bản 詩詩詩詩 là Hán văn giáo dục quốc dân 66
2.4 Quốc dân độc bản 詩詩詩詩 l à Hán văn tân văn thể 78
2.5 Quốc dân độc bản 詩詩詩詩 là Hán văn mở mang văn hóa 81
Tiểu kết chương 2 92
PHẦN KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 1 Error! Bookmark not defined. PHỤ LỤC 2 120
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đông Kinh nghĩa thục là một trường tư thục do Cụ cử Lương VănCan và các sỹ phu yêu nước thành lập vào năm 1907 ở Hà Nội Tuy trườngchỉ tồn tại trong khoảng thời gian ngắn ngủi (từ tháng 3 đến tháng 12 năm1907), nhưng với những hoạt động yêu nước nhằm nâng cao dân trí, chấnhưng dân khí, hóa quốc cường dân, đào tạo nhân tài để cách tân văn hóa, xãhội, tư tưởng…, “Đông Kinh Nghĩa thục đã được đánh giá như là mộtphong trào cải cách văn hóa Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX”.(Chương Thâu, 1982) Trong số những tài liệu dùng để phục vụ cho mụcđích hoạt động của trường Đông Kinh khi ấy, số lượng tư liệu viết bằng chữ
Hán chiếm khá nhiều Bộ phận tài liệu này được gọi là Hán văn Đông Kinh nghĩa thục Do đó, Hán văn Đông Kinh Nghĩa thục là thuật ngữ dùng để chỉ
tất cả những tác phẩm Hán văn của trường Đông Kinh nghĩa thục viếtnhững năm đầu thế kỷ XX (những tác phẩm này có thể được đề dưới danhnghĩa một tác giả cụ thể, cũng có khi mang tên chung Đông Kinh nghĩathục) Những ấn phẩm Hán văn này chứa đựng trong mình những nét đặctrưng về chức năng, phong cách và nội dung tư tưởng của một giai đoạnHán văn Việt Nam; mang đậm hơi hướng của thời đại, thể hiện đặc trưng hệ
tư tưởng, nguyện vọng, chí hướng và xu thế đấu tranh của giới sỹ phu yêunước nhiệt huyết với công cuộc canh tân đất nước trong những năm đầu thế
kỷ XX Đặt trong bối cảnh lúc đó, Hán văn Đông Kinh nghĩa thục vớinhững đổi mới về lối viết, cách dùng từ cũng như phương pháp diễn đạt đãthực sự tạo ra những thay đổi mạnh mẽ khác với Hán văn truyền thống, gópphần thúc đẩy cho văn học nước nhà, nền ngôn ngữ nước nhà phát triển Do
đó, chúng tôi chọn Hán văn Đông Kinh nghĩa thục làm đề tài luận văn Caohọc Hán Nôm của mình
Trang 62. Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu vấn đề
Trong đề tài: Nghiên cứu Hán văn Đông Kinh nghĩa thục, chúng tôi
sẽ hướng đến làm sáng tỏ những vấn đề sau: Hán văn Đông Kinh nghĩa thụcbao gồm những gì, trường Đông Kinh nghĩa thục đã sử dụng Hán văn củamình như thế nào để phục vụ công cuộc duy tân đất nước, cải lương nềnHán học cũ, xây dựng nền giáo dục quốc dân cận đại Không những thế,
Nghiên cứu Hán văn Đông Kinh nghĩa thục theo định hướng trên còn giúp
chúng ta hình dung ra vai trò của Hán văn trong hệ thống nhà trường ViệtNam những năm đầu thế kỷ XX, góp phần làm sáng tỏ đôi điều về đời sốngHán văn Việt Nam buổi giao thời giữa cũ và mới, Á và Âu cũng như bướcquá độ từ truyền thống đến hiện đại theo góc nhìn văn hóa
Nghiên cứu Hán văn Đông Kinh nghĩa thục, chúng tôi hy vọng sẽ
đóng góp thêm một phần nào đó vào những nghiên cứu và tìm hiểu vềĐông Kinh nghĩa thục từ trước tới nay, nhằm hướng đến mục tiêu cụ thểhóa những đặc điểm và vai trò của Đông Kinh nghĩa thục trên phương diệngiáo dục bằng Hán văn
Trang 7nghĩa thục của Đào Trinh Nhất được coi là công trình sớm nhất viết về
trường Đông Kinh nghĩa thục và phong trào Đông Kinh nghĩa thục
* Năm 1954, Nguyễn Hiến Lê viết Đông Kinh nghĩa thục Cuốn sách
đến 3/3/1974 đã được Nxb Lá Bối in lại lần thứ 3 và dày 202 trang Chínhtác giả Nguyễn Hiến Lê đã nhận xét về giá trị của cuốn sách như sau:
“Cuốn sách nhỏ độc giả đang đọc đây không phải là cuốn sử, nó chỉ chứađựng những tài liệu về sử mà thôi” Như vậy các tác phẩm Hán văn củaĐông Kinh nghĩa thục mới chỉ được giới thiệu qua loa, ghép cùng hệ thốngsách khoa giảng dậy học tập của trường chứ chưa được đi sâu nghiên cứu,phiên dịch và công bố chi tiết
* Tạp chí Nghiên cứu lịch sử trong nhiều năm đã mở những cuộc hội
thảo kéo dài để thảo luận về một số vấn đề thuộc văn hóa tư tưởng củaĐông Kinh nghĩa thục như:
- Đông Kinh nghĩa thục có phải là cuộc cách mạng văn hóa dân tộc dân chủ hay không? của tác giả Nguyên Anh (Nghiên cứu Lịch sử, số
- Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX (1900-1925) của Giáo
sư Đặng Thai Mai, NXb Văn học, in lần thứ 3, 5/1974 Bên cạnh việc phân
tích và trình bày vai trò, vị trí của Văn thơ Đông Kinh nghĩa thục trong nền
Trang 8văn học Việt Nam, tác giả Đặng Thai Mai đã tiến hành trích dịch nội dung
cuốn sách Văn minh tân học sách 詩詩詩詩詩
- Đông Kinh nghĩa thục và phong trào cải cách văn hóa đầu thế kỷ
XX của tác giả Chương Thâu, Nxb Hà Nội, 1982 Điều đặc biệt cần quan
tâm là ở Phần thứ 2 của cuốn sách, tác giả đã trích dẫn phần dịch của một
số tác giả khác từng dịch về Hán văn Đông Kinh nghĩa thục như: Văn minh tân học sách 詩詩詩詩詩 (trích theo bản dịch của GS Đặng Thai Mai),
Quốc dân độc bản 詩詩詩詩 (trích theo bản dịch của Nguyễn Đình Chú), Nam quốc địa dư 詩詩詩詩 (trích theo bản dịch của Vũ Tuấn Sáu), Cải lương mông học quốc sử giáo khoa thư 詩詩詩詩詩詩詩詩(trích theo bản dịch của GS
Trần Văn Giàu)…Cuốn sách này không chỉ là tư liệu quý cho ngành sử họckhi tìm hiểu về Đông Kinh nghĩa thục mà nó còn có công tập hợp nhữngbản dịch đáng tin cậy của các học giả khác về các cuốn sách Hán văn ĐôngKinh nghĩa thục
- Văn thơ Đông Kinh nghĩa thục của Nxb Văn hóa xuất bản năm
1997 Cuốn sách này có dịch trọn vẹn hai cuốn sách Hán văn của trường
Đông Kinh nghĩa thục là Tân đính luân lý giáo khoa 詩詩詩詩詩詩詩 và Quốc dân độc bản 詩詩詩詩 Ngoài ra còn thống kê thêm các bài thơ Quốc ngữ,Phần phụ lục có các bài thơ chữ Hán của Phan Bội Châu, Huỳnh ThúcKháng… Đây có thể coi là tư liệu đầu tiên dịch trọn vẹn một trong các cuốnsách Hán văn của trường, tạo điều kiện rất lớn cho việc nghiên cứu vềĐông Kinh nghĩa thục nói chung cũng như Hán văn Đông Kinh nghĩa thụcnói riêng
3.2 Các công trình nghiên cứu về Hán văn Đông Kinh nghĩa thục
Song song với các công trình nghiên cứu ở trên, gần đây cũng đãxuất hiện các công trình nghiên cứu về Hán văn Đông Kinh nghĩa thục,
trong đó có hai công trình tiêu biểu: Một số vấn đề về chữ Hán thế kỷ XX
Trang 9của tác giả Phạm Văn Khoái và đề tài Luận án Tiến sỹ Khảo sát từ ngữ một
số tác phẩm Hán văn Đông Kinh nghĩa thục của Đỗ Thúy Nhung.
- Một số vấn đề về chữ Hán thế kỷ XX của tác giả Phạm Văn Khoái
do NXb Đại học Quốc gia Hà Nội, xuất bản năm 2001 Tác giả đã đi sâuvào tìm hiểu hệ vấn đề, sự đổi mới trong ngôn từ của Hán văn Đông Kinhnghĩa thục nói riêng và Hán văn thế kỷ XX nói chung ở chương 4 Trong
cuốn sách này, Quốc dân độc bản 詩詩詩詩 được nhìn dưới góc độ là mộtcuốn sách dạy tri thức phổ cập bằng chữ Hán với các hệ vấn đề và hệ thống
từ ngữ chính trị - xã hội, thuật ngữ khoa học hiện đại của những năm đầuthế kỷ XX ở nước ta
- Luận án Tiến sỹ Khảo sát từ ngữ một số tác phẩm Hán văn Đông Kinh nghĩa thục của Đỗ Thúy Nhung mang mã số V-L2/01043, dày 249
trang, chia làm 4 chương, trong đó: Chương 2, 3, 4 tác giả nghiên cứu vềthực từ, hư từ, thành ngữ - quán ngữ và tên riêng trong Hán văn Đông Kinhnghĩa thục Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về cơ cấu vốn
từ của Hán văn của Đông Kinh nghĩa thục dựa trên cơ sở phân tích một sốtác phẩm Hán văn cụ thể
Tuy trực tiếp hay gián tiếp thì các công trình nghiên cứu, sưu tầm,thống kê, dịch thuật, phân tích, luận giải về Hán văn Đông Kinh nghĩa thụctrong lịch đại, xét ở góc độ nào đó cũng đều gợi mở ra những cách tiếp cận
và cung cấp nguồn tri thức cũng như một số kết luận quý báu để người
nghiên cứu đi sau lấy làm căn bản, trên cơ sở đó tìm hiểu thêm ra Nghiên cứu Hán văn Đông Kinh nghĩa thục nhằm tìm hiểu về bộ phận Hán văn
cuối cùng của Hán văn Việt Nam những đầu thế kỷ XX, để thấy rõ tính giácthế, khải mông từ tư tưởng cho đến những thay đổi về hình thức của Hánvăn giai đoạn này
4. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi sẽ nghiên cứu Hán văn Đông Kinh nghĩa thục dưới góc độ coi nó là một bộ phận của Hán văn Việt Nam những năm
Trang 10đầu thế kỷ XX, coi nó như là một biểu hiện cụ thể của ngôn ngữ viết Hánvăn Việt Nam của bước chuyển văn hóa Việt Nam từ truyền thống đến hiệnđại Do đó, phải xem xét, nghiên cứu bộ phận Hán văn Đông Kinh nghĩathục này từ các góc độ sau:
- Xuất phát từ các đặc trưng về mặt cấu trúc ngôn ngữ của bộ phậnHán văn này
- Xuất phát từ các đặc trưng có tính chất chức năng của hệ thống ngôn ngữ viết Hán văn này
- Xuất phát từ các đặc trưng mang tính chất loại thể và phong cách của hệ thống ngôn ngữ Hán văn này
Nếu xuất phát từ các đặc trưng về mặt cấu trúc của hệ thống ngônngữ viết này thì sẽ phải đề cập đến cơ cấu vốn từ, hệ thống ngữ pháp liênkết, tổ chức vốn từ đó Hiện nay, nước ta đã có Luận án Tiến sỹ của Đỗ
Thúy Nhung làm về Khảo sát từ ngữ một số tác phẩm Hán văn Đông Kinh nghĩa thục Do đó, ở một mức độ nhất định, trên cơ sở những gì mà người
đi trước đã làm, chúng tôi sẽ đi sâu vào các vấn đề thuộc phạm trù chứcnăng và phong cách thể hiện trong Hán văn Đông Kinh nghĩa thục Đồngthời, những chức năng và phong cách đó sẽ được xem xét trên tinh thầnquán triệt các nguyên tắc của nghiên cứu đại diện và nghiên cứu trường
hợp, chúng tôi sẽ chọn Quốc dân độc bản 詩詩詩詩 số ký hiệu A.174 làm đốitượng cho nghiên cứu đại diện của Hán văn Đông Kinh nghĩa thục
5 Phương pháp nghiên cứu
Từ những mục đích và giới hạn như trên của đề tài, chúng tôi sẽ sửdụng triệt để các nguyên tắc và phương pháp ngữ văn học Hán văn đểnghiên cứu vấn đề
6. Bố cục Luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung chính
của Luận văn được trình bày như sau:
Trang 11Chương 1: Với tiêu đề “Đông Kinh nghĩa thục và Hán văn Đông
Kinh nghĩa thục”, nhằm giới thiệu sự ra đời của Đông Kinh nghĩa thụccũng như một số đặc trưng chức năng, phong cách của Hán văn Đông Kinhnghĩa thục
Chương 2: Với tiêu đề “Hán văn Đông Kinh nghĩa thục qua Quốc
dân độc bản 詩詩詩詩", nhằm nghiên cứu về Hán văn Đông Kinh nghĩa thục
thông qua đại diện của nó là Quốc dân độc bản 詩詩詩詩.
Trang 12CHƯƠNG 1 ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC VÀ HÁN VĂN ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC
Hán văn Đông Kinh nghĩa thục là những tư liệu Hán văn được viếtbởi một bộ phận các nhà nho tiến bộ trường Đông Kinh nghĩa thục nhữngnăm đầu thế kỷ XX Chính vì nó được viết bởi những tấm lòng nhiệt thành
và tư tưởng đổi mới, tiến bộ nên Hán văn Đông Kinh nghĩa thục còn đượcgọi là Hán văn của nhà trường, Hán văn cải cách văn hóa, khải mông tưtưởng và cách tân về phương diện từ vựng, ngữ pháp Dưới đây chúng tôi
sẽ lần lượt làm sáng tỏ những đặc trưng về chức năng và phong cách của bộphận Hán văn này
1.1 Đông Kinh nghĩa thục
Cuối thế kỷ XIX, Việt Nam trở thành thuộc địa của thực dân Pháp.Đất nước bị chia cắt làm ba kỳ với 3 chế độ chính trị khác nhau: Nam Kỳdưới chế độ trực trị, Trung Kỳ dưới chế độ bảo hộ và Bắc kỳ dưới cả haichế độ đó Thực dân Pháp phải mất 25 năm (từ 1858-1883) mới hoàn thànhxâm lược Việt Nam, mất gần 15 năm (từ 1883-1896) để hoàn thành cái gọi
là “bình định” Trong suốt 40 năm ấy, mọi hoạt động lớn của dân tộc đềuhướng đến một nhiệm vụ bao trùm: đối phó với bọn thực dân để khôi phụclại chủ quyền đất nước Phong trào Cần Vương do Hàm Nghi và Tôn ThấtThuyết phát động năm 1885 đã phát triển rộng khắp từ miền Trung cho đếnmiền Bắc trong những năm 1885, 1886, 1887 rồi suy giảm dần, đi đến hồikết với thất bại của khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạonăm 1897 Từ sau cuộc khởi nghĩa Hương Khê cho đến trước cuộc chiếntranh Thế giới lần thứ nhất, khắp đất nước tuy các đoàn thể cứu quốc cònnhiều nhưng đáng kể thì chỉ có cuộc khởi nghĩa vũ trang của Hoàng Hoa
Trang 13Thám ở Yên Thế Nhưng Hùm thiêng Yên Thế khi ấy lúc lâm vào cảnh thân cô thế cô cũng phải tạm thời hòa hoãn với quân xâm lược Mặc dù nỗi
e ngại của nhà cầm quyền về chúng dân xứ thuộc địa vẫn còn nhưng bọnthực dân Pháp cũng không giấu nổi sự hể hả trước những thành công trongviệc trấn áp của chúng: “Nhân dân toàn xứ hầu như đã bị quật xuống dướiquyền thống trị của chúng ta, nhưng họ chưa phải đã thấm nhuần tính chấtvĩnh viễn của nền đô hộ Pháp và họ vẫn sẵn sàng nắm lấy một thời cơ thuậnlợi hay một giây phút yếu đuối của chúng ta để lật nhào cái ách nặng trêncổ” [Đặng Thai Mai, 1971 tr, 56-57] Trong báo cáo của Toàn quyền ĐôngDương Pôn Đume gửi về Pari năm 1897 có đoạn viết rằng: “Hiện nay tìnhhình chính trị trên toàn cõi Đông Dương không còn một nơi nào đáng longại hay bi đát” [Đặng Thai Mai, 1971 tr, 58] Năm 1902, Đume gửi báocáo về Pari, trong báo cáo đó có viết rằng: “Từ năm 1897 đến nay không cóngười lính Pháp nào chết trận ở Đông Dương nữa” [Đặng Thai Mai, 1971,
tr, 58] Hình thức đấu tranh vũ trang đã hoàn toàn chấm dứt trên đất nước
ta, nếu còn cũng chỉ là vài cuộc đánh hậu vệ, diễn ra đơn lập, lẻ tẻ và bộtphát Bộ máy chính quyền thực dân đã được xây dựng và củng cố với sựhợp tác của triều đình Huế và một bộ phận không nhỏ tầng lớp phú hào.Nhà nước bảo hộ thi hành nhiều chính sách thực dân nhằm biến nước tathành một thị trường tiêu thụ hang hóa và bóc lột nhân công để thu lợinhuận cao nhất cho tư bản Pháp, đồng thời lại kìm hãm xã hội Việt Namtrong tình trạng trì trệ của một nước nông nghiệp để dễ bề cai trị Cả bộmáy quan lại Nam triều từ trên xuống dưới bắt tay với lũ thực dân xâm lược
ra sức bóc lột dân ta Thực dân Pháp còn cho phép duy trì và phát triểnnhững phong tục hủ bại thời phong kiến như: đánh bạc, uống rượu, hútthuốc phiện, cổ động mê tín dị đoan, truyền bá và xúi giục các thứ tôn giáo
và tà giáo…nhằm ru dân ta ngủ mãi trong kiếp ngu hèn, bạc nhược về tinhthần và kiệt quệ về thể chất
Trang 14Trong không khí đầy xáo trộn ấy, ở các nhà nho Việt Nam đã xuấthiện những tâm trạng khác nhau: hoặc là ẩn dật chờ thời, hoặc chán đời tiêucực không hoạt động cứu nước cũng không chịu ra làm quan, hoặc cho rằng
"rau vi chẳng lấy gì làm đắng" nên bó tay về với triều đình, mà thực chấtcủa việc làm đó là cộng tác với quân xâm lược, trở thành một bộ phận taysai, một mắt xích quan trọng trong cơ cấu bóc lột đàn áp nhân dân của thựcdân Số đông sỹ phu cùng một tâm trạng: “Nghìn năm sự nghiệp nước vềđông”! Tuy nhiên trong hàng ngũ khoa bảng mới từ năm 1885 trở đi, thậmchí ở cả hàng ngũ quan trường đã có khá nhiều người dám đứng lên chốngPháp, nuôi chí khôi phục giang sơn Họ mở lòng đón nhận những luồng gióTân thư Tân văn từ Trung Quốc và bên ngoài thổi vào, và chính những tưtưởng mới mẻ ấy đã dần dần làm lung lay, dao động cách suy nghĩ, tư duyđầy thủ cựu, bền gốc sâu rễ mấy trăm năm từng hằn in trong đầu óc của biếtbao thế hệ, thôi thúc các sỹ phu yêu nước hướng về con đường tươi mớiđang được đón nhận ở các nước đồng văn cùng cảnh ngộ Duy tân là một xuthế tất yếu của các nước châu Á trước sự xâm lược, bành trướng đầy hùngmạnh của chủ nghĩa đế quốc và văn minh phương tây Duy tân còn nhằmmục đích tự cường, chấn hưng sức mạnh nội tại, làm cho nhà nước phúcường để để tham gia vào xu thế cạnh tranh của thế cuộc Con đường đókhông chỉ là một cách thức tối ưu để bảo vệ độc lập chính trị quốc gia màcòn nhằm mục đích bảo vệ chủng tộc, gìn giữ sự sống còn cho giống nòi.Các nhà nho yêu nước đã lao mình theo gương sáng của Trung Quốc, NhậtBản, mong muốn tiến hành một cuộc cải cách văn hóa xã hội toàn diện
“Đông Kinh nghĩa thục là bước phát triển mới, đỉnh cao và cũng là bướcphát triển cuối cùng của tư trào đó” [Trần Đình Hượu, 1983, tr 54]
Từ năm 1906 đến đầu năm 1907, tại ngôi nhà của cụ cử Lương VănCan ở số 4 phố Hàng Đào, Hà Nội, các nhà nho yêu nước tiến bộ thường luitới để bàn bạc về con đường cứu nước mới Họ đã đi tới quyết định nhất
Trang 15quán là cần lập một trường học làm cơ sở giáo dục, nhằm “hóa quốc cườngdân” bằng con đường mở mang dân trí, chấn hưng kinh tế Trường lấy tên
là Đông Kinh nghĩa thục 詩詩詩詩, trong đó Đông Kinh 詩詩 là lấy từ tênthành Thăng Long thời nhà Hồ, còn Nghĩa thục 詩詩 là trường dạy vì nghĩa,không lấy tiền Đông Kinh nghĩa thục là một mô hình trường học tư môphỏng theo Khánh Ứng nghĩa thục (Keio-Gijuku) do Phúc Trạch Dụ Cát(Fukuzawa Yukichi 1835-1901) thành lập ở Nhật năm 1858 Khánh Ứng làtên để ghi nhớ triều đại trước chính thể Minh Trị (1865), còn Nghĩa thụcchỉ tinh thần “vì nghĩa lớn” của trường này Tinh thần này theo Phúc Trạchbao gồm bốn phẩm chất nếu phát huy được thì có thể làm rạng danh ngườiNhật như tính tự chế, ý chí độc lập, óc tháo vát và lòng tự nguyện đóng gópvào các công ích công thiện Từ năm 1907, các nhà nho ta trên cơ sở nhữnghiểu biết về một trường học đào tạo nhân tài xây dựng đất nước kiểu KhánhỨng bên Nhật, đã đồng tâm thành lập ở Hà Nội một Nghĩa Thục và rồi từcái Nghĩa thục ấy các cụ đã gây lên thành một phong trào Nghĩa thục hoạtđộng ở nhiều địa phương trong cả nước
Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Duy Tốn được coi là hai trong số nhữngngười “sáng lập viên” của Đông Kinh nghĩa thục, đồng thời cũng là côngchức của Pháp nên việc xin giấy phép mở trường sẽ được chính quyền bảo
hộ dễ dàng chấp thuận hơn Có ý kiến cho rằng Nguyễn Quyền - vị huấnđạo về hưu và Trần Đình Đức - vốn là một giáo học chữ Pháp, đứng ra xinphép mở trường Trường chính thức chiêu sinh và đi vào giảng dạy từ tháng
3 năm 1907 (trên thực tế thì tháng 5 năm 1907, chính quyền thực dân mớicấp giấy, cho phép ông Huấn Quyền mở trường học “theo phương châmkhai hóa của Chính phủ bảo hộ”) Cụ cử Lương Văn Can lúc đó đã
53 tuổi, là người lớn tuổi nhất trong đám sỹ phu sáng lập, được bầu làmthục trưởng của trường Ông từng đỗ của nhân, từng được triều đình bổ làmGiáo thụ phủ Hoài Đức và được người Pháp đề cử vào nhiều chức vụ khác,
Trang 16nhưng lần nào cũng hết mực từ chối, chỉ muốn ở nhà dạy học NguyễnQuyền, 38 tuổi, nguyên làm Huấn đạo Lạng Sơn, xin nghỉ việc để tham giavào tổ chức của trường, được cử làm Giám học Hội viên chính thức còn cóNghiêm Xuân Quảng, án sát Lạng Sơn về làm giáo viên trường sư phạm;các nhà tân học như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học Bên cạnh đó cũng phải kể đến những hội viên tán trợ từng tham gia tích cựcvào việc tổ chức và duy trì cho trường hoạt động thường xuyên như: ĐàoNguyên Phổ, Phạm Tuấn Phong, Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí, Lê Đại,
Vũ Hoành, Nguyễn Hữu Cầu, Phan Tất Tuân Hội (gồm các thành viênchính thức và hội viên tán trợ) dự kiến sẽ thành lập ở Hà Nội một Nghĩathục, rồi mở rộng ảnh hưởng ra xung quanh, gây thành một phong trào lớnlan tỏa ra khắp nơi và lấy Hà Nội làm trung tâm
Trường lập ra bốn ban công tác, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau đểduy trì cho trường hoạt động và đạt kết quả tốt nhất
Ban Giáo dục: làm công tác mở lớp, tiếp nhận học viên, tổ chức
giảng dạy Đội ngũ giáo viên bao gồm các nhà nho và các nhà tân học Ban
chia làm ba tổ bộ môn, gồm: Việt văn, Hán văn và Pháp văn Đảm nhận dạyHán văn có Nguyễn Quyền, Vũ Trác, Hoàng Tích Phụng, Dương Bá Trạc,Hoàng Tăng Bí, Lương Trúc Đàm, Đào Nguyên Phổ Ban Việt văn và Phápvăn có Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Bùi Đình Tá.Học viên của trường rất đa dạng, gồm có cả người già và trẻ em, cả nam và
nữ, tất cả được phân làm tám lớp
Ban tu thƣ có nhiệm vụ biên soạn tài liệu giảng dạy cho giáo viên,
tài liệu học tập cho học viên và các tài liệu tuyên truyền cổ động cho nhàtrường Biên tập viên chính là Lương Văn Can, Lê Đại, Nguyễn Hữu Cầu.Phan Chu Trinh và Ngô Đức kế cũng tham gia vào ban này Ban chia làmhai ngành: ngành soạn và ngành dịch Tài liệu tham khảo chủ yếu là cácsách báo mới (Tân thư, Tân văn) của Trung Quốc, hoặc trích từ các áng văn
Trang 17cổ, có nội dung phù hợp với mục đích hoạt động của trường Trong mộtthời gian ngắn, ban đã soạn được một số sách giáo khoa và tài liệu tuyên
truyền như: Quốc dân độc bản 詩詩詩詩, Nam quốc giai sự 詩詩詩詩, Nam quốc địa dư 詩詩詩詩, Quốc văn giáo khoa thư 詩詩詩詩詩, Luân lý giáo khoa thư 詩詩詩詩詩… Đây là những sách viết bằng chữ Hán, in bản gỗ trên giấy
Bưởi, đóng bìa dầy, đem phát miễn phí cho học sinh Những tác phẩm xuất
bản ở Nhật Bản và Trung Quốc như Trung Quốc hồn 詩詩詩, Vạn quốc sử ký
詩詩詩詩, Doanh hoàn chí lược 詩詩詩詩, Nhật Bản tam thập niên duy tân sử 詩 詩詩詩詩詩詩詩 cũng được ban mua về để làm tài liệu tham khảo, biên soạn,nghiên cứu, giảng dạy
Ban tài chính: Phụ trách các khoản thu chi của nhà trường và là bộ
phận quan trọng để Đông Kinh nghĩa thục được tồn tại và mở rộng hoạtđộng Tài chính của trường chủ yếu là do các hội viên đóng góp, sau đó lànhững người hảo tâm và gia đình học viên
Ban cổ động: có nhiệm vụ tuyên truyền ảnh hưởng của trường với
quần chúng Hình thức hoạt động chủ yếu của ban là tổ chức các buổi diễnthuyết và bình văn hàng tháng Sự đón nhận và ủng hộ của quần chúng vớiphong trào được ghi lại qua câu thơ sau:
“Buổi diễn thuyết người đông như hội
Kỳ bình văn khách đến như mưa”!
(Dựa theo tư liệu Đông Kinh nghĩa thục của tác giả Chương Thâu).
Như vậy, Đông Kinh nghĩa thục cùng với những hoạt động và ảnhhưởng của nó, không chỉ bó hẹp trong ý nghĩa của một trường học, mà thựcchất đã gây thành phong trào, một cuộc vận động chính trị công khai,hướng tới mục đích “hóa quốc cường dân” để giành độc lập dân tộc và đổimới đất nước Xuất phát từ thực trạng nước nhà, các nhà sáng lập và lãnhđạo Đông Kinh nghĩa thục chỉ rõ con đường chống Pháp giành độc lập dântộc không thể xuất phát từ chủ trương bạo động hay cầu ngoại viện, mà
Trang 18nguyên nhân sâu xa làm cho nước yếu dân hèn chính là do lạc hậu, cho nênviệc đầu tiên cần phải làm để cứu nước là chống tư tưởng phong kiến hủbại, mở đường cho việc thực hiện một cuộc cải cách về tư tưởng văn hóa xãhội Đó là cả một chặng đường tìm tòi, suy ngẫm và đấu tranh giữa chống
và xây, mà cụ thể là chống cái gì và xây cái gì của các nhà Đông Kinhnghĩa thục Đối với học thuật, giáo dục các nhà Đông Kinh cũng đưa ra cácchủ trương cải tổ, đổi mới Họ nhìn thấy thực trạng của nền giáo dục khoa
cử từ chương Các nhà tân học ra sức đả phá nền giáo dục và học thuật theo
lề thói phong kiến đã lỗi thời Họ xác định phương pháp giảng dạy khôngphải cứng nhắc giáo điều mà là “trong thi cử cho phép bàn bạc tha hồ, đốiđáp tự do không nề hà, không cần thể cách gì hết…” [Viện Viễn Đông bác
cổ - Cục lưu trữ Việt Nam, 1997] Họ khẳng định học và dạy không phải để
cử nghiệp mà là để đào tạo nhân tài, để sản sinh ra các giá trị tinh thần vàvật chất, để nuôi sống bản thân, gia đình và làm cho nước nhà phát triển
“Đó là cái học hướng nghiệp, cái học thực dụng và mang ý nghĩa thực tiễncuộc sống” [Chương Thâu, 1982, tr 47]
Từ những nhận định có tính định hướng như trên, Đông Kinh nghĩathục đưa ra các chủ trương cải cách trên mấy bình diện: Văn hóa - xã hội,giáo dục - học thuật và kinh tế Về văn hóa giáo dục, họ cho rằng, nền vănhóa, giáo dục của chế độ phong kiến Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề củanền văn hóa, giáo dục bên Trung Quốc, nhưng nay đã lỗi thời, cần phải thaythế nó bằng một cái mới tiến bộ phù hợp hơn Họ kêu gọi nhân dân nênchống nền cựu học, tẩy chay hủ nho, bãi bỏ khoa cử, học chữ Quốc ngữtheo phương pháp mới, đề cao nhân bản cũng như phát huy óc sáng tạo, đềcao tinh thần dân tộc và lòng yêu nước, xây dựng giáo dục sơ đẳng và giáodục chuyên môn… Từ những chủ trương định hướng trên cộng với ảnhhưởng sâu sắc của Tân thư, Tân văn từ bên ngoài dội vào (chủ yếu là cách
sử dụng ngôn ngữ, phong cách hành văn cũng như nội dung trình bày củaTân thư, Tân văn), các nhà sáng lập Đông Kinh nghĩa thục đã sử dụng Hánvăn như là một hệ thống ngôn ngữ văn tự phục vụ nhiệm vụ khải
Trang 19mông, nâng cao dân trí cho dân tộc, đưa Hán văn vào trong giáo dục phổthông với những điều kiện cụ thể mình Những tác phẩm Hán văn đó bêncạnh những giá trị về mặt văn học, ngôn ngữ, lịch sử còn là kim chỉ nam,tập cương lĩnh cho cả nước làm thành cuộc vận động cách mạng văn hóadân tộc dân chủ mạnh mẽ đầu thế kỷ XX.
1.2 Hán văn Đông Kinh nghĩa thục
Như trên đã trình bày, Đông Kinh Nghĩa thục chỉ tồn tại và hoạt độngtrong một khoảng thời gian rất ngắn (thành lập vào 3/1907 và 12/1907 thì
bị đóng cửa, hệ thống sách vở, tài liệu giảng dạy của nhà trường bị tịch thu,nghiêm cấm lưu hành, các yếu nhân của Đông Kinh Nghĩa thục bị thảm sát,
tù đày) nên những tài liệu, sáng tác của họ hiện nay đã mất mát, còn lạikhông được là bao Trước thực trạng ấy, học giả Đặng Thai Mai đã từng cónhững lời nhận xét như sau: “Sau khi nhà trường phải đóng cửa, các chủnão bị đi đày, tù, thì toàn bộ văn học của Đông Kinh nghĩa thục đã bị tịchthu, và cấm không được lưu hành tàng trữ Sau này Trường Viễn Đông bác
cổ của Pháp cũng không hề để ý bảo tàng thứ thơ văn đó Cho nên ngàynay, các tập sách giáo khoa bằng chữ Hán của Đông Kinh nghĩa thục cũngchỉ còn lại vài ba bốn bộ mà thôi Còn phần tiếng Việt thì mãi đến ngày đầucách mạng tháng Tám thành công người ta mới bắt đầu ghi chép và in lạiđược một ít Phần thất lạc chắc còn nhiều Một mặt nữa, các bài đã được inlại phần lớn là do một số người nhớ được đọc lại, cho nên chỗ lầm lỗi cũngkhá nhiều: lầm lỗi về lời văn, về tác giả Vấn đề đặt ra cho người nghiêncứu là tìm tòi thêm và đính chính để dựng lại bộ mặt chân thực của vănchương thời đại này và trả lại cho cuộc vận động Đông Kinh nghĩa thụcphần cống hiến của nó cho văn học nước nhà…” [Đặng Thai Mai, 1971, tr,76] Cùng nhận xét về thực trạng của các tư liệu Hán văn Đông Kinh nghĩathục, học giả Lê Quang Thiêm trong một công trình nghiên cứu của mình
đã viết như sau: “Phong trào Đông Kinh nghĩa thục tuy ra đời và tồn tạitrong thời gian rất ngắn nhưng số lượng các tác phẩm còn lại đến ngày nay(chưa kể con số tác phẩm bị thất tán) cũng
Trang 20không hề khiêm tốn: “tổng cộng có 33 tác phẩm, trong đó có 10 tác phẩmkhuyết danh, 11 tác giả, in trên 360 trang khổ 14,5 x 20,5 tức là bằng mộttập sách dày dặn ngày nay” [Lê Quang Thiêm, 2001, tr, 34] Để phục vụcho việc nghiên cứu, dựa trên sự chỉ dẫn của những học giả đi trước từngnghiên cứu về Đông Kinh nghĩa thục, chúng tôi đã thiết lập danh mục các
tư liệu Hán văn Đông Kinh nghĩa thục ở một số trung tâm lớn như Thư việnViện nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện Viện Sử học, Trung tâm lưu trữ Quốcgia I Hà Nội… Dưới đây là danh mục tư liệu Hán văn Đông Kinh nghĩathục hiện có ở các trung tâm đó:
1.2.1 Danh mục sách Hán văn Đông Kinh nghĩa thục trong Thƣ viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
a, Văn minh tân học sách 詩詩詩詩詩, soạn năm 1904, tác giả khuyết
danh Văn bản có một bản in và ba bản viết
Chú thích: Đây là tờ bìa cuốn Văn minh tân học sách 詩詩詩詩詩 (bản
in ván gỗ) của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, A.567.
Trang 21Sách gồm các ký hiệu: A.566: 156 trang, 28x16, viết; A.567: 40trang, 27x15, in; VHv.2039: 50 trang, 28x16, viết; VHv.347: 36 trang,28x15, viết Nội dung như A.567; MF.358 (A.566).
Đây là cuốn sách tập hợp những bài viết của các nhà Đông Kinh
nghĩa thục, trong đó, cuốn A.566 và VHv.2039 có bài thơ Chí thành thông thánh 詩詩詩詩 và bài phú Lương sơn danh ngọc 詩詩詩 詩 của Đào Mộng Giác (Phan Chu Trinh) Cuốn A.566 lại có thêm bài Á tế á bằng chữ Nôm, bài
tựa bản in lại sách Thanh Tâm Tài Nhân tập, bài khuyên
người trong nước đi du học của Sào Nam tử - Phan Bội Châu
b, Quốc dân độc bản 詩詩詩詩 - hiện chưa rõ tác giả Sách viết chữ
Hán, mang ký hiệu A.174, gồm một bản in khắc gỗ, dày 190 trang, khổ
26x15 (Di sản Hán - Nôm Việt Nam, Thư mục đề yếu (Catalogue des livres
en Hán - Nôm), NXB KHXH, H, 1993, Tập II, tr 649)
Chú thích: Đây là tờ bìa cuốn Quốc dân độc bản 詩詩詩詩 của Viện Nghiên
cứu Hán Nôm, với kí hiệu VHv 174.
Trang 22Quốc dân độc bản 詩詩詩詩 gồm có 79 mục, chia làm hai tậpthượng và hạ Tập thượng từ mục 1 đến mục 37, Tập hạ từ mục 38 đến mục
79. Nội dung sách có 79 bài học cơ bản, soạn theo các chủ đề khác nhau, đềcập đến nhiều vấn đề như chính trị,, xã hội, kinh tế, văn hóa, tư tưởng, giáodục , trong đó chú trọng nhiều đến tình hình của Nhật Bản và Pháp Ýtưởng của cuốn sách là nhằm mục đích tuyên truyền giáo dục trong quốcdân đồng bào tinh thần yêu nước, ý thức về sự đổi mới, tinh thần tự lực tựcường
Chú thích: Đây là trang Mục lục Thượng biên của sách Quốc dân độc bản (hiện đang lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm) 詩詩詩詩詩詩 -詩詩 bao gồm các vấn
đề như: Xã hội duyên khởi 詩詩詩 詩 (Nguồn gốc của xã hội), Ái quần tâm 詩詩詩 (Lòng
ái quần), Luyến gia, luyến hương phi ái quần 詩詩詩 詩 詩詩詩 (Yêu gia đình, yêu làng xóm chưa phải là lòng ái quần), Tranh tiên 詩詩 (tranh lên trước), Bác ái 詩詩, Lập tín 詩 詩 ,(tạo dựng chữ tín), Tồn thứ 詩 詩 (giữ điều thứ), Nguyên quốc 詩 詩 (Bàn về nước), Ngã quốc gia độc lập chi cổ 詩詩詩詩
詩詩 (Nước ta lập nước từ xưa), Ngã quốc khai hóa chi tảo 詩詩詩詩詩詩 (Nước ta khai hóa rất sớn), Văn minh 詩詩, Văn minh vô chỉ cảnh thuyết 詩 詩 詩 詩 詩 詩 (Văn minh không có giới hạn).
Trang 23c, Nam quốc địa dư 詩詩詩詩 do Lương Trúc Đàm biên soạn, in năm
Duy Tân, Mậu Thân 1908, gồm 3 bản in, 1 bản viết, 1 lời tựa, 1 phàm lệ và
1 mục lục.Với các ký hiệu như sau:
VHv.173: 158 trang, 26,5X15, in; VHv.1725:154 trang, 26,5x15, in;A.75: 160 trang, 27,5x15,5, in; VHv.2102: 182 trang, 29,5x17 Chép bảnsao VHv.173; MF.44 (A.75)
Nam quốc địa dư 詩詩詩詩 là cuốn sách giáo khoa địa lý Việt Nam, dày
170 trang, in bản mộc, giới thuyết về hình thế, vị trí, giới hạn, sông ngòi, đêđập, cửa biển, đường sá, khí hậu, dân cư, chính thể, quân sự, tài chính, giáodục, thuế khóa, sản vật, công nghệ, số phủ, số huyện, tổng, xã, thôn ở cáctỉnh trong nước và phong tục sinh hoạt của các dân tộc ít người
Chú thích: Đây là trang bìa cuốn Nam quốc địa dư 詩詩詩詩
đang lưu tại Thư Viện Quốc gia Việt Nam với mã kí hiệu R1424 với dòng chữ Hán: 詩
詩 詩 詩 詩 , 詩 詩 詩 , 詩 詩 詩 詩 詩 詩 (Nghĩa là: Mùa đông năm Mậu Thân niên hiệu Thành Thái, cử nhân Lương Trúc Đàm biên soạn Nam quốc địa dư).
Trang 24d, Nam quốc vĩ nhân 詩詩詩詩詩 và Nam quốc giai sự truyện 詩詩詩詩gồm có 5 bản in, dày 76 trang, khổ 26,5x15, có một lời tựa, có mục lục, vàchữ Nôm, gồm các ký hiệu sau: A.3207; Paris: SA PD: 2366: 40 trang;Paris: SA PD: 2364: 47 trang; Paris: BN A.22 Vietnamien: 47 trang;Paris: BN A 80 Vietnamien: 28 trang; Paris EFEO ME 1/2/238(A.32307).
- Nam quốc vĩ nhân truyện 詩詩詩詩詩 (cả thảy có 48 trang), gồm 10
truyện về các vua (Lý Nam Đế, Triệu Việt Vương, Đinh Tiên Hoàng ),
5 truyện về người dòng dõi nhà vua (Trần Quang Khải, Trần Hưng Đạo,Trần Nhật Duật ), 13 truyện về các quan văn (Lê Bá Ngọc, Lê Phụ Trần,Hàn Thuyên ), 17 truyện về các tướng võ (Lê Phụng Hiểu, Lý ThườngKiệt, Trần Khánh Dư ) và có thơ đề vịnh của vua Tự Đức
Chú thích: Đây là trang bìa cuốn Nam quốc vĩ nhân truyện 詩詩詩詩詩
của Thư viện Quốc gia Việt Nam với kí hiệu R87 Bên phải trang
là dòng chữ Hán 詩詩詩詩詩 được bao bọc bởi đường diềm hoa, nửa trên trái là hình ảnh chú bé vui tươi gánh quả địa cầu trên vai - hình ảnh biểu tượng của sách Hán văn Đông Kinh nghĩa thục.
- Nam quốc giai sự truyện 詩詩詩詩 (28 trang) gồm 16 truyện như:
Dạ Trạch Vương, Phạm Lệnh Công, Đế Quai Vạc, Cao Nghĩa, Hội thề ở
Trang 25phía nam thành, Bữa tiệc ở Lan Đình, Chiếc gậy của Trần Hưng Đạo, Mớ tóc của Trường Phái Hầu, Diệt giặc Chiêm Thành.
Chú thích: Đây là trang bìa cuốn Nam quốc giai sự 詩詩詩詩 đang lưu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam với kí hiệu R129 Tại lề bên phải của trang
có dòng chữ Hán: Hoàng triều Duy Tân ngũ niên tuế thứ Tân Hợi thất nguyệt cát nhật phụng biên (詩詩詩詩詩詩
詩 詩詩詩詩詩詩詩詩詩 - 詩詩詩詩 ), Nghĩa là: Ngày lành tháng 7 năm Tân Hợi niên hiệu Duy Tân thứ 5 phụng mệnh Hoàng triều biên soạn sách Nam quốc giai sự.
1.2.2 Danh mục sách Hán văn Đông Kinh nghĩa thục ở Thƣ viện
Viện sử học Việt Nam (dựa theo thống kê trong cuốn Đông Kinh nghĩa
thục của tác giả Chương Thâu).
a, Cải lương mông học quốc sử giáo khoa thư 詩詩詩詩詩詩詩詩詩, viếtbằng chữ Hán, tác giả khuyết danh Sách có chia mỗi cuốn sử ra làm ba
thời kỳ: Thời kỳ nghi sử: từ Hồng Bàng đến Hùng Vương thứ 18; Thời kỳ khuyết sử: từ An Dương Vương đến họ Khúc; Thời kỳ tín sử: từ Ngô Quyền
đến nay
Trang 26Chú thích: Đây là Lời tự của sách Cải lương mông học quốc sử giáo khoa thư 詩詩
詩詩詩詩詩詩詩 có kí hiệu R1946 Nội dung trang này như sau:
Phiên âm: Cải lương mông học quốc sử giáo khoa thư - Nguyên tự
Vực trung tam đại, kỳ nhất viết sử Quốc sử giả sở dĩ kỉ nhất quốc dân tộc chi cường nhược dữ kì tiến hóa chi trì tốc dã Thái Tây chi học, thủ trọng quốc sử Phàm học hiệu nam nữ chư học sinh, giai tiên giáo dĩ bản quốc lịch sử, cánh nhiên hậu cập ư ngoại quốc lịch sử Đồng nhi tập chi, trưởng nhi tinh chi Độc tổ quốc cường thịnh chi lịch sử tắc hân nhiên dĩ úy; độc tổ quốc suy vi chi lịch sử tắc trắc nhiên dĩ bi Cố kì quốc dân , đương ư ái quốc tâm, nhân nhân giai đàm tinh kiệt lực, dĩ tiến tổ quốc cường thịnh, nhi dương tổ quốc chi thanh dự Quốc sử chi đối ư quốc dân, thực tối mật thiết chi quan hệ dã Ngã quốc sở học, tòng châu thủ chi, bang hủ lậu chi văn, kỳ ư bản quốc Cố thực mang nhiên nhược trụy yên vụ, thậm chí thượng lưu xã hội cao đẳng học sinh, nhi vấn dĩ thử thân, cư hà quốc thổ, diệc bất năng đối Ô hô! Dĩ bản quốc nhân bất tường bản quốc sự, tịch đàm vong tổ, cơ cơ hồ bất phục tri ngô thân huyết lệ chi sở
tự lai Cố ái quốc chi tâm, lí thiển thả bạc, toại sử tổ quốc tiền đồ, nhật hãm ư suy nhược luân vong chi vực Thâm khả sỉ dã, thâm khả thống dã Dư vi thử cụ, viên thủ ngã quốc lịch sử, san kì phồn nhi nhiếp kì yếu, phân vi ngũ thiên, danh viết Cải lương mông học giáo khoa thư, chính cựu thuyết chi mậu vong, phôi tân giới chi tư tưởng…
Dịch nghĩa: Lời tựa của sách Cải lương mông học quốc sử giáo khoa thư
Trong ba cái lớn thì lịch sử chiếm vị trí đầu tiên Quốc sử là cuốn sách ghi chép
về sự mạnh yếu của dân tộc và tiến hóa nhanh chậm của một đất nước Nền học vấn của các nước Thái Tây coi trọng nhất là môn lịch sử dân tộc Hầu hết học sinh nam hay nữ,
đã đi học đều được dạy môn lịch sử dân tộc trước tiên, sau đó mới học đến lịch sử của các nước Trẻ em thì chăm chỉ học tập, còn người lớn thì thông hiểu lịch sử nước nhà Đọc những trang lịch sử cường thịnh của tổ quốc thì vui mừng phấn khởi, đọc những
Trang 27trang sử nói về giai đoạn suy vi của nước nhà thì cảm khái buồn đau Cho nên, đối với những người quốc dân còn lòng yêu tổ quốc đều đã dốc hết cả tinh thần để đưa tổ quốc phát triển phồn thịnh và giương cao uy thế thanh danh cho tổ quốc Lịch sử của đất nước
và quốc dân có quan hệ vô cùng mật thiết với nhau Nền học của nước ta là ôm cây đợi thỏ, thực chất là nền học hủ bại, cho nên tri thức cứ mù mờ như sương khói, thậm chí ngay cả bọn học trò của giới xã hội thượng lưu, khi được hỏi đang ở đất nước nào cũng chẳng biết đường mà đối đáp Ôi! Người trong nước mà không tường việc nước, toàn học những cái quên giống quên nòi, cơ hồ như cũng chẳng nhớ được dòng máu của mình được chảy từ nguồn nào mà ra Bởi lòng ái quốc ngày càng bị mai một xem nhẹ nên tương lai của đất nước mới bị giam hãm trong sự yếu hèn, bại vong Xấu hổ lắm thay! Đau đớn lắm thay! Tôi vì lo lắng cho những viễn cảnh vừa nêu trên, mới lấy sách lịch sử nước nhà, cắt bớt phần rườm rà, chọn lấy đại yếu, chia làm năm thiên, gọi là Cải lương mông học quốc sử giáo khoa thư (Sách giáo khoa lịch sử nước nhà dành cho sơ học có chỉnh sửa)…để đính chính những nhìn nhận sai lầm, xây nền mở lối cho tư tưởng của thế giới mới ra đời…
b, Tân đính luân lý giáo khoa thư 詩詩詩詩詩詩詩 (Sách giáo khoa luân
lý có sửa chữa), viết bằng chữ Hán, dày 72 trang, tác giả là Phạm Tư Trực.Nội dung gồm 7 chương, 26 bài theo các chủ đề: Tổng luận bàn về quốc thể
và trung hiếu, Đối với nước, Đối với nhà, Đối với mình, Đối với người, Đối
với xã hội, và chương 7: Đối với muôn loài Trong Lời mở đầu, tác giả khẳng định môn học Luân lý là: “tinh hoa của quốc thể, nguồn gốc của giáo
dục”
Trang 28Chú thích: Đây là trang bìa của cuốn sách Tân đính luân lý giáo khoa thư 詩 詩詩
詩 詩 詩 詩 đang lưu trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
c, Quốc dân độc bản 詩詩詩詩: Sách viết bằng chữ Hán, chưa rõ tác giả
là ai Sách dày 185 trang, chữ in bản khắc gỗ, có một mục lục gồm 79 bàihọc cơ bản, có một Mục lục và một Lời tựa
d, Nam quốc địa dư 詩詩詩詩 do Lương Trúc Đàm soạn năm 1907.
Sách dày 170 trang, in bản mộc, vừa dùng làm sách giáo khoa của trườngĐông Kinh nghĩa thục vừa làm tài liệu cổ động tinh thần yêu nước, tinh thần
tự cường dân tộc trong quần chúng Nội dung chính gồm các mục: địa lý
thiên nhiên, địa lý nhân văn, địa lý chính trị kinh tế.
e, Văn minh tân học sách 詩詩詩詩詩 (1904) Đây là tài liệu bằng chữ
Hán, tập hợp những bài viết của các nhà Đông Kinh nghĩa thục, nội dung nêu
rõ đường lối, chủ trương, biện pháp tiến hành của“nền học mới, văn minh” mànhà trường định thực hiện Nội dung chính bao gồm hai phần:
Một là nhận thức về nguồn gốc của văn minh, so sánh văn minh ta vàvăn minh Thái Tây, cắt nghĩa nguyên nhân ngưng trệ của văn minh ta
Hai là đề ra 6 biện pháp cụ thể để nhằm làm cho văn minh ta chuyểnbiến theo kịp văn minh Thái Tây Nó có ý nghĩa như là “cương lĩnh hànhđộng” của Đông Kinh nghĩa thục
g, Nam quốc giai sự truyện 詩詩詩詩詩, là tác phẩm viết bằng chữ Hán,
hiện vẫn chưa rõ tác giả là ai Sách nói về những “chuyện hay của nướcNam” với tinh thần đề cao những sự việc, những hành động cao cả của cácbậc vĩ nhân đất nước, như chuyện Chiếc gậy của Hưng Đạo Vương, ĐoànNhữ Hài dâng biểu cho nhà vua
Trang 29h, Nam quốc vĩ nhân truyện 詩詩詩詩詩 viết bằng chữ Hán, chưa rõ tác
giả, là một tài liệu của trường Đông Kinh nghĩa thục dùng để giảng dạy chohọc sinh Sách chia làm các mục như: vua chúa, tôn thần, văn thần, võtướng
i, Cáo hủ lậu văn 詩詩詩詩 có bản viết bằng chữ Hán và bản dịch thơ lục bát của Ngô Vi Lâm, từng được đăng trên Đăng cổ tùng báo số 808
Văn thơ Đông Kinh nghĩa thục 詩詩詩詩詩詩 ở giữa trang giấy, bên trên có ghi
Cục Lưu trữ nhà nước Việt Nam - Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp, bên dưới
có dòng chữ Nhà xuất bản Văn hóa Cục lưu trữ Nhà nước Việt Nam Viện Viễn đông bác cổ Pháp cùng biểu tượng riêng của từng cơ quan Cuốn sách ngoài 8 trang Mục lục, nội dung chính được chia làm các phần: Phần tiếng Việt 170 trang gồm: Lời nói đầu của Nhóm biên soạn (tr, 5-6), Lời Giới thiệu của Giáo sư Đinh Xuân Lâm (tr, 7-12) còn lại là phần dịch nghĩa trọn vẹn của Tân đính luân lý giáo khoa 詩詩詩詩詩詩 (tr, 13-43) và Quốc dân độc bản 詩詩詩詩 (tr, 46-170) Về phần chữ Hán có 266 trang: Tân đính luân
-lý giáo khoa 詩詩詩詩詩詩 (76 trang), Quốc dân độc bản 詩詩詩詩(190 trang);
Ngoài ra Quốc văn tập độc (40 trang, 19 bài) và Phụ lục chữ chữ Hán (20 trang), gồm các bài Nam hải bô thần ca 詩詩詩詩詩, Việt Nam vong quốc nô
Trang 30詩, và Tà khí ca 詩詩詩 Dưới đây là những giới thiệu chi tiết về các cuốn
sách Hán văn của Đông Kinh nghĩa thục in trong cuốn Văn thơ Đông Kinh nghĩa thục 詩詩詩詩詩詩:
a, Tân đính luân lý giáo khoa 詩詩詩詩詩詩: Đây là cuốn sách giáo khoa
quan trọng của Đông Kinh nghĩa thục lần đầu tiên được tìm thấy và công
bố Cuốn này nằm trong Hồ sơ số 2629, phòng Tòa Công sứ tỉnh Nam Địnhvới tiêu đề: “Các bài văn đả kích và các bài nhục mạ Chính phủ bảo hộPháp năm 1907 - 1908”, hiện đang lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I
- Hà Nội (Cục lưu trữ nhà nước) Sách chữ Hán, khắc in bản gỗ, khổ 15x26,dày 72 trang, mỗi trang khoảng 8 dòng, mỗi dòng khoảng 21 chữ Tờ bìa có
ghi: Tân đính Luân lý giáo khoa 詩詩詩詩詩詩 (Sách Luân lý giáo khoa có sửachữa), ngụ ý nội dung sách này có những điểm đổi mới so với các sách luân
lý cũ Đó cũng phù hợp với xu hướng cải cách của trường Đông Kinh nghĩathục
Trang 4 của cuốn sách có in hình em bé khỏe mạnh, trên vai mangmột quả địa cầu màu đỏ, biểu tượng chung cho nhiều sách giáo khoa doĐông Kinh nghĩa thục ấn hành
b, Quốc dân độc bản 詩詩詩詩: Cuốn này hiện được lưu tại hai nơi:
- Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I - Hà Nội (Cục lưu trữ Nhà nước):Trong hồ sơ số 56.247, Phông phủ Thống sứ Bắc kỳ có ghi tiêu đề: “Hồ sơ
Đề Thám, các tài liệu chữ Hán tịch thu năm 1913”
- Viện Nghiên cứu Hán Nôm: Sách mang ký hiệu A.174, bản in khắc
gỗ, 190 trang, khổ 15x26
Sách chữ Hán, khắc in bản gỗ, khổ 15x26, gồm hai tập thượng và hạ.Tập Thượng từ mục 1 đến mục 37, tập Hạ từ mục 38 đến mục 79 Ngoài
Đại ý biên tập và Mục lục, nội dung sách gồm 79 bài soạn theo các chủ đề
khác nhau, đề cập tới nhiều vấn đề: chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng,giáo dục…có chú trọng đến tình hình Nhật Bản, Pháp…Tất cả đều nhằm
Trang 31mục đích tuyên truyền giáo dục trong quốc dân đồng bào tinh thần yêunước, ý thức đổi mới, tự lực, tự cường…
1.3 Sự vận động về văn thể của Hán văn Việt Nam đầu thế kỷ XX
Nói về chức năng chung của ngôn ngữ người ta thường nhắc đến haichức năng cơ bản sau: Ngôn ngữ là hình thức của tư duy, là phương tiện đểbiểu tải suy nghĩ của con người về thực tại, về chính bản thân mình và vềphương tiện mà con người đang sử dụng Mặt khác, ngôn ngữ còn là
phương tiện giao tiếp vạn năng của xã hội con người Ở chức năng thứ hainày, tuỳ theo quan niệm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ thì nó lại đượchình dung một cách cụ thể hoặc khái quát khác nhau.Trong ngôn ngữ học,khái niệm chức năng còn được hiểu là chức năng trong cấu trúc của chínhngôn ngữ Chẳng hạn như: chức năng khu biệt của âm vị, chức năng địnhdanh của từ và ngữ, chức năng thể hiện một đơn vị lời nói trọn vẹn của câu
và phát ngôn Hán văn Việt Nam nói chung và Hán văn Đông Kinh nghĩathục đều thuộc phạm trù ngôn ngữ viết, do đó cấu trúc, chức năng và phongcách của nó đổi mới ra sao sẽ thể hiện ở việc nó phản ánh cái gì, phản ánh
ra sao, như thế nào và dùng cách thức nào để phản ánh
Hán văn Việt Nam là thuật ngữ dùng để chỉ tất cả những văn bảnbằng văn ngôn chữ Hán do người Việt Nam viết ra “Trong tiến trình pháttriển của tiếng Việt, có một đặc điểm nổi bật đó là sự tồn tại của chữ Hántrong hệ thống văn tự của Việt Nam cho đến tận giai đoạn tiếng Việt cậnđại Nhưng điều đáng chú ý là Hán văn Việt Nam chỉ có ở dạng Văn ngôn,không có ở dạng Bạch thoại như Trung Quốc” [Nguyễn Tài Cẩn, 1979, tr,39] Sở dĩ tiến trình diễn tiến của Hán văn Việt Nam không hoàn toàn diễn
ra như Hán văn Trung Quốc là vì: “Ngôn ngữ văn tự Hán được du nhập vàtruyền bá vào Việt Nam từ đầu công nguyên đến cuối thế kỷ IX là Vănngôn Những giai đoạn tiếp theo, từ đời Đường, Tống, Hán văn ở TrungQuốc đã sản sinh thêm một khái niệm mới - Bạch thoại và các triều đại tiếpsau: Nguyên, Minh, Thanh ở Trung Quốc, tiếng Hán vẫn tiếp tục diễn tiến,nhưng những diễn tiến đó không còn có tác động trực tiếp và có vai trò
Trang 32quyết định đến Hán văn Việt Nam nữa Hán văn cổ ở Việt Nam hầu nhưđứng bên lề những sự đổi thay diễn tiến trong ngôn ngữ Hán qua các thờiđại” [Nguyễn Tài Cẩn, 1979, tr 39].
Dựa vào tiến trình của Hán văn Việt Nam 10 thế kỷ của thời kỳphong kiến tự chủ, có thể phân thành các giai đoạn nhỏ như sau: Hán văn
Lý - Trần, Hán văn thời Lê, Hán văn Tây Sơn - Nguyễn Hán văn thờiNguyễn là giai đoạn Hán văn Việt Nam được dùng trong bối cảnh tái lậpnhà nước phong kiến và khôi phục tư tưởng Nho giáo chính thống Nhiềuông vua nhà Nguyễn như vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức tôn sùng Nhođến mức "sùng chính đạo, tuân kinh sử, pháp điển mô"
Hán văn Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX cũng vận động một cáchtương ứng với những vận động của đời sống xã hội, song lại theo xu hướng
đi đến loại bỏ chính mình với tư cách là hệ thống ngôn ngữ văn tự viếttrong 2 chức năng xã hội quan trọng nhất: là ngôn ngữ viết của hành chính(vào năm 1910 ở Bắc Kỳ) và là ngôn ngữ viết của giáo dục (vào năm1919) Hán văn Việt Nam giai đoạn này có 2 lối viết: lối viết văn ngôntruyền thống và lối viết chịu ảnh hưởng của Tân văn thể Lối viết văn ngôntruyền thống vừa tiếp tục lối viết của văn ngôn nói chung, vừa chịu ảnhhưởng của tư tưởng quá nệ cổ của các vua và cũng như các thiết chế tổchức nhà nước của thời Nguyễn Lối viết Hán văn theo Tân văn thể (đầuthế kỷ XX) chịu ảnh hưởng của các tư tưởng mới, tri thức mới - tư tưởngdân chủ tư sản mà đại diện của nó là các chí sĩ yêu nước và cách mạng
(Tân văn thể là ngôn ngữ của lối văn giác thế (Giác thế chi văn), rung động
lòng người do lối viết của phong trào cải cách văn thể thời cận đại tạo ra
mà Lương Khải Siêu là người chủ xướng) Điều cốt yếu nhất của lối văngiác thế là diễn đạt thông lời, đạt ý, câu văn mạch lạc, ngắn gọn, lời văn sắcbén, không rườm rà, không cầu kỳ, hóc búa Lối văn này vừa mới ra đời đã
Trang 33ấn phẩm những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Tân văn thể là lốivăn chương chính luận lay động lòng người Điều này xảy ra ở Việt Nam cómuộn hơn (so với Trung Quốc), nhưng sự hiện diện của bộ phận Hán văn
do các chí sĩ yêu nước viết đầu thế kỷ XX (bộ phận Hán văn này ở mức độnào đó đã được viết theo ngôn ngữ của lối viết Tân văn thể) đã làm nên mộttrong những đặc trưng nổi bật của Hán văn Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ
Đó là một lối viết mới, có vốn từ thể hiện sự phát triển của văn hóa đươngthời, cú pháp giản lược, cách tân Do đó, Hán văn Đông Kinh
nghĩa thục những năm đầu thế kỷ XX là một trong những bộ phận Hán vănđiển hình tiêu biểu cho lối văn giác thế bởi nội dung truyền tải và sức layđộng tranh thủ lòng người của chính nó
Trong thời kỳ phong kiến độc lập, tự chủ, Hán văn Việt Nam từngđảm nhận những chức năng cơ bản sau: là ngôn ngữ dùng trong các hoạtđộng hành chính, quan phương của nhà nước; ngôn ngữ viết sử; ngôn ngữdùng trong các hoạt động ngoại giao, đồng thời cũng là ngôn ngữ của giáodục, học thuật, sinh hoạt tôn giáo và sáng tác văn học Trong những chứcnăng trên của Hán văn thì chức năng là ngôn ngữ của các hoạt động quản lýhành chính nhà nước và chức năng là ngôn ngữ của giáo dục là quan trọngnhất Từ trên danh mục trên cho thấy Hán văn Đông Kinh nghĩa thục làHán văn nhà trường, Hán văn của một tổ chức hoạt động về các lĩnh vựcvăn hóa - xã hội - tư tưởng, do đó chức năng mở mang văn hóa, khải mông
tư tưởng trở thành một trong những đặc trưng đáng chú ý nhất Để biểu đạttrọn vẹn những chức năng ấy, cần phải có các phong cách diễn đạt tươngứng Do đó, chức năng giác thế, khải mông văn hóa tư tưởng, cải cách giáodục kết hợp với phong cách nghị luận, chính luận đã tạo nên sức truyền tải
vô cùng to lớn của Hán văn Đông Kinh Nghĩa thục
1.4 Một số đặc trƣng của Hán văn Đông Kinh Nghĩa thục
Trang 34Hán văn Đông Kinh nghĩa thục mang trong mình những đặc điểmchung của Hán văn Việt Nam và phong cách đặc điểm riêng của Hán văn
20 năm đầu thế kỷ XX Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu những đặc điểm chínhlàm nên sức sống và giá trị của những văn bản Hán văn này
1.4.1 Hán văn Đông Kinh nghĩa thục là Hán văn nhà trường
Trường Đông Kinh nghĩa thục được thành lập nhằm mục đích khảimông văn hóa, mở mang tư tưởng, phổ cập giáo dục cho toàn thể quốc dân,nâng cao dân khí, chấn hưng dân trí Hầu hết những văn bản của các nhàĐông Kinh đều viết bằng chữ Hán nên những giáo trình mà họ đưa vàogiảng dạy trong nhà trường chủ yếu là sách Hán văn Do đó, Hán văn ĐôngKinh nghĩa thục trước tiên là Hán văn thuộc phạm trù Hán văn nhà trường,Hán văn giáo dục
Nền giáo dục phong kiến cũng đã dùng Hán văn là ngôn ngữ chínhthống để viết, học, giảng dạy trong các nhà trường, các kỳ thi tuyển sỹ vàlãnh vực hành chính, bang giao Việt Nam không chỉ vay mượn chữ Hán làphương tiện ngôn ngữ biểu đạt mà còn chịu ảnh hưởng sâu sắc của nềnkhoa cử Trung Quốc Nhưng đến những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ
XX, nền khoa cử Hán văn này đã bộc lộ rõ những hạn chế, tiêu cực vàkhiếm khuyết của nó trong chương trình, nội dung, mục đích và phươngpháp đào tạo so với sự biến chuyển mau lẹ của tình hình thực tế Cuộc sống
và những vận động không ngừng trong bản thân nó đã có bước tiến quá xavới nền khoa cử đã trở nên lỗi thời ở Việt Nam nhưng nó vẫn được người taduy trì để tồn tại Trung Quốc, quê hương của khoa cử cũng đã tự tay bãi bỏ
từ những năm 1900 Thực dân Pháp và chính quyền bù nhìn đã cố tình duytrì nền khoa cử đã vô dụng trước tình hình mới ấy để hòng ru ngủ lòng tựtôn bị thương tổn của trí thức Việt Nam đang trong giấc mơ vang bóng mộtthời, ru ngủ dân ta trong mớ kiến thức tri thức xa vời với thực tế Ngoài ra,
để phục vụ cho những mục đích sâu xa hơn trong những đợt khai
Trang 35thác thuộc địa cũng như đồng hóa dân tộc thuộc địa ở Việt Nam, thực dânPháp cũng giương cao ngọn cờ bảo hộ, đưa ánh sáng văn minh khai hóacho những xứ lạc hậu và đói nghèo bằng việc mở các trường học, cải cáchnền giáo dục truyền thống Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam đã cho mởhai hệ thống trường học: Trường Hán học có được cải cách đôi chút vàtrường Hậu bổ (có pha Tây học) để đào tạo thông ngôn, thông phán được
mở ở Hà Nội từ năm 1897 Vì vậy, năm 1906, nền giáo dục khoa cử Hánvăn cũ được cải lương thành ba cấp: Cấp Sơ học (Ấu học) học ở các xãthôn, dạy và học chữ Nho, chữ Quốc ngữ và một ít kiến thức phổ thông;Bậc Tiểu học (Đệ nhị cấp) học ở các phủ, huyện, dạy chữ Hán, Quốc ngữ,khoa học, lịch sử, địa lý ở mức sơ đẳng, chữ Pháp là môn học tự nguyện;Bậc trung học (Đệ tam cấp) học ở tỉnh, học các môn như ở trường huyệnnhưng chữ Pháp là môn học bắt buộc Cao hơn ba bậc này là các khoa thiHương, thi Hội, thi Đình vẫn được mở như cũ Từ năm 1906 trở đi các thísinh phải học thêm tiếng Pháp và toán đố, số học sơ đẳng Tính đến năm
1906 trong phạm vi cả nước có 25 trương có mô hình như trên
Hệ thống sách vở giáo trình Hán văn phục vụ cho học tập thi cử cũngphải cải cách theo Đối với bậc Ấu học có hàng loạt các sách chữ Hán mới
được biên soạn để giảng dạy như: Ấu học Hán tự tân thư 詩詩詩詩詩詩, Ấu học phổ thông thuyết ước 詩詩詩詩詩詩, Ấu học thuyết 詩詩詩, Ấu học văn thức
詩詩詩詩, Ấu học Việt sử tứ tự 詩詩詩詩詩詩, Luận ngữ tinh hoa ấu học 詩詩詩詩詩
詩, Nam quốc địa dư 詩詩詩詩, Ấu học giáo khoa thư 詩詩詩詩詩, Quốc sử ấu học giáo khoa thư 詩詩詩詩詩…Bậc Tiểu học cũng có những sách chữ Hán
như: Bắc sử tân san toàn biên 詩詩詩詩詩詩 (Đây là một cuốn sách lịch sử Trung Quốc được Hội đồng học vụ Bắc Kỳ công nhận được dùng làm sách giáo khoa cho cấp tiểu học), Tiểu học quốc sử lược biên 詩詩詩詩詩詩, Tiểu học tứ thư tiết lược 詩詩詩詩詩詩, Tiểu học cách trí 詩詩詩詩 … Bậc Trung học
có Trung học Việt sử toát yếu 詩詩詩詩詩詩 do Ngô Giáp Đậu biên soạn.
33
Trang 36Tất cả những cuốn giáo trình trên đều được biên soạn lại cho phù hợp với cáchhành văn đương thời Những cuốn sách này đều do cơ quan giáo dục củachính quyền thực dân – Hội đồng Học vụ Bắc Kỳ chuẩn y lưu hành Trong bốicảnh của các điều kiện lịch sử của thời đại, Đông Kinh nghĩa thục là mộttrường tư thục được thành lập trên cơ sở tận dụng những điều kiện có thểtrong chính sách cải lương giáo dục mà chế đọ thực dân cho phép Bởi vậy,một mặt trường có thể sử dụng những cuốn sách giáo khoa chữ Hán do chínhquyền thực dân tổ chức biên soạn như trên, mặt khác trường cũng tổ chức biên
soạn những cuốn sách giáo khoa mới như: Văn minh tân học sách 詩詩詩詩詩,
Quốc dân độc bản 詩詩詩詩, Nam quốc địa dư 詩詩詩詩, Quốc sử giáo khoa thư 詩 詩詩詩詩, Tân đính luân lý giáo khoa thư 詩詩詩詩詩詩詩, Cải lương mông học
quốc sủ giáo khoa
Thực chất đằng sau những biện pháp nhằm cải cách nền giáo dục khoa cử ở Việt Nam, thực dân Pháp đang từng bước đưa chữ Pháp, tiếngPháp và chữ Quốc ngữ vào để thay thế cho chữ Hán, văn hóa Hán văn vàảnh hưởng của các nhà nho, nhà trí thức nước ta Trong Báo cáo gửi Hộiđồng tối cao Đông Dương tháng 2 năm 1902, Paul Doumer đã từng nói:
-“Những nguyên tắc đã làm cho trong xã hội những người bản xứ, gia đìnhvững mạnh, cha mẹ được kính trọng, chính quyền được tuân thủ, đều đượcrút ra từ sách Hán học dạy ở các trường làng Ngay từ khi học những chữđầu tiên, họ đã được học ngay những nguyên tắc nền tảng của luân lý Nhogiáo, họ khắc sâu vào lòng dạ những nguyên tắc sẽ hướng dẫn họ trong cảđời Chính các trường làng đã đem lại cho họ nền học vấn đó ” [Vũ NgọcKhánh, 1985, tr 164] Bởi giới cầm quyền thực dân hiểu và biết chữ Hán
và những cuốn sách Hán văn chính là mầm mống của sự phản kháng, củatinh thần yêu nước, tự hào dân tộc và chí khí quật cường của dân ta Bãi bỏchữ Hán và những truyền thống do chữ Hán tạo ra, thực dân Pháp từngbước đưa ảnh hưởng của nền văn hóa, chữ viết của mình đến dân tộc ta.Thực chất những thay đổi do Pháp tiến hành trong lĩnh vực giáo dục khoa
Trang 37cử ở nước ta không nhằm nâng cao dân trí, mở mang hiểu biết, xóa bỏ hủtục trong dân gian, bởi: “Thật không thể nào để cho người An Nam đượchọc lịch sử và đọc sách của chúng ta mà lại không gây cho họ lòng yêunước, yêu tự do…Kinh nghiệm của các dân tộc châu Âu khác đã chỉ rõrằng việc truyền bá một nền học vấn đầy đủ cho người bản xứ là hết sức dạidột” [Vũ Ngọc Khánh, 1985, tr 164] Đây cũng là tư tưởng chỉ đạo chungcủa bọn thực dân khi chúng thi hành một chính sách giáo dục Mục đíchcủa nền giáo dục thuộc địa chỉ là để trì hoãn vĩnh viễn ách thống trị củathực dân Pháp, từng bước xác lập chủ quyền bảo hộ của người Pháp về tất
cả các lĩnh vực ở Việt Nam Nếu không thể đồng hóa được dân tộc ViệtNam thì chí ít cũng cũng tạo ra được một lớp người công chức nhở, thôngngôn, ký lục phục vụ cho bộ máy cai trị, các cơ sở kinh doanh của nhàbuôn, nhà kỹ nghệ, chủ đồn điền người Pháp dễ dàng hơn trong việc khaithác và bóc lột nhân dân Chúng hy vọng từ sự thay đổi trên lĩnh vực giáodục, có thể đạt được những mục đích lớn lao đang ẩn giấu đằng sau như:
“Trước tiên giáo dục có kết quả tăng cường dồi dào giá trị sản xuất thuộcđịa Ngoài ra nó phải chọn lọc và đào tạo những tay hợp tác, những côngchức bản xứ lương trả ít hơn cho ngân sách thuộc địa, phải huấn luyện quenviệc các nhà “cầm quyền bản xứ” mà các hiệp ước bảo hộ và sự sáng suốtcủa một chính sách chính trị sơ đẳng, bắt chúng ta có bổn phận duy trì làmtrung gian giữa chúng ta và dân tộc bản xứ” [Vũ Ngọc Khánh, 1985, tr.164] Kết quả là nhà trường thực dân đã cung cấp thêm được một số kiếnthức, tư tưởng khác với nhà trường Nho học thuở xưa, góp phần tạo nên lớpngười “tân học” hồi đầu thế kỷ Số phận lịch sử đã đưa họ đến nhữngnhiệm vụ, môi trường khác nhau nhưng những tri thức mà họ tiếp thu được
sẽ chuẩn bị cho họ những ứng xử mới Họ được hưởng chung một môitrường, cung cách học tập, khi ra trường đi làm việc, đi kiếm nghề đa số họ
sẽ trở thành công chức của chính quyền thuộc địa, nhưng cũng có nhiềungười sẽ làm nghề tự do, thậm chí không ít người trở thành kẻ “không hềngoan ngoãn khuất phục” trước chế độ thực dân, họ sống có lý tưởng cao
cả và phát huy được những nét đẹp trong truyền thống của dân tộc
Trang 38Trước thực trạng của nền giáo dục khoa cử nước nhà và những biếnchuyển, yêu cầu mới của thời đại cũng như tiếp nối truyền thống sử dụngHán văn trong lĩnh vực giáo dục những giai đoạn trước, Hán văn ĐôngKinh Nghĩa thục đã thể hiện vai trò nhất định của mình đối với sự nghiệpnâng cao dân trí, mở mang sự hiểu biết cho quốc dân Việt Nam Sau nhữngthất bại trên mặt trận quân sự, nhất là sự thất bại của khởi nghĩa HươngKhê do Phan Đình Phùng lãnh đạo, phong trào chống Pháp theo đường lốibạo lực võ trang đã đi vào đoạn thoái trào cũng như bộc lộ rõ những yếuđiểm của cách thức đấu tranh đó Nhiệm vụ lãnh đạo phong trào cứu nướcchuyển vào tay các sỹ phu yêu nước thế hệ mới Giới trí thức Việt Nam màcác sỹ phu là đại diện tiêu biểu đã tiếp nhận Tân thư, Tân văn với một tâmthế hồ hởi hăm hở và nhiệt huyết Họ như tìm thấy ở Tân thư Tân vănnhững chân trời, những con đường, những tư duy mới lạ chưa từng có trongsách thánh hiền dù rằng chúng đều được viết bằng chữ Hán Họ nghe thấytiếng gọi của tổ quốc, của đồng bào và cảm nhận được sức nóng của nhữngluồng nhiệt huyết cứu giống cứu nòi đang sôi sục trong huyết quản cộngđồng Các sỹ phu hiểu rằng nhiệm vụ cần kíp đặt ra trước mắt là phải xâydựng được lực lượng quần chúng nhân dân, trong đó nhiệm vụ tuyên truyềnphải đi tiên phong hơn cả Một bộ phận sỹ phu đã đứng lên gây dựng thànhphong trào Đông Kinh Nghĩa thục để thực hiện những hoài bão của cả thế
hệ mình Các nhà Đông Kinh Nghĩa thục đều giỏi chữ Hán và thành thạo sửdụng chữ Hán (hành văn theo lối văn ngôn và tân văn thể) nên họ dùngngay chữ Hán làm công cụ để mở mang dân trí, bồi dưỡng dân khí để thứctỉnh hồn dân tộc, hô hào đồng tâm hiệp lực cùng gánh vác việc giang sơn
Trong sự nghiệp phát triển giáo dục, nâng cao dân trí của mình, cácnhà Đông Kinh Nghĩa thục đã sử dụng chữ Hán như một thứ vũ khí tư
Trang 39tưởng để truyền bá và canh tân, trao cho chữ Hán Việt Nam những vai trò
sứ mệnh lịch sử mới trong công tác xây dựng và mở mang văn hóa choquốc dân Tất cả những tài liệu Hán văn của Đông Kinh nghĩa thục đềuchứng tỏ nó là Hán văn của nhà trường, có sự đổi mới nhất định trong ngônngữ viết, góp phần tạo nên phong cách và nét đặc trưng cho hán văn ViệtNam những năm đầu thế kỷ XX
1.4.2 Hán văn Đông Kinh nghĩa thục là Hán văn giác thế, Hán văn khải mông, nâng cao dân trí, dân khí.
Hán văn của những thế kỷ trước là Hán văn của tầng lớp nho sỹ, mangtính bác học cao, đề cập đến các vấn đề lớn lao nhưng lại xa rời thực tế cònHán văn Đông Kinh Nghĩa thục là Hán văn giác thế, Hán văn khải mông, nângcao dân trí, dân khí Không bó hẹp trong phạm vi những đề tài về trung, hiếu,đạo, đức; không cầu kỳ câu văn câu phú, Hán văn Đông Kinh Nghĩa thục đivào những vấn đề thiết thực nhất của cuộc sống mưu sinh cá nhân và sự tồnvong của đất nước Tính giác thế và khả năng truyền tải thông tin của Hán vănĐông Kinh Nghĩa thục thể hiện ở chính những vấn đề nó nêu và cách thức nógiải quyết Nội dung mà các cuốn sách Hán văn Đông Kinh Nghĩa thục nhắcđến nhằm yêu cầu giác ngộ đồng bào, thức tỉnh hồn dân tộc, thức tỉnh quốcdân Đó là những kiến thức khái quát về quốc thể, nhiệm vụ với nước, giađình, bản thân, xã hội và muôn loài Đó là bài học về sựu gắn kết, liên hệ của
cá nhân với xã hội: mỗi cá nhân sống trong một cộng đồng đều phải chịu sựchi phối của các mối quan hệ xã hội, các quy luật kinh tế và những thiết chếcủa nhà nước, pháp luật Thậm chí ngay cả những vấn đề về tài chính, ngânhàng, séc….vốn xa lạ với dân ta từ xưa tới nay cũng được nhắc
đến khá bao quát trong các tác phẩm Hán văn Đông Kinh Nghĩa thục Nó giúpnhững con người xưa nay chỉ biết đến sách vở thánh hiền và lũy tre làng biếtthế nào là cuộc mưa Âu gió Mỹ, cũng như thế giới đang từng ngày từng giờ
Trang 40biến động ra sao? Chức năng đó sẽ được cụ thể hơn khi chúng ta tìm hiểutừng tác phẩm Hán văn Đông Kinh nghĩa thục.
Thời trung đại, ở Việt Nam và Trung Quốc cũng đã có những cuốn
sách chữ Hán mang tính phổ cập tri thức như: Tam tự kinh 詩詩詩 (sách chữHán viết vào thời Tống) nói về các vấn đề như: tam tài 詩詩, tam quang 詩詩,tam cương 詩詩, ngũ thường 詩詩, ngũ hành 詩詩, lục súc 詩詩, lục cốc 詩詩, thấttình 詩 詩, bát âm 詩詩… Sang đến thời cận đại, Trung Quốc lại xuất hiệnnhững bộ sách chữ Hán thể hiện văn hóa của giai đoạn này, trong đó cuốn
sách tiêu biểu nhất là Ấu học quỳnh lâm 詩詩詩 詩 Cuốn sách này viết về cácvấn đề thiết thực như: Thiên văn 詩詩, địa dư 詩詩, tuế thời 詩詩, triều đình 詩詩,văn thần 詩詩, vũ chức 詩詩, tổ tông 詩詩, huynh đệ 詩詩, phu phụ 詩詩, bằng hữu
詩詩, hôn nhân 詩 詩, nữ tử 詩詩, ngoại thích 詩詩, lão thọ 詩詩 , thân thể 詩詩,
y phục 詩 詩, nhân sự 詩詩, ẩm thực 詩詩, cung thất 詩詩, khí dụng 詩詩, khoa đệ
詩詩, bần phú 詩詩, chế tác 詩詩, kỹ nghệ 詩詩 , tụng ngục
詩詩, thích đạo 詩詩, điểu thú 詩詩, hoa mộc 詩詩… Ngoài ra cũng cần kể đến
cuốn Khải đồng thuyết ước 詩詩詩詩 của Kim Giang Phạm Phục Trai (PhạmVọng) Trong cuốn sách này ông đã phê phán lối học cử nghiệp vì nó chẳngcung cấp cho người ta biết tý tri thức gì về tự nhiên, về toàn cầu hay về sựphát triển của chính con người, ngược lại nó chỉ làm cho người ta đua nhau
theo đòi lọng xanh lọng vàng Cuốn sách gồm các tập như: Tập Tý trình
bày những tri thức về trời, năm tháng, nguyên hội, tinh tượng, bản quốctinh phận, ngũ hành, bát quái); Tập Sửu nêu địa thế, núi sông và địa hìnhnước ta cũng như các tỉnh, thành, phủ, huyện, dân số, ruộng công, ruộng tư;
Tập Dần nói về con người, những vấn đề về sức khỏe sinh sản (điều vốn bị
các nhà nho kiêng kỵ); ngoài ra sách còn giảng giải đại lược về lịch sửnước ta từ thời Hùng Vương Ở nước ta vào thời
điểm đó, người ta cũng bắt đầu tìm đọc những cuốn sách viết về khoa học
tự nhiên như: Bác vật tân biên 詩 詩 詩 詩, Nông chính toàn thư 詩 詩 詩 詩, Nghiệm phương tân biên 詩詩詩詩, Quản khuy, lệ trắc 詩詩詩詩