Nghiên cứu các doanh nghiệp ở các nước Châu Âu: Thomas và Hrebenar 2008, nghiên cứu bằng chứng thực nghiệm về chi phí không chính thức, vận động hành lang ở các nước đang phát triển nói
Trang 11 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài:
1.1 Nghiên cứu các doanh nghiệp ở các nước Châu Âu:
Thomas và Hrebenar (2008), nghiên cứu bằng chứng thực nghiệm về chi phí không chính thức, vận động hành lang ở các nước đang phát triển nói chung, bắt đầu được tích lũy đặc biệt đối với cái gọi là nền kinh tế chuyển đổi (Frye, 2002, là một ví dụ sớm) Các nền kinh tế chuyển đổi như một nhóm cung cấp một khung cảnh phi thường để kiểm tra các ý tưởng về tầm quan trọng tương đối của vận động hành lang và tham nhũng Họ cung cấp một thí nghiệm gần như
tự nhiên theo nghĩa là hệ thống chính trị và kinh tế của họ rất giống nhau cho đến khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ năm 1989 Sau đó, tập hợp các quốc gia này theo các chiến lược cải cách chính trị và kinh tế khác nhau với nhiều thành viên dân chủ và thành viên của EU (ví dụ, Hungary và Cộng hòa Séc) trong khi những nước khác trải qua bất ổn kinh tế nặng nề và cải thiện hạn chế về quyền chính trị và quyền tự do
Trang 2dân sự, tất nhiên bao gồm cả tự do lập hội (ví dụ, Kazakhstan và Bêlarut) Hơn nữa, nhiều quốc gia chuyển đổi được coi là rất tham nhũng.Chẳng hạn, Chỉ số Tham nhũng Quốc tế Minh bạch năm 2005 xếp 159 quốc gia: Estonia xếp thứ 27 (chỉ sau Bồ Đào Nha), Ba Lan xếp thứ 70 (tám sau Brazil) và Turkmenistan xếp thứ 157
Sử dụng dữ liệu khảo sát năm 1999 cho khoảng 4.000 công ty
ở 25 nền kinh tế chuyển đổi, cho thấy rằng vận động hành lang là một công cụ thay thế rất quan trọng của ảnh hưởng chính trị (Harstad và Svensson, 2008) Phân tích của nhóm tác giả cũng cho thấy các thể chế chính trị có ảnh hưởng lớn đến sự lựa chọn vận động hành lang Điều tra hồ sơ của các công ty là thành viên của các nhóm vận động hành lang, số lượng lao động toàn thời gian (quy mô doanh nghiệp),
sở hữu nước ngoài, và mức độ phát triển kinh tế và ổn định chính trị quốc gia đều có tác động đáng kể và tích cực đến quyết định tham gia một nhóm vận động hành lang Sử dụng dữ liệu khảo sát năm 2002 cho khoảng 6.000 công ty ở 26 quốc gia chuyển đổi, kết quả cho thấy
Trang 3rằng vận động hành lang và tham nhũng thực sự khác nhau về cơ bản
và các thể chế chính trị đóng vai trò trung tâm trong việc tính toán những khác biệt này
Khảo sát doanh nghiệp của Ngân hàng Thế giới từ khoảng
8000 công ty ở 40 quốc gia đang phát triển và kiểm soát một số sai lệch có trong dữ liệu Thấy rằng các công ty có ảnh hưởng được hưởng lợi từ các rào cản hành chính và pháp lý thấp hơn (bao gồm thuế hối lộ), sức mạnh định giá lớn hơn và tiếp cận tín dụng dễ dàng hơn Nhưng các công ty này cũng cung cấp lợi ích có giá trị về mặt chính trị cho người đương nhiệm thông qua bảng lương cồng kềnh và các khoản thanh toán thuế lớn hơn Cuối cùng, các công ty này hoạt động kém hơn so với các đối tác không ảnh hưởng của họ Kết quả nghiên cứu nêu bật một kênh tiềm năng theo đó chủ nghĩa thân hữu dẫn đến sự kém phát triển kéo dài
Trang 41.2 Nghiên cứu về các doanh nghiệp ở các nước Châu Á:
Jing Lin Duanmu ((2011, Journal of International Management) nghiên cứu “Tác động của định hướng thị trường và tham nhũng đến việc lựa chọn loại hình đầu tư của các doanh nghiệp đa quốc gia” Bằng chứng từ Trung Quốc được ra đời bởi các sự thúc đẩy của các nghiên cứu trước đây về tác động của tham nhũng đối với các chiến lược xâm nhập của các công ty đa quốc gia (gọi tắt là MNE) Trên cơ
sở đó, tác giả xem xét mức độ khác biệt trong tham nhũng giữa các công ty đa quốc gia có chi nhánh sở hữu toàn bộ (WOS) và các công
ty liên doanh (JV) đang hoạt động ở Trung Quốc) Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các công ty đa quốc gia ở những nước có mức độ thấp hơn Trung Quốc, phần lớn các công ty này ưa thích loại hình sở hữu toàn hơn loại hình liên doanh Tuy nhiên, khoảng cách về mức độ tham nhũng không tác động đến quyết định lựa chọn chiến lược xâm nhập thị trường ở những công ty này mà chính sự định hướng mới là nguyên nhân tổng quát, tác động mạnh mẽ đến sự lựa chọn hình thức
Trang 5xâm nhập thị trường của các công ty đa quốc gia trên Chính sự định hướng thị trường góp phần giúp các doanh nghiệp đa quốc gia lựa chọn loại hình sở hữu toàn bộ (WOS) thay thế các loại hình liên doanh (JV) ở các quốc gia có nạn tham nhũng cao nhằm tránh các tác động tiêu cực từ tham nhũng Khi lợi nhuận từ đầu tư nước ngoài cao hơn chi phí thì tham nhũng có mối quan hệ thuận chiều với tỷ lệ sở hữu nước ngoài
Jessie Qi Zhou và Mike W.Peng (2011, Springer Science + Business Media) trong bài tham luận hối lộ/ đút lót có tác động tích cực hay tiêu cực đến nền kinh tế toàn cầu, đặt ra câu hỏi rằng chi phí bôi trơn có tác động tích cực hay tiêu cực đến sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Một số phân tích cho rằng chi phí bôi trơn giúp tăng độ “trơn” của vòng quay bánh xe thương mại, tuy nhiên cũng có nhiều ý kiến trái chiều cho rằng chi phí bôi trơn sẽ làm tăng gánh nặng cho sự phát triển của doanh nghiệp Tuy nhiên, nhóm tác giải cho rằng các doanh nghiệp lựa chọn “lượng” bôi trơn phụ thuộc vào khả năng
Trang 6tài chính của công ty và bản chất môi trường kinh doanh Cụ thể, các doanh nghiệp nhỏ thường bị bắt buộc tham gia vào các hoạt động hối
lộ, trong khi các doanh nghiệp lớn lại có chiến lước chủ động tham gia vào những hoạt động phy chính thức này Bằng cách sử dụng mẫu khảo sát bao gồm 2.686 doanh nghiệp ở 48 quốc gia, nhóm nghiên cứu cho thấy một tỷ lệ cao các doanh nghiệp có thực hiện các hành vi tham nhũng hầu hết xuất phát từ những khi vực nền kinh tế thị trường kém phát triển Sau khi tiến hành kiểm tra và phân tích thống kê, nhóm tác gỉa kết luận, chi phí bôi trơn chỉ có tác động tiêu cực đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ mà không ảnh hưởng đến các doanh nghiệp lớn
Ari Kuncoro (2004, Bulletin of Indonesia Economic Studies) nghiên cứu thực trạng tham nhũng ở Indonesia: Bằng chứng từ các doanh nghiệp, tác giả đã nêu và thử nghiệm mô hình trong đó các doanh nghiệp tìm cách giảm chi phí thuế bằng cách đưa hối lộ cho các quan chức chính phủ Báo cáo cho thấy lợi nhuận của các doanh
Trang 7nghiệp (đo lường theo chi phí sản xuất) phần lớn được xác định bao gồm cả số tiền doanh nghiệp phải bỏ ra để “bôi trơn” và thời gian dành để chăm sóc các quan chức nhận hối lộ Nghiên cứu còn chỉ ra
sự phân cấp trong bộ máy quản lý hành chính dẫn đến sự cạnh tranh giữa các quan chức trong việc tham nhũng, điều này dẫn đến sự lan rộng đáng kể của hối lộ trong một bộ phận không nhỏ các bộ quản lý nhà nước
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước:
Ở Việt Nam chi phí không chính thức có thể phát sinh ở mọi công đoạn kinh doanh và trong tất cả quá trình thực thi pháp luật, chính sách, thủ tục hành chính Nhưng chi phí này rất khó xác định, khó tiên liệu và không thể định lượng Đây là loại chi phí vô hình mà các doanh nghiệp đang phải gánh chịu
Theo TS Lê Đăng Doanh (2012), trong Nghiên cứu mối quan hệ nhân quả gián tiếp của các chi phí không chính đối với tăng trưởng
Trang 8kinh tế của Việt Nam Xét về kết quả nghiên cứu định lượng, tác giả lấy dữ liệu từ Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI), chỉ số Chi phí không chính thức của Việt Nam trong năm 2012 tăng lên một đơn vị, thì mức tăng trưởng từ 2012 đến 2013 sẽ lên đến 5,65% (thay vì 5,42% như trong thực tế) và do đó GDP của Việt Nam năm 2103 sẽ đạt tới 164.624 triệu USD theo thời giá 2012 (từ 155.820 triệu USD trong năm 2012) Kết quả nghiên cứu cho thấy tác động gián tiếp của chi phí không chính thức đối với tăng trưởng kinh tế thông qua kênh đầu tư mạnh hơn tác động trực tiếp rất nhiều Nói cách khác, chi phí không chính thức có ảnh hưởng tiêu cực đến đầu tư, do
đó cản trở sự phát triển Chi phí không chính thức làm giảm đáng kể tốc độ tăng trưởng kinh tế, làm sai lệch phân bố nguồn lực và giảm hiệu quả đầu tư
Theo Lê Thị Hồng Yến, Nguyễn Thị Hà Trang (2014), Nghiên cứu vấn đề chi phí không chính thức nhằm cài thiện chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Khánh Hòa Tác giả sử dụng mô hình
Trang 9Logit với các dữ liệu thứ cấp từ các tài liệu, báo cáo của VCCI giai đoạn 2005-2012 và dữ liệu sơ cấp được thu thập từ các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn tỉnh Khành Hòa Kết quả đánh giá của VCCI năm 2012 cho thấy, tỷ lệ doanh nghiệp ở Khánh Hòa cho rằng doanh nghiệp trong ngành trả chi phí không chính thức là 52,73%, trong khi đó năm 2011 là 59,55%; điều này có nghĩa là cứ 10 doanh nghiệp được hỏi thì có khoảng 5 doanh nghiệp công nhận có tồn tại chi phí không chính thức theo khảo sát của VCCI
Kết quả nghiên cứu định lượng cho thấy rằng khảo sát với 700 doanh nghiệp trong nghiên cứu này cho thấy có gần một nửa số doanh nghiệp cho rằng họ phải trả chi phí không chính thức hàng năm cho các hoạt động của doanh nghiệp Các loại chi phí không chính thức đang có một vị trí nhất định trong hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa Nhìn chung việc cải thiện chỉ số chi phí không chính thức còn khá hạn chế và chưa liên tục, bền vững Hầu như các tiêu chí bị đánh giá là cao hơn mức trung vị của cả nước,
Trang 10mặc dù đã có cải thiện qua các năm, phản ánh tình trạng tồn tại các khoản chi trả phi chính thức còn rất phổ biến Những tồn tại này đang
có những tác động xấu đến môi trường hoạt động của các doanh nghiệp, làm gánh nặng chi phí kinh doanh của họ tăng lên và làm hạn chế năng lực cạnh tranh của tỉnh
Báo cáo “Đặc điểm môi trường kinh doanh ở Việt Nam: Kết quả điều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2018” do Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), Tổng cục Thống kê và Trường Đại học Copenhagen vừa thực hiện cho thấy: Một trong những trở ngại chính đối với doanh nghiệp trong năm vừa qua là chi phí không chính thức tăng cao
Năm 2018, kết quả cuộc điều tra toàn quốc về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của VCCI cũng đưa ra thực tế doanh nghiệp
tư nhân ở Việt Nam đã coi hối lộ, các chi phí không chính thức như là
“chi phí kinh doanh” nhiều hơn là vấn đề “liêm chính trong kinh doanh” Có tới 51-65% doanh nghiệp tham gia khảo sát trong giai
Trang 11đoạn 2011-2017 cho rằng các doanh nghiệp cùng ngành đang phải trả chi phí hối lộ Thêm nữa, xu hướng doanh nghiệp phải chi trả từ 10% tổng doanh thu trở lên cho các chi phí không chính thức đang tăng dần
từ 7% năm 2010 lên hơn 10% số doanh nghiệp được khảo sát trong giai đoạn 2014-2017… 80% các doanh nghiệp đó cho rằng việc chi trả này là ở mức độ “chấp nhận được”
Ông Edmund Malesky, thành viên nhóm nghiên cứu PCI-FDI cũng cảnh báo, việc gia tăng chi phí lẫn tần suất trả tiền không chính thức trong mọi hoạt động từ xin giấy phép đầu tư tới quá trình đấu thầu, xuất nhập khẩu sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh và do vậy, các công ty đang lưỡng lự việc mở rộng đầu tư sản xuất tại Việt Nam Nhóm nghiên cứu còn cho biết, so với một số nước lân cận, cảm nhận chung của các doanh nghiệp FDI là môi trường đầu tư Việt Nam kém hấp dẫn hơn vì tham nhũng và chi phí không chính thức
Nhìn chung, tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài ở trong nước và ngoài nước cho thấy rằng đã có tương đối nhiều
Trang 12nghiên cứu về Tác động của chi phí không chính thức đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp ở các nước đang phát triển Qua những nghiên cứu của các tác giả và nhóm tác giả này, bằng các phương pháp định lượng, phân tích chuyên sâu, đã phần nào cho thấy rõ ảnh hưởng mà những loại chi phí không chính thức này tác động lên các doanh nghiệp Đặc biệt hiện tượng này diễn ra khá nhiều ở các nước Châu Á và hiện nay đây vẫn đang là vấn đề nhức nhối, đe dọa và ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh, hoạt động của các doanh nghiệp