1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của quản lý tri thức đến sự thỏa mãn công việc, nghiên cứu người lao động có trình độ đại học trong các doanh nghiệp tại thành phố hồ chí minh , luận văn thạc sĩ

97 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

---NGUYỄN KIỀU NGÂN ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN LÝ TRI THỨC ĐẾN SỰ THỎA MÃN CÔNG VIỆC: NGHIÊN CỨU NGƯỜI LAO ĐỘNG CÓ TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC

Trang 1

-NGUYỄN KIỀU NGÂN

ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN LÝ TRI THỨC ĐẾN

SỰ THỎA MÃN CÔNG VIỆC: NGHIÊN CỨU NGƯỜI LAO ĐỘNG CÓ TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC

TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TẠI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Thành Phố Hồ Chí Minh - Năm 2012

Trang 2

-NGUYỄN KIỀU NGÂN

ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN LÝ TRI THỨC ĐẾN

SỰ THỎA MÃN CÔNG VIỆC: NGHIÊN CỨU NGƯỜI LAO ĐỘNG CÓ TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC

TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TẠI

Trang 3

Tôi xin chân thành gởi lời cảm ơn đến:

PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, là người đã hướng dẫn và tận tình chỉ bảotôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Nhờ những hướng dẫn và chỉ bảocủa Thầy mà tôi đã hiểu rõ và hoàn thành được luận văn này

Quý Thầy Cô của Trường Đại học Kinh tế Thành Phố Hồ Chí Minh đãtận tình giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu, kinh nghiệmthực tiễn trong quá trình tôi học tập tại trường

Bạn bè, anh chị ở các công ty và các anh chị thuộc các lớp cao học củaTrường Đại học Kinh tế Thành Phố Hồ Chí Minh mà tôi tiến hành khảo sát đãnhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành khảo sát định tính và định lượng

Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè cao học Khóa 19 củaTrường Đại học Kinh tế Thành Phố Hồ Chí Minh đã hỗ trợ tôi trong suốt quátrình học tập và thực hiện luận văn này

TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2012

Người viếtNguyễn Kiều Ngân

Trang 4

Tôi xin cam đoan luận văn này là do bản thân tôi tự nghiên cứu và thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Đình Thọ.

Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực Nội dung của luận văn này chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Tôi hoàn toàn chịu trách nghiệm về tính pháp lý trong quá trình nghiên cứu khoa học của luận văn này

TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2012

Người thực hiện luận văn

Nguyễn Kiều Ngân

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu 4

1.5 Kết cấu của đề tài 5

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 6

2.1 Giới thiệu 6

2.2 Quản lý tri thức 6

2.2.1 Tri thức 6

2.2.2 Quản lý tri thức 11

2.2.2.1 Sự sáng tạo tri thức 16

2.2.2.2 Sự tích lũy tri thức 18

2.2.2.3 Sự chia sẻ tri thức 19

2.2.2.4 Sự sử dụng tri thức 20

2.2.2.5 Sự tiếp thu tri thức 21

2.3 Sự thỏa mãn công việc 23

2.4 Mô hình nghiên cứu 26

2.4.1 Các giả thuyết nghiên cứu 27

2.4.2 Mô hình nghiên cứu 29

2.5 Tóm tắt 30

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

3.1 Giới thiệu 31

3.2 Thiết kế nghiên cứu 31

3.2.1 Phương pháp nghiên cứu 31

Trang 6

3.2.1.1 Nghiên cứu sơ bộ 31

3.2.1.2 Nghiên cứu chính thức 32

3.2.2 Qui trình nghiên cứu 33

3.3 Thang đo 35

3.3.1 Thang đo quản lý tri thức 35

3.3.2 Thang đo sự thỏa mãn công việc 38

3.4 Tóm tắt 38

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40

4.1 Giới thiệu 40

4.2 Đặc điểm của mẫu khảo sát 40

4.3 Kiểm định mô hình đo lường 42

4.3.1 Đánh giá sơ bộ thang đo bằng Cronbach’s Alpha 42

4.3.2 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 44

4.3.2.1 Thang đo quản lý tri thức 45

4.3.2.2 Thang đo sự thỏa mãn công việc 49

4.4 Phân tích hồi quy 50

4.4.1 Phân tích tương quan 50

4.4.2 Phân tích hồi quy 50

4.4.3 Dò tìm sự vi phạm các giả định cần thiết 53

4.5 Phân tích sự đánh giá của người lao động có trình độ đại học về quản lý tri thức và sự thỏa mãn công việc 54

4.6 Tóm tắt 56

CHƯƠNG 5 Ý NGHĨA VÀ KẾT LUẬN 58

5.1 Giới thiệu 58

5.2 Kết luận và ý nghĩa 58

5.3 Hàm ý chính sách cho nhà quản trị doanh nghiệp 59

5.4 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO I

Trang 7

PHỤ LỤC 1 DÀN BÀI PHỎNG VẤN ĐỊNH TÍNH VIPHỤ LỤC 2 TÓM TẮT KẾT QUẢ PHỎNG VẤN ĐỊNH TÍNH XPHỤ LỤC 3 BẢNG PHỎNG VẤN CHÍNH THỨC XIPHỤ LỤC 4 ĐẶC ĐIỂM MẪU KHẢO SÁT XVPHỤ LỤC 5 PHÂN TÍCH CRONBACH’S ANPHA XVIPHỤ LỤC 6 PHÂN TÍCH EFA XIXPHỤ LỤC 7 PHÂN TÍCH HỒI QUY XXIIIPHỤ LỤC 8 PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN VÀ DÒ TÌM GIẢ ĐỊNH XXIV

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Sự phân biệt giữa tri thức hiện hữu và tri thức ẩn tàng 11

Bảng 3.1 Thang đo sự sáng tạo tri thức 35

Bảng 3.2 Thang đo sự tích lũy tri thức 36

Bảng 3.3 Thang đo sự chia sẻ tri thức 36

Bảng 3.4 Thang đo sự sử dụng tri thức 37

Bảng 3.5 Thang đo sự tiếp thu tri thức 37

Bảng 3.6 Thang đo sự thỏa mãn công việc 38

Bảng 4.1 Thống kê mẫu khảo sát 41

Bảng 4.2 Kết quả kiểm định thang đo bằng Cronbach’s Alpha 44

Bảng 4.3 Kết quả EFA thang đo quản lý tri thức 47

Bảng 4.4 Đánh giá độ phù hợp của mô hình 50

Bảng 4.5 Kết quả các thông số hồi qui 51

Bảng 4.6 Điểm trung bình thang đo quản lý tri thức và sự thỏa mãn công việc 54

Trang 9

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2.1 Từ dữ liệu đến tri thức 9

Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu đề nghị 29

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 34

Hình 4.1 Kết quả hồi quy 52

Hình 4.2 Biểu đồ điểm trung bình của thang đo quản lý tri thức và sự thỏa mãn công việc 56

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang thay đổi liên tục không ngừng đểhội nhập nhanh chóng với nền kinh tế chung của khu vực và thế giới Nhữngđiều kiện thuận lợi về thị trường, địa lý, tự nhiên, con người… cùng với cácchính sách mở cửa của nhà nước ta đã và đang thu hút ngày càng nhiều cáctập đoàn quốc tế, các công ty đa quốc gia… thuộc các quốc gia, khu vực, vùnglãnh thổ từ khắp nơi trên thế giới đến đầu tư, tiến hành các hoạt động sản xuấtkinh doanh tại Việt Nam Đứng trước thực tế này, các doanh nghiệp trongnước cũng phải cố gắng phát triển lớn mạnh hơn để có thể cạnh tranh tồn tại

và phát triển vươn ra thị trường khu vực và thế giới

Đồng thời, nhận thức của những người chủ, người quản lý của doanhnghiệp đối với người lao động đã có một sự thay đổi rất lớn Nếu như trướcđây, người lao động được xem như là chi phí đầu vào thì hiện nay người laođộng được xem như tài sản, nguồn lực vô cùng quý giá quyết định đến sựthành bại của doanh nghiệp Nhu cầu tuyển chọn, thu hút nguồn nhân lực cóchất lượng để mở rộng, nâng cao sức cạnh tranh cho hoạt động sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp trong và ngoài nước ngày càng tăng Sự lựa chọnhàng đầu cho đội ngũ nhân sự của các doanh nghiệp chính là những người laođộng có trình độ đại học các ngành kinh tế, khoa học, kỹ thuật,… Nhữngngười lao động này hiện đang đảm nhiệm rất nhiều vị trí, chức vụ ở các phòngban, bộ phận… từ nhân viên ở cấp bậc thấp đến nhà quản lý ở cấp cao nhất.Nhưng dù ở vị trí, chức vụ, cấp bậc nào thì với những kiến thức, kỹ năng,

Trang 11

chuyên môn, những hiểu biết về thị trường, xã hội, con người, tự nhiên,… đãđược đào tạo bài bản, chuẩn tắc trong các trường đại học, thông qua quá trình

tự tìm hiểu, nghiên cứu, trao dồi thêm đã giúp cho họ có một năng lực làmviệc nhất định và đem lại hiệu quả tốt cho hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp

Do đó, các doanh nghiệp trong và ngoài nước đều đang rất quan tâmđến việc tuyển chọn, thu hút thêm người lao động có trình độ đại học vào làmviệc Trong tình hình thiếu hụt nguồn nhân lực có chất lượng như hiện nay,cùng với sự cạnh tranh về mức lương, điều kiện làm việc, cơ hội thăng tiến,chế độ ưu đãi, phúc lợi… nhằm thu hút người lao động giữa các doanh nghiệpvới nhau, thì việc quan trọng hơn hết của các doanh nghiệp là giữ chân đượcnhững người lao động hiện tại Sự ổn định trong đội ngũ người lao động là rấtcần thiết, điều này sẽ giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian, chi phí,

… trong việc tuyển chọn, đào tạo, huấn luyện, kiểm tra… Giúp giảm thiểunhững sai sót trong công việc của những người lao động mới được tuyển dochưa quen việc gây nên, giúp thu hút thêm người lao động mới, nâng caođược niềm tin và tinh thần đoàn kết trong nội bộ doanh nghiệp Sự ổn địnhnày sẽ giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được ổnđịnh, hiệu quả hơn, nâng cao được uy tín, thương hiệu, tạo được sự tin cậycho khách hàng về chất lượng sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp

Một số nghiên cứu trước đây như: Luddy (2005), Chou (2007),… đãchỉ ra rằng sự thỏa mãn trong công việc của người lao động quyết định việcgắn bó lâu dài của họ với doanh nghiệp Một số nghiên cứu khác về sự thỏamãn công việc như: nghiên cứu của Lee và Chang (2007) ở Đài Loan đã chỉ ra

sự ảnh hưởng của quản lý tri thức đến sự thỏa mãn công việc của người laođộng, nghiên cứu của Thammakoranonta và Malison (2011) cũng chỉ ra quản

lý tri thức có ảnh hưởng đến sự thỏa mãn công việc của người lao động trong

Trang 12

các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Thái Lan,… điều này đã cho thấy quản lý trithức đã trở thành yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến sự thỏa mãn công việccủa người lao động trong các doanh nghiệp ngày nay.

Ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt là tại địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh,một trung tâm chính trị kinh tế văn hóa xã hội bậc nhất của cả nước, luôn luôn

có một lực lượng lao động hùng hậu được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp từcác viện, trường đại học có uy tín, có chất lượng và đang làm việc trong cácdoanh nghiệp Những người lao động có trình độ đại học này đều đã có đượcnhững kiến thức, kỹ năng, chuyên môn nhất định, cùng với những hiểu biết vềcon người, xã hội, tự nhiên, thị trường, công nghệ, các chính sách, phápluật…; cho nên sự thỏa mãn công việc của họ không chỉ là sự đáp ứng về mặtvật chất và tinh thần đơn thuần mà còn phải được đáp ứng về việc đượcthường xuyên, liên tục được sử dụng, nâng cao, trao dồi sự hiểu biết, trình độ,kinh nghiệm, công nghệ mới… trong quá trình làm việc tại doanh nghiệp

Chính vì những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài:“Ảnh hưởng của quản lý tri

thức đến sự thỏa mãn công việc: nghiên cứu người lao động có trình độ đại học trong các doanh nghiệp tại Thành Phố Hồ Chí Minh”.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Xác định các nhân tố quản lý tri thức trong các doanh nghiệp tại Thành Phố Hồ Chí Minh

Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố quản lý tri thức đến sựthỏa mãn công việc của người lao động có trình độ đại học trong các doanhnghiệp tại Thành Phố Hồ Chí Minh

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các nhân tố quản lý tri thức có ảnh hưởng đến

sự thỏa mãn công việc

Trang 13

Đối tượng khảo sát là người lao động có trình độ đại học đang làm việc trong các doanh nghiệp, cỡ mẫu: 300.

Khảo sát được thực hiện tại địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh

Thời gian thực hiện nghiên cứu: từ tháng 2/2012 đến tháng 9/2012

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu vào ảnh hưởng của quản lý tri thứcđến sự thỏa mãn công việc của người lao động có trình độ đại học, sử dụngphương pháp nghiên cứu định lượng và được thực hiện thông qua 2 bước:nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức

Nghiên cứu sơ bộ:

Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện bằng phương pháp định tính và địnhlượng Các nghiên cứu sơ bộ này được thực hiện tại TP Hồ Chí Minh nhằmmục đích xây dựng và hoàn thiện bảng câu hỏi Nghiên cứu định tính sơ bộthông qua phỏng vấn sâu 10 người lao động đang làm việc trong các doanhnghiệp, được thực hiện với mục đích điều chỉnh và bổ sung thang đo quản lýtri thức và sự thỏa mãn công việc cho phù hợp với đặc thù của các doanhnghiệp tại địa bàn TP Hồ Chí Minh Nghiên cứu định lượng sơ bộ được thựchiện bằng kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp 150 người lao động có trình độ đại họctrong các doanh nghiệp thông qua bảng câu hỏi Bảng câu hỏi được thiết kếgồm hai phần chính:

Phần I - Đánh giá quản lý tri thức và sự thỏa mãn công việc.Phần II - Thông tin của người được phỏng vấn

Thông tin thu thập được từ nghiên cứu định lượng này dùng để sàng lọccác biến quan sát (biến đo lường) dùng để đo lường các khái niệm thành phầncủa quản lý tri thức và sự thỏa mãn công việc Kiểm định thang đo(Cronbach’s Alpha) và phân tích nhân tố khám phá (EFA) thông qua phầnmềm SPSS 16.0 được sử dụng ở bước này

Trang 14

Nghiên cứu chính thức:

Nghiên cứu chính thức cũng được thực hiện bằng phương pháp nghiêncứu định lượng, dùng kỹ thuật thu thập thông tin trực tiếp bằng bảng câu hỏiphỏng vấn Nghiên cứu chính thức này cũng được tiến hành tại TP Hồ ChíMinh Mục đích của nghiên cứu này là khẳng định lại các thành phần cũngnhư giá trị và độ tin cậy của thang đo quản lý tri thức, sự thỏa mãn công việc

và kiểm định mô hình lý thuyết

Nghiên cứu này sử dụng các công cụ phân tích dữ liệu: thống kê mô tả,kiểm định thang đo (Cronbach’s Alpha), phân tích nhân tố khám phá (EFA),phân tích hồi quy bội thông qua phần mềm SPSS 16.0

1.5 Kết cấu của đề tài

Kết cấu của đề tài bao gồm 5 chương:

Chương 1: Tổng quan (giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu)Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu (trình bày cơ

sở lý thuyết về quản lý tri thức, sự thỏa mãn công việc và xây dựng mô hình

lý thuyết cho nghiên cứu)

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu (trình bày phương phápnghiên cứu để kiểm định thang đo và mô hình lý thuyết cùng giả thuyết đề ra)

Chương 4: Kết quả nghiên cứu (trình bày phương pháp phân tích thông tin và kết quả nghiên cứu)

Chương 5: Ý nghĩa và kết luận (tóm tắt những kết quả chính củanghiên cứu, những đóng góp, hàm ý của nghiên cứu cho nhà quản trị cũngnhư các hạn chế của nghiên cứu để định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo)

Trang 15

Machlup (1962) định nghĩa tri thức như một mặt hàng và cố gắng để đolường mức độ của việc sản xuất và phân phối mặt hàng này trong một nềnkinh tế hiện đại Ông phân biệt ra 5 loại tri thức:

Tri thức tinh thần hoặc tôn giáo

Tri thức không mong muốn, vô tình có được và không có ý địnhgiữ lại

Trang 16

Locke (1689) định nghĩa tri thức là nhận thức của sự đồng thuận hoặc bất đồng của hai ý tưởng Ông đã phân chia tri thức làm 3 loại:

Tri thức trực quan liên quan đến việc công nhận trực tiếp và ngaylập tức của sự đồng thuận hoặc bất đồng của hai ý tưởng Nó mang lại sự chắcchắn hoàn hảo nhưng chỉ là hiếm khi có sẵn Ví dụ, tôi biết bằng trực giác làmột con chó không giống như một con voi

Tri thức chỉ định là khi chúng ta nhận thức sự đồng thuận hoặcbất đồng gián tiếp thông qua một loạt các ý tưởng trung gian Ví dụ, tôi biếtrằng A lớn hơn B và B là lớn hơn so với C, vì vậy tôi biết chỉ định rằng A làlớn hơn C

Tri thức nhạy cảm là khi những ý tưởng mang tính cảm giác củachúng ta được gây ra bởi những thứ đang tồn tại ngay cả khi chúng ta khôngbiết những gì tạo ra các ý tưởng trong chúng ta.Ví dụ, tôi đã biết rằng có mộtcái gì đó sản xuất mùi và tôi có thể ngửi thấy mùi

Drucker (1993) định nghĩa tri thức là thông tin về thay đổi một cái gì đóhoặc ai đó bằng cách trở thành căn cứ cho hành động, hoặc bằng cách tạo ramột cá nhân (hoặc tổ chức) có khả năng hành động khác hay đạt hiệu quả caohơn

Wiig (1996, trích trong Vũ Hồng Dân, 2007) định nghĩa tri thức lànhững cảm nhận, hiểu biết và bí quyết thực tế mà chúng ta có - là nguồn lực

cơ bản cho phép chúng ta hành động một cách thông minh

Vũ Hồng Dân (2007) cho rằng mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau,nhưng các học giả đều có những đặc điểm chung khi nói về tri thức: tri thứcđược hình thành từ não người, con người sử dụng tri thức để tư duy và ra cácquyết định tạo ra giá trị Quá trình phát triển tri thức luôn gắn liền với học hỏi,đổi mới và sáng tạo Sẽ là hữu ích nếu phân biệt được các loại tri thức khácnhau:

Trang 17

Biết cái gì (know-what) là loại tri thức về sự kiện, ngày nay cànggiảm tầm quan trọng trong xã hội thông tin và sức mạnh của Internet.

Biết tại sao (know-why) là tri thức về thế giới tự nhiên, xã hội vàsuy nghĩ của con người

Biết ai đó (know-who) là về thế giới của các quan hệ xã hội, là trithức về ai biết cái gì và ai đó được những gì Việc biết được những người cầnthiết đôi khi còn quan trọng đối với quản lý hơn là biết được các nguyên tắcquản lý

Biết chỗ và biết thời gian (know-where và know-when) đang ngày càng quan trọng trong nền kinh tế linh hoạt và năng động

Biết cách làm (know-how) là về các kỹ năng và khả năng thực hành thành thạo công việc

Nhiều người theo chủ nghĩa thực chứng tin rằng tri thức là những “niềmtin được minh chứng là đúng” (justified beliefs) Nonaka và Takeuchi (1995,trích trong Nguyễn Hữu Lam, 2007) chỉ ra rằng “tri thức là quá trình năngđộng của con người trong việc minh chứng các niềm tin cá nhân với những

“sự thật”” Sự tiến hóa của nhận thức luận khoa học đã hình thành một cấutrúc thứ bậc của việc tạo ra tri thức: từ dữ liệu đến thông tin đến tri thức nhưđược trình bày trong hình 2.1 Trong hình 2.1 có những khái niệm cần quantâm đó là dữ liệu, thông tin, tri thức

Trang 18

Dữ liệu được đặt trong bối cảnh

Hiểu biết các mối quan

Dữ liệu

Số liệu hoặc sự kiện

Nguồn: Serban và Luan (2002, trích trong Nguyễn Hữu Lam, 2007)

Dữ liệu là một tập hợp các sự kiện, sự việc khách quan, rời rạc

được trình bày mà không có sự phán quyết hoặc không gắn với bối cảnh Dữ

Trang 19

liệu trở thành thông tin khi nó được phân loại, phân tích, tổng hợp và đặt vào một bối cảnh và trở nên có thể nhận thức được đối với người nhận.

Thông tin là dữ liệu gắn với một sự liên hệ hoặc một mục đích.

Thông tin biến thành tri thức khi nó được sử dụng để so sánh, đánh giá nhữngkết cục, thiết lập những liên hệ và tiến hành một sự đối thoại Thông tin là dữliệu trong bối cảnh mà nó có thể sử dụng cho việc ra quyết định Dữ liệu luônđược sắp xếp để tạo ra ý nghĩa cho người nhận, nó có thể là văn bản, hình ảnh,phim hoặc một cuộc hội thoại với một người khác

Tri thức có thể được xem như thông tin mà nó đạt tới sự sáng tỏ,

sự phán quyết và những giá trị Trong nhiều trường hợp, tri thức thể hiện sựthật và vì vậy nó cung cấp, tạo ra những cơ sở đáng tin cậy cho hành động Trithức là kho tàng của sự hiểu biết và các kỹ năng được tạo ra từ trí tuệ của conngười (đặc biệt từ những người khác)

Nonaka và Takeuchi (1995, trích trong Nguyễn Hữu Lam, 2007) đã phân biệt tri thức hiện hữu và tri thức ẩn tàng:

Tri thức hiện hữu là các tri thức được hệ thống hóa trong các vănbản, tài liệu hoặc các báo cáo, chúng có thể được chuyển tải trong những ngônngữ chính thức và có hệ thống

Tri thức ẩn tàng là những tri thức không và rất khó được hệ thốnghóa trong các văn bản, tài liệu, các tri thức này là cá nhân, gắn liền với bốicảnh và công việc cụ thể Tri thức ẩn tàng là rất khó để hình thành các tài liệu,nhưng lại có tính vận hành cao trong bộ não của con người

Sự phân biệt giữa tri thức hiện hữu và ẩn tàng được thể hiện qua Bảng2.1:

Trang 20

Bảng 2.1 Sự phân biệt giữa tri thức hiện hữu và tri thức ẩn tàng

(Hồ sơ hóa) (Bí quyết gắn liền với con người)

Dễ dàng được hệ thống hóa Mang tính cá nhân

tính Có thể chuyển giao, truyền đạt Khó khăn trong việc chính thức hóa

Được diễn đạt và chia sẻ một Rất khó tiếp nhận, truyền đạt và

Các tài liệu chỉ dẫn hoạt động Các quá trình kinh doanh và truyềnNguồn Các chính sách và thủ tục của đạt phi chính thức

Các báo cáo và cơ sở dữ liệu Sự thấu hiểu mang tính lịch sử

Nguồn: Serban và Luan (2002, trích trong Nguyễn Hữu Lam, 2007)

2.2.2 Quản lý tri thức

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, sự mong đợi của khách hàngthường thay đổi nhanh chóng và cạnh tranh trên mức độ toàn cầu đang bùngphát, một trong những công cụ quan trọng nhất để được sử dụng để cạnh tranh

là quản lý tri thức (Mehmet và cộng sự, 2008)

Tri thức là một công cụ chiến lược cho các tổ chức hiện đại Các khảnăng sử dụng công cụ này xác định giới hạn tuổi thọ của các tổ chức Nóicách khác, tri thức có vai trò quan trọng trong lợi thế đầu tiên là nhìn thấynhững cơ hội và các mối đe dọa trong môi trường bên ngoài và duy trì lợi thếnày cho một thời gian dài (Barca, 2002, trích trong Mehmet và cộng sự,

Trang 21

2008) Không chỉ có đủ tri thức là có thể thành công bởi vì tài sản có giá trịnày nên được quản lý bằng cách nào đó và điều này chỉ có thể thông qua cáchtiếp cận là quản lý tri thức.

Khái niệm “quản lý tri thức” lần đầu tiên được đề cập đến từ đầu những

năm 80 Rumizen (2002), tác giả cuốn “The complete Idiot’s guide to

Knowledge Management”, cho rằng tiến sỹ Sveiby, người Thụy Điển, là

người đầu tiên đưa ra khái niệm tài sản tri thức doanh nghiệp vào năm 1979nhưng không được đón nhận Và đến đầu những năm 90 thì quản lý tri thứcmới thực sự “nở rộ” như một công cụ mới trong quản lý Stewart được xemnhư là người đầu tiên viết về quản lý tri thức trên các tạp chí về doanh nghiệp

với bài viết “Brainpower” trên tạp chí kinh tế nổi tiếng “Fortune” vào năm

Quintas và cộng sự (1997, trích trong Nguyễn Hữu Lam, 2007)định nghĩa quản lý tri thức là quá trình của việc quản lý một cách cẩn trọng trithức để đáp ứng các nhu cầu hiện hữu, để nhận ra và khai thác những tài sảntri thức hiện có và có thể đạt được và để phát triển những cơ hội mới

Brooking (1997, trích trong Nguyễn Hữu Lam, 2007) định nghĩaquản lý tri thức là hoạt động mà hoạt động này quan tâm tới chiến lược vàchiến thuật để quản lý những tài sản trọng tâm là con người (human centerassets)

Trang 22

Gupta và cộng sự (2000, trích trong Mehmet và cộng sự, 2008),định nghĩa quản lý tri thức là một quá trình giúp tìm ra thông tin và kinhnghiệm quan trọng cần thiết cho việc giải quyết vấn đề, học tập năng động,lên chiến lược và ra quyết định trong tổ chức và chọn lựa, tổ chức, phổ biến

sẻ và thực hiện dựa trên các thông tin

Davenport và Volpel (2001) cho rằng quản lý tri thức được xemnhư là một quá trình bao gồm những bước liên tiếp nhau như là tạo ra/thu thậpthông tin, lưu trữ/sắp xếp thông tin, phân phối/phổ biến nó và sử dụng vậnhành nó vào tổ chức

Horwitch và Armacost (2002) định nghĩa quản lý tri thức là sựsáng tạo, khai thác, chuyển đổi và lưu trữ những tri thức và thông tin chínhxác nhằm thiết kế chính sách tốt hơn, thay đổi cách thực hiện và cung cấp kếtquả

Liebowitz (2002) định nghĩa quản lý tri thức theo một cách đơngiản là một quá trình tạo ra giá trị từ những tài sản phi vật chất (vô hình) của

Trang 23

Chen (2006) định nghĩa quản lý tri thức cũng như một chiến lượcgiúp biến tri thức thành hành động và chia sẻ nó theo nhiều cách khác nhau đểcủng cố hoạt động tổ chức của con người bằng cách cung cấp tri thức chínhxác cho đúng người vào đúng thời điểm.

Afiouni (2007) định nghĩa quản lý tri thức như là sự kết hợpthống nhất giữa quản lý công nghệ chủ yếu, những quá trình và những cánhân

Lý do cho những định nghĩa khác nhau về quản lý tri thức có thể là dođược nhìn nhận khác nhau tùy theo mục tiêu, phương pháp và cấu trúc của tổchức (Chang và Lee, 2007)

Trên cơ sở tổng kết các định nghĩa khác nhau về quản lý tri thức,McAdam và McGreedy (1999, trích trong Nguyễn Hữu Lam, 2007) đã chỉ rarằng các định nghĩa về quản lý tri thức thể hiện một miền rộng lớn từ nhữngquan điểm có tính cơ giới (coi tri thức là tài sản) tới quan điểm thiên về địnhhướng xã hội (tri thức được tạo ra trong tổ chức thông qua những quan hệ xãhội) Các định nghĩa về quản lý tri thức thể hiện nổi bật các đặc tính sau:

Quản lý tri thức là một lĩnh vực có liên quan chặt chẽ với lý luận

và thực tiễn, và là một lĩnh vực mang tính đa ngành đa lĩnh vực;

Quản lý tri thức không phải là công nghệ thông tin, những tiến bộtrong công nghệ thông tin hỗ trợ cho việc này tốt hơn mà thôi;

Những vấn đề của con người và học tập là điểm trung tâm của quản lý tri thức

Vũ Hồng Dân (2007) cho rằng có ba yếu tố cơ bản trong quản lý trithức cần chú trọng, đó là: con người, quá trình và công nghệ, trong đó yếu tốcon người đóng vai trò then chốt, quyết định:

Con người tạo ra tri thức và sử dụng tri thức để làm việc và tạogiá trị, như vậy một trong những điều quan trọng của quản lý tri thức trong

Trang 24

doanh nghiệp đó là tạo môi trường mà trong đó tri thức mới được kiến tạo, sửdụng và chia sẻ, các ý tưởng sáng tạo được nuôi dưỡng, cổ vũ và phát huy.Muốn vậy doanh nghiệp cần xây dựng một văn hoá chấp nhận đổi mới, chấpnhận sự thay đổi và rủi ro.

Quản lý tri thức nhất thiết phải gắn liền với các quá trình kinhdoanh cốt lõi của doanh nghiệp Tri thức cần tập trung vào cải tiến và đổi mớicác quá trình nghiên cứu triển khai sản phẩm mới, quá trình sản xuất, kinhdoanh và bán hàng

Công nghệ thông tin bao gồm cả phần cứng và phần mềm có vaitrò cũng rất quan trọng trong quản lý tri thức, nó là công cụ để lưu trữ, chuyênchở, chia sẻ tri thức và quá đó tăng cường khả năng đóng góp của tri thức chophát triển Tuy nhiên, từ thực tế cũng cho thấy doanh nghiệp cần cân nhắc kỹlưỡng về nhu cầu ứng dụng công nghệ thông tin để đầu tư cho phù hợp vớinhu cầu và trình độ sử dụng

Quản lý tri thức đóng một vai trò quan trọng trong chuyển đổi khả nănghọc tập và năng lực cơ bản thành lợi thế cạnh tranh (Adams và Lamont, 2003,trích trong Mehmet và cộng sự, 2008) Trong khi Liebowitz (2004) xem quản

lý tri thức như một chiến lược trong sự phát triển nguồn nhân lực của tổ chức,Marques và Simon (2006) lại xem xét quản lý tri thức của tổ chức mang lại sựkhác biệt quan trọng trong chiến lược và các ứng dụng quản lý truyền thống

Mục tiêu cơ bản của quản lý tri thức là để tìm thấy những tri thức vàchuyển đổi nó thành một quá trình có thể giải quyết các vấn đề hoặc mang lạilợi ích cho tổ chức (Lee và Chen, 2005) Trong số các mục tiêu khác là giatăng trình độ của tổ chức và cung cấp sự bền vững cho các sáng kiến Điềuquan trọng ở đây là để kết hợp toàn bộ sự quản lý tri thức với mục tiêu cơ bản(Wiig, 2002)

Trang 25

Đối với một hệ thống quản lý tri thức có hiệu quả, các mục tiêu của tổchức và người lao động phải được tuân thủ (Meilich, 2005, trích trongMehmet và cộng sự, 2008) Việc quản lý của hệ thống quản lý tri thức đòi hỏi

sự tích hợp liên tục của quản lý tri thức về phương pháp và lý thuyết (Gloet,

2003, trích trong Mehmet và cộng sự, 2008) Để vượt trội trong hệ thống quản

lý tri thức, nó nên được biểu hiện cân đối với một chiến lược nhằm mục tiêu

đa chiều (Lettieri và cộng sự, 2004, trích trong Mehmet và cộng sự, 2008).Hơn nữa, hệ thống quản lý tri thức rất hữu ích trong việc tìm hiểu sự phức tạpcủa nguồn nhân lực, mạng lưới kỹ thuật và xã hội là nguồn tiếp cận tri thức vàđược sử dụng như là một lợi thế cạnh tranh (Davenport và cộng sự, 1998,trích trong Mehmet và cộng sự, 2008)

Để có thể thành công trong quản lý tri thức, Ghosh và Scott (2007)phân chia các yếu tố thành công quan trọng vào hai nhóm như năng lực cơ sở

hạ tầng và năng lực quá trình Trong khi năng lực cơ sở hạ tầng bao gồm cấutrúc, công nghệ, tổ chức và các tài sản văn hóa; thì năng lực quá trình baogồm thu thập tri thức, chuyển đổi và ứng dụng vào các yếu tố chủ yếu

Theo Lee và cộng sự (2005), quá trình quản lý tri thức gồm 5 hoạt động

cơ bản là: sự sáng tạo tri thức (Knowledge Creation), sự tích lũy tri thức(Knowledge Accumulation), sự chia sẻ tri thức (Knowledge Sharing), sự sửdụng tri thức (Knowledge Utilization) và sự tiếp thu tri thức (KnowledgeInternalization)

2.2.2.1 Sự sáng tạo tri thức

Sự sáng tạo tri thức có thể xuất phát từ năm loại khác nhau của các cốgắng trong quá trình chính thức hóa hoạt động nghiên cứu: nghiên cứu cơ bản,nghiên cứu ứng dụng, đánh giá tổng kết, đánh giá quá trình và nghiên cứuhành động (Patton, 1990, trích trong Edwards, 1991) Nghiên cứu cơ bản tậptrung vào xây dựng tri thức giữa các nhà nghiên cứu trong khi nghiên cứu

Trang 26

ứng dụng tập trung vào xây dựng tri thức cụ thể đến các khu vực thực hành.Các hình thức đánh giá chương trình nghiên cứu nhìn vào các kết quả đầu ra

và kết quả của chương trình cũng như các quá trình có thể được cải thiện đểlàm cho chương trình, dự án đang diễn ra hiệu quả hơn Nghiên cứu hànhđộng thường được liên kết với các tổ chức mà trong đó nó xảy ra và giải quyếtcác vấn đề cụ thể của tổ chức đó

Sản phẩm của những cố gắng sáng tạo tri thức bao gồm: kết quả nghiêncứu, kết quả trình diễn, kết quả đánh giá chương trình và các số liệu thống kêmục đích chung (Nelson và Rich, 1981, trích trong Edwards, 1991) Thôngqua sự đồng thuận từ các chuyên gia trong một lĩnh vực nhất định của cuộcnghiên cứu, đặt ra dấu hiệu đặc trưng của tri thức khoa học trên những pháthiện đã được thử nghiệm và nhân rộng nhiều hơn bởi một nhóm các nhànghiên cứu Sự sáng tạo tri thức cũng có thể bao gồm công nghệ hoặc sảnphẩm hữu hình nguyên mẫu được coi là xứng đáng để chuyển giao hoặc tậptrung sản xuất

Nonaka và Takeuchi (1995) cho rằng sự sáng tạo tri thức mang tính tổchức là khả năng của một công ty như một tổng thể để tạo ra tri thức mới, phổbiến hoạt động này trong toàn bộ tổ chức và thể hiện điều này qua các sảnphẩm, dịch vụ và hệ thống

Phân tích quá trình chuyển đổi các tri thức ẩn tàng (mang tính chủquan) thành các tri thức hiện hữu được hệ thống hóa (mang tính khách quan),Nonaka và Takeuchi (1995, trích trong Nguyễn Hữu Lam, 2007) đã nhận dạngbốn quá trình có quan hệ qua lại lẫn nhau theo đó tri thức luân chuyển trong tổchức và chuyển hóa thành những dạng khác nhau, tạo thành bản chất của sựsáng tạo tri thức:

Xã hội hóa: Quá trình chia sẻ những kinh nghiệm và tạo ra tri thức ẩn tàng

Trang 27

Sự ngoại hiện: quá trình nối kết các tri thức ẩn tàng thành các khái niệm rõ ràng.

Kết hợp: quá trình phân loại và hội nhập thành các tri thức hiệnhữu

Sự tiếp thu: quá trình biến các tri thức hiện hữu thành tri thức ẩntàng

2.2.2.2 Sự tích lũy tri thức

Ở mức thấp nhất, hầu hết các học giả đều đồng ý rằng sự tích lũy trithức là sự tiến bộ trong hiểu biết và học tập; những tri thức mới và hữu íchphải luôn được tạo ra để quá trình tích lũy có thể diễn ra (Cohen, 1989, tríchtrong Mahoney, 2003)

Tuy nhiên, hầu hết các nhà phân tích cũng đồng ý rằng sự tích lũykhông đơn thuần chỉ đòi hỏi việc đưa ra những tri thức mới hay gia tăngnhững hiểu biết thực nghiệm Với ý nghĩa này, sự tích lũy tri thức không cónghĩa là tạo ra tri thức Nếu tri thức mới không phát triển lớn hơn tri thứctrước thì sự bổ sung của nó không biểu thị cho sự tích lũy (Freese, 1980; Rule,

1997, trích trong Mahoney, 2003) Do đó, sự tích lũy xảy ra khi thế hệ tri thứcmới phụ thuộc vào những tri thức đã đạt được trước đó

Mahoney (2003) cho rằng sự tích lũy tri thức thông qua mô tả thì rấtthuận lợi khi những học giả phân loại những thông tin hiện có, sử dụng nhữngkhái niệm, những loại hình và những chỉ số định lượng chuẩn Những công cụphân loại này có thể phân tích để đưa ra tri thức mới và hữu ích có liên quanmột cách hệ thống

Sự tích lũy tri thức là một quá trình học tập có tổ chức, có liên hệ rấtgần với sự tiếp thu tri thức (Figueiredo, 2003, trích trong Yu-hsu, 2008) Sự

Trang 28

tiếp thu tri thức có thể được nhìn nhận là một bước không thể thiếu trước khitích lũy tri thức theo một cách có tổ chức.

Tất cả các cá nhân trong doanh nghiệp phải có quyền truy cập vào cơ sở

dữ liệu để nắm bắt được những tri thức liên quan nhằm hỗ trợ họ trong côngviệc và ra quyết định Tích lũy tri thức trong các doanh nghiệp có thể là nhân

tố quan trọng trong việc loại bỏ những trở ngại và sự không hiệu quả; đồngthời là nhân tố quan trọng trong việc cải tiến hiệu quả quản lý (Walsh vàUngson, 1991, trích trong Lee và cộng sự, 2005) Tuy nhiên, nếu tri thức đượctạo ra thông qua các hoạt động quản lý trong nhiều năm không được tích lũymột cách có hệ thống thì nó không thể có lợi cho nhu cầu ra quyết định trongtương lai

2.2.2.3 Sự chia sẻ tri thức

Nonaka (1994) cho rằng sự chia sẻ tri thức là quá trình trao đổi và chia

sẻ cả hai loại tri thức ngầm và rõ ràng của mỗi người với những người có liênquan khác trong tổ chức Nonaka (1994) cho rằng hành vi chia sẻ tri thức cóthể được phân biệt về chia sẻ tri thức trực tiếp (điều đó được viết ra hay dướidạng hình dáng của mật mã) đối lập với chia sẻ tri thức gián tiếp (điều đó tồntại trong ký ức của một cá nhân), hoặc những sự kết hợp của cả 2 trạng thái.Các cá nhân có những xu hướng khác nhau trong chia sẻ tri thức trực tiếp vàgián tiếp Họ có thể tin tưởng tri thức trực tiếp thông qua các báo cáo và các

sổ ghi nhớ mà họ sở hữu, được bảo quản bởi tổ chức đã trả tiền cho họ để xuấtbản các tài liệu; đồng thời, họ có thể tin tưởng vào tri thức trong đầu luônthuộc về họ

Sự chia sẻ tri thức là rất quan trọng cho các tổ chức muốn sử dụng trithức của họ như là một tài sản để đạt được lợi thế cạnh tranh Mục đích chínhcủa việc chia sẻ tri thức là về các cá nhân có thể giải nghĩa, mã hóa và truyềnđạt tri thức cho các cá nhân, nhóm và các tổ chức khác (King, 2006)

Trang 29

Chia sẻ tri thức giữa các cá nhân trong một đội là một nhiệm vụ đặcbiệt quan trọng cho dù đội có thể chỉ là một tập hợp tạm thời của các cá nhânphụ thuộc lẫn nhau bị ràng buộc bởi một mục tiêu tập thể, nhóm giải quyếtvấn đề (thường là mang tính chất tạm thời), đội tự quản hoặc đội liên chứcnăng (Glassop, 2002, trích trong King, 2006).

Lee và cộng sự (2005) cho rằng sự chia sẻ tri thức thúc đẩy sự phổ biếntri thức, cũng góp phần làm cho quy trình làm việc hoàn hảo hơn và có đượcnhững tri thức chuyên sâu Nếu người lao động có thể tìm thấy những tri thức

từ các nguồn tri thức được quản lý bởi doanh nghiệp, họ có thể áp dụng chúng

để hoàn thành tốt công việc Điều này đòi hỏi phải có hệ thống tri thức nhấtđịnh từ nhiều nguồn để có được sự cải thiện hiệu suất

2.2.2.4 Sự sử dụng tri thức

Backer (1993) cho rằng sự sử dụng tri thức là (bao gồm) các hình thứccan thiệp khác nhau nhằm làm tăng việc sử dụng tri thức để giải quyết nhữngvấn đề của con người Backer (1993) đã hình dung sự sử dụng tri thức baohàm nhiều chủ đề nhỏ như chuyển giao công nghệ, sự phổ biến và vận dụngthông tin, vận dụng nghiên cứu, sự phổ biến cái mới, tri thức xã hội học, sựthay đổi trong tổ chức, nghiên cứu chính sách, sự giao tiếp giữa con người vớicon người và với xã hội

Theo Rich (1981, trích trong Edwards, 1991), các nhà nghiên cứu trongviệc sử dụng tri thức đã tìm cách thu thập, xử lý và ứng dụng thông tin cảitiến Thu thập thông tin cải tiến có nghĩa là quá trình khôi phục hoặc tiếp nhậnthông tin từ một ngân hàng dữ liệu, một thư viện, một phiên họp tham vấnhoặc từ các phương tiện khác Xử lý thông tin liên quan đến việc hiểu cácthông tin, kiểm tra tính hợp lệ và độ tin cậy; thử nghiệm nó với trực giác riêng

và các giả định; chuyển đổi các thông tin vào một khuôn mẫu thích hợp

Trang 30

Phần ứng dụng của quá trình sử dụng tri thức có thể bao gồm từ chối thông tincũng như chấp nhận thông tin.

Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này xem xét kết quả phát hiện từ cácnghiên cứu phổ biến và chuyển giao công nghệ cùng với các nghiên cứu của

họ về thay đổi kế hoạch, xác định các yếu tố sử dụng và ra quyết định hoặcgiải quyết vấn đề được sử dụng bởi các nhà hoạch định chính sách, các quảntrị viên… Sản phẩm của sử dụng kiến thức có thể bao gồm, nhưng không có

sự giới hạn: các mô hình, các yếu tố, chiến lược và quá trình tìm thấy hầu hết

ở các phát sinh được dự đoán trong quá trình sử dụng Các nhà nghiên cứu cóthể tập trung vào việc mang lại sự thay đổi kế hoạch cá nhân, tổ chức hoặc xãhội Họ cũng có thể tập trung vào việc sử dụng thích hợp, sử dụng cảm giác,

sử dụng thích ứng, sử dụng có chọn lọc, sử dụng quyết đoán, từ chối sử dụng(tức là cố ý không sử dụng), ngưng sử dụng và lạm dụng (Edwards, 1991)

Sự sử dụng tri thức có thể xảy ra ở tất cả các cấp trong hoạt động quản

lý tại các công ty: một trong các hình thức phổ biến của việc sử dụng tri thức

là chấp nhận cách thực hành tốt nhất từ các tổ chức hàng đầu khác, khám phácác tri thức liên quan và áp dụng nó (O’Dell và Grayson, 1998, trích trong Lee

và cộng sự, 2005)

2.2.2.5 Sự tiếp thu tri thức

Sự tiếp thu tri thức được định nghĩa là quá trình tạo điều kiện thuận lợicho sự hấp thụ một cách có tổ chức các tri thức ngầm và rõ ràng thành tri thứcbên trong mỗi cá nhân (Nokada, 1994) Tập trung nhiều vào người có khảnăng tiếp thu những tri thức có liên quan hơn là người khởi đầu, chia sẻ trithức của mình Chương trình đào tạo và các buổi hướng dẫn là phương pháptruyền thống được các doanh nghiệp sử dụng cho sự tiếp thu tri thức củangười lao động Qua các chương trình này, các cá nhân không chỉ hấp thụ

Trang 31

được bài học cụ thể từ kinh nghiệm của các nhóm trước đây, mà còn có thểtham gia vào các nhóm tương thích để cùng chia sẻ kinh nghiệm.

Yu-hsu (2008) cho rằng sự tiếp thu tri thức có thể được phân chia rộnghơn thành sự hấp thụ tri thức bên trong và bên ngoài đối với nơi mà tri thứcđược thu vào:

Sự hấp thụ tri thức bên trong đề cập đến sự đồng hóa bởi một tổchức tri thức có giá trị (tất cả người sử dụng lao động và người lao động) thamgia trong hoạt động của doanh nghiệp Những cá thể là những người chủ củakiến thức, đặc biệt là những tri thức thủ thuật Simon (1991, trích trong Yu-hsu, 2008) nhấn mạnh rằng tất cả các việc học đều diễn ra bên trong đầu conngười; Một tổ chức chỉ học bằng hai cách: (a) học từ những thành viên củanó; hay (b) đưa vào những thành viên mới, người có những tri thức mà tổchức trước đây chưa có Mặc dù người ta không thể đảm bảo rằng việc họccủa cá nhân chắc chắn sẽ dẫn đến việc học của tổ chức, việc học của tổ chức

sẽ không thể diễn ra nếu không có việc học của cá nhân Một tổ chức có thể sẽkhông có khả năng sử dụng được những tri thức, thủ thuật độc đáo trong mộtthời gian, bởi vì những cá nhân hiện tại có thể nghỉ việc Tuy nhiên, những cánhân mới khi tham gia vào tổ chức cũng sẽ mang theo tri thức mới của họ vào

tổ chức

Sự hấp thụ tri thức bên ngoài đề cập đến sự đồng hóa bởi một tổchức tri thức có giá trị từ môi trường bên ngoài như những nhà cung cấp haykhách hàng, những đối tác trong hợp tác nghiên cứu và phát triển, các cụmcông nghiệp, đại học và những trung tâm nghiên cứu Tác động của toàn cầuhóa đã mở rộng xa hơn những ranh giới của môi trường bên ngoài Ví dụ nhưmột tổ chức có thể tiếp thu tri thức từ những khách hàng nước ngoài thôngqua vai trò như là nhà thầu phụ hay như một nhà sản xuất thiết bị chính gốc;

từ các đối tác liên doanh thông qua những liên minh chiến lược

Trang 32

Sự tiếp thu tri thức, có thể xảy ra khi từng người lao động khám phá cáctri thức liên quan, tiếp thu và áp dụng nó Vì thế, sự tiếp thu có thể làm phátsinh những tri thức mới Bằng cách này, nó cung cấp một cơ sở cho hoạt độngtạo ra tri thức (Lee và cộng sự, 2005).

2.3 Sự thỏa mãn công việc

Các nhà nghiên cứu tin rằng sự thỏa mãn trong công việc ảnh hưởngđến hiệu quả công việc (Gibson và cộng sự, 1997) Trong kinh doanh hiệnnay, các mối quan hệ giữa con người với nhau là vô cùng quan trọng Khi cácmối quan hệ trở nên tốt đẹp, người lao động thể hiện cảm xúc của mình chokhách hàng trong bất kỳ trường hợp nào Người lao động có sự thỏa mãn vớicông việc của mình thể hiện qua thái độ phục vụ tích cực với các khách hàng

Do đó, bước đầu tiên để có được sự thỏa mãn của khách hàng là có được sựthỏa mãn của người lao động với công việc họ đang làm Sự thỏa mãn côngviệc của người lao động cao hơn thì chất lượng thực hiện công việc của họ sẽtốt hơn (Schlesinger và Zornitsky, 1991, trích trong Mehmet và cộng sự,2008)

Hiện nay, có khá nhiều các định nghĩa khác nhau về sự thỏa mãn côngviệc, sau đây là một số định nghĩa được nhiều người quan tâm:

Một trong các định nghĩa đầu tiên về sự thỏa mãn công việc vàđược trích dẫn nhiều nhất có thể kể đến là định nghĩa của Hoppock (1935,trích trong Scott và cộng sự, 1960), tác giả cho rằng sự thỏa mãn công việcnói chung không phải chỉ đơn thuần là tổng cộng sự thỏa mãn của các khíacạnh khác nhau, mà sự thỏa mãn công việc nói chung có thể được xem nhưmột biến riêng

Vroom (1964) định nghĩa thỏa mãn trong công việc là trạng thái

mà người lao động có định hướng hiệu quả rõ ràng đối công việc trong tổchức

Trang 33

Weiss và cộng sự (1967) định nghĩa rằng thỏa mãn trong côngviệc là thái độ về công việc được thể hiện bằng cảm nhận, niềm tin và hành vicủa người lao động.

Locke (1969) cho rằng sự thỏa mãn trong công việc được mô tảnhư là một phần trong sự mong đợi của cá nhân về công việc và những kếtquả mà anh ta đạt được khi đang làm việc

Quinn và Staines (1979, trích trong Hà Nam Khánh Giao và VõThị Mai Phương, 2011) thì cho rằng thỏa mãn trong công việc là phản ứngtích cực đối với công việc

Spector (1997) định nghĩa sự thỏa mãn công việc đơn giản làviệc người ta cảm thấy thích công việc của họ và các khía cạnh công việc của

họ như thế nào Vì nó là sự đánh giá chung, nên nó là một biến về thái độ

Theo Oshagbemi (2000, trích trong Mehmet và cộng sự, 2008),

sự thỏa mãn trong công việc là một phản ứng cảm xúc của người lao động đểcông việc của mình là một kết quả của sự tương tác lẫn nhau giữa những lợiích của người lao động và những ý kiến chuyên môn trong công việc

Ellickson và Logsdon (2002, trích trong Hà Nam Khánh Giao và

Võ Thị Mai Phương, 2011) thì cho rằng sự thỏa mãn công việc được địnhnghĩa chung là mức độ người nhân viên yêu thích công việc của họ, đó là thái

độ dựa trên sự nhận thức của người nhân viên (tích cực hay tiêu cực) về côngviệc hoặc môi trường làm việc của họ Nói đơn giản hơn, môi trường làm việccàng đáp ứng được các nhu cầu, giá trị và tính cách của người lao động thì độthỏa mãn công việc càng cao

Luddy (2005, trích trong Hà Nam Khánh Giao và Võ Thị MaiPhương, 2011) cho rằng sự thỏa mãn công việc là phản ứng về mặt tình cảm

và cảm xúc đối với các khía cạnh khác nhau của công việc

Trang 34

Kreitner và Kinicki (2007, trích trong Hà Nam Khánh Giao và

Võ Thị Mai Phương, 2011) cho rằng sự thỏa mãn công việc chủ yếu phản ánhmức độ một cá nhân yêu thích công việc của mình Đó chính là tình cảm haycảm xúc của người lao động đó đối với công việc của mình

Một số yếu tố có quyết định đến mức độ thỏa mãn của người lao độngđối với công việc của họ Những yếu tố này là: tiền lương và cách phân bổtiền lương, công việc và mức độ quan tâm đến công việc, cách thức để pháttriển và học hỏi trong công việc, cơ hội thăng tiến, thái độ của người quản lý

và phát triển các mối quan hệ (Gibson và cộng sự, 1997)

Gillian (1998) khẳng định rằng các yếu tố như quản lý và văn hóa tổchức ảnh hưởng nhiều hơn vào sự thỏa mãn công việc hơn so với tiền lương.Ngược lại, Groot (1999) lập luận rằng sự thỏa mãn trong công việc chủ yếuliên quan tới nội dung của công việc, các yếu tố khác chẳng hạn như đồngnghiệp, mối quan hệ thông thường và thăng tiến không có nhiều ảnh hưởngđối với sự thỏa mãn trong công việc

Okpara (2006, trích trong Mehmet và cộng sự, 2008) nhấn mạnh rằng

sự thỏa mãn công việc có liên quan chặt chẽ với đặc điểm của người lao động.Rad và Yarmohammadian (2006, trích trong Mehmet và cộng sự, 2008) chorằng lãnh đạo ảnh hưởng đến sự thỏa mãn công việc, do đó lãnh đạo đóng mộtvai trò quan trọng trong sự thỏa mãn trong công việc

Nói chung, sự thỏa mãn trong công việc có thể được xem như là mộtcấu trúc đa chiều, bao gồm sự nhìn nhận của người lao động đối với tình hìnhnội bộ và các tác động thay đổi từ bên ngoài của công việc (Misener và cộng

sự, 1996, trích trong Mehmet và cộng sự, 2008)

Lee và Chang (2007) đã có nghiên cứu chứng minh rằng quản lý trithức với 2 thành phần là chuyển giao tri thức (Knowledge Transfer) và chia sẻtri thức (Knowledge Sharing) có ảnh hưởng đến sự thỏa mãn công việc của

Trang 35

người lao động Thammakoranonta và Malison (2011) cũng có nghiên cứutương tự chứng minh quản lý tri thức có ảnh hưởng đến sự thỏa mãn côngviệc của người lao động nhưng với 5 thành phần của quản lý tri thức là sựsáng tạo tri thức (Knowledge Creation), sự tích lũy tri thức (KnowledgeAccumulation), sự chia sẻ tri thức (Knowledge Sharing), sự sử dụng tri thức(Knowledge Utilization) và sự tiếp thu tri thức (Knowledge Internalization).

2.4 Mô hình nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, tác giả dựa vào của nghiên cứu củaThammakoranonta và Malison (2011) tại Thái Lan để đưa ra các giả thuyết và

mô hình nghiên cứu vì nghiên cứu của 2 tác giả trên có nhiều điểm khá phùhợp với nghiên cứu của tác giả khi tiến hành nghiên cứu tại Thành phố Hồ ChíMinh của Việt Nam:

Nghiên cứu trên được hoàn thành vào thời rất gần đây (năm2011) cho nên chắc chắn là các khái niệm, mô hình nghiên cứu, giả thuyếtnghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu,… có được sự phùhợp cao với tình hình thực tiễn hiện tại

Việt Nam và Thái Lan đều là 2 quốc gia cùng nằm trong khu vựcĐông Nam Á và có nhiều điểm giống nhau không những về vị trí địa lý, điềukiện tự nhiên mà còn về con người, kinh tế, xã hội, văn hóa… Nghiên cứutrên đã thực hiện việc khảo sát tại Thành phố Bangkok của Thái Lan, đây làmột thành phố có nhiều điểm tương đồng về kinh tế, văn hóa, xã hội, conngười … với Thành phố Hồ Chí Minh của Việt Nam

Nghiên cứu trên sử dụng đối tượng khảo sát là người lao độngtrong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, mang tính tổng quát chứ không phải khảosát cụ thể cho một ngành nghề hay doanh nghiệp nào

Trang 36

2.4.1 Các giả thuyết nghiên cứu

Theo nghiên cứu của Thammakoranonta và Malison (2011) về ảnhhưởng của quản lý tri thức đến sự thỏa mãn công việc của người lao độngtrong các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Thái Lan, đã chứng minh rằng có mốiquan hệ giữa quản lý tri thức và sự thỏa mãn công việc của người lao động.Dựa vào nghiên cứu trên, trong nghiên cứu này tác giả tập trung vào việc xácđịnh các nhân tố của quản lý tri thức ảnh hưởng đến sự thỏa mãn công việccủa người lao động có trình độ đại học trong các doanh nghiệp tại TP Hồ ChíMinh Cụ thể là các nhân tố của quản lý tri thức bao gồm: sự sáng tạo tri thức,

sự tích lũy tri thức, sự chia sẻ tri thức, sự sử dụng tri thức, sự tiếp thu tri thứclần lượt sẽ có tác động đến sự thỏa mãn công việc của người lao động có trình

độ đại học Từ đó, tác giả đưa ra các giả thuyết sau:

H1: Có mối quan hệ dương giữa sự sáng tạo tri thức và sự thỏa mãn công việc

Sự sáng tạo tri thức là một nhân tố cần thiết cho người lao động có trình

độ đại học trong thực hiện công việc, tạo ra được những phương pháp, cáchthức thực hiện mới… giúp công việc được thực hiện dễ dàng và đạt hiệu quảtốt hơn, từ đó họ sẽ cảm thấy thỏa mãn với công việc của họ

Sự tích lũy tri thức là một nhân tố quan trọng trong việc giúp bản thânngười lao động có trình độ đại học cũng như doanh nghiệp xây dựng đượcnguồn cơ sở dữ liệu cần thiết Họ có thể truy cập vào cơ sở dữ liệu này đểnắm bắt được những tri thức có ích, có liên quan nhằm hỗ trợ cho họ trongcông việc và ra quyết định, đạt được kết quả cao Đồng thời, điều này sẽ làmcho nguồn tri thức của bản thân họ ngày càng phong phú hơn và sẽ cảm thấyđược thỏa mãn trong công việc Từ lập luận trên, tác giả đưa ra giả thuyết:

Trang 37

H2: Có mối quan hệ dương giữa sự tích lũy tri thức và sự thỏa mãn công việc

Sự chia sẻ tri thức thúc đẩy sự phổ biến tri thức, cũng góp phần làm choquy trình làm việc hoàn thiện hơn Người lao động có trình độ đại học có thểtìm thấy, được chia sẻ những tri thức có ích, có liên quan đến công việc,… từcác nguồn tri thức của doanh nghiệp cũng như từ đồng nghiệp; họ có thể ápdụng chúng để hoàn thành tốt công việc và tri thức của bản thân họ cũng sẽ đadạng, phong phú hơn; từ đó họ sẽ cảm thấy được thỏa mãn với công việc Do

đó, tác giả đặt ra giả thuyết:

H3: Có mối quan hệ dương giữa sự chia sẻ tri thức và sự thỏa mãn công việc

Sự sử dụng tri thức của người lao động có trình độ đại học từ tri thứccủa bản thân cũng như từ các nguồn dữ liệu của doanh nghiệp sẽ giúp choviệc thực hiện công việc của họ đạt được kết quả như mong đợi, họ sẽ cảmthấy thỏa mãn vì tri thức của bản thân mình là hữu dụng; từ đó họ sẽ cảm thấyđược thỏa mãn trong công việc Vì vậy, tác giả đặt ra giả thuyết:

H4: Có mối quan hệ dương giữa sự sử dụng tri thức và sự thỏa mãn công việc

Sự tiếp thu tri thức trong quá trình làm việc là rất cần thiết, giúp chovốn tri thức của cả bản thân người lao động có trình độ đại học và doanhnghiệp ngày càng phong phú, hoàn thiện hơn Họ sẽ cảm thấy được thỏa mãntrong công việc khi họ học hỏi, tiếp nhận được nhiều tri thức có giá trị sửdụng, có ích cho bản thân họ và doanh nghiệp Do vậy, tác giả đưa ra giảthuyết cuối cùng:

H5: Có mối quan hệ dương giữa sự tiếp thu tri thức và sự thỏa mãn công việc

Trang 38

2.4.2 Mô hình nghiên cứu

Dựa trên các giả thuyết trên, tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu nhưsau:

Biến phụ thuộc trong mô hình: sự thỏa mãn công việc

Các biến độc lập, gồm có: sự sáng tạo tri thức, sự tích lũy tri thức, sự chia sẻ tri thức, sự sử dụng tri thức, sự tiếp thu tri thức

Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu đề nghị

Trang 39

2.5 Tóm tắt

Chương 2 đã trình bày cơ sở lý thuyết về quản lý tri thức và sự thỏamãn công việc Tác giả đã dựa theo nghiên cứu của Thammakoranonta vàMalison (2011) để đưa ra 5 giả thuyết và mô hình nghiên cứu gồm 5 biến độclập là sự sáng tạo tri thức, sự tích lũy tri thức, sự chia sẻ tri thức, sự sử dụngtri thức, sự tiếp thu tri thức và một biến phụ thuộc là sự thỏa mãn công việc

Trang 40

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.2 Thiết kế nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện thông qua hai bước:

Bước 1: Nghiên cứu sơ bộ nhằm mục đích xây dựng và hoàn thiện bảng câu hỏi phỏng vấn

Bước 2: Nghiên cứu chính thức nhằm thu thập, phân tích dữ liệu khảo sát, ước lượng và kiểm định mô hình lý thuyết

Quy trình nghiên cứu được trình bày tại hình 3.1

3.2.1.1 Nghiên cứu sơ bộ

Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện bằng phương pháp định tính và địnhlượng Các nghiên cứu sơ bộ này được thực hiện tại TP Hồ Chí Minh Mụcđích của nghiên cứu sơ bộ nhằm xây dựng bảng câu hỏi và điều chỉnh thang

đo cho phù hợp với người lao động có trình độ đại học trong các doanhnghiệp Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, tác giả xây dựngbảng câu hỏi phỏng vấn sơ bộ lần 1 và dàn bài để phỏng vấn sâu

Nghiên cứu định tính sơ bộ được thực hiện thông qua kỹ thuật phỏngvấn sâu với 10 người lao động có trình độ đại học, nhằm mục đích điều chỉnh

Ngày đăng: 13/09/2020, 22:39

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w